ĐƯỢC ĐỨC CHÚA TRỜI TIẾP NHẬN
Chúng ta nhờ Đấng Christ mà được xưng công bình
***
Kinh Thánh nói gì về một người cảm thấy mình tồi tệ đến nỗi không đáng được Đức Chúa Trời tiếp nhận? Hoặc về ai đó cảm thấy không cần tới sự tha thứ mà Đấng Christ đang hiến cho? Hay về người nào lấy làm lạ, làm sao mà người ta đang ở trên đất lại lên thiên đàng cho được?
Đây là những thắc mắc rất quan trọng, vì Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng không những Đức Chúa Trời được đánh dấu bằng tình yêu chân chính và rời rộng, mà ai cũng biết Ngài vì sự công bình sâu sắc nhất của Ngài. Cả Kinh Thánh và lương tâm chúng ta nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta phạm tội làm trái mọi luật lệ của Đức Chúa Trời. Vì vậy chúng ta sẽ làm thỏa mãn sự công bình của Ngài như thế nào đây?
Tôi mong rằng khi bạn đọc quyển sách nhỏ nầy do Mục sư Kurt De Haan viết, bạn sẽ khám phá ra nhiều điều mà bạn có cần trong khi nếm trải mọi sự mà Đức Chúa Jêsus Christ đã làm cho bạn. Vì chỉ ở trong Ngài chúng ta mới gặp được giải pháp chỉ ra phương thức làm thể nào để chúng ta xứng đáng được Đức Chúa Trời tiếp nhận.
Martin R De Haan II
AI CẦN PHẢI BIẾT?
Bạn có nghĩ chúng ta rất đỗi ngạc nhiên khi thấy ai đó được lên thiên đàng không? Chúng ta có kinh ngạc khi thấy ai đó chẳng được lên thiên đàng không? Bạn có hình dung được một nhân vật chính trị lắm kẻ ưa mà cũng nhiều người ghét kia lại được thiên đàng, còn vị Mục sư của bạn thì không chăng? Sẽ ra sao nếu một người mà bạn chẳng dám mơ nhìn thấy trên thiên đàng lại đang ngồi chễm chệ nơi bệ chơn của Chúa Jêsus?
Có thể nào xảy ra như vậy chăng? Nếu có, thì làm sao xảy ra như vậy được chớ, và ai cần phải biết làm sao để được lên thiên đàng?
Những người lân cận của chúng ta cần phải biết: Khi vợ tôi và tôi dời vào căn hộ có bốn phòng ngay sau đám cưới, chúng tôi làm quen với Earle, là người sống trong căn phòng dưới cầu thang. Ông là một người góa vợ, đã về hưu và rất cố chấp. Khi ông ta nhảy mũi, cả ngôi nhà lắc lưu đến tận nền nhà.
Earle nói cho tôi biết ông có tin tưởng hầu hết Kinh Thánh, song ông nghĩ Kinh Thánh rất ngạo mạn khi cho rằng bạn chắc bạn sẽ được nhận vào trong thiên đàng. Khi nhiều tháng trời trôi qua, tôi cứ tiếp tục làm chứng cho ông ta. Rồi một ngày kia Earle đi lên gặp tôi, miệng mỉm cười và nói một câu đại để như sau: “Ông biết không, nếu ông không thể tin Kinh Thánh, ông không thể tin vào một cái gì nữa. Tôi dám chắc mình sẽ lên thiên đàng”. Vài năm sau đó khi ông ta sắp chết vì bị ung thư, ông nói với tôi là ông rất sung sướng ông có thể đối diện với sự chết mà không hề sợ hãi.
Cũng trong ngôi nhà nơi tôi đã gặp Earle, một đôi vợ chồng với hai đứa con nhỏ dời đến ở trong căn hộ bên dưới phòng của chúng tôi. Họ tố cáo tôi thờ lạy hình tượng vì tôi sử dụng danh của Đức Chúa Trời và của Chúa Jêsus theo tiếng Anh thay vì theo tiếng Hybálai. Họ nói đến Chúa Jêsus là Đấng Mêsi thật, là của lễ đáng tiếp nhận duy nhất vì tội lỗi chúng ta, rồi họ cho rằng muốn được Đức Chúa Trời tiếp nhận chúng ta cần phải giữ mọi điều răn của Cựu Ước về những ngày lễ đặc biệt, ngày Sabát, mọi luật lệ về thức ăn, cùng mọi luật lệ khác của Môise.
Thế gian cần phải biết: Những người láng giềng khác, các sinh viên đại học, và mọi bức thư tôi đã đọc đều đưa ra những lời bình luận cho rằng phải ăn ở như thế nào với Đức Chúa Trời, được Ngài tiếp nhận, và dám chắc về thiên đàng mới là điều quan trọng. Có lẽ cũng có nghe nói nhưng câu đại loại như sau:
- “Tôi không thể tin Đức Chúa Trời sẽ bỏ một người chưa tin Chúa mà sống đạo đức vào âm phủ rồi tiếp nhận một Cơ đốc nhân bê bối vào trong thiên đàng”.
- “Thật dễ nói Đức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi chúng ta nếu chúng ta chỉ tin cậy nơi Chúa Jêsus thôi”.
- “Bạn phải là một thuộc viên trong Hội thánh và dự phần vào mọi nghi thức”.
- “Đức Chúa Trời không quan tâm bạn tin gì dù bạn luôn quan tâm đến điều đó và cố gắng sống thánh thiện”.
- “Những việc lành của tôi che lấp những việc xấu xa”.
- “Tôi nghĩ mình quá tệ không còn có thể tha thứ được nữa”.
- “Đức Chúa Trời quá yêu thương không bỏ ai vào địa ngục đâu”.
- “Tôi được cứu bởi đức tin; vô luận tôi có ăn ở như thế nào đi nữa”.
- “Tôi không muốn tin nơi Chúa Jêsus, vì tôi biết mình phải thay đổi cách sống”.
- “Đức Chúa Trời sẽ phân loại chúng ta. Rốt lại, không một ai trọn vẹn cả”.
- “Người nào tìm cách sống như Chúa Jêsus có lẽ sẽ được tiếp nhận vào thiên đàng”.
- “Thật chẳng hay ho gì khi Đức Chúa Trời để cho một kẻ giết người hàng loạt được vào trong thiên đàng”.
Bạn và tôi cần phải biết: Có lẽ một trong những câu nầy sẽ gợi ra trong tư tưởng của bạn khi bạn tìm cách giải quyết vấn đề làm sao kiếm được sự đồng ý của Đức Chúa Trời và được tiếp vào trong thiên đàng. Có thể bạn không hề nhìn thấy mình như một người cần được cứu ra khỏi một tôn giáo khác hơn loại tôn giáo mà Kinh Thánh không dung thứ được. Có lẽ bạn chỉ là một người chống đối, bị ấn tượng bởi tội lỗi trong quá khứ đến nỗi bạn tưởng mình là một trường hợp vô vọng rồi. Có lẽ bạn đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa khi bạn còn là một đứa trẻ và bạn cho mọi điều Chúa Jêsus đã làm cho mình là đúng. Hoặc có thể bạn đang nghĩ suy về mấy người láng giềng, bạn bè, hay người nào đó cùng làm việc với mình, họ cần phải nghe lẽ thật không thay đổi nói về sự làm sao họ có thể biết được Đức Chúa Trời tiếp nhận họ bây giờ và cho đến đời đời.
Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi mời bạn cùng với tôi nhìn cho thật kỹ vấn đề quan trọng nầy. Không một đề tài nào khác có ý nghĩa quan trọng hơn chỉ ra cách chúng ta phải ăn ở đúng đắn ngay bây giờ và nơi chúng ta sẽ sống cho đến đời đời.
“KHÔNG MỘT ĐỀ TÀI NÀO KHÁC CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG HƠN CHỈ RA CÁCH CHÚNG TA PHẢI ĂN Ở ĐÚNG ĐẮN NGAY BÂY GIỜ VÀ NÓI CHÚNG TA SẼ SỐNG CHO ĐẾN ĐỜI ĐỜI”.
Muốn hiểu rõ hơn những gì còn bấp bênh, trong mấy trang kế tiếp chúng ta sẽ trước tiên tập trung vào vấn đề đang nằm ở trọng tâm của mọi sự – ấy là sự công bình. Khi chúng ta bắt đầu, hãy nhìn vào sự công bình từ cả hai nhận định: của con người và của Đức Chúa Trời.
KHI TỘI PHẠM ĐƯỢC THẢ TỰ DO
Tội ác là một con người sống – và chết – trong nhiều nơi trên thế giới của chúng ta ngày nay. Sự công bình sẽ trở nên khó hiểu, khi chúng ta nhìn thấy có quá nhiều điều tội tệ. Chúng ta thường nghe nói tới một tên tội phạm đang tránh thoát sự công bình.
Điều nầy khiến cho chúng ta nổi giận dữ, có phải không? Chúng ta bực tức khi nghĩ đến một kẻ hãm hiếp hoặc một tên gạ gẫm trẻ con bước ra khỏi toà án với nụ cười tự mãn trên gương mặt hắn vì hắn ma lanh qua một hệ thống, hoặc hăm dọa nạn nhân hay những người làm chứng phải im lặng. Chúng ta tức giận khi chúng ta nghe nói có một tên tội phạm được thả tự do. Tin tức ấy làm cho chúng ta lúng túng khi hệ thống pháp luật dường như quan tâm tới các quyền lợi của tôi phạm hơn là quyền lợi của nạn nhân.
“AI XƯNG KẺ ÁC LÀ CÔNG BÌNH, VÀ KẺ NÀO LÊN ÁN CHO NGƯỜI CÔNG BÌNH, CẢ HAI ĐIỀU LẤY LÀM GỚM GHIẾC CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA” (CHÂM NGÔN 17.15).
Liệu Đức Chúa Trời có cho phép một tên giết người hàng loạt được vào thien đàng chăng? Có thể nào một người bị kết một số tội ác rất đáng kinh kêu la với Chúa từ ngục tù rồi được tha thứ hoàn toàn không? Thắc mắc nầy sẽ giúp chúng ta tập trung vào vấn đề chính được đem ra bàn luận trong qyển sách nhỏ nầy. Tư tưởng về một kẻ giết người hàng loạt cùng ở chung một ngôi nhà với bạn trên thiên đàng có lẽ sẽ làm cho bạn phải run sợ; nó đang làm cho tôi run lên đây. Nhưng chẳng lẽ có như thế sao?
Để trả lời cho thắc mắc nầy, chúng ta hãy nghĩ đến một nhân vật khác – một trong hai tên tội phạm bị đóng đinh với Chúa Jêsus. Sau khi nghe tên cướp kia nhục mạ Chúa Jêsus, anh ta đã nói: “Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác. Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi” (Luca 23.40-43).
Kẻ vi phạm luật pháp biết ăn ăn đã được Đức Chúa Trời tha thứ ngay trước khi anh ta chết. Tội lỗi của anh ta đã được bôi xóa; bản án ghi tội ác của anh ta được tẩy sạch. Liệu điều nầy sẽ xảy ra cho kẻ giết người hàng loạt hoặc cho kẻ gạ gẫm trẻ con ngày nay không?
“HÔM NAY NGƯƠI SẼ ĐƯỢC Ở VỚI TA TRONG NƠI BA-RA-ĐI” (LUCA 23.43).
Làm sao sự ấy xảy ra được? Đức Chúa Trời công bình thể nào khi hoàn toàn tha thứ cho một con người như thế chứ? Sứ đồ Phaolô trước tiên đã học biết phương thức Đức Chúa Trời tha thứ cho một tội phạm và vẫn là một Quan Án công bình và trọn vẹn.
Bằng sự thừa nhận của chính mình, Phaolô đã từng là một con người tự xưng công bình, ông những tưởng mình rất xứng đáng với ân sủng của Đức Chúa Trời (xem Philíp 3.4-6). Ông giữ mọi luật lệ của người Do thái rất trung tín. Và khi ông nhìn thấy một mối đe dọa do một nhóm tín đồ sốt sắng của một người mà họ xưng nhận là Đấng Mêsi được hứa cho, Phaolô đã làm mọi sự ông có thể làm, ngay cả giết người nầy và hành hại một số người khác, bỏ họ vào nhà ngục, ông đang tìm cách làm cho họ phải câm lặng (Công vụ các Sứ đồ 8.3; 22.4-5).
Thế nhưng ngày nọ Phaolô đã đổi hẳn tâm ý. Sở dĩ như thế là vì ông đã gặp Chúa Jêsus, và Chúa Jêsus đã giúp cho Phaolô nhìn thấy ông đã sai lầm như thế nào. Rồi kết quả là, Phaolô đã nhìn nhận tình trạng không xứng đáng hoàn toàn của mình đối với bất kỳ một ơn nào đến từ Đức Chúa Trời và sớm học biết về sự thương xót của Ngài. Ông tin rằng Chúa Jêsus đã chịu chết trong chỗ của ông và đã khiến cho ông biết sống xứng đáng với Đức Chúa Trời. Trong một thư tín của mình, Phaolô đã tự cho mình là tội phạm tồi tệ nhất trong hàng tội phạm (I Timôthê 1.15), khi ấy ông tin quả quyết rằng ông được đứng đầu trong thiên đàng vì cớ Chúa Jêsus.
Chúng ta có nhìn thấy chính mình trong bức tranh ấy không? Chúng ta cần phải nhìn qua phía bên kia những tấm gương của lịch sử đến tình thế buộc phải chọn lấy một ngay hôm nay. Khi chúng ta xem qua những trang nối theo sau, khi bị phán xét bởi những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, bạn và tôi đang phạm vào một số tội ác. Chúng ta sẽ có một thời gian khó mà hiểu được bức tranh đó, nhưng thực sự chúng ta không xứng đáng được tiếp vào thiên đàng hơn một kẻ giết người hàng loạt nữa là. Rồi làm sao chúng ta hy vọng đạt đến mức công bình và ăn ở đời đời trong một nơi mà chỉ có hạng người trọn vẹn mới được phép? Làm sao Đức Chúa Trời có quyền phán rằng hạng người bất toàn, tội lỗi như bạn và tôi lại được tự do không còn chịu những hậu quả tạm thời của tội lỗi chứ? Đấy là những gì Kinh Thánh nói cho chúng ta biết Ngài đang phán dạy. Nếu Ngài không phán như thế, không một ai sẽ được phép bước vào hai cánh cổng của thiên đàng đâu, chúng ta hết thảy sẽ bị kết án đời đời trong hoả ngục.
Chúng ta sẽ đi đâu với bản án nầy? Để tìm ra giải đáp cho mọi thắc mắc của chúng ta, chúng ta hãy học biết những lẽ thật đã được lý giải trong thơ tín của Phaolô gửi cho các môn đồ của Đấng Christ trong thế kỷ đầu tiên ở Rôma. Trong những từ ngữ của Phaolô, chữ chìa khóa là xưng công bình (justification). Chữ nầy là một trong nhiều chữ mà chúng ta cần phải làm quen với khi chúng ta tiếp tục đọc.
Chúng ta cần phải biết chắc chúng ta đang nói chung một thứ ngôn ngữ trước khi chúng ta đề cập tới những lý do chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Trong phần kế tiếp là một số định nghĩa ngắn gọn chúng ta cần phải có trong trí trước khi chúng ta đi xa hơn.
ĐẾN VỚI CÁC TỪ NGỮ
Đức tin: Nương cậy hoặc tín nhiệm ai đó (hay điều gì đó); tin tưởng.
Ân sủng của Đức Chúa Trời: Những hành động yêu thương của Đức Chúa Trời bởi đó Ngài hiến cho ơn huệ mà người ta không xứng đáng được.
Luật pháp của Đức Chúa Trời: Những gì Đức Chúa Trời phán dạy là đúng hay sai, dựa trên các đức tính trọn vẹn của Ngài.
Sự thương xót của Đức Chúa Trời: Sự bày tỏ thái độ của Chúa kìm hãm, giữ lại sự hình phạt.
Tội lỗi: Sự Đức Chúa Trời công bố về việc làm sai trái.
Đổ tội; quy tội: Gán cho người mọi việc làm của người là sai trái.
Sự xưng công bình: Sự công bố một lần đủ cả của Đức Chúa Trời rằng tội nhân không còn ở dưới sự phán xét nữa mà người đang tiếp nhận mọi lợi ích của việc xứng đáng với Ngài vì mọi điều Đức Chúa Jêsus Christ đã làm.
Tha thứ: Hành động của một quan tòa giữ lại sự hình phạt không giáng trên kẻ phạm pháp; sự tha thứ.
Nguôi giận: Xây cơn giận khỏi ai đó rồi trút nó lên người thay thế.
Cứu chuộc: Hành động của Đức Chúa Trời trả giá hình phạt thay cho tội lỗi chúng ta nhờ sự chết hy sinh của Chúa Jêsus.
Công bình: Điều kiện được Đức Chúa Trời tán thưởng; ăn ở xứng đáng theo con mắt nhìn của Đức Chúa Trời.
Cứu rỗi: Hành động của Đức Chúa Trời bởi đó Ngài cứu hạng tội nhân ra khỏi án phạt đời đời.
Sự nên thánh: tiến trình bởi đó một môn đồ của Đấng Christ càng trở nên giống như Ngài hơn.
Tội lỗi: Một vi phạm luật lệ của Đức Chúa Trời; đánh giá thấp các tiêu chuẩn của Ngài về những gì đúng đắn; bất tuân.
LÀM THỂ NÀO ĐỂ ĐƯỢC
ĐỨC CHÚA TRỜI TIẾP NHẬN?
Điều chi xảy ra khi bạn bị ánh sáng chiếu vào – hai lần chăng? Martin Luther vốn biết rõ. Lần đầu tiên xảy ra khi ông đang là một sinh viên luật. Vào một buổi chiều ướt át mùa hè tháng 7 năm 1505, khi ông đang đi dạo bên ngoài, một làn ánh sáng chiếu gần ông đến nỗi nó làm cho phải té ngã xuống đất. Trong cơn sợ hãi ông thề sẽ trở thành một thầy tu. Trong vòng một tháng ông bỏ không đi học nữa và chuẩn bị vào tu viện.
Song linh hồn của Luther thật bất an khi ấy. Ông càng nhận biết thêm về Đức Chúa Trời, ông càng cảm thấy mình bất xứng. Ông đã thử kiêng ăn, dâng mình cầu nguyện, và bỏ ra nhiều giờ xưng tội. Sau mấy năm thất bại, ngã lòng, và vật vã với một ý thức tội lỗi đang dâng tràn và tình trạng không xứng đáng được Đức Chúa Trời tiếp nhận, Luther lại bị “soi sáng” một lần nữa – ánh sáng chân lý của Đức Chúa Trời.
“LINH HỒN CỦA LUTHER THẬT BẤT AN KHI ẤY, ÔNG CÀNG NHẬN BIẾT THÊM VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI, ÔNG CÀNG CẢM THẤY MÌNH BẤT XỨNG”.
Trong thập niên 1500, Luther đã hoàn toàn trở nên một sự dấy động khi ông tách ra với nhà thờ trong thời của ông. Tại sao ông dám dán 95 điểm luận cương lên hai cánh cửa của nhà thờ Wittenburg? Luther đã khám phá ra một lẽ thật rất quan trọng, nó giải phóng, làm thay đổi đời sống cho đến đời đời. Sau khi đã thử trong tuyệt vọng nhiều lần để minh chứng với Đức Chúa Trời rằng ông đã sống tốt đủ để xứng đáng với ân sủng của Ngài. Đôi mắt của Luther được mở ra. Sau cùng, ông mới hiểu ra cách thức Đức Chúa Trời gọi một người xấu là tốt – xứng đáng được gọi là con cái của Đức Chúa Trời, xứng đáng được vào thiên đàng.
Trong khi ông đang đọc Tân Ước sách Rôma, linh hồn ông dường như được soi sáng một lần nữa. Ánh chớp soi sáng mà Đức Chúa Trời ban ra đã cung ứng cho ông mọi sự mà ông đã tìm kiếm – và hơn thế nữa.
Vì sách Rôma giải thích rõ ràng lẽ thật nói về sự xưng công bình, chúng ta nên quan sát kỹ càng hơn chính những câu đã làm thay đổi đời sống của Luther, và dòng lịch sử của Hội thánh.
Nếu bạn học hỏi quyển sách nhỏ nầy cho bản thân mình hay với một nhóm, và bạn thích khám phá ra một điều gì đó, tôi khuyên bạn nên để thì giờ đọc các chi tiết của sách Rôma ghi ra trong phần “Khám phá cá nhân” tại nơi mở đầu của mỗi phân đoạn. Khi bạn đọc, hãy tìm kiếm những giải đáp cho các thắc mắc chính đã được đề ra.
PHẦN 1: KHÔNG CHỮA MÌNH ĐƯỢC.
Phần khám phá cá nhân: Trong phần nầy chúng ta sẽ quan sát Rôma 1.1-3,20. Một số thắc mắc chính là:
+ Tại sao người ta lại chọn bất tuân Đức Chúa Trời?
+ Tại sao chúng ta không chữa mình được?
+ Đức Chúa Trời bày tỏ sự nhơn từ của Ngài như thế nào?
+ Điều chi xảy ra đối với những loạn nghịch về mặt thuộc linh?
+ Ai có thể đánh giá được các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời?
+ Luật pháp của Đức Chúa Trời tốt lành như thế nào?
Điều chi khiến Đức Chúa Trời nổi cơn thạnh nộ? Có người lại không nghĩ đến sự kiện nầy. Họ muốn tưởng tượng ra Đức Chúa Trời vốn yêu thương đến nỗi Ngài không thể giận dữ với bất kỳ ai. Tuy nhiên, các chương đầu tiên của sách Rôma cho chúng ta biết rằng tội lỗi khiến cho Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ nên chúng ta cần phải được xưng công bình. Âm phủ không phải là một huyền thoại hay một mánh khóe gây sợ hãi của nhà truyền đạo. Nó là một số phận rất đích đáng dành cho hết thảy những ai không chịu xây khỏi đường lối sống phục vụ cho bản ngã mà hướng sang Chúa Jêsus.
Trong Rôma 1.16-18 sứ đồ viết:
“Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật”.
Mấy câu nầy giới thiệu sự mâu thuẫn đích thực giữa người hạ mình bày tỏ đức tin nơi Đấng Christ và người gạt bỏ, chôn vùi sự thật của những điều Đức Chúa Trời phán ra. Trọng tâm của tội lỗi là thái độ chúng ta không tin cậy Đức Chúa Trời cung ứng điều chi là tốt nhất cho chúng ta. Đây là sự kiêu căng ích kỷ dẫn chúng ta đến chỗ chối bỏ mọi phép tắc của Đức Chúa Trời và thiết lập bộ luật đạo đức riêng đặt nền duy nhất trên thái độ lấy cái tôi của chúng ta làm trọng. Đấy là lý do cho thấy có ít người chối bỏ Đấng Christ vì những luận cứ thuộc về trí khôn; hầu hết người ta chối bỏ Ngài vì họ không muốn thay đổi phương thức sống của mình.
Tại sao Đức Chúa Trời không chấp nhận lỗi lầm? Phaolô tỏ cho chúng ta nhìn thấy sự hiểu biết cơ bản về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời cùng quyền phép của Ngài là một sự kiện rõ ràng trong cuộc sống. Thế giới quanh chúng ta chỉ ra một Đấng Tạo Hóa toàn tri, toàn năng. Do đó, không một ai trong chúng ta dám nói rằng Đức Chúa Trời đã bỏ chúng ta lại trong chỗ tối tăm.
“Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (câu 19-20).
Thay vì thờ lạy Đấng Tạo Hoá, người ta đã cúi mình trước các vật thuộc trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời (câu 23).
“VÌ ĐIỀU CHI CÓ THỂ BIẾT ĐƯỢC VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI… CHO NÊN HỌ KHÔNG THỂ CHỮA MÌNH ĐƯỢC” (RÔMA 1.19-20).
Thêm nữa, lương tâm của con người là một tấm gương được dựng nên ở trong lòng chỉ ra luật pháp của Đức Chúa Trời (2.15). Thực vậy, ý thức bên trong nầy cho biết điều chi đúng sai người ta có thể phớt lờ và bị chai lì đi (I Timôthê 4.2), song đấy chính là lý do mà không một người nào trong chúng ta sẽ chữa được mình lúc chúng ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời trong ngày phán xét (Rôma 2.16).
Phải chăng Phaolô đang nói đến tôi? Để làm cho chỗ nầy được rõ ràng hơn hầu cho chúng ta không thể quên được nó, Phaolô đã mô tả hai loại người đặc biệt, họ chẳng có một sự biện hộ nào theo luật pháp đối với tội lỗi của họ hết. Hết thảy chúng ta đều thích đáng với một trong hai kiểu phân loại nầy.
Người chuyên tìm kiếm khoái lạc (1.26-32). Cũng được biết là người theo chủ nghĩa khoái lạc, loại người nầy bị điều khiển bởi tư dục khao khát muốn có một sự thỏa mãn cá nhân. Phaolô liệt kê ra vài đặc điểm của kẻ chuyên tìm kiếm khoái lạc: hay chung chạ bừa bãi, đồng tính luyến ái, tham lam, ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ, hay mách, gièm chê, thù ghét Đức Chúa Trời, bạo lực, kiêu ngạo, không vâng lời cha mẹ. Họ khôn khéo về sự làm dữ, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót.
Người tự xưng công bình (2.1-3.8). Loại người nầy không hề nghĩ mình là kẻ tà giáo chuyên tìm kiếm khoái lạc. Thực ra, người rất kinh hoảng vì nhìn thấy sự không tin kính hiển nhiên nơi nhiều người khác trong xã hội. Người công nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và sự thực phải trình sổ cho Ngài. Nhưng người nầy có một vấn đề – người là một kẻ đạo đức giả. Người rất mau chóng chỉ ra tội lỗi của kẻ khác, song lại chậm chạp nhìn nhận tầm cỡ mọi vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời nơi chính mình. Mù lòa đối với mọi lầm lỗi mình, người sẵn sàng nhìn thấy kẻ khác đang hướng đến ngày phán xét khủng khiếp, nhưng lại không nhìn nhận mình đang đối diện với chính sự phán xét ấy.
“CÁC KHOA HỌC GIA KHÔNG BAO GIỜ TÌM THẤY GENE TIN KÍNH NÀO NƠI CON NGƯỜI”.
Sứ đồ Phaolô giải thích rằng đời sống “tôn giáo” là một phần trong đời sống gia đình với một lịch sử rất dài về các sinh hoạt tôn giáo không làm cho một người ra xứng đáng với Đức Chúa Trời đâu. Phaolô đặc biệt vạch trần quan niệm cho rằng khi sanh ra là người Do thái khiến cho một người đáng được Đức Chúa Trời tiếp nhận được miễn trừ sự phán xét.
Đây là sự thật mà mỗi một con người tôn giáo đều cần phải nghĩ tới. Chỉ có bậc cha mẹ tin kính, đi nhà thờ, dâng hiến tiền bạc cho các cuộc truyền giáo, hoặc phục vụ trong các chương trình khác nhau của Hội thánh không làm cho chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận đâu.
Tại sao mọi việc làm của chúng ta che lấp những điều xấu xa và khiến Đức Chúa Trời đẹp lòng chúng ta? Trong trường hợp chúng ta không nhìn thấy vấn đề trước. Phaolô đã đề cập tới vấn đề ấy thẳng thừng đến nỗi chúng ta không thể tránh thoát phần kết luận nầy: Không một ai làm lành đủ để cân đối gánh nặng khủng khiếp của chỉ một tội thôi. Phaolô viết:
“Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi, như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn, Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó. Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi” (3.9-20).
Kết luận: Chúng ta hết thảy đều đứng trước mặt Đức Chúa Trời “được tỏ ra là phạm tội”. Mỗi một người chúng ta đều vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời không cứ cách nào. Chỉ tìm cách làm lành thôi không bôi xóa được tội lỗi đâu. Trong tòa án của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng lập ra pháp độ, là Quan Án, là Đấng Bồi Thẩm, chúng ta đứng đấy hoàn toàn bất lực, không một ai đưa ra được chứng cớ gì hợp pháp để Ngài không kể tội chúng ta.
Vì vậy chúng ta sẽ làm gì đây? Thối lui chăng? Không. Mục đích của Phaolô trong việc đưa chúng ta đến với cứu cánh của chúng ta là tỏ ra cho chúng ta thấy chúng ta cần Đấng Christ đến để giải cứu chúng ta là ngần nào. Trong phần kế tiếp của sách Rôma chúng ta sẽ thấy thể nào Đức Chúa Trời trở nên Quan Án và buông tha chúng ta ra khỏi hình phạt của tội lỗi.
PHẦN 2: MỘT SỰ THAY THẾ:
Phần khám phá cá nhân: Trong phân đoạn nầy chúng ta sẽ quan sát Rôma 3.21-4.25 và 9.1-11.36. Một số thắc mắc chính là:
+ Chúng ta ăn ở thế nào với Đức Chúa Trời đây?
+ Ai gánh lấy hình phạt của chúng ta? Tại sao?
+ Tại sao Ápraham được nhắc tới nhiều như vậy?
+ Tại sao chúng ta không thể tố cáo Đức Chúa Trời xử sự bất công?
+ Tại sao chúng ta không thể tự phụ nơi đức tin của mình?
Đức Chúa Trời phán chúng ta sống công bình thể nào trong khi chúng ta sống sai lạc? Rôma 3.21-26 rất quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta về vấn đề nầy.
“Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp: tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus”.
Chúng ta hãy tóm tắt mấy điểm chính trong các câu nầy:
- Đức Chúa Trời giàu ơn đã nắm lấy quyền chủ động cung ứng phương thức cho chúng ta biết sống xứng đáng với Ngài.
- Không một người nào giữ được luật pháp của Ngài.
- Đặt lòng tin vào Đấng Christ, hơn là vào việc cố gắng làm lành, khiến cho chúng ta ra công bình với Đức Chúa Trời.
- Sự chết hy sinh của Chúa Jêsus đã trả giá hình phạt mà chúng ta đáng phải chịu. Là của lễ thay thế cho chúng ta, Ngài đã kinh nghiệm cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời kháng cự tội lỗi.
- Sự công bình của Đức Chúa Trời được thỏa mãn và chúng ta được tuyên bố xứng đáng với Đức Chúa Trời vì mọi sự Đức Chúa Trời đã làm thay cho chúng ta, chớ không phải vì mọi sự chúng ta làm cho chính mình.
- Đức Chúa Trời giữ lại cơn phán xét giáng trên tội lỗi cho đến chừng Đấng Christ trở thành của lễ thay thế cho chúng ta.
- Là Quan Án, Đức Chúa Trời phán chúng ta đang sống trong sự sai lầm; là Đấng xưng công nghĩa, Ngài tuyên bố chúng ta hiện nay đang sống trong sự công bình.
Sự xưng công bình có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta? Sự ấy có nghĩa là tội lỗi chúng ta không còn nữa và sự công bình của Đấng Christ đã được ban cho chúng ta. Đức Chúa Trời có thể gọi hạng người xấu xa là tốt lành vì Chúa Jêsus đã phó chính mình Ngài làm của lễ thay thế chúng ta trong sự chết và trong sự sống của Ngài. Vì thế khi Đức Chúa Trời nhìn xem chúng ta, nhìn thấy Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta hãy quay trở lại với phần định nghĩa đã đưa ra ở trên trong quyển sách nhỏ nầy:
Sự xưng công bình là sự công bố một lần đủ cả của Đức Chúa Trời rằng tội nhân không còn ở dưới sự phán xét nữa mà là người tiếp nhận mọi lợi ích của việc sống xứng đáng với Ngài vì mọi điều Đức Chúa Jêsus Christ đã làm.
Vị Giáo sư Kinh Thánh Warren Wiersbe nói: “Sự xưng công bình là hành động của Đức Chúa Trời, bởi đó Ngài tuyên bố tội nhân biết tin cậy Chúa là công bình trong Đấng Christ trên cơ sở công tác đã hoàn tất của Đấng Christ trên thập tự giá”.
“KHI ĐỨC CHÚA TRỜI NHÌN XEM CHÚNG TA, NGÀI NHÌN THẤY ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST”.
Nhà văn và là Mục sư Charles Awindoll viết: “Sự xưng công bình là hành động thương xót của Đức Chúa Trời, bởi đó Ngài tuyên bố công bình hạng tội nhân biết tin cậy Chúa trong khi người vẫn còn là sống trong tình trạng phạm tội. Ngài nhìn thấy chúng ta trong nhu cần của chúng ta, đang đắm mình trong vũng bùn tội lỗi. Ngài nhìn thấy chúng ta đang tìm kiếm Đức Chúa Jêsus Christ và tin cậy Ngài hoàn toàn bởi đức tin, thanh tẩy chúng ta ra khỏi tội lỗi chúng ta. Và dù chúng ta đến với Ngài với mọi nhu cần của chúng ta và trong mọi sự tối tăm của mình, Đức Chúa Trời phán với chúng ta rằng: ‘Ta tuyên bố ngươi là công bình! Được tha thứ! Được tha thứ!’”
Há như thế có phải là “tôi chưa hề phạm tội” không? Đây là một cách định nghĩa rất phổ thông thường được sử dụng trong các lớp học Trường Chúa Nhật. Định nghĩa như thế cũng được, song nó cũng có thể cung ứng ấn tượng không đúng.
Về mặt tích cực, sự định nghĩa nầy song hành với những gì Phaolô đã nói trong sách Rôma về sự được xưng công bình với Đức Chúa Trời. Sự xưng công bình có nghĩa là Đức Chúa Trời gắn mọi sự chúng ta làm với mọi sự tốt đẹp trọn vẹn của Đấng Christ. Tì vít của tội lỗi không còn nữa.
Chúng ta không phải là vô tội, và đây là điều chắc chắn – ấy là chúng ta đã phạm tội. Cũng không có một giá nào trả nổi để buông tha chúng ta ra khỏi sự tội được. Sự thật là đây: chúng ta đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời như hạng tội nhân đã được tha thứ, hình phạt mà chúng ta đáng phải chịu đã do Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng thay thế của chúng ta, Ngài đã gánh lấy hết rồi.
Tại sao Phaolô lại viết ra một chương về Ápraham? Chúng ta học được gì về sự xưng công bình từ một người đã sống trước Đấng Christ những 2000 năm?
Phaolô đã dành riêng một chương cho Ápraham vì cớ những người mà thư tín Phaolô nhắm đến đều là người Do thái. Và dĩ nhiên mọi người Do thái đều lần trở lại với Ápraham tổ phụ họ. Từ kinh nghiệm riêng của mình, Phaolô biết rõ mối nguy hiểm của sự tin cậy trong việc liên hệ di truyền của mình với Ápraham và qua dấu cắt bì theo phần xác hơn cả việc thiết lập một mối quan hệ đức tin quan trọng với Đức Chúa Trời. Phaolô và những đồng bào Do thái của mình đều đang tìm cách xưng công bình với Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ mọi luật lệ mà Đức Chúa Trời đã truyền cho Môise. Thế nhưng họ bị lừa vào sự suy tưởng cho rằng họ đang bước đi trên những giới hạn tốt đẹp với Đức Chúa Trời nhờ vào mọi nổ lực của họ trong việc tuân giữ Luật Pháp. Họ đang tin cậy vào chính bản thân họ hơn là tin vào sự thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời đã tỏ ra trong Đấng Mêsi đã được hứa cho.
Phaolô dẫn chứng về Sáng thế ký 15.6 khi ông viết: “Vì Kinh Thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người” (4.3). Kế đó Phaolô nói: “Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ, còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình. Ấy vậy, vua Đa-vít cũng tỏ ra cái phước của người mà Đức Chúa Trời kể cho là công bình chẳng bởi việc làm” (4.4-6).
Mục đích chính của chương nầy là đây: Đức Chúa Trời tuyên bố Ápraham là công bình trước khi Ápraham chịu làm phép cắt bì theo phần xác. Ápraham không được xưng công bình vì ông đã làm một số việc để đạt tới nó nhưng vì ông chỉ đơn sơ tin cậy Đức Chúa Trời làm những gì Ngài phán Ngài sẽ làm mà thôi.
Sự xưng công bình như vậy có quá dễ dãi không? Chúng ta không phải làm chi hết sao? Có nhiều người đã bỏ ra một thời gian khó nhọc với ý niệm xưng công bình nầy. Trông nó dường như quá dễ dãi, vì vậy họ không cần đến nó. Họ thích nghĩ rằng bằng cách làm thật nhiều dịch vụ nhân đạo hoặc tự hiến mình vào sự cầu nguyện và kiêng ăn hay các nghi thức khác thì họ mới xứng đáng với sự cứu rỗi. Tuy nhiên, Kinh Thánh phán rằng mọi nổ lực đó tuyệt đối chẳng có giá trị gì hết khi tìm kiếm sự cứu rỗi.
“CÓ NHIỀU NGƯỜI ĐÃ BỎ RA MỘT THỜI GIAN KHÓ NHỌC VỚI Ý NIỆM XƯNG CÔNG BÌNH NẦY. TRÔNG NÓ DƯỜNG NHƯ QUÁ DỄ DÃI, VÌ VẬY HỌ KHÔNG CẦN ĐẾN NÓ”.
Hãy xem sứ đồ Phaolô viết gì cho người thành Philíp. Sau khi đưa ra mọi sinh hoạt “tôn giáo” trước khi trở lại đạo bởi đó ông tìm kiếm ơn của Đức Chúa Trời, Phaolô nói:
“Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin” (Philíp 3.7-9).
Rồi trong bức thư ông gửi cho một số tín đồ tại thành Êphêsô, Phaolô nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi là “sự ban cho của Đức Chúa Trời” – kết quả của sự Ngài làm ra, chớ không phải là việc làm của chính chúng ta đâu.
“Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Êphêsô 2.8-10).
Martin Luther đáp ứng ra sao đối với lẽ thật nầy? Chúng ta đã nhắc ở trên thể nào lẽ thật về sự xưng công bình bởi đức tin đã cách mạng hóa suy tưởng của Martin Luther. Trong lời lẽ của ông, sau đây là cách sự xưng công bình ấy diễn ra:
“Tôi ao ước muốn hiểu rõ búc thư của Phaolô viết cho người thành Rôma và chẳng hiểu được nhiều trừ ra một tư tưởng, ấy là ‘sự công bình của Đức Chúa Trời’, vì tôi muốn nói tới sự công bình bởi đó Đức Chúa Trời là công nghĩa và xử sự công bình trong khi hình phạt kẻ không công bình. Tình trạng của tôi, mặc dù là một tu sĩ, tôi phải đứng trước mặt Đức Chúa Trời như một tội nhân có sự bối rối trong lương tâm, và tôi không tin công trạng của tôi sẽ làm cho Ngài được vui thỏa. Vì thế tôi không thích người công bình và tỏ ra giận hờn Đức Chúa Trời, mà đúng hơn đã thù ghét và lên tiếng chống nghịch Ngài. Tuy nhiên tôi đã bám theo Phaolô và đã có sự mong mỏi muốn biết rõ ông đang nói gì. Ngày và đêm tôi lấy làm lạ cho tới khi tôi nhìn ra mối liên hệ giữa người công bình của Đức Chúa Trời và câu nói: ‘Người công bình sẽ sống bởi đức tin mình’. Khi ấy tôi bèn nắm lấy sự công bình của Đức Chúa Trời, chính sự công bình mà bởi đó nhờ ân điển và lòng thương xót Đức Chúa Trời nhờ đức tin xưng công bình chúng ta. Vậy nên tôi tự mình cảm thấy như được sanh lại và phải trải qua mấy cánh cửa đang rộng mở kia mà vào trong thiên đàng. Cả Kinh Thánh như mang lấy một ý nghĩa mới, và trước kia ‘sự công bình của Đức Chúa Trời’ đã làm cho tôi đầy dẫy với thù hận, còn bây giờ nó đã trở nên ngọt ngào khôn tả xiết đối với tôi trong tình yêu lớn lao hơn. Phân đoạn nầy của Phaolô đã biến thành cánh cửa của thiên đàng đối với tôi” (Dẫn chứng bởi sử gia Hội thánh Roland Baiton trong hồi ký của ông viết về Luther, Ở đây tôi đứng).
Điều nầy có bất công đối với bạn không? Trong Rôma 9-11 Phaolô đã giải đáp một sự khó chịu mà ông lường trước đối với các độc giả của mình. Vì sự cứu rỗi được Đức Chúa Trời đề xướng và sự xưng công bình là một công việc thuộc quyền Đức Chúa Trời trên đời sống của người Ngài chọn giải cứu, một người có thể tố cáo Đức Chúa Trời vì không công bình trong việc xưng công bình người nầy mà không phải người kia.
“TÔI ĐỨNG TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ MỘT TỘI NHÂN CÓ SỰ BỐI RỐI TRONG LƯƠNG TÂM, VÀ TÔI KHÔNG TIN CÔNG TRẠNG CỦA TÔI SẼ LÀM CHO NGÀI ĐƯỢC VUI THỎA”.
Dù vậy, toàn bộ sự bàn bạc của Phaolô đã lên tới điểm nầy trong sách Rôma, ấy là sự cứu rỗi hoàn toàn không tạo ra được, không hình thành được và chẳng có quan hệ gì với bất kỳ một nổ lực nào tỏ ra công bình bởi bất kỳ một người nam hay nữ nào. Phaolô nói: “Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót” (9.16). Đây là một lẽ thật đối với nhiều người phải tiếp thu vì nó làm hạ thấp sự kiêu ngạo của chúng ta – chúng ta tuyệt đối chẳng có gì để dâng cho Đức Chúa Trời hết. Mọi sự chúng ta có thể làm là bởi đức tin tiếp nhận những gì Ngài đã hiến cho chúng ta.
Vậy thì người Do thái phạm sai lầm ở chỗ nào? Phaolô nói rằng Israel đã theo đuổi sự công bình và đã thất bại “Tại họ chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở… Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của mình, nên không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời” (9.32; 10.3).
Bằng cách đối chiếu, sự ban hiến ơn cứu rỗi giờ đây đang mở ra cho hết thảy những ai bởi đức tin tiếp nhận nó như một món quà vậy:
“Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi. Vả, Kinh-Thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (10.9-13).
Phải chăng Giacơ mâu thuẫn với sự dạy của Phaolô về sự xưng công bình bởi đức tin? Tác giả của bức thơ ngắn mang tên ông được mọi người tin là của người em kế Chúa Jêsus. Sau vài năm vô tín (Giăng 7.2-5), Giacơ cũng tiếp nhận lẽ thật cho rằng Chúa Jêsus là Cứu Chúa, ông trở thành một vị lãnh tụ trong Hội thánh đầu tiên (Công vụ các Sứ đồ 12.17; 15.13), và ông được Phaolô nhắc tới luôn trong sự tôn trọng (Galati 1.19; 2.9).
Thế mà tại sao có người cho rằng Giacơ (bức thư của ông đã được viết ra trước thơ Rôma) và Phaolô đã không đồng ý về vấn đề cứu rỗi cơ bản nầy? Vấn đề phát sinh nếu chúng ta rút những gì Giacơ nói ra khỏi văn mạch của mục tiêu mà ông đã cố gắng trình bày. Giacơ viết:
“Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng?” (Giacơ 2.14).
Kế đó Giacơ đưa ra một điển hình thực tế về sự đáp ứng cho một người đang cần có đồ ăn và quần áo. Ông luận rằng thật la vô ích khi nói ra một lời nói ân hậu mà lại không cho người ta đồ ăn hay quần áo. Ông nói tiếp:
“Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết. Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta” (Giacơ 2.14, 17-18).
Tiếp đến Giacơ, giống như Phaolô, đã kể ra tấm gương của Ápraham hầu minh chứng mục đích của ông. Ông viết:
“Ap-ra-ham, tổ phụ chúng ta, khi dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao? Thế thì, ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, và nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn. Vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Ap-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người; và người được gọi là bạn Đức Chúa Trời. Nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi” (Giacơ 2.21-24).
Đáp ứng lại, Phaolô đã nói gì? Ông hết lòng đồng ý vì ông và Giacơ đều đang đề cập tới hai khía cạnh có quan hệ nhưng khác nhau về sự xưng công bình. Phaolô đã nói về hành động xưng công bình của Đức Chúa Trời bởi đó Ngài tuyên bố một người được xưng công bình với Ngài ngay thời điểm người ấy đặt lòng tin cậy Jêsus làm Cứu Chúa. Giacơ viết về bằng chứng trông thấy được của sự xưng công bình đang xảy ra trên đời sống mới của một người. Với ý nghĩa đầu tiên, chúng ta được xưng công bình trong con mắt của Đức Chúa Trời. Với ý thứ hai, chúng ta được xưng công bình trước mắt của con người.
- Ronald Blue, trong quyển The Bible Knowledge Commentary, viết “Cả Phaolô và Giacơ đều đưa ra đầy đủ tầm cỡ của đức tin. Phaolô vết về đức tin cứu rỗi bên trong theo nhận định của Đức Chúa Trời. Còn Giacơ viết về đức tin phục vụ ở bề ngoài theo nhận định của con người. Hột giống đức tin cứu rỗi chân thật được thể hiện bằng bông trái của đức tin phục vụ. Mục đích của Giacơ: ấy là đức tin theo Kinh Thánh đang tác động” (trang 816).
“HỘT GIỐNG ĐỨC TIN CỨU RỖI CHÂN THẬT ĐƯỢC THỂ HIỆN BẰNG BÔNG TRÁI CỦA ĐỨC TIN PHỤC VỤ”.
Nhà cải chánh người Pháp là John Calvin (1509-1564) đã giải thích câu nói của Giacơ theo cách nầy:
“Khi Phaolô cho rằng người ta được xưng công bình mà không cần sự phụ giúp của những việc lành, còn Giacơ không cho phép bất kỳ ai mốn được xưng công bình mà lại thiếu mất đi những việc lành. Chú ý kỹ phạm trù nầy sẽ khiến cho người ta gỡ rối từng điểm nghi ngờ; vì lầm lẫn trong những sự chúng ta đối kháng đang nằm trong điều nầy, họ nghĩ Giacơ đang định nghĩa phương pháp xưng công bình, ở đó mục tiêu chính của ông là hủy diệt sự an ninh của những kẻ đòi hỏi đức tin như lý do để bào chữa cho sự họ xem thường các việc lành. Vì lẽ đó, hãy để cho họ vặn cong những lời lẽ của Giacơ nếu họ có thể, họ sẽ không bao giờ rút ra gì được ngoại trừ hai điều nầy: Ấy là bóng ma đức tin trống rỗng kia không xưng công bình được, và người tín đồ đó, không bày tỏ ra sự tự xưng công bình bằng những việc làm”.
Như chúng ta thấy đấy, sứ đồ Phaolô cũng dõng dạc tuyên bố rằng một người có đức tin chân chính trong Đấng Christ sẽ bày tỏ ra phương thức sống mới, một đời sống trước sau như một với lời tuyên xưng rằng mình đã được xưng công bình với Đức Chúa Trời rồi.
PHẦN 3: NHIỀU KẾT QUẢ
Phần khám phá cá nhân: Trong phân đoạn nầy chúng ta sẽ quan sát Rôma 5-8 và 12-16. một số thắc mắc chính là:
+ Đâu là những kết quả của sự xưng công bình?
+ Tại sao hạng người tin Chúa xem tội lỗi là nghiêm trọng?
+ Tại sao chúng ta phải chịu khó làm việc để được thánh thiện?
+ Đức Chúa Trời giúp đỡ chúng ta thể nào để được nên thánh?
+ Người được tha thứ sinh sống như thế nào?
Sự xưng công bình tạo ra những điểm khác biệt nào? Hôn nhân là một sự kiện tương tự với mối quan hệ giữa sự tuyên bố hợp pháp và sự bày tỏ thực tế cuộc hôn nhân ấy. Nghi thức hôn nhân, giống như sự xưng công bình, là một sự tuyên bố rằng hai người đang bước vào một mối tương giao mới. Một người nam và một người nữa, chẳng có quan hệ gì trước đó, đang bước vào một giao ước hợp pháp sẽ làm thay đổi đời sống họ. Thình lình họ chia sẻ của cải, họ cùng san sẻ chỗ ở, rồi họ nhìn vào tương lai khi mối tương giao của họ ngày càng gần gũi và phong phú hơn. Hôn nhân làm thay đổi nhiều như thế đấy.
Mặt khác, một sự tuyên bố về hôn nhân không làm cho người nam và người nữ trở thành những người bạn đời trọn vẹn trong cuộc sống đâu. Họ phải thôi không còn suy nghĩ và sinh hoạt giống như những người độc thân và phải bắt đầu suy nghĩ và sinh hoạt y như những người đã lập gia đình rồi. Cũng một thể ấy, khi chúng ta được Đức Chúa Trời xưng công bình rồi, chúng ta đã thiết lập một mối tương giao cần phải được vun tưới mãi.
Tương tự, hôn nhân còn tiến xa hơn thế nữa vì hôn nhân không luôn luôn kết thúc. Nhưng khi Đức Chúa Trời xưng công bình chúng ta và đem chúng ta vào trong một mối tương giao mới với Ngài, Ngài không hề ly dị chúng ta. Không một điều gì phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đấng Christ được (Rôma 8.38-39). Chúng ta có thể làm cho Ngài buồn lòng luôn luôn, song Ngài nhất quyết xác lập mối tương giao ấy cho đến đời đời, Ngài sẽ làm cho mối giao thông đó được trọn vẹn (câu 29-30). Hãy nhớ, sự xưng công bình dựa trên những điều Đức Chúa Trời đã làm ra, chớ không dựa trên mọi việc làm của chúng ta.
“SỰ XƯNG CÔNG BÌNH DỰA TRÊN NHỮNG GÌ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM RA, CHỚ KHÔNG DỰA TRÊN MỌI VIỆC LÀM CỦA CHÚNG TA”.
Đâu là những lợi ích thực tế của sự xưng công bình? Như chúng ta đã trình bày ở phần trước, Phaolô đã đồng ý hết lòng với Giacơ rằng sự xưng công bình không phải là cứu cánh của câu chuyện. Giống như người nông dân kia trông đợi cây táo kết quả, cũng một thể ấy Đức Chúa Trời buộc phải hành động trong đời sống của một người được xưng công bình để đem lại càng nhiều bông trái của cách sống xứng đáng. Một người đã được xưng công bình không trở nên trọn vẹn một cách máy móc và thôi không còn là một tội nhân cần phải được cải thiện nữa.
Trong Rôma 5-8, Phaolô bày tỏ ra những lợi ích của sự xưng công bình với Đức Chúa Trời. Sau đây là một danh sách được liệt kê ra từng phần. Chúng ta có:
+ Hòa thuận với Đức Chúa Trời (5.1).
+ Trông cậy Đức Chúa Trời sẽ làm xong những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta (câu 2).
+ Ý thức về tình yêu của Đức Chúa Trời nhờ Đức Thánh Linh là Đấng đang ngự ở trong lòng (câu 5).
+ Sự bảo đảm rằng chúng ta sẽ không đối diện với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; chúng ta đã được phục hòa lại với Ngài (câu 9-11).
+ Sự sống đời đời (câu 21).
+ Khả năng sống một đời sống mới (6.4).
+ Hy vọng về sự sống lại trong tương lai (câu 5).
+ Tự do không còn bị tội lỗi quản trị nữa; cơ hội sinh sống như các tôi tớ của Đức Chúa Trời (câu 6-23).
+ Một sự bắt buộc phải nương cậy vào Thánh Linh của Đức Chúa Trời và không đánh giá tình trạng thuộc linh của mình bằng khả năng giữ các luật lệ (7.1-6).
+ Một cuộc đấu tranh với tội lỗi, chúng ta sẽ hoàn toàn chiến thắng trong Đức Chúa Jêsus Christ (câu 7-25).
+ Sự vùa giúp và quyền phép của Đức Thánh Linh khiến cho chúng ta biết làm theo những việc đáng phải làm (8.1-11).
+ Một sự đến gần Đức Chúa Trời; chúng ta giờ đây có thể gọi Ngài là Cha (câu 15-16).
+ Một địa vị mới là những kẻ kế tự của Đức Chúa Trời và đồng kế tự với sự vinh hiển của Đấng Christ (câu 17).
+ Hy vọng một ngày kia tiếp nhận đầy dủ mọi ích lợi của sự làm con cái Đức Chúa Trời (câu 23-25).
+ Sự vùa giúp của Đức Thánh Linh khi chúng ta cầu nguyện (câu 26-27).
+ Sự trông cậy chắc chắn rằng một ngày kia chúng ta sẽ được trọn vẹn giống như Đấng Christ vậy (câu 28-31).
+ Sự tái bảo đảm rằng không một điều gì có thể phân cách chúng ta ra khỏi mối tương giao với Đức Chúa Trời (câu 31-39).
Chúng ta cần phải làm gì? Như là kết quả của sự được xưng công bình, chúng ta hiện nay đã được ban phước cho rất là nhiều. Đức Chúa Trời mong mỏi chúng ta phải làm việc nơi phần của mình trong mối tương giao như thế nào? Các chương 12-16 trong sách Rôma cung ứng cho chúng ta nhiều sự dạy dỗ để chúng ta biết phải sinh sống như thế nào!
Sự khác biệt giữa chúng ta là những tội nhân đã được xưng công bình và quá trình ngày càng trở nên giống như Đấng Christ hơn là môn đồ của Ngài đôi khi được nhắc tới bởi những từ đứng và tình trạng (hay địa vị và thực hành). Đức Chúa Trời đã tuyên bố một lần đủ cả chỗ đứng của chúng ta là những tín đồ trong Đấng Christ: ấy là chúng ta đã được xưng công bình, được Đức Chúa Trời xem là đang sở hữu sự công bình của Đấng Christ. Tình trạng của chúng ta là cấp độ trưởng thành thuộc linh trong hiện tại, đây là những môn đồ của Đấng Christ. Tình trạng ấy chỉ ra trình độ nương cậy vào Đấng Christ của chúng ta, sự chúng ta đầu phục mọi đường lối của Ngài, ngày ngày tỏ ra đức tin của mình theo cách thực tế trong khi đưa ra những sự lựa chọn mà Đức Chúa Trời cho là đúng.
Những điều Phaolô mô tả trong Rôma 12-16 có quan hệ với sự bày tỏ ra đức tin trong đời sống hàng ngày. Chúng ta cần phải:
+ Dâng thân thể mình cho Chúa (12.1).
+ Kháng cự mọi áp lực của thế gian phù hợp với các tư tưởng và hành động của tội lỗi, và thay vào đó hãy để cho Đức Chúa Trời biến đổi tâm trí của chúng ta (câu 2).
+ Phục vụ các tín hữu khác với mọi khả năng Đức Chúa Trời ban cho (câu 3-8).
+ Thành thật yêu thương (câu 9).
+ Ghét điều ác, bám lấy điều lành (câu 9).
+ Lấy lẽ kính nhường nhau (câu 10).
+ Sống vui sướng, nhịn nhục trong lúc rối rắm, trung tín trong sự cầu nguyện (câu 12).
+ Ân cần tiếp khách (câu 13).
+ Đừng trả thù (câu 14-17).
+ Bày tỏ ra tình cảm (câu 15).
+ Tránh thành kiến (câu 16).
+ Làm theo những điều tạo ra sự hoà thuận và lấy thiện trả ác (câu 17-21).
+ Phục các bậc cầm quyền và luật pháp (13.1-7).
+ Yêu tha nhân (câu 8-11).
+ Cư xử lịch sự (câu 12-14).
+ Làm mọi sự có thể làm phù hợp với tín hữu khác và làm cho vững đức tin của họ (14.1 – 15.13).
+ Tỉnh thức đối với hạng giáo sư giả (16.17-19).
Dường như đây là một danh sách quá dài, nhưng có nhiều lời khuyên trong Kinh Thánh. Khi bạn đọc Tân Ước, bạn sẽ thấy có nhiều lần Đức Chúa Trời cùng các sứ đồ của Ngài thúc giục các tín hữu hãy đưa đức tin của họ vào trong thực hành.
“CHÚNG TA ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH CHỈ BỞI ĐỨC TIN. NHƯNG CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH CHỈ CÓ ĐỨC TIN THÔI ĐÂU”.
Chúng ta đã đề cập đến Êphêsô 2.8-10. Chúng ta hãy để một chút thì giờ xem qua câu 10, vì nó có ý nghĩa rất quan trọng phán với chúng ta theo sự bàn luận nầy: “vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo”. Ngay lập tức sau khi đưa ra mục đích chúng ta được cứu bởi đức tin chớ không phải bởi việc làm, Phaolô mau chóng nhắc cho hạng độc giả của ông phải nhớ rằng chúng ta được “dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ” vì mục đích làm theo những việc lành. Thực ra, điều nầy đã có trong chương trình của Đức Chúa Trời ngay từ lúc sáng thế: “Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo”. Không thể nói sao cho rõ ràng và mạnh hơn thế.
Đã thế tại sao lại có nhiều người nghĩ họ cần phải tìm kiếm sự cứu rỗi cho riêng họ chớ? Đây có thể là một vấn đề kiêu ngạo không? Cần phải hạ mình xuống khi thừa nhận mình hoàn toàn không xứng đáng với sự thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời. Như chúng ta đã nhìn thấy trong Phần 1: Không thể chữa mình được, không một ai có điều chi đáng để khoe khoang khoác lác trước mặt Đức Chúa Trời hết. Điều nầy đánh ngay vào cái lõi nan đề của chúng ta. Từ khi Ađam và Êva cắn lấy trái cấm, chúng ta là những thành viên của dòng giống con người đều có khuynh hướng suy nghĩ chúng ta biết rõ hơn Đức Chúa Trời những gì là tốt đẹp nhất dành cho chúng ta. Chúng ta có một suy diễn về tầm quan trọng, về mọi khả năng, và về sự tốt đẹp của chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời xua tan mọi sự kiêu ngạo đó với một lời kêu gọi ăn năn hạ mình xuống và một sự tiếp nhận ơn cứu rỗi, theo cách người ăn mày đáng đói khát nhận lấy một miếng bánh vậy.
“LẠY CHÚA, HÃY ĐÒI BẤT CỨ KHI NGÀI MUỐN, SONG HÃY CUNG CẤP NHỮNG GÌ NGÀI ĐÒI HỎI”.
Hoặc có lẽ có người tưởng mình đã sống quá tồi tệ đến nỗi Đức Chúa Trời không thể xem người ấy là đáng nhận. Đức Chúa Trời không thể xem người ấy là đáng nhận. Đức Chúa Trời phán chúng ta hết thảy đều xứng đáng với địa ngục. Và sâu sắc hơn nữa, khi Đức Chúa Trời quan tâm, không một tội lỗi nào (ngoại trừ sự chối bỏ Ngài hoàn toàn) là quá tồi tệ đến nỗi không tha thứ được. Có nhớ sứ đồ Phaolô không? Vì sự tự xưng công bình của mình và sự bắt bớ của ông đối với những Cơ đốc nhân trước khi ông trở lại đạo, ông đã tự coi mình là tội khôi trong hàng tội nhân, và ông đã tuyệt đối tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã tiếp nhận ông.
Còn những câu trong Kinh Thánh có âm điệu chúng ta được cứu bởi việc làm? Những câu đó dường như muốn ám chỉ rằng sự cứu rỗi của chúng ta dựa trên một sự xét đoán mọi hành động của chúng ta theo đúng văn mạch mà Đấng Christ cùng các sứ đồ đã giảng dạy.
James Montgomery Boice giảng về vấn đề nầy trong quyển sách của ông có nhan đề là Những cái nền của đức tin Cơ đốc. Sau khi đưa ra vài thí dụ và những sự dạy của Đấng Christ có âm hưởng được cứu bởi việc làm, Boice viết: “Những truyện tích nầy cùng những lời lẽ khác của Chúa Jêsus dường như dạy rằng con người ta được cứu trên cơ sở sự bền đỗ, thông sáng, sự mạo hiểm hay lòng từ thiện của họ. Thế nhưng vấn đề nầy phải triệt tiêu khi chúng ta công nhận rằng Chúa Jêsus không tạo ra sự mâu thuẫn mà đúng hơn Ngài đang bày tỏ mọi hậu quả của sự tin chân thật Ngài là Cứu Chúa có ý nghĩa như thế nào” (trang 429-430).
Những việc làm của bạn đang nói gì về bạn? Khi người ta nhìn xem bạn và tôi, có phải họ đang nhìn thấy bằng chứng Đức Chúa Trời đã thực hiện công việc của Ngài trên đời sống bạn không? Họ có nhìn thấy bông trái của sự xưng công bình và công tác tái sanh của Đức Chúa Trời không? (Giăng 3). Mặc dù quả thật rằng sự xưng công bình của Đức Chúa Trời đến với hết thảy những ai chịu tiếp nhận nó bằng cách tin cậy Đấng Christ, không một ai phạm vào lầm lỗi khi suy nghĩ rằng mình đến với Đấng Christ để được cứu trong khi cứ khư khư giữ lại cách sống cũ. Đức tin chân thật tạo ra bông trái của sự ăn năn và sự dâng mình cho Đấng Christ. Chỉ đơn giản như vậy thôi.
“ĐỨC TIN CHÂN THẬT TẠO RA BÔNG TRÁI CỦA SỰ ĂN NĂN VÀ SỰ DÂNG MÌNH CHO ĐẤNG CHRIST”.
Giống như Martin Luther, có phải bạn đã bị “soi sáng” khi bạn đọc sách Rôma không? Nếu quả thật thế, hãy vui mừng trong những gì Đấng Christ đã làm cho bạn và hãy chia sẻ khám phá mới tìm được cho những người khác.
VỀ THỬ THÁCH
Nếu bạn thình lình được đưa vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và bạn nghe một vị trạng sư công tố liệt kê ra mọi lý do bạn phải bị đưa xuống địa ngục, bạn sẽ biện hộ sao đây? Có tội hay không có tội?
Sứ đồ Phaolô nói: “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rôma 3.23). Câu nầy kết án chúng ta có tội rồi.
Còn hình phạt dành cho tội lỗi chúng ta? “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rôma 6.23).
Chúng ta có thể nói gì trong phần biện hộ của chúng ta? “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rôma 5.8).
BẠN NÓI GÌ TRONG
PHẦN BIỆN HỘ CỦA BẠN?
Vì Chúa Jêsus đã trở nên của lễ thay thế cho chúng ta, hình phạt đã được trả thay rồi. Nhưng chúng ta phải tiếp nhận ơn tha thứ của Ngài như một món quà vậy. Đòi hỏi duy nhất: ấy là chúng ta nhìn nhận nhu cần của mình và nhận lãnh sự ban cho của Ngài.
“Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu… Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rôma 10.9,13).
Nếu bạn chưa làm điều đó trước đây, hãy thưa với Chúa Jêsus rằng bạn tin nơi Ngài đã chịu chết như thay thế cho bạn và hãy tiếp nhận ơn tha thứ rời rộng và không đáng được đó đi. Đấy là phương thức duy nhất để được xưng công bình về sự sai trái của mình, được Đức Chúa Trời tiếp nhận và dám quyết chắc về thiên đàng.
***

