1 Tháng 3
NGANG QUA LỬA
“Lạy Chúa, bóng tối tăm còn che phủ đất nước nầy bao lâu nữa?”
Lời nói trước khi chết của Patrick Hamilton đã ám ảnh George Wishart, đứa con trai duy nhất của James Wishart xứ Pitarrow. George người cao ráo, tóc nâu đen, đẹp trai, tánh tình vui vẻ, và rất sốt sắng cả trong việc học hành lẫn giảng dạy. Ông tin rằng đường lối cứu rỗi của Đức Chúa Trời phải thông qua công tác đã hoàn tất của chỉ một mình Đấng Christ. Những tín điều Cải chánh đó đã đưa ông vào chỗ liều mạng sống của mình. Năm 1544, ông khởi sự rao giảng tại Dundee từ sách Rôma. Giữa vòng khán thính giả là chàng thanh niên có tên là John Knox. Knox rất có ấn tượng với Wishart và anh bắt đầu phục vụ trong vai trò vệ sĩ cho Wishart, mang bên hông mình hai thanh gươm trần.
Giám Mục David Beaton tàn bạo tìm cách đàn áp những người Tin lành, rồi khi Wishart sẽ bị bắt giữ là chắc chắn, Knox đã xin được ở lại bên cạnh Wishart. Wishart nói: “Không”, khi vòng tay ôm lấy chàng thanh niên ấy, “một người là đủ cho sự hy sinh trong lúc nầy rồi”. Đến sáng ngày 1 tháng Ba năm 1546, Wishart bị đưa lên giàn giáo, ở đấy ông nói với đám dân đông: “Ta khuyên các ngươi, hãy yêu mến Lời Đức Chúa Trời và chịu khổ cách nhịn nhục. Ta biết chắc rằng linh hồn ta sẽ dùng bữa tối với Cứu Chúa ta ngay đêm nay”. Thế rồi, ông bị siết cổ chết và thi thể ông bị thiêu thành tro bụi.
Cái chết của ông đã làm cho Knox cùng mọi người ở xứ Tô cách Lan nổi giận dữ lên, và trong vòng hai tháng Giám Mục Beaton đã bị ám sát chết. Knox không có mặt giữa vòng những kẻ giết người, song ông đã thề không yên nghỉ cho tới chừng nào xứ Tô cách Lan trở thành xứ Tin lành. Lời thề nầy phải trả một giá cao, không bao lâu sau đó Knox bị giam hãm trên một chiếc tàu quân sự, bị xích vào mái chèo với roi vọt quất trên lưng. Ông đã lao động cho tới kiệt sức, không có hy vọng được phóng thích.
Thế rồi ông lại được phóng thích, và trong những năm tháng hầu đến, Knox về tới xứ Tô cách Lan bằng bão tố, ông khiêu khích các bậc cầm quyền, xúi giục bạo động, đòi hỏi phải thay đổi. Ông cầu xin cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng xuống sự báo ứng của Ngài trên Mary, Nữ Hoàng xứ Tô cách Lan. Người ta gọi ông là: “người Tô cách Lan sấm sét”, và khi tuổi tác ông ngày càng mai một đi. Năm tháng rung lên tiếng chuông gây hại của chúng trên cả sức khoẻ và sự chịu đựng của ông. Ông kiệt sức mà chết, có lẽ cay đắng lắm, vào năm 1572.
Thế nhưng mọi nổ lực của ông đã kích động người Tô cách Lan trong nhiều năm trời sau đó, và cuộc Cải chánh sau cùng đã đắc thắng trên xứ sở của họ.
“Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này. Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại” (I Các Vua 18.36-37).
2 tháng 3
GIÁO HỘI NGHỊ CONSTANCE
“Ly giáo” là từ ngữ mô tả hai biến cố trong lịch sử Hội thánh. Biến cố thứ nhứt là sự chia cắt giữa các Hội thánh đông và tây phương đã diễn ra vào năm 1054. Biến cố thứ hai là thời kỳ đau buồn từ năm 1378 đến năm 1417, trong khoảng thời gian nầy, các vị giáo hoàng tranh quyền với nhau tự xưng mình cai trị vương quốc Cơ đốc . Đến năm 1414, một trong những người yêu sách, Giáo Hoàng John XXIII, đã cho triệu tập một giáo hội nghị tại thành Constance để kết thúc tình trạng ly giáo nầy.
John đã thu xếp hội nghị với những kẻ theo mình, và ông cảm thấy chắc chắn mình sẽ là Giáo Hoàng duy nhứt. Khi ông đến gần thành Constance, ông nói: “Ha ha, đây là nơi bầy cáo bị gài bẫy”. Ông đã cỡi con ngựa bạch vào thành có 1.600 lính đi kèm. Sự náo động lôi cuốn nhiều người đến xem. Thành Constance căng thêm với 100.000 khách tham quan đến từ Âu châu, kể cả các vị hoàng thân, nhạc sĩ, và gái điếm. Vì vậy có nhiều người đến tắm tại quảng trường của thành phố đến nỗi 500 người đã bị tường trình là chết đuối.
Nhưng thái độ tự mãn thiển cận của John mau chóng biến dần đi. Mọi công việc lúc bấy giờ bị điều động bởi lòng ham muốn phục hồi lại sự thống nhất Giáo Hội. Giáo hội nghị, trước sự kinh ngạc của John, muốn thay thế hết thảy ba vị Giáo Hoàng và bầu chọn một Tân Giáo Hoàng trong lúc lộn xộn đó. Khi các văn bản bắt đầu xoay quanh thắc mắc tình trạng xứng hiệp của ông đối với chức vị, John bắt đầu thấy sợ hãi. Đúng ngày 2 tháng 3 năm 1415, ông xuất hiện trước Giáo hội nghị rồi nói: “Ta, John XXIII, một vị Giáo Hoàng, tự hứa và buộc lòng, mà thề – đến đây ông đứng dậy khỏi ngai của mình rồi quì gối xuống – trước mặt Đức Chúa Trời, Giáo Hội, và Giáo hội nghị nầy mà chúc bình an cho Giáo Hội bằng cách thoái vị, định liệu cho những người đòi yêu sách, Benedict và Gregory cũng làm y như vậy”.
Thành Constance tưng bừng trong sự vui mừng, những cái chuông nhà thờ rung lên, dân chúng dở khóc dở cười, reo hò. John, sợ bị mất mạng, đã khoác chiếc áo choàng và đội nón màu xám mà trốn khỏi thành Constance. Nhưng Giáo hội nghị lần theo dấu vết, đưa ông ta trở lại Constance, xét đoán ông ta vì đã xử sự khiếm nhã, và chính thức hạ bệ ông ta. Đồng thời, sự việc ấy đã kết thúc thành công tình trạng ly giáo.
Nhưng John XXIII không phải là nạn nhân duy nhứt của hội nghị. Cũng chính hội nghị ấy đã tấn công những kẻ được gọi là theo dị giáo như John Wycliffe và Jon Hus. Khi Hus đến tại thành Constance theo lời hứa được đối xử đường hoàng, ông đã bị bắt bỏ tù, bị kết án, bị trao cho giới cầm quyền rồi bị thiêu trên giàn hoả.
“Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri. Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi” (Giêrêmi 23.21-22).
3 tháng Ba
CUỘC CẢI CHÁNH
Nhà thờ, hệ phái, giống như nhà cửa và tấm lòng, thỉnh thoảng đều cần tới sự tẩy rửa và sự nâng cấp. Phản ứng của Luther trước tình trạng sa đoạ của giáo hội vào thế kỷ thứ 16 đã nhóm lên không những cuộc Cải Chánh Tin Lành, mà còn cuộc Cải Cách của Giáo hội Công giáo nữa, mọi nổ lực tự chỉnh đốn trong giáo hội La mã. Vào ngày 13 tháng Chạp năm 1545, Giáo Hoàng Paul III đã triệu tập một Giáo hội nghị ở thành phố Trent nằm ở phía Bắc nước Ý, lúc đầu đến dự chỉ có 34 nhà lãnh đạo. Một vài phiên họp kéo dài từ năm 1545 đến năm 1563. Những người đến dự gồm có Jesuits cùng nhiều học giả, các nhà lãnh đạo chính trị đều ao ước tái hoà nhập với những người Tin lành, và hàng giáo phẩm, một số mong muốn cải tổ, nhiều người khác thì chẳng muốn như thế.
Việc buôn bán đặc ân rộng rãi (đây là điều đã kích động mạnh Luther) đã bị thay đổi, và nhiều biện pháp đã được thông qua để chỉnh đốn và để bảo vệ tình trạng đạo đức của hàng giáo phẩm và các cấp lãnh đạo giáo hội. Các giáo lý của nhà thờ cũng bị rà soát lại theo ánh sáng thần học Tin lành. Trong hầu hết các trường hợp, giáo hội nghị tái khẳng định mọi lẽ đạo theo truyền khẩu từ thời Trung cổ. Mọi quan điểm Tin lành về Tiệc Thánh của Chúa bị gạt bỏ, và sự hoá thể lại được tán thành (niềm tin cho rằng rượu và bánh trong Tiệc Thánh của Chúa trở thành chính thân thể của Đấng Christ). Giáo hội nghị khẳng định Latinh là ngôn ngữ thích ứng cho quần chúng nhân dân, và giáo hội nghị bất đồng với Luther trong việc in Kinh Thánh ra theo các ngôn ngữ phổ thông. Giáo hội nghị cũng chối bỏ luôn tiếng kêu nài của phe Cải Chánh về “Kinh Thánh duy nhất”. Truyền khẩu của giáo hội, giáo hội nghị quyết, hiệp với Kinh Thánh làm một nguồn thẩm quyền thiêng liêng cho người tin theo đạo.
Vào ngày nầy trong lịch sử Cơ đốc, 3 tháng 3 năm 1547, giáo hội nghị bắt đầu khẳng định 7 phép bí tích của giáo hội, hết thảy các phép ấy, giáo hội nghị quyết, là có cần cho sự cứu rỗi: phép báptêm, lễ kiên tín, lễ ban thánh thể, lễ sám hối, lễ xức dầu thánh, pháp độ, và phép giao. Quan điểm Tin Lành về hai nghi lễ – báptêm và tiệc thánh – đã bị chối bỏ.
Giáo hội nghị Trent là một trong những biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Cải Chánh, tạo ra tinh thần chung và giáo lý của Giáo hội Công giáo trong 400 năm kế đó, và cung ứng một nền tảng cho cuộc cải chánh trong giáo hội La mã. Mãi cho tới thập niên 1960 ở Vatican II một sự tái thẩm tra khác đã diễn ra.
“Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời” (Thi thiên 139.23-24)
4 tháng 3
THẨM TRA THỰC TẾ
Chuyến ra khơi của con tàu truyền giáo Duff là một biến cố cần phải ghi nhớ. Ba mươi vị giáo sĩ cùng gia đình của họ rời khỏi nước Anh đến vùng Nam Thái Bình Dương vào tháng Tám năm 1796. Buổi sáng trời đầy sương, nhưng nhóm giáo sĩ hát lên những bài thánh ca chúc tụng rồi dâng lời cầu nguyện. Con tàu ra khỏi đường chân trời và bảy tháng sau, vào ngày thứ Bảy, 4 tháng 3 năm 1797, các vị giáo sĩ đổ bộ an toàn lên đảo Tahiti. Ngày hôm sau, họ tổ chức ngay một buổi thờ phượng, rồi mới bắt tay vào làm việc.
Thuyền trưởng chiếc Duff, một Cơ đốc nhân, được giao cho trách nhiệm giám sát công cuộc truyền giáo được thiết lập trên nhiều hòn đảo khác nhau trong khu vực. Sau mấy tuần lễ ở Tahiti, ông cảm thấy an toàn đủ để một vài nhân sự ở lại đó rồi đem nhiều người khác đến vùng đảo lân cận. Ông cài mười vị giáo sĩ ở đảo Tonga, tiếp đến là vùng đảo Marquises cài ở đấy hai người, William Crook và John Harris.
Thế nhưng có một nan đề bất ngờ mới phát sinh, một nan đề mà trong sự đào tạo của thần học và truyền giáo không trang bị cho các nhà truyền đạo nắm bắt lấy. Không bao lâu sau khi chiếc tàu nhổ neo, nhiều phụ nữ bản xứ trần truồng ra tới nơi để tiếp đón các vị giáo sĩ. Crook và Harris liền gói ghém đồ đạt của họ lại rồi chạy lên bờ.
Đám đông tò mò ấy đã tìm gặp được cả hai người, rồi tách Crook ra khỏi Harris, họ thấy ông một mình với vợ của vị tù trưởng. Trước sự kinh hãi của ông, ngay lập tức bà ta bắt đầu tìm kiếm sự chú ý của ông. Khi ông từ chối, bà ta tỏ vẻ ngơ ngác. Khi việc qua đi rồi, bà ta lấy làm lạ không biết ông có thực là một người đờn ông hay không!?! Liệu pháp được tìm ra, bà ta và một đám phụ nữ khác đã tấn công Harris suốt cả đêm và thực thi một cuộc “thẩm tra thực tế” để làm sáng tỏ vấn đề.
Đoàn tùy tùng của chiếc Duff tìm gặp Harris đang ngồi trên mé biển sáng hôm sau, ông đang chịu khổ vì bị sốc, bị làm nhục, và rất lo sợ muốn ra đi. Công tác ở Marquises bị hủy bỏ. Công việc ở Tonga cứ tiến hành trong khó khăn. Cuộc truyền giáo ở Tahiti cho thấy nhiều hứa hẹn và hiển nhiên có nhiều người trở lại đạo.
“Vả, Giô-sép hình dung đẹp đẽ, mặt mày tốt tươi. Sau các việc nầy, vợ chủ đưa mắt cùng Giô-sép…Một ngày kia, Giô-sép vào nhà đặng làm công việc; vả, chẳng có người nhà nào ở đó, thì người bèn nắm áo chàng mà rằng: Hãy nằm cùng ta! Nhưng chàng liền tuột áo để lại trong tay người mà chạy trốn ra ngoài” (Sáng thế ký 39.6b-7a, 11-12).
5 tháng 3
SAM JONES
John J. Jones cảm nhận được sự Đức Chúa Trời kêu gọi ông bước vào chức vụ, nhưng ông đã kháng cự lại, thay vì thế, ông lại chọn nghề luật. Con trai ông đã noi theo bước chân ông. Chàng Sam Jones lúc đầu đã chứng tỏ mình là một luật sư rất xuất sắc. Thế nhưng rượu chè mau chóng phá hủy cuộc đời anh và khiến anh trở thành một tay thợ xúc than. Đang lúc say bí tỉ thì anh hay được tin đau bịnh của cha mình. Anh vội vã trở về nhà, và vị luật sư già kia sau cùng đã trở thành một nhà truyền đạo, ông nói: “Đứa con khốn khổ, xấu xa, lạc lối, ham chơi của ta. Con đã khiến ta lo buồn mà xuống mồ mả. Hãy hứa với ta đi, con ơi, hãy gặp ta trên thiên đàng”.
Sam đã quì gối xuống mà hứa, kế đó anh chạy nhanh tới một quày rượu và hỏi mua một ly rượu. Song khi anh sắp sửa uống ly rượu đó, anh nhìn thấy mình ở trong gương. Mái tóc đã ngả màu. Áo quần bẩn thỉu, xốc xếch. Đôi môi thì phù ra. Anh đập tấm kính vỡ ra trên sàn nhà rồi dâng đời sống mình cho Đức Chúa Giêxu Christ. Một tuần sau, anh đã giảng bài giảng đầu tiên của mình.
Jones đã trở thành nhà truyền đạo nổi tiếng nhất của thế kỷ thứ 19, đã cứu nguy cho Moody. Ông đã tổ chức nhiều chiến dịch truyền giảng Tin lành ở các thành phố lớn khắp nước Mỹ, đã đưa khoảng 500.000 người đến với Đấng Christ. Cơn phấn hưng bất thường của ông bắt đầu vào ngày 5 tháng 3 năm 1899, ở Toledo, bang Ohio. Viên Thị trưởng của Toledo cũng có tên là Sam Jones. Thị trưởng Jones đã giới thiệu nhà truyền đạo Jones ngay đêm khai mạc của cuộc phấn hưng. Cuộc bầu cử thị trưởng chỉ cách đó khoảng một tháng, và ông ta gặp phải một sự kẻ vạch. Nhưng ông ta không hưởng ứng theo những điều nhà truyền đạo Jones đã nói, vì nhà truyền đạo không để thì giờ công kích các đường hướng của viên thị trưởng. Có 700 quán rượu và 150 hang ổ cờ bạc ở Toledo, và những người quản trị thành phố không bận tâm về sự ấy. Nhà truyền đạo nói rằng nếu ma quỉ là thị trưởng ở Toledo, hắn sẽ chẳng làm thay đổi một điều gì. Ông đã nhắm vào rượu chè và tội lỗi. Ông đã nhấc thập tự giá cao lên, và đã rao giảng với sự nhiệt thành của một vị luật sư đang tìm cách cứu khách hàng của mình thoát khỏi giá treo cổ. Nhiều người đờn ông đã bật khóc. Nữ giới thì than vãn. Trẻ con thì bị thu hút, say mê. Chỗ ngồi đều chật ních hết đêm nầy tới đêm khác. Hàng trăm, có lẽ hàng ngàn người, đã được biến đổi trong các buổi nhóm ở Toledo.
Còn viên thị trưởng thì tái đắc cử trong tháng sau với số phiếu bầu thật nhiều.
“Ai bị sự hoạn nạn? Ai phải buồn thảm? Ai có sự tranh cạnh? Ai than xiết? Ai bị thương tích vô cớ? Ai có con mắt đỏ? Tất những kẻ nán trễ bên rượu, đi nếm thứ rượu pha. Chớ xem ngó rượu khi nó đỏ hồng, Lúc nó chiếu sao trong ly, và tuôn chảy dễ dàng” (Châm ngôn 23.29-31).
6 Tháng 3
DANH HOẠ
Ngày 6 tháng 3 năm 1475 là ngày sinh của nhà sáng tạo tác phẩm David, Moses, hoạ phẩm Pieta, và lâu đài của Thánh Peter. Michellangelo Buonarroti chào đời trong một thị trấn nhỏ người Ý, được nuôi dưỡng trong một khu mỏ đá cẩm thạch, và lớn lên trong vùng Florence phụ cận. Ông để thì giờ rỗi rãi của mình vào việc hội hoạ, lúc 13 tuổi được chọn vào một trường tân hội họa do Lorenzo de’ Medici thiết lập trong khu Vườn Medici. Giữa các bài học, ông đã ngồi nghe thầy Savonarola giảng đạo Tin lành ở gần đó.
Khi là một thanh niên, ông đã nổi danh vì hoạ phẩm Pieta của mình (Madonna đang nắm chặt lấy đứa con của mình bị đóng đinh trên thập tự giá), tiếp đến là tượng khắc David từ một phiến đá cẩm thạch đã bị dứt bỏ. Giáo Hoàng Julie khi ấy đã đưa ông lên đỉnh cao giàn giáo, ở đấy ông lo hoạ trần nhà của Điện Sistine. Ông được người ta gọi là thiên tài.
Thế nhưng ở đàng sau thiên tài của Michelangelo là một hình bóng không hay lắm. Ông không hài hoà với những người khác và thường bừng bừng với tính ganh tỵ, nổi chứng, và xem khinh người khác. Ông đã mặc những bộ quần áo cũ vào những lúc ông chịu thay đổi, và ông không bao giờ tắm rửa. Mặc dù giàu có, ông đã sống như một kẻ keo kiệt. Ông đã ăn bất cứ gì ông tìm gặp, có khi là những mẫu vụn, và ông đã ngủ trong bộ quần áo cùng giày ống của mình. Ông rất ghét nói chuyện phiếm và ông thích ở một mình hơn. Ông không ưa nữ giới. Mọi cảm tình của ông đều đặt vào công việc, và ông có ít nhu cầu về bạn bè, trừ phi cần một người đầy tớ lo chăm sóc ông trong 25 năm trời và cùng ngủ chung giường với ông.
Tính xấu của Micehlangelo đã khiến cho một Giáo Hoàng chú ý: “Ông ấy là một người đáng phải dè chừng, và không nên đến gần ông ta”. Có những lúc nhà danh hoạ ngã lòng với chứng bịnh tâm thần, và trong lúc tuổi già ông đã bị ám ảnh với nỗi sợ hãi địa ngục.
Nhưng khi tuổi càng cao, với mọi tư tưởng ngày càng nghiêng về phía Đấng Christ, là Đấng mà ông thường hay tô hoạ, và các bài giảng mà ông đã nghe thấy từ nhà truyền đạo Savonarola đã tuận đạo. Gần cuối cuộc đời mình, Michelangelo đã viết “cả hoạ phẩm cũng như tác phẩm điêu khắc của ông giờ đây có thể tạm lắng xuống để yên nghỉ/Hỡi linh hồn ta, hãy chuyển hướng vào tình yêu của Ngài ở trên cao/Cánh tay của Ngài ôm chặt lấy chúng ta đã giang rộng ra trên thập tự giá”.
Ông đã qua đời lúc tuổi được 89.
“Hỡi linh hồn ta, hãy nghỉ an nơi Đức Chúa Trời; vì sự trông cậy ta ở nơi Ngài. Chỉ một mình Ngài là hòn đá tôi, sự cứu rỗi tôi, và là nơi ẩn náu cao của tôi; tôi sẽ chẳng bị rúng động. Sự cứu rỗi và sự vinh hiển tôi ở nơi Đức Chúa Trời; hòn đá về sức lực tôi, và nơi nương náu mình cũng đều ở nơi Đức Chúa Trời. Hỡi bá-tánh, khá nhờ cậy nơi Ngài luôn luôn, hãy dốc đổ sự lòng mình ra tại trước mặt Ngài: Đức Chúa Trời là nơi nương náu của chúng ta. Quả thật, người hạ-lưu chỉ là hư không, người thượng-đẳng chỉ là dối giả; nhắc để trên cân, chúng nó chỏng lên, chúng nó hết thảy nhau đều nhẹ hơn sự hư không” (Thi thiên 62.5-9).
7 Tháng 3
PERPETUA
Mọi xúc cảm của con người dù rất chân tình, luôn luôn phải nhắm vào sự trung thành với Đấng Christ. Hôm nay trong lịch sử của Hội thánh thuộc về Perpetua, là người đã gây hưng phấn cho nhiều Cơ đốc nhân đầu tiên đến nỗi Augustine đã cảnh báo chống lại việc xem câu chuyện của bà là tương đương với Kinh Thánh. Perpetua ra đời khoảng năm 176 ở Carthage, Bắc Phi châu, lớn lên trong một gia đình rất giàu có. Cha của bà không phải là một Cơ đốc nhân, nhưng các anh em và mẹ của bà đều đã dâng mình cho Đấng Christ. Perpetua, rất sáng dạ và có duyên, có học thức và một người chồng, rồi có một đứa con trai.
Năm 202, Hoàng đế Septimus Severius phát ra một chiếu chỉ nghịch lại các Cơ đốc nhân, và Perpetua bị bắt nhốt trong tù. Khi cha của bà đến xin bà hãy bỏ đạo đi, bà chỉ vào một cái bình đựng nước rồi hỏi lại: “Ba ơi, ba có thấy cái bình nầy không? Ba có thể gọi nó bằng cái tên gì khác được không? Cũng vậy, con không thể tự gọi mình bằng cái tên nào khác hơn cái tên con hiện có – một Cơ đốc nhân”.
Bà bị đưa vào nhà lao, cha của bà lại đến đó thăm bà một lần nữa, ông cứ nài xin bà với những tiếng khóc nức nở hãy đoạn tuyệt với đức tin của bà. Bà đã từ chối. Perpetua cùng một nhóm tín hữu khác bị đưa ra xét xử tại khu chợ, nơi ấy một lần nữa cha của bà xuất hiện, ông ẳm theo đứa con nhỏ của bà và nài xin bà hãy tự cứu lấy mình.
Bị kết án phải hành hình và bị hành quyết, nhiều Cơ đốc nhân đã lê bước trở lại nhà tù. Khi bà yêu cầu được gặp con của mình lần sau cùng, người ta đã từ chối không cho gặp. Nhưng bên bờ sự chết ấy, Perpetua đã viết về sự hiện diện có tính cách nâng đỡ của Đức Chúa Trời: “Tôi thấy mình không phải đánh trận với thú dữ mà là đánh trận với ma quỉ; tôi biết phần thắng sẽ thuộc về tôi”.
Nhằm ngày 7 tháng 3 năm 202, các Cơ đốc nhân đã đi diễu hành ra đấu trường, nơi mà Perpetua sẽ bị thú dữ dùng sừng húc chết. Còn sống sau lần chạm trán thứ nhứt, bà đã bò lết cùng với sự giúp đỡ của một bạn đồng tù. Sau đó một lúc, gã đấu sĩ đã đâm bà bằng lưỡi gươm của hắn. Khi gã nầy đến gần bà định đâm một lần nữa, bà đã cầm lấy lưỡi gươm của hắn mà kê lấy nơi cổ họng của mình.
Sự bà dâng mình cho Đấng Christ đã làm cảm động nhiều Cơ đốc nhân ở Bắc Phi châu đến nỗi bà đã nhân cách hoá câu nói nổi tiếng của Tertullian: “Huyết của những người tuận đạo là hột giống của Hội thánh”. Thực thế, nhờ vào năng lực làm chứng của bà, viên cai ngục của bà là Pudens, đã sớm dâng mình cho Chúa Giêxu.
“Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin Lành, đến nỗi chốn công đường và các nơi khác đều rõ tôi vì Đấng Christ mà chịu xiềng xích. Phần nhiều trong anh em nhơn tôi bị xiềng xích mà có lòng tin rất lớn trong Đấng Christ, dám truyền đạo Đức Chúa Trời chẳng sợ hãi gì” (Philíp 1.12-14).
8 Tháng 3
BÀI GIẢNG CHO BUỔI TỐI
Charles Spurgeon, Vua của các nhà Truyền đạo, đã háo hức đọc suốt cả tuần lễ, nhưng không đọc nữa cho tới tối thứ Bảy, ông quyết định soạn sứ điệp cho sáng hôm sau. Vào trưa thứ Bảy, ông đã soạn xong bài giảng cho buổi tối. Công việc của ông thường là thế. Trong 30 năm, ông đã làm cho Đền Tạm Metropolitan ở Luân đôn luôn được đông người. Vào tối Chúa nhật, ngày 8 tháng 3 năm 1874, Spurgeon đã giảng từ I Côrinhtô 6.20: “Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời”. Nếu quí vị bước vào Đền Tạm Metropolitan tối hôm ấy, quí vị sẽ nghe giọng nói như điệu nhạc chuông của Spurgeon đổ liên hồi những lời nầy qua giảng đường đầy ánh sáng đèn:
“…các bạn ơi, hỡi những thanh niên đã đến với Luân đôn giữa mọi thói hư tật xấu của nó, hãy tránh xa mọi thứ na ná với sự dâm dật hoặc dẫn tới sự dâm dật, vì thân thể của các bạn đã được mua bằng huyết sự sống của Chúa của các bạn rồi, và đấy chẳng phải là những thứ mà các bạn phải đùa giỡn với. Hãy tránh xa người đờn bà lạ, bạn bè, rượu, những cái liếc mắt đưa tình, nhà cửa, các bài hát, cùng mọi mưu kế của nàng. Thân thể của các bạn không còn thuộc về các bạn để bị tổn thương do bất kỳ một sự bê tha nào. Hãy giữ cho chúng được thanh sạch và tao nhã vì Chàng Rễ thiên thượng ấy, Ngài đã mua chúng bằng chính huyết của Ngài.
“Và linh hồn của các bạn cũng đã được mua lấy nữa. Tôi buộc phải nhắc tới thân thể, vì nó được nhắc tới ở đây, và vì nó cần được giữ cho thanh sạch nữa. Nhưng hãy giữ cho linh hồn được thanh sạch. Đấng Christ đã không mua lấy đôi mắt nầy để cho nó đọc các thể loại tiểu thuyết được dự trù dẫn tôi vào chỗ hư không và tội ác, như các loại sách đã được in ấn ngày nay. Đấng Christ đã không mua bộ óc nầy của tôi để tôi miệt mài vào những công việc có tính cách phạm thượng và xấu xa. Ngài không ban cho tôi một lý trí để tôi lo bêu rếu với hy vọng về việc tẩy rửa cho nó được sạch một lần nữa…
“Cả con người của các bạn thuộc về Đức Chúa Trời nếu các bạn là một Cơ đốc nhân. Từng khả năng, từng năng lực tự nhiên, từng tài khéo, từng tiềm năng sự sống của các bạn, từng sức lực của linh hồn các bạn…Hết thảy đều đã được mua bằng huyết. Vì cớ đó, hãy giữ hết thảy cho Chúa Giêxu, vì cả con người ấy thuộc về Ngài”.
“Hãy tránh sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình. Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời” (I Côrinhtô 6.18-20).
9 Tháng 3
TỔ PHỤ CỦA SỰ TỈNH THỨC
Ngày kia, có một luật sư ở Adams, New York, cảm thấy không yên tâm về linh hồn của mình. Ông lui vào một khu rừng gần đó, leo qua chiếc hàng rào, quì gối bên khúc gỗ mới bị đốn hạ để cầu nguyện, rồi kinh nghiệm một sự biến đổi thật kỳ diệu. Những lượn sóng yêu thương dịu dàng đã tràn ngập ông, về sau ông cho biết như thế. Ngày hôm sau, Charles Finney thôi không còn ở bên vành móng ngựa nữa để lo rao giảng Tin Lành, ông nói giờ đây ông là khâm sai cho Đức Chúa Giêxu Christ.
Vóc dáng cao ráo, đôi mắt rất thu hút, đôi chân mày rậm, sóng mũi khoằm, và giọng nói đầy quyền lực của ông đã đem nhiều người đến với Đấng Christ. Sự rao giảng của ông phản ảnh tâm trí của một nhà luật, vì ông đã trình bày trường hợp của Đấng Christ giống như thể thuyết phục bồi thẩm đoàn vậy. Và ông đã rao giảng rất có ấn tượng. Khán thính giả dường như đã ngửi thấy mùi khói bất cứ lúc nào ông giảng về địa ngục, như ông thường rao giảng vậy.
Điểm nổi bật của sự nghiệp Finney đã diễn ra vào ngày 9 tháng 3 năm 1831, khi ông kết thúc thành công một loạt những buổi nhóm lại trong 6 tháng trời tại Hội thánh Third Presbyterian ở Rochester, New York. Cả thành phố đã được thay đổi thật lạ lùng qua sự giảng dạy của ông. Một trăm ngàn người đã được biến đổi, kể cả nhiều nhà lãnh đạo của thành phố – các chủ ngân hàng, những vị luật sư, y bác sĩ, quan toà. Các cửa hàng tại Rochester đã đóng cửa để cho dân chúng đến với các buổi nhóm của Finney, và mấy quán rượu không còn hoạt động nữa. Nhà hát bị trưng dụng làm chuồng cột ngựa, và tỉ lệ tội ác đã giảm xuống 2/3. Nhà tù của thành phố phải trống không trong hai năm kế đó. Các buổi nhóm lại ở Rochester được gọi là: “chiến dịch thức tỉnh lớn lao nhất trên thế giới”, và năm 1831 ai cũng biết là năm quan trọng nhất của cơn phấn hưng thuộc linh trong lịch sử Nước Mỹ.
Finney đã làm Mục sư Chủ toạ trong một năm ở thành phố New York trong khi mới phục hồi từ chứng dịch tả. Kế đó, ông phải chịu khổ về chứng hô hấp nơi phổi, ông đã nhận một chỗ dạy trong Trường Đại học Oberlin ở Ohio, về sau ông làm Hiệu trưởng của Trường đó. Ông rời nhà trường mỗi năm vào cuối học kỳ để tổ chức các chiến dịch truyền giảng Tin lành, và theo một số thống kê, nửa triệu người đã trở lại đạo trong suốt cuộc đời của ông. Các phương pháp đổi mới của ông (như hỏi thăm các nhà tư vấn để hướng tới mục tiêu) đã lót đường cho nhiều nhà truyền đạo về sau như D. L. Moody, Billy Sunday, và Billy Graham.
“Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời” (II Côrinhtô 5.20).
10 Tháng 3
ƠN LẠ LÙNG
Đây là điều đã khiến cho John Newton viết ra bài thánh ca Ơn Lạ Lùng. Ông nói: “Nguyện tôi không ngớt ngợi khen ân điển đã tha thứ hết những tội lỗi mà tôi đã phạm phải”.
Newton đã đi biển vào lúc được 11 tuổi, học nghề thủy thủ trên chiếc tàu của cha mình.Ông đã tiêu pha tuổi niên thiếu của mình sống theo đời thường, vô tôn giáo và sống buông thả. Những nữ nô lệ được chuyển từ châu Phi đều do Newton tuyển chọn, và đã đến lúc các thủy thủ đều phải báo động vì sự đồi bại của ông.
Cuộc sống của Newton đã làm cho cha ông giận dữ và bạn bè khinh tởm, sau cùng ông bị buộc phải phục vụ trong Hải quân Anh. Ông đã đào ngủ, song bị bắt lại, bị đánh đòn. Ông trở thành tài sản của một tay buôn nô lệ ở Sierra Leone, người nầy bán ông cho một mụ tú bà dâm đảng. John trở thành món đồ chơi đáng ghét mà mụ ta đã hành hạ hơn cả năm trời.
Sau cùng, ông đã lên chiếc tàu đi Anh quốc. Vào ngày 9 tháng 3, lúc ông vô tình đọc một quyển sách Cơ đốc để giết thì giờ, tư tưởng bèn đến với ông; “Sẽ ra sao nếu mọi việc nầy là sự thực?” Ông chụp lấy quyển sách gấp lại và thao thức.
Tôi đi ngủ với sự dửng dưng thường lệ, song lại tỉnh thức với một đại dương hung tợn nổ ra trong tôi. Phần lớn sự hung hãn ấy trầm hẳn xuống rồi đầy dẫy cabin mà tôi đang nằm ngủ. Nỗi hốt hoảng nầy nối theo sau tiếng kêu la cho biết chiếc tàu đang chìm xuống. Chúng tôi ngay tức khắc nhờ đến mấy cái máy bơm, thế nhưng nước đã gia tăng chống lại mọi nổ lực của chúng tôi. Gần như từng đợt sóng ụp phủ lên đầu tôi. Tôi chắc rằng chiếc tàu rồi sẽ bị chìm xuống biển, nó sẽ không chịu nổi nữa. Tôi cảm thấy sự chết ngay lúc bấy giờ, và tấm lòng tôi linh tính điều tệ hại nhất, nếu Kinh Thánh, mà lâu nay tôi chống đối, là sự thật”.
Chiếc tàu còn sống sót qua cơn bão ngày 10 tháng 3 năm 1748, và Newton bắt đầu sốt sắng nghiên cứu Kinh Thánh. Ông đã vòng tay ôm lấy Đấng Christ rồi bước vào chức vụ, trở thành một trong những nhà truyền đạo được yêu mến nhất và là một nhà lãnh tụ trong trận chiến chống lại tình trạng nô lệ. Ông nhớ lại: “Ngày mười tháng ba là một ngày mà tôi ghi nhớ nhất; và tôi không bao giờ quên năm 1748 đó – Chúa đã đến từ trên cao và Ngài giải cứu tôi ra khỏi trũng nước sâu ấy”.
“Đức Giê-hô-va ôi! từ nơi sâu thẳm tôi cầu khẩn Ngài. Chúa ôi! xin nghe tiếng tôi; Nguyện Chúa lắng nghe tiếng nài xin của tôi…Nhưng Chúa có lòng tha thứ cho, để người ta kính sợ Chúa” (Thi thiên 130.1-2, 4).
11 Tháng 3
NGHỆ THUẬT HAY HÌNH TƯỢNG
Nếu chúng ta không cẩn thận mọi truyền thống của chúng ta sẽ trở thành hình tượng của chúng ta, và nhổ bỏ chúng sẽ gây nguy hại cho sức khoẻ của Hội thánh. Đây là trường hợp trong cuộc tranh luận đã phá tín ngưỡng lâu đời không hay lắm của Cơ đốc giáo Đông phương.
Trong thời Trung cổ, nhiều Cơ đốc nhân bắt đầu thờ lạy và cầu nguyện với các thánh đồ, một cách hành đạo dần dần dẫn tới chỗ nổi bật lên các loại hình tượng – những hình ảnh tẻ nhạt tiêu biểu cho Đấng Christ, Mary, hay một số thánh đồ khác. Trong khi nghệ thuật Cơ đốc đã gây dựng nhiều tín đồ kể từ thời sống trong hầm mộ, Hội thánh Đông phương bắt đầu thờ lạy các hình ảnh nầy. Nhiều ảnh tượng đã được người ta hôn theo kiểu tôn kính lắm. Người ta cũng dâng hương trước chúng. Những lời cầu nguyện đã được dâng lên cho chúng. Một số hình tượng được gán cho có quyền làm phép lạ nữa.
Hoàng đế Leo III vốn khó chịu trước sự thờ lạy các hình tượng, có lẽ vì các kẻ thù chính trị của ông, người Do thái và người Hồi giáo, đã tố cáo ông đang lãnh đạo một đế quốc gồm những kẻ thờ lạy hình tượng. Năm 726, ông đã đặt sự thờ lạy hình tượng ra ngoài vòng pháp luật, rồi không lâu sau đó đã ra lịnh tiêu diệt hết các hình tượng bất cứ đâu. Thế nhưng sự thờ lạy hình tượng đã đào hào đắp lũy trong Hội thánh Đông phương đến nỗi mọi sắc lịnh của ông đã bị người ta xem là tấn công thẳng vào Cơ đốc giáo. Một cơn giận dữ nổi lên khắp đế quốc, và có nhiều người đã ngã chết. Giáo Hoàng Gregory ở Rôma đã chế nhạo Hoàng đế và đã tổ chức hai lần giáo hội nghị xét đoán học thuyết thờ hình lạy tượng của Leo (đập phá hình tượng).
Con trai của Leo, là Constantine V, tiếp tục cuộc chiến đầy sinh lực của cha mình chống lại hình tượng. Ông cho tổ chức một giáo hội nghị tại Constantinople, đến dự có 360 Giám mục. Giáo hội nghị, nêu ra điều răn thứ hai, đoạn tuyệt với các loại hình tượng rồi tuyên bố mọi tranh tượng tôn giáo đều là tà giáo cả. Mọi cách sử dụng chúng tư và công đều bị ngăn cấm hết. Chiếu chỉ của giáo hội nghị được ban hành với cường độ mạnh; và các ảnh tượng thiêng liêng đều bị đập phá, tiêu hủy, và thiêu đốt. Năm mươi ngàn thầy tu chuyên sản xuất hình tượng đã bỏ trốn hoặc bị giết. Trong 89 năm kế đó, tranh luận về hình tượng rất bấp bênh, nói tới nói lui hoài, làm cho Hội thánh phải phân tán, không hiệp một, và tạo ra một vài vụ tuận đạo.
Sự bắt bớ kết thúc chỉ sau khi Hoàng đế Theophilus băng hà, người chủ trương thờ hình lạy tượng sau cùng, vào năm 842. Đúng ngày 11 tháng 3 năm 843, các loại hình tượng lại được phong thánh và được tái sản xuất trong hết thảy các Hội thánh chính thống ở Đông phương. Ngày nầy, cũng được gọi là ngày “Đắc Thắng của Chính Thống giáo”, được tưởng niệm trong các hội chúng ở Đông phương khắp thế giới trong hơn 1000 năm.
“Hỡi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Cứu Chúa, Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình! Hết thảy chúng nó đều bị xấu hổ nhuốc nha; những thợ làm hình tượng cùng nhau trở về, rất là mắc-cỡ. Duy Y-sơ-ra-ên đã được Đức Giê-hô-va cứu cho, được sự cứu đời đời, đến đời đời vô cùng các ngươi không còn mang hổ mang nhơ!” (Êsai 45.15-17).
12 tháng 3
TÍNH KIÊN CƯỜNG
William Carey, “tổ phụ của công cuộc truyền giáo hiện đại”, muốn dịch Kinh Thánh sang nhiều thổ ngữ Ấn độ. Ông đã lập ra một nhà in lớn ở Serampore, nơi công việc dịch thuật đang tiếp tục được thực hiện. Carey để ra nhiều giờ mỗi ngày để phiên dịch Kinh Thánh, trong khi người vợ của ông cứ ăn nói huênh hoang, dại dột trong tình trạng điên loạn.
Carey rời khỏi Serampore vào ngày 11 tháng 3 năm 1832. Bạn đồng sự của ông là William Ward, làm việc rất muộn. Thình lình Ward ngửi thấy mùi khói. Ông nhảy ra ngoài thì thấy nhiều đám khói bốc lên từ nhà in. Ông tri hô cầu cứu, và nhiều nhân công chuyền nước từ con sông gần đó lo dập tắt lửa cho tới 2 giờ sáng, nhưng mọi thứ đều đã bị tiêu hủy hết.
Nhằm ngày 12 tháng 3 năm 1812, giáo sĩ Joshua Marshman bước vào một căn phòng ở Calcutta nơi Carey đang giảng dạy. Ông nói: “Tôi thấy chẳng có cách nào dễ bộc lộ ra các tin tức nầy. Nhà in đã bị cháy cho tới tận nền tối hôm qua”. Carey thấy choáng váng. Mọi thứ bị tiêu hủy gồm có quyển tự điển nhiều thứ tiếng cở lớn, hai quyển sách văn phạm, và toàn bộ các phiên bản Kinh Thánh. Bị tiêu hủy gồm có một bộ 14 thứ ngôn ngữ đông phương, 1200 ram giấy, 55.000 tờ giấy đã in rồi, và 30 trang tự điển Bengal của ông. Bị tiêu hủy là toàn bộ thư viện của ông. Ông nói khẽ: “Công việc của nhiều năm tháng – bị tiêu mất trong một phút đồng hồ”.
Ông dành ra một ít thì giờ để than khóc. Ông viết: “Sự mất mát thật là nặng nề, nhưng giống như đi lại con đường lần thứ hai, thường thì đi dễ dàng và chắc chắn hơn lần thứ nhứt, vì vậy tôi tin công việc sẽ không mất đi giá trị đích thực của nó. Chúng tôi không ngã lòng; thực vậy, công việc đã được bắt đầu lại theo từng thứ ngôn ngữ. Chúng tôi thấy thất vọng, song không tuyệt vọng đâu”.
Khi tin tức trận hoả hoạn đến tận Luân đôn, nó làm cho Carey được nổi danh ngay tức khắc. Hàng ngàn đồng bảng Anh đã được quyên cho công việc, và nhiều người tình nguyện dâng mình đến phụ giúp. Chiến dịch được tái thiết và được mở rộng thêm. Đến năm 1832, những quyển Kinh Thánh trọn bộ, các quyển Tân Ước, các sách Kinh Thánh rời, đã được phân phát từ nhà in theo 44 ngôn ngữ và thổ ngữ.
Bí quyết thành công của Carey được thấy trong tính kiên cường của ông. Ông đã viết: “Có rất nhiều khó khăn ở từng khâu một, và chẳng có gì sáng sủa ở trước mặt. Vì lẽ đó, chúng tôi cứ thẳng đường tiến”.
“Chúng tôi bị ép đủ cách, những không đến cùng; bị túng thế những không ngã lòng; bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất” (II Côrinhtô 4.8-9).
13 tháng 3
QUYỂN KINH THÁNH CỦA GUTENBERG
Johann Gutenberg lớn lên ở Mainz, nước Đức. Ông đã đọc thật nhiều sách, phần lớn sách báo do cha ông, là ngươi rất giàu có đặt mua. Nhiều bộ sách rất đắc tiền, có khi bằng cả giá của một nông trại. Các nhà văn địa phương đã sao chép nhiều quyển sách bằng tay, rồi có nhiều người lo đóng gáy, có những người lo đóng bìa. Sau cùng, tên sách cũng được đóng vào bìa da bằng máy dập đồng. Loại máy dập nầy hình thành một sáng kiến nơi Johann. Tại sao không làm những mẫu tự bằng kim loại riêng ra từng chữ rồi sắp lại thành từng câu chứ? Tại sao không dàn thành một trang rồi in bằng máy nén?
Johann chuyển sang Strasbourg rồi lập ra một phân xưởng kín gần một chủng viện cũ. Mặc dù bị nhiều nan đề vây lấy, ông đã cần cù lao động trong nhiều năm trời để đưa phát minh của mình vào vận hành. Sau cùng, Johann trở lại Mainz, ở đây ông được bảo đảm nguồn thu nhập nhờ vào thừa kế một gia tài.
Ông đã mở ra một nhà in, rồi trong năm 1450, sau 30 năm, ông đã sẵn sàng nhập cuộc. Ông đã chọn Kinh Thánh là quyển sách in đầu tay của mình. Một dự án như thế đòi hỏi ông phải vay 800 guldens (đồng Hà lan) từ Johann Fust, nhưng nếu ông không trả nổi lãi trong 5 năm, Fust đòi hỏi, mọi thứ trang thiết bị, nguyên vật liệu đều sẽ thuộc về Fust cả.
Johann phải mất hai năm để dựng lên phân xưởng. Ông cho thuê công nhân biết sử dụng máy in, rồi dạy công nhân mài và pha mực. Kế đó, ông đã sẵn sàng cho việc in ấn. Thêm hai năm trôi qua, và phát minh chưa hoạt động mỹ mãn được. Thêm một năm nữa trôi qua, và hai tháng trước khi quyển Kinh Thánh được hoàn tất, Fust đã đưa đơn kiện. Nhằm ngày 6 tháng 11 năm 1455, toà án đã chiếu theo yêu cầu của ông ta.
Gutenberg nổi giận chuyển toàn bộ máy in và hầu hết các quyển Kinh Thánh gần trọn vẹn kia cho Fust. Kinh Thánh được in lần đầu tiên vào ngày 13 tháng 3 năm 1456, và trong nhiều năm trời danh vọng đã đến với Fust và cộng sự của ông ta là Peter Schoffer. Nhưng sau khi Gutenberg qua đời vào ngày 3 tháng 2 năm 1469, Schoffer đã nhìn nhận rằng, rốt lại, Johann Gutenberg đã phát minh ra máy in.
“Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hêbơrơ 4.12).
14 Tháng 3
MỤC SƯ LIVINGSTONE, TÔI CHO LÀ…
Là một giáo sĩ, David Livingstone đã dấn thân thật sâu vào nội địa châu Phi, cả thế giới đều dõi theo người. Ông là một anh hùng, một nhà thám hiểm mà từng sự xâm nhập của ông đều được người ta bàn thảo cách rộng rãi. Thế giới giữ từng hơi thở dõi theo, chờ đợi và lấy làm kinh ngạc. Năm năm trời trôi qua. Sau cùng Tờ báo New York Herald gửi phóng viên Henry Stanley đến tìm ông, dù đã chết hay còn sống. Stanley là một phóng viên, một nhà mạo hiểm tìm kiếm không biết mệt mỏi. Ông cũng là một người không theo đạo, ông xem Cơ đốc giáo bằng con mắt rất hoài nghi. Tạp chí của ông nói: “Đừng sợ tốn kém chi hết”. Staley đã tổ chức 200 nhân sự trong 5 đoàn lữ khách rồi dấn thân vào rừng sâu.
Sau cùng Stanley tìm gặp Livingstone gần Hồ Tanganyika. Ông cúi xuống thầm thì những lời nói nổi tiếng sau: “Thưa Mục sư Livingstone, tôi cho là…”. Ông đã đến đúng lúc, vì cụ giáo sĩ đã lâm bịnh, cô độc, và tuyệt vọng không có thuốc men, đồ tiếp trợ, và tin tức từ quê nhà. Stanley đã ở lại với Livingstone trong bốn tháng, và hai người rất gắn bó với nhau. Về sau Stanley tường thuật lại: “Tôi đến châu Phi với thành kiến chống lại thứ tôn giáo ấy, tôi như một người vô thần tệ lậu nhất ở Luân đôn. Nhưng tôi đã gặp cụ giáo sĩ cô độc nầy ở đó, rồi tôi nhũ lòng: “Cái gì đã khiến cụ sống như thế chứ?” Trong nhiều tháng trời tôi thấy lòng mình nghe theo ông cụ, lấy làm kinh ngạc khi ông cụ thốt ra lời kêu gọi: “hãy từ bỏ mọi sự mà theo ta”. Từng chút một, sau khi nhìn thấy lòng trung thành, sự tử tế, sự sốt sắng, và ông cụ đã lo liệu công việc của mình trong sự thầm lặng, nhơn cụ mà tôi đã trở lại đạo”.
Trong ngày cuối cùng họ ở với nhau, ngày 14 tháng 3 năm 1972, hai người đã nói với nhau rất ít. Stanley đã nấn ná bao lâu ông có thể, rồi ông nói: “Bây giờ, thưa Mục sư yêu dấu của tôi ơi, những người bạn tốt nhất phải chia tay thôi…”. Livingstone, đã đáp trong lúc tim mình đập liên hồi: “Nguyện Đức Chúa Trời đưa đường ông về nhà bình yên và chúc phước cho ông, người bạn thân của tôi”. Stanley lên đường, đi một khoảng quay đầu nhìn ngó lại lần sau cùng. Livingstone cũng quay ngó lại. Stanley vẫy chiếc khăn tay của mình, còn Livingstone dở nón mình đương đội ra. Họ không còn nhìn thấy nhau ở trên đất nữa. Khi Stanley hay tin Livingstone qua đời vào năm sau, ông liền quyết định bước theo các dấu chân của người.
“Phao-lô nói lời đó xong, bèn quì xuống mà cầu nguyện với hết thảy các người ấy. Ai nấy đều khóc lắm ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn, lấy làm buồn bực nhứt là vì nghe người nói rằng anh em sẽ chẳng thấy mặt mình nữa. Đoạn, đưa người xuống tàu” (Công Vụ các Sứ Đồ 20.36-38).
15 tháng 3
MÁY LÀM RA TIỀN
Nhà thờ Thánh Phierơ là ngôi nhà thờ đẹp nhất trên thế giới, và là nhà thờ nổi tiếng nhất. Nhưng nhà thờ nầy đã được xây dựng với một giá rất đắc.
Hội thánh vào đầu thập niên 1500 đã bị tội lỗi vây lấy. Các linh mục có đến hàng ngàn, họ thấy khó sống theo kiểu độc thân, đã phá vỡ lời thề của họ. Nhiều thầy tu ăn tục nói phét, ham ăn, và hay lang chạ; có người để ý thấy nhiều “nữ tu viện chẳng khác gì nhà thổ công khai”.
Nhưng sự tha thứ tội lỗi, cả linh mục và người trần tục, đều tìm được cách dễ dàng. Họ có thể mua lấy sự tha tội đó. Sự mua bán đặc ân – một loại tha tội – thật đã lan rộng. Hiệu trưởng của trường Oxford lưu ý: “Tội nhân thời ấy nói: `Tôi không lo về mọi điều ác tôi đã phạm ở trước mặt Đức Chúa Trời, vì tôi có thể nhận lấy sự miễn giảm mọi tội lỗi thật dễ dàng bởi đặc ân mà tôi nhận được từ Đức Giáo Hoàng”.
Nhằm ngày 15 tháng 3 năm 1517, Giáo Hoàng Leo X, ông đang cần tiền để tái thiết giáo đường Thánh Peter, đã tuyên bố một cuộc bán lịnh ân xá rất đặc biệt. Johann Tetzel, một thầy dòng Dominican ở lứa tuổi trung niên, đã trở thành nhân vật chính trong sự buôn bán nầy. Ông ta nắm lấy vai trò mới giống như P. T. Barnum, đi khắp nơi thuộc miền Trung châu Âu với cái rương bọc đồng và một cái túi chứa đầy các biên nhận đã được in sẵn. Ngoài ông ta ra, một viên phụ tá mang theo chiếu chỉ của Leo trên một tấm đệm bọc nhung. Hai người rẽ vào một ngôi làng với tiếng chuông nhà thờ rung liên hồi. Nhiều đoàn dân đông nhóm lại và trò bịp được thi hành. Tetzel sẽ rao mời: “Tôi có ở đây nhiều giấy thông hành dẫn linh hồn người ta đến với sự vui vẻ của Barađi ở trên trời”.
Bất cứ và từng tội lỗi nào cũng sẽ được tha thứ, ông ta nói: “Cha Thánh có quyền phép trên trời dươi đất để tha tội, và nếu Ngài tha tội, Đức Chúa Trời cũng phải tha y như thế”. Còn nữa, ông ta nói, những sự tha thứ sẽ được mua lấy cho các người thân đã quá cố. “Không bao lâu sau đó khi có tiếng đồng tiền vang lên trong bát, linh hồn mà đồng tiền ấy đã trả cho sẽ bay ra khỏi nơi luyện ngục rồi về thẳng thiên đàng”. Tetzel là một cái máy làm ra tiền, làm cho chỉ tiêu của ông tăng vọt ở khắp mọi nơi…cho tới chừng ông ta bước vào khu vực của một thầy tu có tên là Luther.
“vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia” (Roma 3.23-25).
16 Tháng 3
GIÁO HỘI NGHỊ LATERAN LẦN THỨ 5
Giáo hoàng Leo đã tuyên bố rao bán những thẻ đặc xá của ông ngay lúc Giáo hội nghị Lateran lần thứ 5 vừa hoàn tất xong công việc của nó.
Leo do Giovanni de’ Medici, con trai thứ hai của Lozenro the Magnificent sanh ra. Khi lên 8 tuổi cậu được giao cho một vị Tổng giám mục quản lý. Lúc được 14 tuổi, cậu ta đã trở thành một chánh chấp sự, là vị chấp sự trẻ tuổi nhất lúc bấy giờ. Cha cậu viết thư cho cậu, cảnh cáo rằng Rôma là một “cái bễ chứa mọi tội lỗi” và cậu ta phải sống một “đời sống đạo đức…”.
Leo bất chấp lời khuyên. Khi ông lên làm Giáo Hoàng ở tuổi 37, thái độ của ông là: “Chúng ta hãy thưởng thức địa vị Giáo Hoàng, vì Đức Chúa Trời đã ban địa vị ấy cho chúng ta”. Ông đã vào Rôma với một con ngựa trắng đi giữa cảnh hào nhoáng và lộng lẫy rồi ngay tức khắc rơi vào cảnh hỗn độn chính trị của người châu Âu giống như một trận cờ vua vậy. Ông khuyến khích những người bà con nắm lấy các địa vị trong giáo hội và bỏ tù kẻ thù trong ngục tối sâu thẳm nhất. Gần như ông đã bị ám sát bằng chất độc, và những kẻ âm mưu đều bị hành quyết chết hết. Ông rất thích ăn mặc theo kiểu lộng lẫy và đeo ngọc đầy các ngón tay của mình. Ông ta ưa chè chén say sưa và giữ một thầy tu có thể nuốt một con chim bồ câu cùng 40 quả trứng cùng một lượt. Ông ta ưa thú săn bắn, với sự trợ giúp của 70 con chó. Ông ta truyền cho các hoạ sĩ phải dựng lên các công trình thật công phu và hay dự xem các vỡ kịch có tính cách khiêu dâm.
Ông ta đã làm cho tài sản mình cùng kiệt, và đấy là một trong những mối quan tâm của Giáo Hội Nghị Lateran lần thứ 5. Giáo hội nghị đã khôi phục lại sau lần bầu chọn Leo, họ đã đưa ra vài quyết định quan trọng. Sự phát minh máy in mới nhất đã được công nhận là một sự ban cho từ thiên đàng, thế nhưng chỉ có loại sách báo mà Vatican chấp nhận mới được in ấn mà thôi! Một chiến dịch mới chống lại Thổ nhĩ kỳ đã được ưng thuận, và một thứ thuế đã được phép cho truy thu vì chiến dịch ấy. Giám Mục thành Rôma được bảo đảm uy quyền cao hơn mọi giáo hội nghị, và sự vâng theo Giáo Hoàng được tuyên bố là cần kíp để được cứu rỗi. Và để thu góp tiền bạc, Giáo Hoàng Leo, được Giáo hội nghị vùa giúp, đã đưa ra sự ngăn cấm chống lại tình trạng cho vay nặng lãi, xoá bỏ nhiều món nợ thái quá, rồi buôn bán phân phối thẻ ân xá của ông ta.
Sau khi hoàn tất xong công việc của mình, Giáo Hội Nghị đã dời hoãn lại đến ngày 16 tháng 3 năm 1517, và Leo trở lại với các khoái lạc của chức vụ mình. Ông ta từng đưa ra lời châm biếm: “Câu chuyện hoang đường Đấng Christ ở cùng chúng ta tiện lợi dường bao”.
“Thiên sứ cất tiếng nói cùng những kẻ đứng ở trước mặt mình rằng: Hãy lột bỏ những áo bẩn khỏi nó. Lại nói cùng Giê-hô-sua rằng: Hãy nhìn xem, ta đã bỏ sự gian ác khỏi ngươi. Ta bèn nói rằng: Khá đội mũ sạch trên đầu người. Thì người ta đội trên đầu người một cái mũ sạch, đoạn mặc áo xống cho người; thiên sứ của Đức Giê-hô-va đương đứng đó” (Xachari 3.4-5).
17 tháng 3
NGÀY THÁNH PATRICK
Điều không may lớn lao nhất của chúng ta có thể đưa chúng ta vào sự hầu việc long trọng nhất dành cho Chúa. Hãy xem Giôsép và Đaniên, hai thanh niên trong Cựu Ước, sự phu tù của họ đã đưa họ đến các nước xa xôi, ở đó nơi xứ lạ quê người về sau họ trở thành sứ giả của Đức Chúa Trời.
Thánh Patrick qua đời vào ngày 17 tháng 3 năm 461, một ngày từng ghi dấu tên ông. Patrick chào đời khoảng năm 389 ở nước Anh. Cha của ông là một chấp sự và ông nội của ông là một vị linh mục. Sự bảo hộ Anh quốc của Rôma gần như không còn nữa, và các nhóm xâm nhập người Ái Nhĩ Lan đã quấy nhiễu các vùng bờ biển, các nông trại bị cướp bóc, nhiều dân làng bị giết, nhiều thanh niên bị bắt cóc.
Patrick khi ấy mới được 16 tuổi. Gã nông dân người Ái Nhĩ Lan, người bỏ tiền ra mua Patrick buộc cậu phải chăn bầy chiên, và qua mọi việc ấy Patrick đã tìm gặp Đấng Christ. “Chúa mở cho tôi thấy sự vô tín của mình, để rồi tôi hết lòng trở lại đạo mà đến với Chúa”.
Sau khi liều mạng trốn thoát ở tuổi 22, Patrick trở về quê hương trước sự vui mừng của bố mẹ, họ luôn cầu nguyện rằng cậu sẽ không còn ra đi nữa. Thế nhưng tấm lòng của Patrick lại nóng cháy vì những kẻ xưa kia bắt cóc cậu, rồi một tối kia cậu mơ thấy một người Ái Nhĩ Lan đến nài xin cậu trở lại đấy giảng đạo. Sau mấy năm nghiên cứu Kinh Thánh, Patrick trở lại Ái Nhĩ Lan trong vai trò một giáo sĩ. Xứ Ái Nhĩ Lan gần như chẳng có truyền giáo chi hết lúc bấy giờ, họ thờ lạy các hiện tượng thiên nhiên, họ cúng bái tà linh trên cây cối và các tảng đá, họ dấn thân vào ma thuật, thậm chí dùng con người làm của lễ, do các tu sĩ thực hiện. Patrick nói: “Chúng tôi đã giăng một mẻ lưới, hầu bắt lấy cho Đức Chúa Trời thật đông người”. Và Patrick đã làm y như thế, ông đã mở ra 200 Hội thánh và làm phép báptêm cho khoảng 100.000 người đã trở lại đạo, mặc dù có hàng tá nổ lực chống lại mạng sống ông và sự chống đối bạo lực từ nhà cầm quyền dân sự. Trong quyển “Xưng tội”, ông viết: “Tôi là kẻ mắc nhiều nợ đối với Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban bố ân điển Ngài trên tôi, nhiều đoàn dân đông đã được sanh lại cho Đức Chúa Trời qua tôi. Xứ Ái Nhĩ Lan, họ chẳng có một sự hiểu biết gì về Đức Chúa Trời và chỉ thờ lạy hình tượng và những đồ ô uế, về sau họ trở thành dân sự của Chúa, và được gọi là con cái của Đức Chúa Trời”.
“Ngài đáp rằng: Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết. Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, các xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các ngươi đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa” (Công Vụ các Sứ Đồ 1.7-9).
18 Tháng 3
CÁI BÌNH BẤT TOÀN
Hạng người lỗi lạc thường khoe về năng lực lớn lao của mình, thế nhưng họ cũng chất chứa nhiều khuyết điểm lớn nữa. Charles T. Studd, một trong những vận động viên môn cricket nổi tiếng nhất, đã trở lại đạo vào năm 1883 nhờ ảnh hưởng của D. L. Moody. Ông đã phát triển một tình bạn thân thiết với sáu chàng thanh niên khác, và họ nhất tề dâng mình cùng với Hudson Taylor lo công cuộc truyền giáo ở Trung Hoa. “Bảy chàng Cambridge” đã dong buồm từ nước Anh rồi đến tại Thượng Hải vào ngày 18 tháng 3 năm 1885.
Studd rất chuyên tâm làm việc, hay mặc quần áo và sống theo tập tục của người Trung Hoa, ông làm việc vì những linh hồn cho tới lúc kiệt sức. Vào ngày 5 tháng Chạp, ông bước qua tuổi 25 và hợp pháp nắm lấy quyền làm chủ một tài sản thừa kế rất lớn. Ông đã dâng hết thảy tài sản ấy vào công việc Chúa, vì ông đã tìm được một sự giàu có rất lớn. Về sau ông nói: “Tôi không thể thuật cho quí vị biết niềm vui mà tôi có khi tôi đem linh hồn đầu tiên đến với Đức Chúa Giêxu Christ. Tôi đã nếm biết hầu hết mọi khoái lạc mà thế gian nầy cung ứng cho tôi. Các khoái lạc đó chẳng là gì hết khi đem sánh với niềm vui mà tôi có khi giải cứu được một linh hồn”.
Về sau Studd dấn thân hầu việc Chúa ở Ấn độ, rồi châu Phi. Ông từng nói: “Nếu Đức Chúa Giêxu Christ là Đức Chúa Trời và đã chịu chết vì tôi, thì chẳng có một của lễ nào là quá to tát đến nỗi tôi không dâng cho Ngài”. Ông làm việc vất vả cả ngày lẫn đêm, liên tục trong 18 giờ, mà chẳng có một bữa ăn nào trừ phi thứ ông nuốt chửng trong khi làm việc, và không có một kỳ nghỉ nào hết.
Nhưng sự sốt sắng của ông đã áp đảo những người ở quanh ông, dẫn tới các mối quan hệ căng thẳng và tan vỡ. Vợ ông, thường đau bịnh và cô đơn, bị bỏ lại ở nước Anh trong nhiều năm trời cùng thời điểm Studd ở hải ngoại. Ông mong các bạn đồng sự của mình đều làm việc giống như ông đã làm, và ông hay trách cứ người nào không làm như thế. Ông đã viết một quyển sách phàn nàn về tính thờ ơ mà ông đã trông thấy có giữa vòng các Cơ đốc nhân, và đề tựa của quyển sách nầy đã làm mất lòng những người ủng hộ ông – D. C. D. (Don’e care a Damn, nghĩa là MACKENO [hay là mặc kệ nó]). Ông bắt đầu dùng morphine xử lý với tình trạng kiệt sức và khó ở. Rồi khi ông qua đời ở châu Phi vào năm 1931, thân thể và tâm linh ông đều tan nát hết.
Thế nhưng, bông trái của ông là thứ còn lại. Tổ chức mà ông đã sáng lập, Chiến Dịch Truyền Giáo Khắp Thế Giới (Worldwide Evangelism Crusader), hiện vẫn còn sai phái nhiều giáo sĩ và đang làm thay đổi thế giới. Dù có nhiều lỗi lầm, Studd vẫn là một trong những vị anh hùng truyền giáo đáng nễ của chúng ta.
“Hãy tìm điều công bình, tôn kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại. Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành, bắt lấy sự sống đời đời…phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (I Timôthê 6.11b, 12a, 14).
19 Tháng 3
GIÁO HOÀNG VÀ NGƯỜI GIẢNG HOÀ
Frederick mới lên bốn khi cha ông, Vua Henry IV, đột ngột qua đời, và ông mới ở tuổi thiếu niên khi được trao cho vương miện của cha ông một cách chính thức. Thế nhưng trong lúc ấy ai cũng biết ông là “Kỳ Quan của Thế Giới”. Frederick là một người có ăn học, ông biết rõ lúc nào nên thương thảo và lúc nào phải chiến đấu. Ông đã tranh cãi với Giáo Hoàng suốt cuộc đời của mình và cứ giữ sự chỉ trích tôn giáo cho tới lúc qua đời. Ông bị rút phép thông công nhiều lần – mỉa mai thay, một lần vì làm một người giảng hoà.
Sự việc xảy ra trong Chiến dịch thập tự chinh lần thứ Sáu. Giáo Hoàng III giận dữ khi muốn rút Jerusalem ra khỏi tay người Hồi giáo. Khi chẳng có quân đội riêng, ông tìm đến Frederick xin giúp đỡ rồi đề ra một ngày cho quân đội tham gia chiến dịch xuất phát. Ngày ấy đến rồi đi. Giáo Hoàng hoạch định đủ mọi cách để khích Frederick hướng về phía đông bước vào cuộc thánh chiến. Hoàng Đế vẫn tỏ ra chẳng có chút gì cảm động về chiến dịch nầy.
Giáo Hoàng kế nhiệm, Gregory IX, rất cứng rắn khi quyết đánh và đề ra ngay cam kết của Frederick phải lãnh đạo một chiến dịch mới. Lần nầy Frederick đột nhiên không tham dự và cáo bịnh. Gregory giận dữ dứt phép thông công Frederick rồi áp dụng từng áp lực nếu có thể. Frederick sau cùng phải chịu thua, các binh đoàn phải kéo nhau đi.
Ông đến tại xứ Palestine vào ngày 7 tháng 9 năm 1228, và gặp hai thủ lãnh Hồi giáo ước hẹn đánh nhau. Frederick đã sử dụng tình trạng rối ren của họ tìm được một hoà ước để cho các Cơ đốc nhân được tự do đến tại thành Jerusalem. Chiến dịch kết thúc trước tiếng kèn xung trận đầu tiên. Đã không có chiến tranh, không có đổ máu. Các nơi thánh đã được tái mở cửa lại cho những Cơ đốc nhân.
Frederick khi ấy đã vào thành Jerusalem thăm viếng Nhà Thờ Holy Sepulcher xưa. Ở đó vào ngày 19 tháng 3 năm 1229, với cung cách theo đúng lịch sử, ông đã tự tôn mình làm vua theo truyền khẩu đời xưa. Thế nhưng hoà ước của ông đã bị những kẻ mộ đạo của hai phe đức tin từ khước, và đúng nhằm ngày 19 tháng 3, vị đại diện Công giáo ở thành Jerusalem tuyên bố một cấm chỉ trên khắp thành phố. Frederick đã bỏ chạy về quê hương mình.
Ông đã trở về với một Giáo Hoàng giận dữ, ông ta đã dứt phép thông công Frederick một lần nữa, lần nầy vì đã giảng hoà thay vì chiến tranh. Nhưng trong tất cả các chiến dịch sau nầy, chỉ lần nầy là thành công trong việc giúp cho các Cơ đốc nhân tiếp cận với thành thánh.
“Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định. Có kỳ sanh ra, và có kỳ chết; có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng; Có kỳ giết, và có kỳ chữa lành; có kỳ phá dỡ, và có kỳ xây cất; có kỳ khóc, và có kỳ cười; có kỳ than vãn, và có kỳ nhảy múa; có kỳ yêu, có kỳ ghét; có kỳ đánh giặc, và có kỳ hòa bình” (Truyền đạo 3.1-4, 8).
20 tháng 3
NGÀY CUỐI CÙNG
Thomas Cranmer gặp sự không hay khi làm Giám Mục địa phận Canterbury cho Vua Henry VIII, nhưng ông đã sống sót nhờ biết nương theo chiều gió. Ông đã tán thành những cuộc ly dị của nhà vua. Ông đã kết án mấy người vợ của vua khi cần thiết. Ông đã đoạn tuyệt với Giáo Hoàng khi thích hợp. Ông không thích đứng ở chỗ của vị anh hùng.
Nhưng Thomas đã tấn tới khi nhiều năm tháng trôi qua. Ông đã sáng tác và biên soạn quyển Sách nói về sự cầu nguyện chung và ngày càng yêu mến nền thần học cải chánh. Khi nhà vua trẻ tuổi là Edward qua đời, Thomas đã tìm cách từ chối ngôi vị của Nữ Hoàng Mary ác độc theo Công giáo kia.
Tuy nhiên, Mary không vận dụng quyền lực, bà ta buộc vị Giám Mục phải đứng xem hai người bạn thân của ông, Latimer và Ridley, đã bị thiêu trên giàn hoả. Thomas bị bắt bỏ tù và bị hành hạ dữ lắm. Sau nhiều tháng trời bị áp bức, cụ Giám Mục đã ngã quỵ và đã ký vào một loạt đơn xin từ chức công khai. Nữ Hoàng Mary khi ấy mới hoạch định một cuộc xét xử trước mặt mọi người: Cranmer phải công khai đọc lên những lá đơn xin từ chức và tái khẳng định lòng trung thành với Giáo Hoàng cùng Nữ Hoàng tại nhà thờ Thánh Mary.
Đến ngày đầu tiên của cuộc xét xử, ngày 20 tháng 3 năm 1556, Thomas đã ngồi với tư thế thật mệt mõi ở một bàn làm việc nhỏ trong nhà tù Oxford đọc bài diễn văn đã được soạn trước cho sáng hôm sau. Bàn tay của ông cầm lấy cây viết, run rẩy, rồi khởi sự viết một bản thứ hai.
Ngày hôm sau trời lạnh cóng và có mưa dầm. Thomas được hộ tống tới nhà thờ Thánh Mary với hai bài viết được giấu kín trong áo sơ mi của ông. Ông đứng dậy phát biểu, ông nói: “Tôi đến với một việc quan trọng từng làm cho lương tâm tôi phải bối rối hơn bất kỳ một việc nào khác mà tôi từng nói hay làm trong cuộc đời tôi, và đấy là những bài nói ngược lại với sự thật…”. Ông tuyên bố rằng những lá đơn xin từ chức của ông đã được ký dưới sự ép buộc, rồi ông dạn dĩ ôm lấy tin lành chơn thật.
Những tên lính canh chạy ùa đến hai bên cánh gà. Thomas bị lôi ra khỏi toà giảng rồi bị kéo lên giàn hoả. Khi ngọn lửa được đốt lên, cụ già giơ cao hai cánh tay mình trong ngọn lửa, nói rằng bàn tay đã ký mấy tấm đơn xin từ chức trước tiên sẽ bị thiêu cháy.
Thomas Cranmer đã chờ đợi cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời mình mới lộ vẻ anh hùng. Nhưng chính ngày cuối cùng ấy mới là ngày đáng kể.
“Chúng nghe những lời đó, thì giận trong lòng, và nghiến răng với Ê-tiên. Nhưng người, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời” (Công Vụ các Sứ Đồ 7.54-55).
21 tháng 3
NGÀI ĐÃ SỐNG LẠI RỒI
Phục sinh là ngày lễ long trọng nhất trong những ngày lễ Cơ đốc. Thế như chữ “Phục Sinh” [Easter] có ý nghĩa như thế nào? Lễ nầy được cử hành lần đầu tiên vào lúc nào và ở đâu?
Nguồn gốc của chữ “Phục Sinh” không có gì chắc chắn lắm, nhưng Venerable Bede cho rằng Lễ Phục Sinh Cơ đốc thay thế cho một kỳ lễ ngoại giáo xưa gồm có nữ thần mùa xuân của dân Anglo-Saxon có tên là “Eostre”. Ông nói, lễ ấy được tổ chức tùy theo mùa. Nhiều người khác tin chữ nầy [Easter] được rút ra từ một cổ ngữ của Đức có nghĩa là [sunrise] “mặt trời mọc”.
Bất luận từ ấy có nghĩa gì, đây là kỳ lễ xưa nhất của Cơ đốc giáo. Tham khảo sớm sủa nhất về từ Easter [Phục sinh] có từ thế kỷ thứ hai. Một cuộc bàn thảo dấy lên về niên đại của Lễ Phục Sinh, khiến cho Polycarp phải đến viếng Giám Mục Rôma là Anicetus. Hai người không thể định liệu được cuộc bàn thảo nầy, và nó trở thành một vấn đề tranh cãi gay gắt đe doạ sự chia rẽ trong Giáo hội. Các tín đồ ở Á châu đã kỷ niệm ngày này, còn các tín đồ ở Âu châu thì kỷ niệm ngày khác. Sách báo, tài liệu, bài giảng, và nhiều bài thuyết trình đã xu hướng vào đề tài nầy. Các giáo hội nghị được triệu tập. Nhiều người bực tức. Hàng giáo phẩm đã rút phép thông công lẫn nhau. Irenaeus viết: “Các sứ đồ đã truyền rằng chúng ta không nên xét đoán ai về một ngày lễ hay một ngày thánh. Do đâu có những cuộc chiến nầy? Do đâu có sự phân ly nầy?”
Vấn đề đã đi tới chỗ đầu phiếu ở Giáo hội nghị nổi tiếng Nicaea vào năm 325. Giáo hội nghị tuyên bố Lễ Phục Sinh sẽ được tổ chức vào ngày Chúa nhựt đầu tiên sau ngày rằm sau ngày 21 tháng 3, là điểm xuân phân. Khi ấy Phục Sinh là một “kỳ lễ có thể di dịch”, có thể tổ chức sớm vào ngày 22 tháng 3 hoặc muộn hơn vào ngày 25 tháng 4. Vấn đề chưa được định liệu dứt khoát, nhưng các tín đồ dường như nhìn biết rằng không phải là ngày giờ, mà là ý nghĩa đã cung ứng cho Lễ Phục Sinh sự trang trọng của nó.
Một thói quen phát sinh giữa vòng những người thờ phượng đầu tiên, họ giữ việc canh chừng đêm thứ Bảy trước buổi sáng Lễ Phục Sinh, và nhiều người tin rằng Đấng Christ sẽ tái lâm vào rạng sáng ngày nầy. Nhiều người mới trở lại đạo giữ việc canh chừng và đã cầu nguyện thâu đêm, rồi chịu báptêm lúc hừng sáng. Một thói quen khác, vẫn còn được thực hành cách rộng rãi, họ tìm một vị Mục sư rao giảng cho hội chúng với những lời vinh hiển: “Ngài đã sống lại rồi!” Những người nhóm lại hô to lên sau đó: “Quả thật, Ngài đã sống lại rồi!” Trong 2.000 năm nền tảng của Cơ đốc giáo đã yên nghỉ chắc chắn trên lẽ thật không dò lường được nầy.
“Song thiên sứ nói cùng các ngươi đờn bà đó rằng: Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá. Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán” (Mathiơ 28.5-6a).
22 tháng 3
GIĂNG NHỎ
Cuộc cải tổ ở Anh quốc, được khởi xướng bởi Henry VIII, Elizabeth I, và James I, có hình thức chính trị rất lớn. Những nhà cải chánh chân chính, thuộc hệ phái Thanh Giáo (Puritans) và hệ phái Ly Khai (Separatists), đều bị đàn áp. Rồi kế đó là Giáo hội Công giáo La mã.
“Nữ Hoàng Nhơn Đức Bess” đã sử dụng các hình thức phạt vạ, giá treo cổ, và roi da chống lại những kẻ nào nói Mass, tôn cao Giáo Hoàng, hay chứa chấp một linh mục. Những người Công giáo có tiếng tăm không có chút bình an nào hết. Thường lúc giữa đêm, những kẻ ác ôn xuất hiện đột ngột lôi kéo họ ra đánh bằng roi, bắt phạt vạ, hay đóng dấu bằng sắt nung.
Nicholas Owen, có lẽ là một chủ thầu buôn bán, đã thiết kế nhiều nơi ẩn náu cho những người Công giáo đang bị nguy hiểm. Ông đã giấu họ trong các phòng kín, giữa các bức tường, dưới sàn nhà. Ông đã giấu họ trong các hàng rào xây bằng đá cùng những hành lang ngầm dưới lòng đất. Ông đã thiết kế khắp mọi ngóc ngách trông lạ mắt song lại là nơi ẩn náu.
Ông là một người yếu ớt, có biệt hiệu là “Giăng Nhỏ” [Little John], vì vậy các nhân vật trong triều đình đã xem thường ông về việc che giấu nhiều người. Dường như ông quá nhỏ thó không thể di chuyển được những hòn đá, phá vỡ bức tường, và đào đất. Còn ông thì xem việc làm của mình là thiêng liêng. Ông luôn luôn bắt đầu kiến trúc một đường hầm bằng cách tiếp nhận Tiệc Thánh. Ông đã cầu nguyện liên tục trong nhà thờ, và ông giao phó nơi ấy cho Đức Chúa Trời.
Ông cũng minh chứng mình là bậc thầy bằng cách nghĩ ra các cuộc đào thoát để giúp cho những người Công giáo vượt ngục. Ông là một người tự mình vượt ngục, có nhiều bí danh và trá hình. Có lẽ chẳng có ai cứu được nhiều sinh mạng người Công giáo ở Anh quốc trong thời buổi ấy cho bằng Nicholas Owen.
Thế nhưng Nicholas sau cùng bị người ta làm phản. Bị bắt đưa vào Tháp Luân đôn, hai cánh tay của ông bị chốt trong mấy chiếc vòng bằng sắt rồi bị treo lên cao nhiều giờ liền, thân thể ông bị treo lủng lẳng. Nhiều quả cân được cột thêm vào hai chân của ông để làm tăng thêm nỗi đau đớn, thế mà chẳng có một lời nào thốt ra từ môi miệng của ông. Những lần hành xác cứ tiếp diễn cho tới ngày 2 tháng 3 năm 1606, khi “ruột ông bị đứt ra theo một cách rất khủng khiếp” và ông đã vượt qua để lãnh lấy phần thưởng của mình. Ông được Giáo hội phong thánh và được tôn cao mỗi năm vào ngày 22 tháng 3, theo truyền khẩu của Giáo hội Công giáo về ngày lễ Thánh Nicholas Owen.
“Vì nhơn cớ lương tâm đối với Đức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước. Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời. anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chơn Ngài” (I Phierơ 2.19-21).
23 tháng 3
S.D.G.
“Những phát biểu có tính cách truyền giáo” dành cho các tổ chức cùng những cá nhân đều rất thịnh hành ngày nay. Johann Sebastian Bach đã làm điều đó cách đây 200 năm.
Johann Sebastian Bach, là con út trong một gia đình nhiều nhạc sĩ người Đức, đã chịu phép báptêm lúc được hai ngày tuổi, ở Eisenach. Ông rất xuất sắc về âm nhạc, và tài năng của ông tăng thêm khi, lúc lên 9 tuổi, ông được một người anh chuyên giảng dạy âm nhạc thôi thúc.
Johann cũng yêu mến Kinh Thánh. Ông đã tuyển chọn một thư viện gồm 83 đầu sách gồm có Kinh Thánh, các tác phẩm của Luther, và các tác phẩm của những người đi theo Luther. Không bao lâu sau đó ông kết hợp lòng mến thích âm nhạc của mình với Kinh Thánh, viết ra lời chú thích nầy bên lề của I Sử ký 25, trong chương nầy David đã truyền cho các nhạc công trong đền thờ:
“Chương nầy là nền tảng thật cho mọi thứ âm nhạc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời”.
Johann đã đi bất cứ đâu, dù xa xôi mấy để nghe nhạc hay. Thường thì ông đi chừng 30 dặm đến Hamburg hoặc 60 dặm đến Celle để nghe những tay đàn organ nổi tiếng. Đến năm 20 tuổi, sau khi nghe một tay đàn organ nổi tiếng trình diễn ở Lubeck, ông đã thuyết phục các nhà tài trợ cho phép ông vắng mặt chừng một tháng, và ông đã đi bộ một chuyến đi những 200 dặm.
Ba năm sau, ông loan báo mục đích của cuộc đời ông: sáng tác “đều đặn nhạc thánh dâng cho sự vinh hiển Đức Chúa Trời”. Ông đã tin âm nhạc sẽ tồn tại chỉ vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và khi ông ngồi xuống để sáng tác, ông thường ghi vội hai chữ J.J. trên tờ giấy trắng của mình: Jesu Juva – Xin giúp con, lạy Chúa Giêxu. Ở cuối bài, ông ghi S.D.G. – Soli Deo Gloria – Sự vinh hiển, chỉ dâng lên một mình Đức Chúa Trời thôi.
Bach đã phục vụ trong vai trò nhạc sĩ hoàng gia ở Weimar và Cothen, kế đó đã giảng dạy âm nhạc tại Leipzig cho tới lúc qua đời. Ông đã làm cha 20 đứa con trong suốt cuộc đời của mình và hàng trăm bài sáng tác.
Ông đã nhận ít danh tiếng trong suốt cuộc đời của mình và đã qua đời ít có người biết tới. Mồ mả ông không có mộ bia chi hết. Sau khi ông qua đời, âm nhạc của ông đã bị quên lãng rất lâu cho tới khi Mendelssohn tái phát hiện ra nó. Chính Bach đã giữ sự khiêm tốn hết mức. Khi một người bạn từng khen ngợi tài năng của ông như một tay đàn organ, ông nhún vai mĩm cười đáp: “Chẳng có chi là kỳ diệu về việc ấy cả. Bạn chỉ đánh cho đúng nốt, đúng trường độ và nhạc cụ làm phần còn lại thôi”.
“Đa-vít và các quan tướng đội-binh cũng để riêng ra mấy con cháu của A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun hầu phục-dịch, lấy đờn-cầm, đờn-sắt, và chập-chỏa” (I Sử ký 25.1).
24 tháng 3
“BỞI HÀM RĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI”
Cơ đốc nhân phải tôn trọng các bậc cầm quyền, cầu thay cho những vị lãnh đạo, và trở nên sự sáng trong thế gian. Bấy nhiêu đó dường như cũng là đủ rồi. Nhưng các mối quan hệ giữa Hội thánh và chính quyền đã gây bực tức nhiều tín đồ từ thời Constantine cho đến thời Liên Hiệp Cơ đốc (The Christian Coalition). Và chưa bao giờ họ thấy phức tạp hơn trong thời của Lotario de’ Conti, là người sinh ra cho bậc cha mẹ quí tộc sống gần thành Rôma vào năm 1161. Lotario rất lỗi lạc. Mặc dù ông có tầm vóc nhỏ thó, đôi mắt sáng quắc của ông cùng gương mặt sạm nắng rất lôi cuốn. Ông không bị ràng buộc gì về mặt xã hội, giọng nói hấp dẫn, nụ cười ấm áp, và một sự sáng chói dành cho thi ca và bài hát. Ông sống rất tôn giáo.
Ông đã được bầu chọn làm Giáo Hoàng Innocent III vào lúc 37 tuổi.
Chàng thanh niên ngay lập tức khẳng dịnh rằng Đấng Christ đã ban cho những người kế vị Phierơ quyền cai trị cả thế gian cũng như cai trị Hội thánh. “Chính quyền liên đới với Giáo hội như mặt trăng đối với mặt trời vậy”.
Thế nhưng khi Innocent chỉ định Stephen Langton làm Giám Mục xứ Canterbury của Anh quốc, Vua John đã không chấp nhận. Là người phi tôn giáo, John đã cấm Langton đặt chân đến nước Anh và thề: “bởi hàm răng của Đức Chúa Trời” trục xuất từng vị Giám mục ra khỏi xứ, móc mắt và cắt đứt mũi của họ.
Vào ngày 24 tháng 3 năm 1208, Innocent đã đặt nước Anh dưới một cấm chỉ về mặt tôn giáo. Tất cả các buổi thờ phượng về mặt tôn giáo đều bị hủy bỏ, nhiều nhà thờ bị đóng cửa, những cái chuông nhà thờ đều im hơi lặng tiếng. Người chết không được cử hành theo tang lễ Cơ đốc và Lễ Mass không được cử hành. Innocent phóng thích người Anh nào không trung thành với John và thúc nước Pháp chuẩn bị xâm lược Anh quốc.
Bị xúc phạm công khai khi bị bắt quì gối, John đã công nhận Innocent là người chiến thắng; và sự đầu hàng của ông ta đã làm cho ông ra nhu nhược trước người Anh đến nỗi một thời gian ngắn sau đó tại Runnymede bên bờ sông Thames, ông đã ký một chiếu chỉ nổi tiếng nhất trong lịch sử Anh quốc, chiếu chỉ Magna Carta. Dòng đầu tiên khẳng định: “Hội thánh Anh quốc sẽ được buông tha…”.
Innocent III đưa địa vị Giáo Hoàng lên tới tột đỉnh của nó, thế nhưng các áp lực của địa vị đó dẫn tới cái chết sớm sủa. Ông than thở: “Tôi chẳng có chút rỗi rãnh. Tôi không còn thở được nữa”. Ông đã qua đời do kiệt sức ở tuổi 55, ông thấy phần việc cai trị cả Giáo Hội và chính quyền là quá tải cho một con người hay chết, thậm chí là người rất lỗi lạc và khéo léo.
“Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ ta, đã truyền cho ngươi…Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước. Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng (Giôsuê 1.7-9a).
25 tháng 3
PHỤC SINH ĐEN
Gần 1.000 giáo sĩ trực thuộc Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa [CIM] đã bị kẹt lại ở Trung Hoa khi quân Cộng sản chiếm chính quyền vào thập niên 1940. CIM đã ra lịnh cho tản cư hoàn toàn vào tháng Giêng năm 1951, nhưng có phải lịnh ấy đưa ra quá trễ chăng? Quân Cộng sản không phải là không thích việc giết chóc.
Arthur và Wilda Mathews đã nộp đơn xin visa xuất cảnh vào ngày 3 tháng Giêng. Mọi điều kiện sinh hoạt của họ đã co cụm lại vào một căn bếp trống, ở trong góc bếp ấy Wilda đã biến nó thành một góc cầu nguyện. Nhiều ngày trôi qua chẳng thấy tăm hơi gì về visa họ nộp đơn xin. Cùng thời điểm đó, có nhiều cư dân bị hành quyết từng ngày, và từ căn bếp ấy Wilda có thể nghe thấy nhiều tiếng súng nổ. Sự căng thẳng ngày càng cao, khó mà chịu đựng nổi. Arthur viết cho bố mẹ mình: “Sự tưởng tượng đủ loại sự việc xảy ra chung quanh không thể hình dung nổi”.
Sau cùng có người đến cho ông hay rằng vợ con ông có thể ra đi nếu ông kín đáo làm việc cho người Cộng sản. Arthur đã từ chối. Hết ngày nầy sang ngày khác họ đã cho mời và tra hỏi ông. Hết ngày nầy sang ngày khác, ông đã chào vĩnh biệt với Wilda, ông lấy làm lạ không biết có còn gặp lại bà nữa hay không!?! Sau cùng Arthur đã nói thẳng với những người cầm quyền: “Tôi không phải là Giuđa. Nếu các ông muốn tôi hay ai khác trong CIM làm loại công việc đó, tốt hơn các ông đừng gắng sức nữa vì chúng tôi không làm việc ấy đâu”.
Wilda hoàn toàn bị sợ hãi và nghi ngờ phủ lút. Ngày Chúa nhựt 25 tháng 3 năm 1951, theo như về sau bà cho biết, đó là ngày Phục sinh Đen. Wilda đã lén đến dự một buổi thờ phượng Lễ Phục Sinh trong nhà thờ, nhưng khi bà mở miệng hát: “Ngài sống” chẳng có một lời nào thốt ra theo cả. Trở về nhà, bà ngã mình lên chiếc rương và mấy ngón tay run rẩy của bà mở ra ở II Sử ký 20.17: “Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi…chớ sợ, chớ kinh hãi…”. Wilda giữ chặt lấy câu Kinh Thánh đó, và hai tuần sau bà viết: “Cuộc chiến đã đến hồi ghê khiếp, thế nhưng sự bình an và yên tĩnh đang ngự trị”.
Đúng hai năm trước khi bà rời khỏi xứ, và ao ước cho Arthur là giáo sĩ CIM sau cùng rời khỏi Trung Hoa. Nhưng lạ lùng thay, hết thảy họ đều ra đi mà chẳng có một người nào tuận đạo hết. Đây là chuyến xuất Ai cập lớn lao nhất trong lịch sử truyền giáo.
“Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài’ (II Sử ký 20.17-18).
26 tháng 3
CUTHBERT
Cuthbert ra đời trong một gia đình chăn chiên ở Northumbria vào đầu thập niên 630, nhưng chúng ta biết rất ít về ông cho tới khi ông bước vào chủng viện Tô cách Lan ở Melrose lúc được 20 tuổi. Thái độ mộ đạo và lòng trung tín của ông đã kết quả trong việc ông có tên tuổi ở Melrose mười năm sau đó. Ông thấy mình bị cuốn vào cuộc tranh chiến giữa các Cơ đốc nhân Celtic và Lamã, và ông đã lui về sống ẩn dật vào năm 676, di chuyển qua một hòn đảo hoang vắng cách bờ biển Anh quốc khoảng 6 dặm, ông sống ở đó với các loài chim và hải cẩu.
Đến năm 684 tiếng tăm của ông về sự nên thánh đã lan đi khắp nơi, và Vua Ecgfrith xứ Northumbria đã qua đến đó nài xin ông về làm Giám Mục xứ Hexham. Cuthbert lúc đầu đã từ chối, không muốn rời bỏ nơi ẩn dật yên bình của mình. Nhà vua sau cùng đã khuyên ông, và đúng ngày 26 tháng 3 năm 685, Cuthbert đã được phong chức Giám Mục. Ông để những ngày còn lại của đời mình nắm lấy chức vụ công khai, đi khắp nơi trong giáo xứ, giảng đạo, làm cho những nhà nông chăn chiên trong vùng đồi núi xứ Northumbria trở lại đạo, và góp phần bố thí.
Ông trở lại hòn đảo của mình sau Lễ Giáng Sinh năm 686, với lòng tin rằng mình sẽ qua đời. Ông qua đời vào ngày 20 tháng 3 năm 687, các tu sĩ đã đưa tin tức bằng các ngọn đuốc thắp sáng, và vào sáng hôm sau họ đem thi hài của ông về Lindisfarne để lo chôn cất trong ngôi nhà thờ của chủng viện.
Các nghi thức chôn cất rất kỳ quặc. Đây là tục lệ chôn những người thánh lâu đủ để cho xác thịt mục nát trong ngôi mộ đắp bằng đất. Xương cốt sau đó được đem lên, rửa ráy, bọc bằng vải liệm, rồi đưa vào mộ. Nghi thức nầy được gọi là “lấy di hài lên”. Việc lấy di hài của Cuthbert lên đã diễn ra vào ngày 20 tháng 3 năm 698, là ngày giỗ thứ 11 của ông. Tuy nhiên, theo truyền khẩu của Giáo hội, khi di hài của Cuthbert được đem lên, người ta mới phát hiện ra rằng nó không bị hư nát. Di hài đó được long trọng đặt vào một ngôi mộ nằm ngay dưới nền của nhà thờ. Không lâu sau đó, nhiều phép lạ đã được đồn đãi khắp nơi ấy, và đến thời kỳ Giáo Hoàng Bede cho viết tiểu sử của Cuthbert vào năm 720, hàng ngàn khách hành hương đã viếng qua ngôi mộ đó. Cuthbert trở thành Cơ đốc nhân được kính mến nhiều nhất ở miền Bắc nước Anh.
“Hỡi anh em, tôi đoán quyết rằng thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được, và sự hay hư nát không hưởng sự không hay hư nát được. Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết” (I Côrinhtô 15.50-53).
27 tháng 3
CỤ JEFFREY
Vào năm 1697 Samuel và Susanna Wesley chịu trách nhiệm chủ toạ Hội thánh ở Epworth, Anh quốc, và không bao lâu sau đó họ đã làm cho giáo khu đầy dẫy với trẻ em. Susanna đã sanh 19 lần cả thảy – giữa vòng chúng, là John, nhà sáng lập hệ phái Giám Lý. Những năm tháng ở Epworth rất khó nhọc, những ngày nghèo khó, bất đồng, và ngã lòng. Những điều khó khăn đã tăng thêm lên vào tháng Chạp năm 1716, khi một vị khách bất ngờ đến viếng thăm – một con ma. Cả giáo khu đã dậy với những âm thanh kín nhiệm. Tiếng rên rỉ. Tiếng gõ cửa lớn. Tiếng chân bước trên cầu thang. Mấy cái chai bị bễ. Tiếng dây xích rung mạnh. Đôi khi ngôi nhà lay động từ mái xuống tới nền. Không ai có một lời giải thích nào hết, nhưng những lần xuất hiện kỳ lạ thỉnh thoảng được người ta trông thấy.
Con ma (hay ma quỉ, hay là cái gì đó) hầu như đã gây bối rối trong lúc gia đình lễ bái khi Tấn sĩ Wesley cầu thay cho gia đình hoàng tộc. Những tiếng nện khủng khiếp đến từ trên cầu thang, chúng làm cho vị Mục sư bị kích động đến nỗi ông đã cầu nguyện với sự bất chấp và lớn tiếng hơn. Khi không còn kiên nhẩn nữa, ông đã hô to lớn tiếng: “Ngươi, con quỉ câm điếc, tại sao ngươi cứ nhát cho mấy đứa trẻ phải sợ hãi chứ? Hãy đến với ta với sự nhận biết ta là một con người nè”. Sau đó, tiếng động ấy thường làm cho Wesley bực bội nơi phần nghiên cứu của ông.
Lúc đầu, Susanna đã gán tiếng ồn cho bầy chuột. Nhưng khi mấy tiếng kèn kỳ lạ bắt đầu thổi lên khắp cả nhà, bà càng tin chắc là chẳng có người nào hay con thú nào có thể tạo ra loại âm thanh đó hết. Vào ngày 27 tháng 3 năm 1717 bà đã viết thư cho đứa con trai hay phê phán là Samuel, nó đang đi học: “Mẹ không thể tưởng tượng được con sẽ tò mò như thế nào về người khách không mời mà đến của chúng ta. Về phần mẹ, mẹ rất mệt mỏi với việc nghe hay nói tới cái âm thanh đó; nhưng nếu con đến, con sẽ thấy đủ để làm thoả mãn mọi sự xem thường của con ngay, và có lẽ chính con sẽ nghe hay thấy nó”.
Cả nhà đương nhiên đã đặt tên cho con ma của họ là: “Cụ Jeffrey”. Mấy đứa trẻ càng lúc càng quen thuộc với cụ, chúng thấy có thể chọc tức và làm cho cụ giận dữ với những lời phê phán cá nhân. Mấy cái trò hề của cụ sau cùng chẳng có hiệu lực gì nữa, nhưng nhiều năm sau John, khi ấy là một nhà truyền đạo nổi tiếng, đã viết một câu chuyện nói về cụ trên một tạp chí. Dường như con quỉ đã quá bạo tay. Khi tìm cách gây sợ hãi hay hủy diệt nhà truyền đạo trong tương lai, Cụ Jeffrey thay vì làm cho John tin rằng chiến trận không phải chống lại thịt và huyết, mà là chống lại các bậc cầm quyền chốn tối tăm và các thế lực trong thế giới linh hồn.
“Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy. Vậy nên, hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, hầu cho trong ngày khốn nạn, anh em có thể cự địch lại và khi thắng hơn mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng” (Êphêsô 6.12-13).
28 tháng 3
BÀI GIẢNG CỦA WILLIAM
Tấn sĩ John Minder, Hiệu trưởng trường đại học, là một người to con, mái tóc lúc nào cũng lang bóng và rất quan tâm đến sinh viên của mình. Nhưng ông đã theo sát nút William. Vào ngày William đến trường, anh cầm lấy con dao hướng đạo, đi vòng quanh với nó, rồi giậm chân nhảy ngay sân golf giống như một nam sinh mới lớn vậy. Sau đó anh và người bạn cùng phòng mặc quần áo đẹp nhất bơi xuồng đến vào một buổi trưa Chúa nhựt. William đứng trên chiêc xuồng, giơ cao mái chèo lên rồi nói: “Tôi thấy một tên da đỏ – pằng”. Anh ta ngã người về phía sau, và cả hai người đều rơi xuống nước. William đã vật lộn dưới lòng sông, đánh hạ những kẻ hay bắt nạt, thắt loại cà vạt sáng chói, và hay quyến rũ các cô gái.
Nhưng Dean Minder đã không dứt kiên nhẫn, đôi mắt ông lấp lánh, và ông biết rõ ưu điểm khi ông nhìn thấy nó. Vào Chúa nhựt Lễ Phục Sinh, ngày 28 tháng 3 năm 1937, ông đem William cùng đi dự các buổi thờ phượng tối ở một Hội thánh Báptít nhỏ thuộc vùng phụ cận. Minder đến thay thế vị Mục sư bán thời gian của Hội thánh, không nghi ngờ chi nữa ông nầy là một người làm nghề trang trí nội thất. Nhưng Minder không chủ ý đến giảng buổi tối đó. Trên đường đi, ông báo cho William biết: “Tối nay, anh sẽ giảng nhé”.
“Không, thưa thầy!” chàng thanh niên hốt hoảng nói: “Em chưa hề giảng trước đây bao giờ”.
Dean Minder đáp: “Được thôi, anh sẽ giảng tối hôm nay. Khi anh giảng xong, thì tới phiên tôi”.
Như sự thể đã xảy ra, William đã kín đáo ôn luyện bốn sứ điệp trích từ sách bài giảng do một nhà truyền đạo Báptít có tên là Lee Scarborough viết. Giờ đây, anh đã cố hết sức để nhớ lại các bài giảng ấy. Có nhiều người đến tại ngôi nhà thờ nhỏ, đơn sơ đó, thấy ngôi nhà bị vây quanh bởi nhiều người đờn ông với các bầy chó săn. Những tay thợ săn cùng các chủ trại chăn nuôi cùng gia đình họ đều vào bên trong để thờ phượng, số khán giả nhóm lại chừng 25-30 người. Người hướng dẫn hát thờ phượng đã chỉ huy hát một loạt nhiều bài thánh ca có tốc độ khá nhanh, thỉnh thoảng có dừng lại một chút.
Khi đến giờ rao giảng, William đứng dậy, nhìn xuống đám đông, và thần kinh căng đến nỗi hai đầu gối anh run lập cập, gương mặt anh lấp lánh những giọt mồ hôi. Anh đã giảng tất cả bốn bài trong 8 phút, rồi lui về ngồi tại chỗ của mình.
Đây là phần khởi đầu chức vụ giảng đạo của William Franklin Graham – mà ai cũng biết là Billy.
“Vì bằng tôi rao truyền Tin Lành, tôi chẳng có cớ khoe mình, vì có lẽ cần buộc tôi; còn không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay. Nếu tôi vui lòng làm việc đó, thì được thưởng; lại nếu tôi không vui lòng mà làm, thì cái chức vụ cũng vẫn phó thác cho tôi. Thế thì phần thưởng của tôi là gì? Ấy là khi giảng Tin Lành, thì giảng nhưng không, chẳng dùng quyền tôi có như người giảng Tin Lành. Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn” (I Côrinhtô 9.16-19).
29 tháng 3
CUỘC PHỤC HƯNG Ở XỨ WALES
Evan Roberts là một thợ mỏ, cao ráo, mắt xanh, còn trẻ, vừa người. Mái tóc màu nâu xoắn tít trước trán và bên tai. Ông đã cưu mang một gánh nặng sâu sắc về linh hồn, và ông đã cầu nguyện khẩn thiết xin cho có cuộc phấn hưng. Ở tuổi 25, sau khi bắt đầu học tập để thi thành chức vụ, ông đã xin phép vị Mục sư của mình hướng dẫn một số buổi nhóm tối. Lúc đầu chỉ có một số ít người đến nhóm lại, nhưng trong vòng mấy ngày các cửa tiệm trong làng đều đóng cửa sớm để đi dự các buổi thờ phượng. Dân chúng đến sớm để có được chỗ ngồi tại nhà thờ. Nhà thờ đầy ắp người và đường phố chật kín người đến dự nhóm. Các buổi thờ phượng thường kéo dài cho tới 4G30 sáng. Nhiều tội lỗi được xưng ra, nhiều tội nhân được biến đổi, nhiều gia đình được phục hưng.
Trong các thị trấn lân cận Roberts đã nhìn thấy các kết quả tương tự. Tất cả các nhà hát của xứ Wales đều đóng cửa, nhiều nhà tù trống trơn, những nhà thờ thì đầy ắp người, các trận bóng đá bị hủy để tránh va chạm với cuộc phấn hưng. Những thợ mỏ xứ Wales đã được biến đổi đến nỗi lối vào mỏ phải bị chặn lại không cho làm việc để tránh mọi lời rủa sả.
Vào ngày 29 tháng 3 năm 1905, Evan Roberts đã mở ra một loạt nhiều buổi nhóm ở Giảng đường Shaw Street ở Liverpool – ra khỏi xứ Wales vào hẳn trong nước Anh, vào tận các thành thị. Hàng ngàn người tụ tập lại quanh nhà thờ, và người ta đổ về từ bốn phía của Nước Anh, xứ Tô cách Lan, xứ Ái nhĩ Lan, lục địa và nước Mỹ. Nhiều đám đông được biến đổi hoặc tìm được sự vui mừng mới mẻ trong Đấng Christ. Thường thì Robetrs đã không đứng giảng. Khi người ta nhìn thấy ông, các dòng sông cảm xúc tuôn chảy qua những đám dân đông. Khi ông đứng giảng, sứ điệp của ông rất đơn sơ và yên tĩnh: “hãy vâng theo Chúa Jêsus, hãy dâng mình trọn vẹn cho để hầu việc Ngài, hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh, và để cho Ngài tể trị”.
Các buổi nhóm ở Liverpool đã làm cho Roberts phải kiệt sức, ông cần nhiều tuần lễ để hồi phục. Trong chuyến rao giảng kế đó, một cơn lốc phục hưng một lần nữa xoáy quanh ông; nhưng một lần nữa, chàng thanh niên nầy phải trở về nhà trong tình trạng kiệt lực. Roberts đã rao giảng thêm bốn lần nữa, rồi lui về nhà của một người bạn để có được một tuần hồi phục. Ông đã ở đó 17 năm, và không còn giảng đạo nữa. Ông đã để ra 45 năm còn lại trong chức vụ ẩn dật và cầu nguyện, ở đây và ở đó, với bạn bè. Ông qua đời vào năm 1951.
Chức vụ công khai của ông đã kéo dài chỉ có mấy tháng trời, song nó đã làm rung chuyển xứ Wales và Anh quốc cho tới tận nền.
“Những người nầy chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba ban ngày. Nhưng ấy là điều đấng tiên tri Giô-ên đã nói tiên tri rằng: Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, và các người già cả sẽ có chiêm bao” (Công Vụ các Sứ Đồ 2.15-17).
30 tháng 3
TINH BINH THẬP TỰ
Dudley Tyng phục vụ trong vai trò phụ tá cho cha mình ở Hội thánh Epiphany ở Philadelphia và được chọn làm Mục sư Chủ Toạ của Hội thánh nầy khi cha ông về hưu năm 1854. Ông mới có 29 tuổi khi kế tục cha mình ở Hội thánh Episcopal rộng lớn nầy, và lúc đầu dường như mỹ mãn lắm. Thế nhưng kỳ trăng mật kết thúc khi Dudley bắt đầu rao giảng chống tại tình trạng nô lệ. Những lời than phiền lớn tiếng dậy lên từ các tín đồ bảo thủ, kết quả Dudley đã xin từ chức vào năm 1856.
Ông cùng những kẻ theo mình đã tổ chức Hội thánh Covenant khắp các nơi trong thành phố, và tiếng tăm ông bắt đầu vang dội. Ông mở ra các buổi học Kinh Thánh ban trưa trong YMCA, và chức vụ ông đã ra xa khỏi các bức tường của nhà thờ. Dudley có một gánh nặng trong việc lãnh đạo những người làm chồng làm cha đến với Đấng Christ, và ông đã giúp tổ chức một cuộc míttinh lớn để đến với họ. Vào ngày thứ ba 30 tháng 3 năm 1858, 5000 người đã nhóm lại. Dudley đã nhìn qua nhiều khuôn mặt ấy rồi tuyên bố: “Tôi muốn cánh tay phải nầy bị cắt cụt tới thân mình hơn là tôi thiếu bổn phận đối với các bạn trong việc phân phát sứ điệp của Đức Chúa Trời”. Hơn 1000 người đã trở lại đạo trong ngày đó.
Hai tuần sau Dudley đi tham quan vùng nông thôn, ông đang quan sát máy xay ngũ cốc trong nhà kho. Bàn tay của ông đặt quá gần máy và tay áo ông đã bị cuốn vào máy. Cánh tay ông bị xé toạc lên tới khớp, động mạch chính bị đứt rời ra. Bốn ngày sau cánh tay phải của ông đã bị tháo ngay sát vai. Khi ông sắp chết, Dudley nói với cha già của mình: “Hãy làm tinh binh cho Chúa Jêsus, cha ơi, và nói với anh em con trong chức vụ phải làm tinh binh cho Chúa Jêsus”.
Tấn sĩ George Duffield ở Hội thánh Trưởng lão Temple ở Philadelphia đã bị khuấy đảo sâu sắc bởi tang lễ của Dudley, và Chúa nhựt sau ông đã giảng từ Êphêsô 6 về việc đứng vững vàng cho Chúa. Ông đã đọc một bài thơ mà ông đã viết, bởi lời lẽ cảm động của Dudley: “Nầy tinh binh của quân thập tự, vâng lệnh trên mau đứng lên! Cờ thiêng ta quyết dương cao hoài, ra trận xông giáo lướt tên. Dẹp tan quân thù ta cứ tiến, trông Christ lãnh đạo tấn công; kỳ cho đến lúc ca khải hoàn, Christ là Chân Chúa vô song” (TC 315).
Người chịu trách nhiệm biên soạn một quyển thánh ca đã nghe được bài thơ ấy, đã tìm giai điệu thích ứng, rồi cho in bài thơ đó. “Tinh binh thập tự mau đứng lên” không bao lâu sau đó đã trở thành một trong những bài thánh ca hay nhất của nước Mỹ, cơi rộng lời lẽ của Dudley lúc hấp hối cho hàng triệu người
“Vậy nên, hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, hầu cho trong ngày khốn nạn, anh em có thể cự địch lại và khi thắng hơn mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng” (Êphêsô 6.13).
31 tháng 3
AO ƯỚC CỦA LÒNG TÔI
Sứ đồ Phaolô rất yêu mến dân tộc của ông, là người Do thái, đủ để ước ao chính mình bị rủa sả và bị dứt bỏ khỏi Đấng Christ vì cớ họ. Ông nói: “Tôi ước ao và cầu nguyện với Đức Chúa Trời xin cho dân Israel được cứu”. Thế nhưng không phải ai cũng quan tâm như ông đâu. Không bao lâu sau khi các lực lượng quân La mã đã hủy diệt thành Jerusalem, và nhiều người sống sót trong cuộc bao vây đã trốn sang Âu châu tỵ nạn. Hiển nhiên là Tây ban Nha đã trở thành một trung tâm lớn cho sự học tập của người Do thái, nghệ thuật, khoa học, và tài chính. Maimonides, “sách Môise thứ nhì”, đã giúp thiết lập ở Tây ban Nha một Kỹ nguyên Vàng sinh hoạt của người Do thái. Thế nhưng trong hai thế kỷ 14 và 15, cảm tình một lần nữa đã xây chống lại người Do thái.
Cuộc hôn nhân của Ferdinand ở xứ Aragon và Isabella xứ Castile vào năm 1469 đã lập một Giáo hội thuộc nhà nước với ít thiện cảm dành cho người Do thái. Isabella đã nắm lấy phần lớn quyền lực. Bà ta nắm quyền chủ động trong chính phủ, khắc nghiệt về đạo đức, và thiên về tôn giáo theo hình thức. Bà ta thề quét sạch những người vô tín ra khỏi xứ, Isabella đã lập ra Toà án Tôn giáo của người Tây ban Nha. Những người theo dị giáo và người Do thái bị rà soát, bị chất vấn, và bị hành hình chẳng chút thương xót.
Khi Toà án Tôn giáo thất bại không buộc được người Do thái phải cải đạo, Ferdinand và Isabella đã quyết định trục xuất họ, rồi đúng ngày 31 tháng 3 năm 1492, đôi vợ chồng vua chúa nầy đã ký một sắc lệnh buộc người Do thái phải rời khỏi xứ Tây ban Nha trong 3 tháng. Một trăm năm mươi ngàn người Do thái, bị tước đoạt hết nhà cửa và tài sản, đã ra khỏi xứ từng là quê hương của họ trong gần 1500 năm. Người Do thái cuối cùng đã rời khỏi Tây ban Nha vào ngày 2 tháng 8, theo truyền thống là ngày kỷ niệm hàng năm về sự hủy diệt đền thờ thứ nhứt và thứ nhì, là ngày đau buồn nhất trong lịch sử của người Do thái, Mỉa mai thay, ngày kế đó, là ngày 3 tháng 8, Christopher Columbus đã dong buồm từ Tây ban Nha khám phá ra Tân Thế Giới.
Không phải mọi sự được làm ra trong danh nghĩa Cơ đốc giáo đều là Cơ đốc cả đâu. Những tín đồ chân chính đã dùng đến sự cầu nguyện, giảng đạo và tình yêu thương, không dùng sự bắt bớ để chu toàn Sứ Mệnh Cao Cả. Và các tín đồ chân chính đã dành để một tình yêu thương sâu sắc cho người Do thái, nhớ rõ rằng chính mình Chúa Jêsus là người Do thái. Giống như Phaolô, ao ước của tấm lòng và sự cầu nguyện của chúng ta dành cho người Do thái, ấy là họ sẽ được cứu.
“Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Chúa Trời…Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác, tức dân Y-sơ-ra-ên” (Roma 9.1, 3, 4).

