DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

I Timôthê | Tin và Cư xử trong Nhà của Đức Chúa Trời

Admin by Admin
10 Tháng Mười Một, 2023
in Bài Giảng Kinh Thánh, Bài Giảng Tân Ước, I Ti-mô-thê
0
Share on FacebookShare on Twitter

Từ Sự Sáng Tạo Đến Thập Tự Giá

I Timôthê: Tin và Cư xử trong Nhà của Đức Chúa Trời

Mục sư Bob Deffinbaugh

Phần giới thiệu:

Khi Phaolô đi ngang qua Lít-trơ trên chuyến hành trình truyền giáo thứ nhì, anh em đã tiến cử một thanh niên có tên là Timôthê (Công Vụ các Sứ Đồ 16:1-2). Phaolô đã làm phép cắt bì cho Timôthê rồi đem người theo với ông (16:3). Đây là phần khởi đầu của một cuộc hội hiệp lâu dài và rất kết quả. Timôthê trở thành một trong những đồng sự đáng tin cậy nhất của Phaolô:

“Vả, tôi mong rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, kíp sai Ti-mô-thê đến cùng anh em, để tới phiên tôi, tôi nghe tin anh em, mà được yên lòng. Thật vậy, tôi không có ai như người đồng tình với tôi để thật lòng lo về việc anh em: ai nấy đều tìm lợi riêng của mình, chớ không tìm của Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin Lành, như con ở với cha vậy” (Philíp 2:19-22).

Phaolô và Timôthê đã mật thiết đến nỗi Phaolô đã nói về bản thân ông giống như cha thuộc linh của Timôthê (Philíp 2:22), và nói tới Timôthê là “con” của ông trong đức tin (hãy xem, thí dụ, I Timôthê 1:2, 18). Phaolô thường xuyên sai Timôthê đến với các Hội Thánh trong vai trò phái viên riêng của ông (thí dụ, I Côrinhtô 4:17; 16:10; I Têsalônica 3:2). Trong 6 thư tín của Phaolô, Phaolô đã kể đến Timôthê trong lời chào thăm của ông (II Côrinhtô 1:1; Philíp 1:1; Côlôse 1:1; I Têsalônica  1:1; II Têsalônica 1:1; Philêmôn 1:1).

Sách Công Vụ các Sứ Đồ kết thúc với việc Phaolô đang ở tù tại Rome. Từ lời lẽ của Phaolô trong chương đầu tiên sách Philíp, chúng ta dám chắc rằng ông vô tội, và nhơn đó có thể trở lại với chức vụ của ông. Sau khi Phaolô được thả ra vào năm 62SC, dường như ông đã thực hiện chuyến hành trình truyền giáo thứ tư. Khi Phaolô lên đường đến thành Ma-xê-đoan, ông đã để Timôthê lại ở đàng sau tại thành Êphêsô, và Tít trong xứ Cờ-rết.

Phaolô vốn biết rõ Hội Thánh tại thành Êphêsô cần tới một người như Timôthê. Ông đã cảnh báo trước về những kẻ sẽ dấy lên – thậm chí từ giữa vòng các trưởng lão – họ sẽ xây khỏi lẽ thật rồi dạy đạo dối để kiếm lợi riêng như sau:

“Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu; lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ” (Công Vụ các Sứ Đồ 20:29-30).

Rõ ràng là điều nầy đã bắt đầu xảy ra rồi, và vì thế Phaolô thấy thật cần thiết để Timôthê lại ở phía sau trong thành Êphêsô khi ông lên đường đến thành Maxêđoan:

“Ta nay nhắc lại mạng lịnh mà ta đã truyền cho con, khi ta đi sang xứ Ma-xê-đoan, con phải ở lại Ê-phê-sô, để răn bảo những người kia đừng truyền dạy một đạo giáo khác, đừng nghe phù ngôn và gia phổ vô cùng, là những điều gây nên sự cãi lẫy, chớ chẳng bổ sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, là công việc được trọn bởi đức tin. Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra. Có vài kẻ xây bỏ mục đích đó, đi tìm những lời vô ích; họ muốn làm thầy dạy luật, mà không hiểu điều mình nói hoặc điều mình tự quyết” (I Timôthê 1:3-7).

Một trong những lý do của Phaolô trong việc viết thư tín thứ nhứt gửi cho Timôthê là dặn dò người phải nhận ra và xử sự với các giáo sư giả nầy. Nhưng một cách rộng rãi hơn nữa, mục đích của Phaolô là dạy dỗ các thánh đồ qua Timôthê là họ phải biết xử sự như thế nào trong vai trò thuộc viên của nhà Đức Chúa Trời:

“Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy” (I Timôthê 3:14-15).

Hội Thánh, Phaolô viết, là “trụ và nền của lẽ thật”. Trong khi các giáo sư giả tìm cách lừa dối các thánh đồ người thành Êphêsô, chính Hội Thánh cần phải nắm thật chắc lẽ thật; Hội Thánh là chìa khóa cho việc xử sự với những kẻ dối gạt nầy, giống như họ cần phải nắm thật chắc và công bố ra lẽ thật. Sách I Timôthê là sổ tay huấn thị của Đức Chúa Trời về cách xử sự của Hội Thánh.

Nhiều sách vở trên kệ sách xử lý với đề tài nói tới Hội Thánh, nhưng I Timôthê chứa những huấn thị thiêng liêng được cảm thúc, không thể sai lầm, không thiếu sót về Hội Thánh. Đôi khi người ta tìm gặp những tác phẩm nói tới cách xử sự của Hội Thánh với vấn đề mà chúng ta tìm thấy trong I hay II Timôthê. Đây là một quyển sách tối quan trọng, một quyển sách mà chúng ta đáng phải nghe theo và chú ý đến. Thế thì, chúng ta hãy lắng nghe cho kỹ và cầu xin Thánh Linh của Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta suy nghĩ về đường lối của mình qua sứ điệp của thư tín quan trọng nầy từ Sứ đồ Phaolô viết gữi cho con thuộc linh của Ngài, và nhơn đó gửi cho Hội Thánh tại thành Êphêsô.

Chương 1: Xử lý với các giáo sư giả

Huấn thị của Phaolô ở hai câu đầu tiên có ý nói nhiều điều với người thành Êphêsô cũng như nói với Timôthê. Mặc dù Phaolô biết rõ người thành Êphêsô sẽ đọc thư tín nầy qua bờ vai của Timôthê. Timôthê cần được nhắc nhớ trong chức năng sứ đồ của Phaolô. Phaolô nói tới Timôthê trong một luận điểm chứa độ tin cậy của ông nơi Timôthê. Ông viết để người thành Êphêsô sẽ công nhận rằng khi Timôthê rao giảng hay nắm lấy hành động, người đang làm thế với thẩm quyền và uy quyền của Phaolô:

“Phao-lô, vâng mạng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta, và vâng mạng Đức Chúa Jêsus Christ là sự trông cậy chúng ta, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho Ti-mô-thê, là con thật của ta trong đức tin: nguyền xin con được ân điển, sự thương xót và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta!” (I Timôthê 1:1-2)

Ở các câu 3-7, Phaolô mau đi ngay vào trọng tâm. Phaolô dặn dò Timôthê phải ở lại tại thành Êphêsô để làm cho những kẻ nào là giáo sư giả phải im tiếng. Trong hai câu nầy, Phaolô mô tả các giáo sư giả, đối chiếu sứ điệp, động lực, và các mục tiêu của họ với sự dạy dỗ chơn chính của hàng sứ đồ:

“Ta nay nhắc lại mạng lịnh mà ta đã truyền cho con, khi ta đi sang xứ Ma-xê-đoan, con phải ở lại Ê-phê-sô, để răn bảo những người kia đừng truyền dạy một đạo giáo khác, đừng nghe phù ngôn và gia phổ vô cùng, là những điều gây nên sự cãi lẫy, chớ chẳng bổ sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, là công việc được trọn bởi đức tin. Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra. Có vài kẻ xây bỏ mục đích đó, đi tìm những lời vô ích; họ muốn làm thầy dạy luật, mà không hiểu điều mình nói hoặc điều mình tự quyết” (I Timôthê 1:3-7).

Các giáo sư giả có kinh nghiệm “tìm hiểu ẩn ý”; họ có thể “chỉ ra ẩn ý”. Như Phaolô đã nói ở I Côrinhtô 4:6, họ đã “vượt qua lời đã chép”. Phaolô nói tới nội tình của họ là “đạo giáo khác”, chiếu theo “phù ngôn Ngài và gia phổ vô cùng” (I Timôthê 1:3-4). Các giáo sư nầy có vẻ như đang sử dụng luật pháp Cựu Ước làm câu gốc của họ, nhưng Kinh Thánh bị gạt qua một bên. Kết quả sau cùng của sự dạy nầy là suy đoán hư không, không nâng cao chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời – điều đó không nâng cao lý tưởng của Tin Lành. Sự dạy của họ không có kết quả giống như cây vả mà Chúa đã rủa sả. Các giáo sư giả nầy đã rao giảng với độ tin cậy rất lớn và với một bầu không khí đầy uy quyền, nhưng trong thực tế họ không hiểu điều mà họ đang nói tới.

Ở câu 5, Phaolô đối chiếu sự dạy giả dối nầy với sự dạy đầy thẩm quyền của các sứ đồ. Mục tiêu của sự dạy dỗ theo Kinh Thánh, theo các sứ đồ là tình yêu thương. Người nào dạy dỗ một sứ điệp chân chính, họ làm thế phát xuất từ một tấm lòng thanh sạch, một lương tâm tốt, và một đức tin chơn thành. Động lực của họ rất thanh sạch. Lương tâm của họ là thanh sạch vì cách thực hành của họ phù hợp với sự giảng dạy của họ (đối chiếu I Timôthê 4:2; Mathiơ 23:3). Đức tin của họ là chân chính, vì đức tin ấy bắt rễ và lập nền trong Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta.

Các giáo sư giả nầy đều là người Do thái (so sánh với II Côrinhtô 11:22). Họ xưng mình đang dạy dỗ những điều mà luật pháp Cựu Ước không trình bày cách rõ ràng, nhưng là những gì họ phải đạt tới chỗ hiểu rõ, trong khi nhiều người khác chưa được soi sáng (so sánh với 6:20). Họ giải thích và ứng dụng luật pháp Cựu Ước để làm cho bản thân họ trông thật tốt lành. Phaolô phản đối lại với các câu 8-11:

“Vả, chúng ta biết luật pháp vẫn tốt lành cho kẻ dùng ra cách chính đáng, và biết rõ ràng luật pháp không phải lập ra cho người công bình, bèn là vì những kẻ trái luật pháp, bạn nghịch, vì những kẻ không tin kính, phạm tội, những kẻ vô đạo, nói phạm thánh thần, những kẻ giết cha mẹ, giết người, vì những kẻ tà dâm, kẻ đắm nam sắc, ăn cướp người, nói dối, thề dối, và vì hết thảy sự trái nghịch với đạo lành” (I Timôthê 1:8-10).

Quả thực luật pháp là tốt lành (xem Rôma 7:12, 14). Nhưng luật pháp không được ban ra để làm cho người ta cảm thấy mình công bình. Luật pháp đã được ban ra để xét đoán những ai là tội nhân:

“Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời; vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi” (Rôma 3:19-20; cũng xem Rôma 7:7-8).

Luật pháp được ban ra để xét đoán và thuyết phục chúng ta về tội lỗi và chỉ cho chúng ta thấy ơn cứu rỗi không thể kiếm được bằng cách tuân giữ luật pháp hay các việc lành, mà phải do Đức Chúa Trời chu cấp cho chúng ta, trên cơ sở ân điển nhờ đức tin. Như Phaolô đã nói trong thơ Rôma:

“Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp: tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia” (Rôma 3:21-25).

Phaolô nói y như thế ở I Timôthê, nhưng trong một cách khác biệt hơn. Phaolô cung ứng bằng chứng riêng của chính ông để bày tỏ ra lẽ thật nầy:

“Ấy đó là điều đạo Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước dạy dỗ, mà sự truyền đạo đó đã giao phó cho ta. Ta cảm tạ Đấng ban thêm sức cho ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, về sự Ngài đã xét ta là trung thành, lập ta làm kẻ giúp việc; ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót, vì ta đã làm những sự đó đang lúc ta ngu muội chưa tin. Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ. Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời. Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! A-men” (I Timôthê 1:11-17).

Tin Lành xác nhận sứ điệp của Phaolô, và quả thật Tin Lành là sứ điệp của Phaolô. Tin Lành công bố rằng con người không được cứu bởi tuân giữ luật pháp hay các việc lành, như các giáo sư giả vâng giữ, mà bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Phaolô cung ứng bằng chứng của chính ông để nhấn mạnh luận điểm nầy. Có phải những giáo sư giả Do thái nầy nghĩ rằng sự họ vặn cong luật pháp Cựu Ước chứng tỏ là họ sống kỉnh kiền không? Phaolô từng suy nghĩ theo cách ấy, khi ông bị hư mất trong tội lỗi của ông. Nhưng ông đã sống sai trái, đã chết thật sai trái! Sự dạy dỗ và chức vụ ông trước sự biến đổi là vô giá trị. Ông, giống như các giáo sư giả ở thành Êphêsô, “đang lúc ta ngu muội chưa tin” (I Timôthê 1:13). Không những ông là một tội nhân; mà ông còn là đầu của tội nhân nữa (câu 15). Khi Phaolô được cứu, ông nhận lãnh ơn thương xót (câu 16). Ông đã được cứu bởi ân điển, hầu cho vinh hiển chỉ quy cho một mình Đức Chúa Trời mà thôi (các câu 16-17). Khi Phaolô đến với đức tin rồi, ông đoạn tuyệt với thái độ tự xưng công bình của mình, rồi bám lấy ơn thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời (xem Philíp 3:1-11).

Ở những câu cuối của chương 1, Phaolô nói:

“Hỡi Ti-mô-thê, con ta, sự răn bảo mà ta truyền cho con, theo các lời tiên tri đã chỉ về con, tức là, phải nhờ những lời đó mà đánh trận tốt lành, cầm giữ đức tin và lương tâm tốt. Mấy kẻ đã chối bỏ lương tâm đó, thì đức tin họ bị chìm đắm: trong số ấy có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, ta đã phó cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa” (I Timôthê 1:18-20).

Timôthê được thúc giục phải hành động theo những huấn thị của Phaolô. Ông cần phải làm theo như thế, được khích lệ bởi ký ức nơi phần bắt đầu chức vụ của ông, những lời tiên tri đã được thốt ra khẳng định ơn kêu gọi của ông. Ông phải, giống như cha thuộc linh của mình, “cầm giữ đức tin” (so sánh với Giuđe 1:3). Theo lời lẽ của Phaolô, ông phải “đánh trận tốt lành” (câu 18). Không như các giáo sư giả, ông phải “cầm giữ đức tin” và phải có một “lương tâm tốt”. Các giáo sư giả không sống như vậy. Họ đã bỏ đức tin và một lương tâm tốt. Hai người – Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ – được xem là các giáo sư giả. Phaolô đã “phó họ cho quỉ Satan rồi” (câu 20); hãy để cho Timôthê xử lý với sao cho thích ứng (so sánh I Côrinhtô 5:1-5).

Chương 2: Sống một đời sống bình an và yên tịnh

Tôi luôn luôn phấn đấu với chương nầy, không phải vì sự dạy của Phaolô về vai trò nữ giới trong Hội Thánh, mà vì tôi không nhìn thấy sự nối kết giữa các câu 1-8 và các câu 9-15. Từ ngữ khó khăn nhất trong chương hai là chữ thứ nhất của câu 9: “tương tự” (theo bản Kinh Thánh Anh ngữ). Sự dạy dỗ của Phaolô cho nữ giới ở các câu 9-15 “giống như” sự dạy dỗ của ông ở các câu 1-8 ở chỗ nào? Tôi nghĩ tôi đã tìm ra dấu nối. Chúng ta hãy bắt đầu nhìn vào các câu 1-8:

“Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ” (I Timôthê 2:1-8).

Các câu 1-7 là lời huấn thị chung chung của Phaolô cho Hội Thánh. Là vấn đề ưu tiên một (“vậy, trước hết”, câu 1), Hội Thánh cần phải dâng mình vào sự cầu nguyện. Nói chung, Hội Thánh cần phải dâng mình vào sự cầu nguyện, cầu thay, và dâng lời cảm tạ vì ích cho dân sự. Khi người lân cận tôi đi bịnh viện để giải phẩu, tôi nên cầu thay cho sự bình phục của người ấy. Khi người lân cận tôi khởi sự một công việc mới, tôi nên cầu nguyện để ông ấy được thành công (quả thật, nếu công việc ấy là một công việc xứng đáng). Tôi phải cầu nguyện để được sự tốt lành cho kẻ lân cận tôi.

Tôi muốn nói thêm đặc biệt hơn nữa, với nhiều sự khó khăn lớn lao hơn, tôi cần phải cầu thay cho những người nắm quyền lãnh đạo trên tôi và trên xứ sở của tôi. Nếu tôi muốn có một người thuộc đảng Cộng Hòa hay đảng Dân chủ trở thành Tổng Thống, tôi cần phải cầu thay điều tốt lành cho người nầy (nam hay nữ). Giữa vòng những việc ấy, tôi phải cầu thay sự cứu rỗi cho những người bị hư mất trong tội lỗi của họ. Điều nầy phù hợp với ước muốn của Đức Chúa Trời (mặc dù không cấp thiết với mạng lịnh của Ngài – không phải ai cũng được chọn đâu). Điều nầy phù hợp với công tác cứu rỗi của Chúa Jêsus chúng ta trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha. Những lời cầu thay của chúng ta cho nhiều người phù hợp với vai trò trung bảo của Cứu Chúa. Điều nầy cũng phù hợp với sự biến đổi của Phaolô và ơn kêu gọi làm một sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ. Cầu xin sự cứu rỗi cho kẻ bị mất phù hợp chức vụ truyền giáo của Phaolô cho kẻ bị mất.

Lời cầu thay cho “mọi người”, bao gồm các cấp lãnh đạo chính trị, là một bày tỏ rất thực tế về thái độ tin kính thật. Nếu chúng ta dâng mình cầu xin điều tốt lành cho mọi người, bao gồm các cấp lãnh đạo dân sự, những người đang cầm quyền trên chúng ta, thế thì chúng ta đang theo đuổi mục tiêu “lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn” (2:2). Hỡi Cơ đốc nhân, theo như tôi hiểu phân đoạn Kinh Thánh nầy, không phải để trở thành những nhà cách mạng đâu, mà là những người làm nên hòa bình. Chúng ta không cần phải tìm kiếm sự vấp ngã phi luật pháp của những ai đang cầm quyền; thay vì thế, chúng ta cần phải phục theo quyền bính của họ, và cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước cho họ.

Chúng ta không dám bỏ qua sự kiện các cấp lãnh đạo dân sự trong thời của Phaolô, họ không phải là loại người mà chúng ta ưa phục theo họ đâu, hoặc ủng hộ trong sự cầu nguyện. Các hoàng đế Lamã là hạng người rất tàn ác và nghiệt ngã. Tuy nhiên, Phaolô dặn dò Hội Thánh nên cầu thay để ơn phước của Đức Chúa Trời giáng trên họ. Tôi được nhắc nhớ đến tấm gương của Đaniên, ông chân thành chăm lo cho Vua Nêbucátnếtsa, là Vua xứ Babylôn:

“Bấy giờ Đa-ni-ên, gọi tên là Bên-tơ-xát-sa, bị câm trong giây lâu, và những ý tưởng làm cho người bối rối. Vua lại cất tiếng nói rằng: Hỡi Bên-tơ-xát-sa, đừng cho điềm chiêm bao và sự giải nghĩa làm rối ngươi. Bên-tơ-xát-sa nói rằng: Thưa chúa, nguyền cho điềm chiêm bao đến cho những kẻ ghét chúa và sự giải nghĩa cho kẻ thù nghịch chúa!” (Đaniên 4:19)

Thế thì, nguyên tắc chung, ấy là Cơ đốc nhân cần phải trở thành hạng công dân tốt, là những người nam người nữ không những phục theo nhà cầm quyền đời nầy, mà còn năng động tìm kiếm loại đời sống bình tịnh yên ổn, và họ cầu xin ơn phước của Đức Chúa Trời giáng trên đồng loại của mình nữa. Nguyên tắc nầy về việc tìm cách sống một đời sống bình tịnh yên ổn áp dụng cho người nam người nữ, mặc dù cách thể hiện của nó không như nhau. Những khác biệt trong cách thể hiện được tỏ ra ở các câu 8-15:

“Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi” (I Timôthê 2:8-15, phần nhấn mạnh là của tôi).

Như tôi hiểu lời lẽ của vị Sứ đồ, ông không đề cập tới những lời cầu nguyện riêng ở đây, mà đề cập tới những lời cầu nguyện chung. Những người đàn ông cần phải theo đuổi một đời sống bình tịnh yên ổn bằng cách dâng mình vào sự cầu nguyện ở “khắp mọi nơi”. Điều nầy có ý nói rằng Phaolô muốn những người đàn ông Cơ đốc ở khắp mọi nơi phải cầu nguyện trong sự vâng phục đối với các nguyên tắc đề ra ở các câu 1-7. Cụm từ “khắp mọi nơi” cũng có thể đề xuất rằng những người đàn ông cần phải cầu nguyện công khai ở một số địa điểm mà ở đó không thích ứng cho nữ giới cầu nguyện (chỗ công cộng, trong Hội Thánh – xem I Côrinhtô 14:33b-35). Tuy nhiên, phần nhấn lạnh của Phaolô, dường như không rơi vào “chỗ” mà ở đó những người đàn ông cầu nguyện, mà thay vì thế trong bầu không khí thuộc linh, trong đó những lời cầu xin nầy sẽ được dâng lên. Những sự dạy của các giáo sư giả không khuyến khích tình yêu thương (như sự dạy của sứ đồ, xem 1:5), mà thay vì thế là tranh cạnh và bất đồng (I Timôthê 6:3-5; 2 Timôthê 2:23). Nếu thiếu mềm mại và sự nhạy cảm có thể ngăn trở những lời cầu nguyện của một người chồng và vợ của người (I Phierơ 3:7), vậy thì chắc chắn sự phân rẻ và tranh cạnh giữa vòng các thánh đồ cũng sẽ ngăn trở những lời cầu nguyện của họ. Thế là Phaolô dặn dò những người đàn ông nên cầu nguyện: “chớ có giận dữ và cãi cọ”. Sống một đời sống bình tịnh yên ổn bắt đầu tại nhà thờ. Nguyên tắc sống một đời sống bình tịnh và yên ổn được lặp lại ở II Têsalônica:

“Chúng tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ, bảo và khuyên những kẻ đó phải yên lặng mà làm việc, hầu cho ăn bánh của mình làm ra” (II Têsalônica 3:12).

Khi chúng ta đến với cụm từ “tương tự” ở câu 9, chúng ta phải công nhận rằng Phaolô đang chỉ ra một sự nối kết giữa các câu 9-15 và phần đầu của chương 2. Tôi tin rằng sự nối kết là nguyên tắc mà Phaolô mới vừa đề ra trong các câu 1-7, nghĩa là, tất cả các thánh đồ nên phục theo những người đang cầm quyền trên họ, rồi tìm cách hướng dẫn một đời sống bình tịnh và yên ổn trong mọi sự tin kính và trang trọng. Ở các câu 9-15, Phaolô đưa ra vài ứng dụng thật đặc biệt của phần huấn thị tổng quát nầy một khi nó có liên quan tới nữ giới. Để khởi sự, Phaolô áp dụng nguyên tắc của đời sống bình tịnh và yên ổn cho dáng dấp của một phụ nữ ở nơi công cộng.

Dáng dấp và y phục của một phụ nữ là một dấu hiệu chỉ ra sự nàng phục theo chồng mình, hay thiếu sự đầu phục đó. Ở I Côrinhtô 11:1-16, Phaolô dạy rằng sự thuận phục của người vợ đối với chồng mình là bằng chứng ở bề ngoài của nàng, đặc biệt bởi sự trùm đầu ở chỗ thờ phượng công cộng. Người vợ cần phải phấn đấu để dành sự vinh hiển và sự nổi bật cho chồng mình, là đầu thuộc linh của nàng, thay vì lôi cuốn sự chú ý vào chính mình nàng. Một khi tóc của người phụ nữ là sự vinh hiển của nàng, Phaolô dạy người làm vợ phải trùm đầu mình lại, làm vậy không phải là xao lãng đối với sự vinh hiển của chồng mình. Khi ấy, sự yên lặng không những là vấn đề của sự thể hiện, hay thiếu mất nó. Đây là một sự sắp đặt được phản ảnh từng phần, trong cách xử sự và ăn mặc của một người. Thậm chí hôm nay chúng ta đang nói tới loại màu sắc “lòe loẹt”. Một số phụ nữ không “im lặng” trong cách họ ăn mặc. Nếu có một nơi mà ở đó sự yên lặng trong cách ăn mặc là thích ứng, đó là nơi nhóm lại của Hội Thánh. Như chúng ta mong mỏi, Phierơ nhất trí trọn vẹn với sự dạy của Phaolô:

“Hỡi người làm vợ, hãy phục chồng mình, hầu cho nếu có người chồng nào không vâng theo Đạo, dẫu chẳng lấy lời khuyên bảo, chỉ bởi cách ăn ở của vợ, cũng đủ hóa theo, vì thấy cách ăn ở của chị em là tinh sạch và cung kính. Chớ tìm kiếm sự trang sức bề ngoài, như gióc tóc, đeo đồ vàng, mặc áo quần lòa loẹt; nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quí trước mặt Đức Chúa Trời. Vì các bà thánh xưa kia, trông cậy Đức Chúa Trời, vâng phục chồng mình, đều trau giồi mình dường ấy; như Sa-ra vâng phục Áp-ra-ham, gọi người là Chúa mình; nếu các chị em làm điều lành, không sợ chi hết mà rối trí, thì trở nên con gái của Sa-ra vậy” (I Phierơ 3:1-6).

“Im lặng” trong sự nhóm lại của Hội Thánh cũng đòi hỏi phải kềm chế đối với các loại trao đổi bằng lời nói trong sự nhóm lại công khai của Hội Thánh. Cho phép tôi nói rõ hơn ở điểm nầy. Tôi không tin rằng Phaolô ở đây kêu gọi im lặng tuyệt đối nơi phần của nữ giới trong khi nhóm lại ở nhà thờ. Nữ giới có thể dự phần vào sự đối đáp trong cuộc thờ phượng như một phần của hội chúng. Cái điều Phaolô cấm đoán là nói năng chiếm lấy quyền của nam giới và chức năng lãnh đạo của người nam trong nhà thờ. Vì thế, nữ giới được dạy dỗ rất đặc biệt phải là những người tiếp thu, chớ không phải là hạng giáo sư, trong sự nhóm lại của Hội Thánh. Họ không thực thi quyền hành trên nam giới trong nhà thờ. Về phần nầy, nữ giới cần phải im lặng (câu 12).

Những lý lẽ của Phaolô trong việc đòi hỏi sự im lặng nầy chẳng có việc gì phải làm với chủ nghĩa sô-vanh của nam giới. Họ có mọi sự phải làm với sự thuận phục trước trật tự thiêng liêng mà Đức Chúa Trời đã dựng nên, và những gì Ngài mong mỏi cần phải được thực thi trong sự nhóm lại của Hội Thánh. Vì thế, ở các câu 13 và 14 sự giải thích của Phaolô quay trở lại với mối quan hệ của Ađam và Êva trong Vườn Êđen, vào thời điểm sa ngã của loài người. Ađam đã được dựng nên trước tiên, rồi mới đến Êva (từ cái xương sườn của Ađam). Với tư thế nầy, Ađam được ấn định làm đầu của vợ mình (xem ở đây I Côrinhtô 11:8-10). Hơn nữa, chính lúc nhân loại sa ngã mà trình tự đã bị đảo lộn đi. Êva lãnh đạo, còn Ađam đi theo. Còn hơn thế nầy nữa, Êva bị lừa dối, trong khi Ađam không bị. Ông đã bằng lòng hành động trong sự bất tuân. Cách xử sự của người nam và người nữ trong Hội Thánh vì lẽ đó trước tiên được gắn với trình tự của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo và thứ hai được gắn với sự bất chấp của con người về trình tự thiêng liêng nầy trong những biến cố của sự sa ngã.

Đối với một số người, những cấm đoán nầy dành cho nữ giới dường như là một gánh quá nặng khó mà mang nổi. Như tôi hiểu lời lẽ của Phaolô ở câu 15, ông tìm được phương thuốc chữa từng phần trong chính văn mạch của Kinh Thánh như lời rủa sả:

“Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi” (I Timôthê 2:15).

Khi Đức Chúa Trời công bố sự rủa sả giáng trên con rắn, Ngài cũng công bố phương chữa lành được hứa cho qua dòng dõi của người nữ:

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn phán cùng rắn rằng: Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời. Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế ký 3:14-15).

Êva, và tất cả những người nữ đến sau nàng, sẽ kinh nghiệm nổi đau đớn khi sanh con (Sáng thế ký 3:16), nhưng trong nổi đau ấy có hy vọng. Chính “dòng dõi của người nữ” sẽ chà nát đầu con rắn. Chính “dòng dõi” của Êva sẽ trở thành Đấng Mêsi được hứa cho, và trong khi Satan sẽ “cắn gót chơn người” Đấng Mêsi sẽ chà nát đầu của Satan. Sự giải cứu của Êva ra khỏi sự rủa sả đã đến qua việc sanh con cái. Từ dòng dõi của nàng, “dòng dõi” được hứa cho sẽ đến. Và Ngài đã đến (xem Galati 3:16).

Việc sanh con không phải là đóng góp có ý nghĩa duy nhứt mà một người nữ có thể làm được, như lời lẽ sau đó của Phaolô sẽ chỉ ra cách rõ ràng. Nhưng việc sanh con là một đóng góp quan trọng nhất. Một phụ nữ có thể không nắm lấy vai trò lãnh đạo nổi bật trong Hội Thánh, nhưng nàng nhất định sẽ đóng một vai quan trọng trong gia đình, khi nàng cưu mang và nuôi dạy con cái tin kính.

Một người phải lấy làm lạ tại sao Phaolô thấy cần thiết phải nói ra các vấn đề về y phục và về sự dự phần công khai của nữ giới trong một sách đang tìm cách chỉnh đốn sự dạy giả dối và để hạn chế các giáo sư giả. Có thể nào giữa vòng các giáo sư giả lại là một số phụ nữ nào đó chăng? Chúng ta biết nữ giới đặc biệt bị các giáo sư giả lấy làm mục tiêu:

“bề ngoài giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó. Những kẻ thể ấy, con hãy lánh xa đi. Trong bọn họ có kẻ lẻn vào các nhà, quyến dụ lòng những người đàn bà mang tội lỗi, bị bao nhiêu tình dục xui khiến, vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật được” (II Timôthê 3:5-7).

Chương 3: Những đức tính dành cho cấp lãnh đạo Hội Thánh

Thời gian và mục đích của sứ điệp nầy không cho phép chúng ta đi vào chi tiết về các đức tính dành cho cấp lãnh đạo Hội Thánh mà Phaolô đề ra ở I Timôthê 3. Những gì chúng ta sẽ lưu ý, ấy là bằng cách đề ra những phẩm chất nầy Phaolô gián tiếp xử lý với các giáo sư giả, họ đang tạo ra dáng dấp của họ tại Hội Thánh ở thành Êphêsô. Có hai cách để khám phá ra các giáo sư giả: (1) bởi giáo lý của họ; và, (2) bởi cách ứng xử của họ. Đây là lý do tại sao Phaolô khuyên Timôthê phải cẩn thận về cả hai trong đời sống cá nhân ông:

“Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu” (I Timôthê 4:16).

Hội Thánh tại thành Êphêsô đã có cấp trưởng lão rồi (Công Vụ các Sứ Đồ 20:17-35). Phaolô đã chỉ ra rồi một số trưởng lão nầy sẽ tẻ tách ra khỏi đức tin rồi trở thành hạng giáo sư giả (Công Vụ các Sứ Đồ 20:29-30). Tôi đã hiểu được rằng trong khi các đức tính nầy chắc chắn phải được sử dụng như những tiêu chuẩn cho tất cả các trưởng lão và chấp sự, chúng cũng phải được áp dụng cho bậc trưởng lão và chấp sự hiện hành. Nếu bất kỳ cấp lãnh đạo nào tại thành Êphêsô thất bại không thỏa mãn được các tiêu chuẩn nầy, điều đó buộc họ phải lui xuống, hay Hội Thánh cất bỏ chức vụ ra khỏi người. Mục đích chính của tôi ở đây là chỉ ra làm thể nào các đức tính nầy phải thích ứng với sứ điệp và ý đồ của thư tín thứ nhứt do Phaolô viết cho Timôthê.

Mấy câu sau cùng của chương 3 càng làm rõ nét ý đồ của Phaolô trong việc viết thư nầy gửi cho Timôthê là đề ra những huấn thị liên quan tới cách xử sự của người nam người nữ trong Hội Thánh:

“Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm:

Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt,

Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình,

Được thiên sứ trông thấy,

Được giảng ra cho dân ngoại,

Được thiên hạ tin cậy,

Được cất lên trong sự vinh hiển” (I Timôthê 3:14-16).

Những huấn thị mà Phaolô đưa ra trong I Timôthê là những huấn thị liên quan tới cách xử sự trong Hội Thánh. Những điều nầy cần phải được thông suốt y như sự dạy có quyền của Phaolô qua Timôthê, phù hợp với sự ông vắng mặt. Chúng ta dám nói chắc rằng trong nhiều thế kỷ Phaolô đã vắng mặt vì cớ sự tuận đạo, lời lẽ dạy dỗ của ông vẫn sống luôn, với chính uy quyền mà chúng đã có cho Hội Thánh tại thành Êphêsô.

Tôi có khuynh hướng hiểu câu 16 là một tín điều rất ngắn gọn. Đây có thể là một đoản khúc trong một bài thánh ca xưa. Có thể nó đã được viết ra bởi một người khác có niên đại sớm hơn. Nhưng đấy là một phần tóm tắt của lẽ đạo Cơ đốc. Nó công bố sự Chúa chúng ta hóa thân thành nhục thể (“Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt”). Nó nói rằng những lời xưng nhận của Chúa chúng ta đã được xác nhận bởi những việc làm lạ lùng mà Ngài đã hoàn thành qua quyền phép của Đức Thánh Linh. Tin Lành cứu rỗi qua đức tin trong công tác cứu chuộc của Ngài đã được rao giảng cho các dân Ngoại (một việc làm mà những nhà cực đoan Do thái không ưa thích – xem Luca 4:16-30; Công Vụ các Sứ Đồ 22:21-22), và người ta trên khắp thế gian đã tin theo Ngài. Ngài đã sống lại từ kẻ chết, và Ngài đã thăng thiên về trời, ngồi bên tay hữu của Đức Chúa Trời.

Chương 4: Kỷ luật thân thể là tốt; Kỷ luật vì mục đích tin kính là tốt hơn

Phaolô xoay trở lại với các giáo sư giả ở thành Êphêsô, bày tỏ sâu xa hơn sự dạy sai lầm của họ:

“Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh” (I Timôthê 4:1-5).

Sự sai lầm được tỏ ra ở đây là chủ nghĩa khổ hạnh. Sự dạy giả dối nầy sẽ xảy đến nên chẳng có gì phải ngạc nhiên cả. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã tỏ ra có người sẽ bỏ đức tin rồi dâng mình cho những đạo lý có nguồn gốc thuộc về ma quỉ và kết quả của chúng chỉ là lầm lạc (4:1). Những kẻ giả trá kia đều là hạng nói dối và giả hình. Họ tin và dạy những điều dối trá. Họ là những kẻ giả hình theo ý nghĩa họ dạy dỗ sự kiêng ăn và tự chối bỏ mình, họ không có thực hành điều đó.

“Ví thử có người dạy dỗ đạo khác, không theo lời có ích của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta và đạo lý theo sự tin kính, thì người đó là lên mình kiêu ngạo, không biết chi hết; nhưng có bịnh hay gạn hỏi, cãi lẫy, bởi đó sanh sự ghen ghét, tranh cạnh, gièm chê, nghi ngờ xấu xa, cùng những lời cãi lẽ hư không của kẻ có lòng hư xấu, thiếu mất lẽ thật, coi sự tin kính như là nguồn lợi vậy. Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn” (I Timôthê 6:3-10, phần nhấn mạnh là của tôi).

“Vả, có nhiều người nhất là trong những người chịu cắt bì, chẳng chịu vâng phục, hay nói hư không và phỉnh dỗ, đáng phải bịt miệng họ đi. Họ vì mối lợi đáng bỉ mà dạy điều không nên dạy, và phá đổ cả nhà người ta. Một người trong bọn họ, tức là bậc tiên tri của họ, có nói rằng: Người Cơ-rết hay nói dối, là thú dữ, ham ăn mà làm biếng” (Tít 1:10-12).

“chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó” (II Phierơ 2:19).

Hạng người nầy ngăn cấm sự hôn nhân, và họ đòi hỏi kiêng cử các thứ đồ ăn nhất định nào đó, nhưng rõ ràng là họ không thực sự ngăn cấm bản thân họ. Những thức ăn nầy không bị cấm (nghĩa là, thịt được cúng cho thần tượng; xem Công Vụ các Sứ Đồ 15:28-29), những cuộc hôn nhân nầy chẳng phải là phi Kinh Thánh đâu (thí dụ, I Côrinhtô 7:39; cũng xem II Côrinhtô 6:14-18). Cái gì bị cấm là một món quà đến từ Đức Chúa Trời, có nghĩa là phải tận hưởng trong sự biết ơn. Giống như Satan tìm cách tạo ra ấn tượng cho rằng Đức Chúa Trời đã cầm giữ lại những thứ tốt lành không cho con người hưởng lấy ở trong vườn (xem Sáng thế ký 3:1), hạng người nầy dạy thứ đạo lý bị ma quỉ cảm thúc cấm đoán những thứ tốt lành đối với những thánh đồ. Điều nầy khiến cho những thánh đồ nào tuân giữ những cấm đoán nầy dễ bị tội lỗi gây hại cho (so sánh I Côrinhtô 7:5).

Qua các giáo sư giả nầy, Satan tìm cách cướp đi khỏi các thánh đồ niềm vui mừng và những thứ tốt lành mà Đức Chúa Trời đã tiếp trợ để họ vui hưởng (4:4-5). Đức Chúa Trời không muốn con cái Ngài phải thường xuyên “ghi dấu trên thẻ tuận đạo của họ” bằng cách thoái thác những khoái lạc đúng đắn về đồ ăn ngon và tình dục trong vòng hôn nhân. Ngài cung ứng cho chúng ta mọi sự để cho chúng ta vui hưởng (I Timôthê 6:17). Chúng ta sẽ nhận lãnh mọi điều nầy với thái độ biết ơn và cảm tạ (4:4). Chúng đã được thánh hóa bởi Lời của Đức Chúa Trời (tuyên bố mọi sự đều sạch; xem Mác 7:19; cũng xem Công Vụ các Sứ Đồ 10), và bởi sự cầu nguyện. Những gì Đức Chúa Trời gọi là sạch, thì chẳng có ai cho là bất khiết được (Công Vụ các Sứ Đồ 10:15).

Khi nói về đồ ăn, Phaolô tiếp tục với những lời khuyên nầy về điều chi thực sự là bổ dưỡng và điều chi không:

“Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính” (I Timôthê 4:6-7, phần nhấn mạnh là của tôi).

Sự trưởng dưỡng về mặt thuộc linh đến từ những sự dạy của Lời Đức Chúa Trời, chớ không phải đến từ những huyền thoại và suy tưởng hư không của các giáo sư giả. Người ta phải lẫn tránh những sự dạy của họ, chớ không phải đồ ăn ngon hay hôn nhân.

Các giáo sư giả đã kết hiệp sai sự tin kính với sự kiêng cử đối với những thứ gì là tốt lành và được chu cấp cho bởi Đức Chúa Trời để cho chúng ta vui hưởng. Chúng ta biết từ người Côlôse rằng sự kiêng cử thể ấy không góp phần vào sự tin kính:

“Ví bằng anh em chết với Đấng Christ về sự sơ học của thế gian, thì làm sao lại để cho những thể lệ nầy ép buộc mình, như anh em còn sống trong thế gian: Chớ lấy, chớ nếm, chớ rờ? Cả sự đó hễ dùng đến thì hư nát, theo qui tắc và đạo lý loài người, dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích gì để chống cự lòng dục của xác thịt” (Côlôse 2:20-23).

Phaolô cung ứng cho chúng ta nguyên tắc rất hay nầy, để chúng ta có thể nắm bắt được vấn đề:

“Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ” (I Timôthê 4:8-10).

Kỷ luật thuộc linh, là điều phấn đấu để có được sự tin kính thì còn siêu việt hơn kỷ luật về xác thịt. Những thứ kỷ luật được biện hộ bởi các giáo sư giả chẳng có một giá trị gì hết. Họ chỉ cướp mất các khoái lạc do Đức Chúa Trời ban cho hạng thánh đồ. Nhưng có những thứ kỷ luật theo phần xác có một số ích lợi. Khi quan sát thực đơn của chúng ta và duy trì phần luyện tập là rất có lợi cho thân thể vật lý. Nhưng kỷ luật về mặt thuộc linh thì tốt hơn. Đâu là những thứ kỷ luật về mặt thuộc linh? Tôi tin rằng ít nhất một số kỷ luật thúc đẩy sự tin kính được tóm tắt lại ở các câu 11-16:

“Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu” (I Timôthê 4:11-16).

Timôthê (cùng tất cả các thánh đồ trẻ tuổi khác) nên luyện tập kỷ luật đối với những điều khát khao và khuynh hướng lúc tuổi trẻ. Nghe như thế thì rất lạ lùng trong xã hội của chúng ta, ở đó lứa tuổi thanh niên buộc phải kinh nghiệm khoái lạc và đam mê. Kỷ luật là cần thiết cho sự tin kính trong các vấn đề nói năng, cách xử sự, yêu thương, trung tín, và sự thanh sạch. Kỷ luật cần phải được thực thi trong chức vụ. Timôthê được dặn dò phải “Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ” (4:13).

Kỷ luật rất cần thiết để phát triển (các) ân tứ thuộc linh của chúng ta:

“Vậy nên ta khuyên con hãy nhen lại ơn của Đức Chúa Trời ban cho, mà con đã nhận lãnh bởi sự đặt tay của ta. Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và dè giữ” (II Timôthê 1:6-7).

Phaolô nhắc cho Timôthê nhớ đến thời điểm khi chức vụ của người được khẳng định bằng những lời tiên tri và khi các trưởng lão đặt tay họ trên người, là điều kèm theo các ân tứ thuộc linh nhất định nữa (4:14). Đây là các vấn đề đòi hỏi sự đầu phục của Timôthê và kỷ luật cá nhân. Phaolô thúc giục con thuộc linh của mình phải cẩn thận chú ý đến cả hai: đạo lý và cách thực hành của người. Khi làm như vậy, Timôthê sẽ được buông tha không dính dáng đến một chức vụ và đời sống phí phạm. Ông sẽ không bao giờ phân phát một đời sống vô kỷ luật từ tòa giảng cho những người nào nghe ông.

I Timôthê 5:1—6:2: Tỏ ra sự kính trọng đối với người đáng kính trọng

Tiểu đoạn nầy có cả hai điều: lôi cuốn và thuyết phục tôi về mặt cá nhân. Phaolô đưa ra những huấn thị đặc biệt cho Timôthê về phạm trù những ai được xem là đáng kính đáng trọng. Ông bắt đầu với những điều bao quát cai quản các mối quan hệ của Timôthê với tha nhân:

“Chớ quở nặng người già cả, nhưng hãy khuyên dỗ họ như cha, còn kẻ trẻ thì như anh em, đàn bà có tuổi cũng như mẹ, bọn thiếu nữ như chị em, mà phải lấy cách thanh sạch trọn vẹn” (I Timôthê 5:1-2).

Những người già cả cần phải được đối xử với sự kính trọng mà họ đáng được. Người ta không nên nói xẳng với một người có tuổi hơn, như họ đã nói với một đứa con sai lạc hay dại dột. Những người trẻ tuổi hơn cần phải được xử lý giống như họ là anh em vậy. Những phụ nữ già cả cần phải được đối xử với chính sự kính trọng mà chúng ta tỏ ra với mẹ của mình. Timôthê, bản thân ông là một thanh niên, nên quan hệ với những phụ nữ trẻ tuổi hơn giống như họ là chị em của ông vậy. Mục tiêu ở đây, ấy là mối quan hệ sẽ tránh được những ý đồ tình dục bất xứng. Từng mối quan hệ của chúng ta sẽ tỏ ra sự kính trọng, tôn kính.

Sau khi nói vắn tắt một loạt những quan hệ ở các câu 1 và 2, Phaolô chuyển sang đề tài nói tới những người đàn bà góa. Ông dành 14 câu cho đề tài nầy, trong khi tiểu đoạn theo sau xử lý với hàng trưởng lão, nhưng có đến 9 câu. Rõ ràng đây là đề tài rất quan trọng trong lý trí của Phaolô, và đề tài ấy như sau:

“Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Giacơ 1:27; cũng xem Công Vụ các Sứ Đồ 6:1-7).

Phaolô không gom tất cả những góa phụ lại thành một phạm trù tổng quát. Thay vì thế, ông phân biệt đủ loại khác nhau về góa phụ. Trước tiên, có những góa phụ hãy còn trẻ. Đây là những góa phụ vẫn còn trẻ đủ để tái hôn. Phaolô không muốn nhìn thấy những góa phụ trẻ nầy được giúp đỡ bởi Hội Thánh. Điều nầy sẽ một gánh nặng lâu dài, không cần thiết. Muốn cho một góa phụ trẻ được “ghi tên vào sổ” để giúp đỡ, nàng cần phải lập lời thề sống độc thân. Một góa phụ trẻ sẽ gặp một người đàn ông có tư cách rồi hối tiếc về lời thề của mình, và quên phứt lời thề ấy (5:12). Hơn nữa, một góa phụ còn trẻ được trợ giúp bởi Hội Thánh sẽ mất thì giờ của mình đi từ nhà nầy sang nhà khác, ngồi lê đôi mách (5:13). Kết quả là, những goá phụ trẻ tuổi cần được khích lệ nên tái hôn (5:14).

Thứ hai, có những bà góa thực sự góa. Phaolô gọi họ là “thật góa”, hay “những bà góa thực sự có cần”. Đây là những bà góa chẳng có phương tiện trợ giúp nào hết. Đặc biệt, đây là những bà góa chẳng có một thành viên nào trong gia đình chăm sóc cho họ. Nếu một bà góa có gia đình khác, thì bổn phận của họ là phải chăm sóc cho bà ta, và thế là giúp cho Hội Thánh đỡ được một gánh nặng không cần thiết (5:4, 8, 16).

Thứ ba, có những bà góa cao tuổi, họ đáng được Hội Thánh trợ giúp, hay như Phaolô đã nói, họ cần được “ghi tên vào sổ” (5:9). Các tiêu chuẩn dành cho một goá phụ được ghi tên vào sổ rất là cao:

Ít nhất bà phải 60 tuổi (5:9).

Bà phải là vợ của một chồng (5:9).

Bà phải “thật góa”, không có phương tiện trợ giúp nào khác (5:3-4).

Bà phải chứng tỏ chức vụ có giá trị trong Hội Thánh qua thời gian (5:10).

Bà phải là một phụ nữ đặt lòng trông cậy mình vào Đức Chúa Trời, và bà dâng mình vào sự cầu nguyện (5:5).

Phaolô không đề nghị Hội Thánh nên cáo lỗi không trợ giúp các bà góa trong lúc có cần, mặc dù họ không thỏa các đức tính được liệt kê ở trên. Những đức tính ông đề ra là dành cho một vài bà góa mà Hội Thánh sẽ thường xuyên trợ giúp cho.

Theo tôi hiểu Phaolô, những bà góa nào được “ghi vào sổ” được tôn kính giống như hàng trưởng lão được tôn kính vậy (5:17-18), bằng cách trợ giúp về tiền bạc. Sự trợ giúp về tiền bạc như thế nầy không chiếu theo chỉ một mình nhu cầu đâu, mà còn chiếu theo sự đóng góp có giá trị mà những bà góa nầy thực hiện cho Hội Thánh. Đây là những chiến binh cầu nguyện được trả lương, chức vụ của họ rất có giá trị đến nỗi họ phải được chăm sóc (hiển nhiên) cho tới ngày chết của họ.

Tôi tin rằng một người đàn bà như An-ne sẽ là một ứng viên trọn vẹn cho một địa vị như thế trong Hội Thánh, và quả thật dường như bà đã được trợ cấp về tiền bạc, có lẽ bởi ngân sách của đền thờ (Luca 2: 36-38). Trong tất cả các Hội Thánh mà tôi từng đến nhóm lại, tôi chưa nhìn thấy một góa phụ chiến binh cầu nguyện được trợ cấp theo tư thế nầy bởi Hội Thánh. Tuy nhiên, những gì tôi nhìn thấy, là một số những bà góa tin kính, lớn tuổi, họ đã thể hiện ra chức năng có giá trị nầy, mặc dù họ không được trợ cấp về tài chính. Trong mỗi trường hợp, những người đàn bà nầy đều được trợ giúp bởi gia đình của họ. Trong một số trường hợp, góa phụ tin kính được tiếp trợ bởi những ngân quỹ mà người chồng đã khôn khéo biệt riêng ra, một là quỹ tiết kiệm hay bảo hiểm, hoặc cả hai.

Tôi không thể phóng đại về sự tôi hiểu biết phần đóng góp của những nữ chiến binh chuyên cầu nguyện nầy. Cho tới khi bà ấy qua đời, một goá phụ tin kính đã cầu thay đặc biệt cho gia đình chúng tôi và cho chức vụ của tôi mỗi ngày. Tôi biết có nhiều người khác trung tín thực thi phần việc nầy, không những cho tôi và cho gia đình tôi, mà còn cho nhiều người khác nữa. Tôi tin chỉ khi chúng ta về đến thiên đàng, chúng ta mới nắm bắt trọn vẹn những người đàn bà nầy đã góp phần nhiều ra sao trong công việc của Đức Chúa Trời trong và qua Hội Thánh.

Phạm trù thứ hai của những người đang có cần sự bảo hộ (từ những sự cáo giác) và sự tiếp trợ (ủng hộ về tiền bạc) ấy là về các trưởng lão hay bậc tiên kiến:

“Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhất là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ. Vì Kinh Thánh rằng: Ngươi chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa; và người làm công thì đáng được tiền công mình. Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ. Trước mặt Đức Chúa Trời, trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ, và trước mặt các thiên sứ được chọn, ta răn bảo con giữ những điều đó, đừng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào. Đừng vội vàng đặt tay trên ai, chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác; hãy giữ mình cho thanh sạch. Đừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở. Có người thì tội lỗi bị bày tỏ và chỉ người đó ra trước khi phán xét; còn có người thì sau rồi mới bị bày tỏ ra. Các việc lành cũng vậy: có việc thì bày ra, lại có việc thì không bày ra, mà sau rồi cũng không giấu kín được” (I Timôthê 5:17-25).

Nghe thì thấy lạ khi suy nghĩ về những bà góa (thật vậy) và các trưởng lão trong một phương thức tương tự. Tại sao các trưởng lão cần phải được tiếp trợ (“kính trọng bội phần”, 5:17) và được bảo hộ cho? Ở một mặt, sự chăm lo công việc của một Hội Thánh rất tốn thì giờ. Một người không thể dành ra nhiều giờ lo chăm sóc cho bầy chiên rồi kiếm được tiền lương cùng một lúc được. Điều nầy đặc biệt là thật đối với người nào “chịu chức rao giảng và dạy dỗ”. Kết quả là, có thể họ cần sự tiếp trợ đầy đủ (“kính trọng bội phần”), hay thu nhập của họ đã được chi trả thêm. Trong khi các giáo sư giả tìm lợi về tiền bạc, những trưởng lão đáng tin cậy lại sống loại đời sống hy sinh. Có thể họ không yêu cầu ngân sách cho bản thân họ. Thêm vào với việc nầy, các giáo sư giả lại rất giỏi trong việc quịt lấy ngân sách khó nhọc của hạng thánh đồ. Tôi e rằng khi các giáo sư giả đang “lót đầy túi của họ”, những trưởng lão đáng tin cậy lại có mấy cái túi của họ trống rỗng. Thật là khó chăm sóc đầy đủ bầy chiên của Đức Chúa Trời khi gia đình bạn đang sinh hoạt mà chẳng có gì cần thiết hết.

Việc thứ hai Phaolô xử lý lại liên quan tới sự kính trọng các bậc trưởng lão, ấy là bảo hộ họ tránh những lời vu cáo và chỉ trích phê phán vu vơ. Phaolô đòi phải có hai hay ba người làm chứng cho bất kỳ lời tố cáo nào được đưa ra nghịch với một vị trưởng lão. Trong thực tế, đây chẳng phải là một tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn bình thường; đây chính là tiêu chuẩn mà Kinh Thánh áp dụng cho mọi lời vu cáo:

 “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời. Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ. Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ” (Mathiơ 18:15-20).

Một vị trưởng lão phải được nhận là vô tội khi có bất kỳ cá nhân khác công nhận. Tôi hình dung ra sự dạy dỗ của Phaolô, nếu được áp dụng, sẽ làm giảm thiểu số lời vu cáo chống lại các trưởng lão rất nhiều (chưa nhắc tới những người khác). Những trưởng lão ấy được thấy là phạm lỗi cần phải bị quở trách công khai, một khi chức vụ của họ, và tội lỗi của họ, có một cái chạm rất chung chung (5:20).

Những câu sau cùng của chương 5 bắt đầu với lời khuyên của Phaolô phải giữ lấy nguyên tắc mà ông đã đề ra không có thiên kiến hay xu hướng (5:21). Phaolô cảnh cáo Timôthê về việc bổ nhiệm lãnh đạo quá nhanh. Nếu bạn quá hấp tấp chỉ định ai đó một phần việc, điều nầy khiến cho bạn phải dự phần vào những sai trái đã bị vướng phải (5:22). Lời khuyên của Phaolô cho Timôthê: “phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con” (5:23) cho thấy rằng ngay cả Phaolô không thể “chữa lành theo yêu cầu”. Trong khi chúng ta có thể cầu nguyện xin sự chữa lành thiêng liêng, đôi khi chúng ta cần đến ưu thế cứu chữa bình thường đang sẵn có cho chúng ta.

Phaolô nhắc cho Timôthê nhớ rằng “bông trái” mọi việc làm của một người không luôn luôn tỏ ra liền đâu (so sánh Mathiơ 12:24-30), vì thế chúng ta phải cẩn thận không nên đưa ra những lời xét đoán sớm quá. Há đây chẳng phải là lý do tại sao Phaolô bảo Timôthê đừng mau “đặt tay” trên ai hết chăng? Bông trái của sự công bình không luôn tỏ ra liền đâu; tương tự, bông trái của tội lỗi có thể mất một khoảng thời gian mới tự nó tỏ ra. Tuy nhiên, đúng kỳ bông trái mọi việc làm của một người sẽ hiển hiện.

Tôi gom cả hai câu đầu tiên của chương 6 với sự dạy của Phaolô ở chương 5. Dường như đây là một đề tài mới được đặt trong dấu ngoặc đơn, được trình bày ở câu 3 của chương 6. Nếu tôi hiểu đúng phần bàn luận của Phaolô, ông đang dạy dỗ hàng nô lệ phải “coi chủ mình đáng trọng”, với một tư thế tương tự với tư thế chúng ta được dạy dỗ phải tôn kính những bà góa và các trưởng lão vậy:

“Hết thảy những kẻ dưới ách đầy tớ phải coi chủ mình là đáng trọng mọi đàng, hầu cho danh hiệu và đạo lý của Đức Chúa Trời khỏi bị làm trò cho người phạm thượng. Ai có chủ là tín đồ, thì không nên lấy cớ anh em mà khinh dể, nhưng phải càng hầu việc hơn, vì kẻ được công của mình là tín đồ và người rất yêu dấu. Đó là điều con phải dạy dỗ khuyên bảo họ” (I Timôthê 6:1-2, phần nhấn mạnh là của tôi).

Một nô lệ rất dễ suy nghĩ không hay lắm về chủ của mình. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tôn kính những ai đáng được tôn kính (Rôma 13:7); thật thế, chúng ta cần phải kính trọng mọi người (I Phierơ 2:17). Hạng nô lệ cần phải kính trọng địa vị mà chủ của họ đang nắm giữ, và phải phục theo họ. Họ cần phải xem chủ mình là “đáng trọng mọi đàng” (6:2). Nhưng còn chủ có đức tin thì sao? Đúng là không dễ xem khinh một người chủ có đức tin, thật là lạ lùng khi người có thể làm công việc của nô lệ mà vẫn có nô lệ? Phaolô nói chẳng có ngoại lệ chi hết. Những người chủ có đức tin cần phải được tôn trọng; thay vì thế, một người nô lệ có đức tin phải phục vụ người chủ của mình có đức tin thậm chí còn tỉ mỉ hơn. Khi làm như thế, người đang tôn trọng chủ của mình. Ở đây, “tôn trọng” một lần nữa có khía cạnh tiền bạc, giống như nó đã có trong trường hợp những người đàn bà góa (một số người trong họ đã được giúp đỡ về tài chính) và các trưởng lão (một số người trong họ cần phải nhận lãnh “sự tôn trọng bội phần”). Bằng cách chịu khó làm việc cho người chủ có đức tin của một người, một nô lệ sẽ góp phần vào sự thịnh vượng của chủ mình (thêm cầu nguyện cho điều đó – xem I Timôthê 2:1-7). Đây là lời lẽ có nguồn gốc thiêng liêng. Một nô lệ tôn kính chủ mình với tư thế nầy, người ấy có gì trong đầu chứ?

I Timôthê 6:3-21: Có được một nhận thức thích ứng về sự thịnh vượng

Khi ông sửa soạn kết thúc thư tín nầy, Phaolô lần sau cùng chuyển sang các giáo sư giả:

“Ví thử có người dạy dỗ đạo khác, không theo lời có ích của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta và đạo lý theo sự tin kính, thì người đó là lên mình kiêu ngạo, không biết chi hết; nhưng có bịnh hay gạn hỏi, cãi lẫy, bởi đó sanh sự ghen ghét, tranh cạnh, gièm chê, nghi ngờ xấu xa, cùng những lời cãi lẽ hư không của kẻ có lòng hư xấu, thiếu mất lẽ thật, coi sự tin kính như là nguồn lợi vậy” (I Timôthê 6:3-5).

Theo một phương thức nào đó, Phaolô tóm tắt lại những gì ông đã thố lộ rồi về các giáo sư giả tại thành Êphêsô. Những sự dạy của họ không ngay thẳng với đạo thật, chúng cũng không hướng tới cuộc sống tin kính. Những giáo sư như thế là kiêu ngạo, nhưng thật ra họ chẳng hiểu chi hết. Họ có ưu tiên cho những việc đem lại sự tranh cãi, và điều nầy dẫn tới đủ loại xung đột và tranh cạnh. Yếu tố mới mà Phaolô dự trù còn sâu xa hơn, được thấy trong lời lẽ sau cùng của câu 5:

“. . . coi sự tin kính như là nguồn lợi vậy”.

Nói ngắn gọn, các giáo sư giả thường dính dáng trong đó vì tiền bạc. Không có gì phải lấy làm lạ, Phaolô đã đối chiếu cách sử dụng tiền bạc của ông với các giáo sư giả, họ đang muốn dấy lên tại thành Êphêsô:

“Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết. Chính anh em biết rằng hai bàn tay nầy đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi. Tôi từng bày bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh” (Công Vụ các Sứ Đồ 20:33-35).

Phaolô kết thúc thư tín ông gửi cho Timôthê bằng cách chú trọng vào nhận định của Cơ đốc nhân về sự thịnh vượng. Các giáo sư giả tin rằng sự tin kính và phương tiện để làm lợi. Phaolô khác biệt với nhận định cong quẹo nầy về chức vụ và sự tin kính. Phaolô nhận rằng sự tin kính là “lợi lớn lắm” khi sự thịnh vượng được hiểu rõ thật đúng đắn (6:6). Sự tin kính được kết hợp với sự thỏa lòng là một nguồn lợi lớn lắm, Ngay cả không phải ở chỗ tiền tệ. Khi chúng ta không đem sự thịnh vượng về vật chất theo với chúng ta khi ra đời, và chúng ta không thể đem nó theo với chúng ta khi qua đời, chúng ta đừng bị ám ảnh về nó. Chúng ta phải thỏa lòng khi các nhu cần hàng ngày của chúng ta đã được thỏa (xem Philíp 4:10-13).

Phaolô muốn nói rõ về vấn đề thịnh vượng nầy. Sự tin kính không bảo đảm giàu có về vật chất, nhưng cũng không phải là tội lỗi khi sở hữu sự giàu có về vật chất. Giàu chẳng phải là tội ác, nhưng việc bị ám ảnh với khao khát muốn giàu lên mới là tội ác. Đây là một tội có thể bị phạm phải bởi người nghèo, nếu họ bị ám ảnh với việc làm giàu. Người nào mong muốn làm giàu có thể chống cự với những sự cám dỗ phải cắt đi mất nhiều góc cạnh để tới được đó. Vì vậy, chính lòng ham mến tiền bạc là điều mà Phaolô đang xét đoán, chớ chẳng phải sỡ hữu sự giàu có:

“Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn” (I Timôthê 6:10).

Timôthê được giục giã phải cẩn thận về việc theo đuổi sự giàu có, nhưng thay vì thế, hãy theo đuổi sự tin kính:

“Nhưng, hỡi con, là người của Đức Chúa Trời, hãy tránh những sự đó đi, mà tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại. Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành, bắt lấy sự sống đời đời, là sự mà con đã được gọi đến, và vì đó mà con đã làm chứng tốt lành trước mặt nhiều người chứng kiến. Trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống cho mọi vật, và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng tốt nơi Bôn-xơ Phi-lát, ta khuyên con phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến k” sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là sự mà Đấng Chủ tể hạnh phước và có một đến kỳ sẽ tỏ ra, là Vua của mọi vua, Chúa của mọi chúa, một mình Ngài có sự không hề chết, ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được, danh vọng, quyền năng thuộc về Ngài đời đời! A-men” (I Timôthê 6:11-16).

Nói khác đi, Timôthê bị thách thức phải dấn thân mình vào sự theo đuổi những sự giàu có thật (thuộc linh và đời đời), thay vì vẻ bề ngoài giàu có đời nầy. Tóm lại, những sự giàu có thật đã nhận được chỉ trong sự theo đuổi Đức Chúa Jêsus Christ và trong sự vui mừng của sự nhận biết Ngài cách mật thiết.

“Có kẻ làm bộ giàu, mà chẳng có gì hết; Cũng có người làm bộ nghèo, lại có của cải nhiều” (Châm ngôn 13:7).

“Người thành thực sẽ được phước lành nhiều; Còn kẻ nào vội làm cho giàu ắt sẽ chẳng khỏi bị phạt” (Châm ngôn 28:20).

Trong khi làm giàu chẳng có gì sai trái hết, có những cám dỗ nhất định mà người giàu hay gặp phải. Vì lẽ đó, Phaolô ban cho Timôthê một vài lời lành khuyên bảo phải truyền cho những ai giàu của cải trong đời nầy:

“Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật” (I Timôthê 6:17-19).

Người nào giàu của cải đời nầy cần phải tỉnh thức về sự kiêu ngạo thường đi kèm với sự giàu có:

“Người giàu tự nghĩ mình là khôn ngoan; Nhưng kẻ nghèo có sự thông sáng dò xét người” (Châm ngôn 28:11).

Người giàu tương tự bị cám dỗ phải đặt lòng tin cậy của mình vào sự giàu có của họ, thay vì đặt nơi Đức Chúa Trời:

“Tài sản kẻ giàu có là cái thành kiên cố của người; Song sự hư nát của người khốn khổ là sự nghèo nàn của họ” (Châm ngôn 10:15).

“Tài vật người giàu, ấy là cái thành kiên cố của người, Trong ý tưởng người cho nó như một bức tường cao” (Châm ngôn 18:11).

Phaolô hướng Timôthê trực tiếp vào sự dạy dỗ những kẻ giàu có phải tin cậy nơi Đức Chúa Trời, và không tin cậy nơi sự giàu có của họ. Ông thúc giục thêm Timôthê phải dạy cho người giàu biết đầu tư của cải đời nầy của họ sao cho khôn khéo bằng cách làm giàu qua các việc lành, rồi nhơn đó mà chất của cải ở trên trời.

Phaolô kết thúc thư tín của ông với lời khích lệ sau cùng có liên quan tới sự dạy giả dối đã nổi lên ở thành Êphêsô:

“Hỡi Ti-mô-thê, hãy giữ lấy sự giao phó đã nấy cho con, tránh những lời hư không phàm tục và những sự cãi lẽ bằng tri thức ngụy xưng là tri thức. Ấy vì muốn luyện tập tri thức đó, nên có người bội đạo. Nguyền xin ân điển ở cùng các anh em!” (I Timôthê 6:20-21).

Timôthê cần phải canh giữ lẽ thật, đạo thật đã được phó thác cho ông. Đồng thời, ông cần phải tránh những lời nói hư không của các giáo sư giả, những gì họ dán nhãn là “tri thức”. Có người đã lạc sai rồi bằng cách vòng tay ôm lấy “tri thức” nầy. Với lời khuyên bảo và khích lệ sau cùng của ông, Phaolô khen ngợi Timôthê, con thuộc linh của ông, cùng các thánh đồ tại thành Êphêsô trong ân điển của Đức Chúa Trời.

Phần kết luận:

Chúng ta giả định rằng bạn là Timôthê, và bạn đã đọc xong thư tín thứ nhứt của Phaolô khi ở tại thành Êphêsô. Bạn nghĩ sao? Bạn cảm thấy thế nào?

Tôi e rằng Timôthê sẽ cảm thấy như bạn cảm thấy khi bạn nhận được một bức thư (hay e-mail hôm nay) từ một người bạn thân sống ở xa gửi đến. Phaolô là cha thuộc linh của Timôthê. Họ đã tốn rất nhiều năm tháng với nhau trong chức vụ. Thường thì họ ở với nhau, nhưng ở một thời điểm, họ chia nhau ra. Timôthê được giao cho một trọng trách đầy thách thức. Ông cần phải hành động vì ích của Phaolô, với thẩm quyền của Phaolô. Ông cần phải xác định những giáo sư giả và phải làm cho họ im tiếng. Ông đang kinh nghiệm sự kháng cự, và có lẽ thường bị tấn công, bởi những kẻ tẻ tách ra khỏi đạo Tin Lành. Ông là một thanh niên, và ông đã thắc mắc không biết rồi đây mình có kham nổi phần việc hay không!?!

Bức thư của Phaolô là một lời khích lệ gửi đến từ một người bạn và là vị tư vấn thân thiết đáng tin cậy. Lòng tin cậy của Phaolô đặt nơi Timôthê đã sưỡi ấm tấm lòng của chàng thanh niên nầy. Lối nói yêu thương và tin cậy đã được viết ra của Phaolô đã góp phần khiến cho Timôthê đứng vững ở Hội Thánh tại thành Êphêsô. Nếu Phaolô tỉnh thức về sự chống đối mà Timôthê đã gặp gỡ, lời lẽ của ông có lẽ đã đi thẳng đến mục tiêu, khảo sát trọng tâm các vấn đề mà Timôthê đang đối diện với.

Trên hết mọi sự, Timôthê được bảo đảm về tình yêu thương và tình cảm của Phaolô. Phaolô chính là công cụ qua đó Timôthê đã tin Chúa. Phaolô là nhân vật đã chọn Timôthê cùng đi với ông trên các chuyền hành trình truyền giáo. Phaolô là người tin cậy Timôthê, sai phái ông đến với các Hội Thánh khác nhau để hành xử như phát ngôn viên của ông. Trong khi Phaolô quan tâm đến Hội Thánh Êphêsô và các giáo sư giả đã nổi lên, ông quan tâm nhiều đến Timôthê, con ông trong đức tin, và ông muốn người biết điều đó.

Phaolô đã xử lý với Hội Thánh Êphêsô. Chính qua Phaolô mà phần nhiều các thánh đồ ở tại thành Êphêsô đã đến với đức tin. Phaolô đã trưởng dưỡng và đã dạy dỗ họ những lẽ thật mà họ cần phải biết rõ. Ngay cả trong khi ông vắng mặt, Phaolô vẫn quan tâm nhiều đến Hội Thánh nầy, và sai phái bạn đồng sự giỏi giang nhất và đáng tin cậy nhất đến lo liệu cho Hội Thánh.

Thư tín của Phaolô gửi cho Timôthê tại thành Êphêsô là bằng chứng tình cảm của Phaolô dành cho và ký thác cho Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Ông đã nhìn thấy Hội Thánh là “trụ và nền của lẽ thật” (3:15). Trong khi các tổ chức kia chắc chắn là một phần của Hội Thánh, và có một sự đóng góp hẳn hòi, chúng ta được nhắc nhớ rằng Hội Thánh là ưu tiên một của Phaolô. Ông yêu mến Hội Thánh, và ông đã dâng những của lễ khó tin nổi để cho Hội Thánh được tồn tại.

Đối với tôi, bài nghiên cứu nầy về Thư I Timôthê đã cung ứng cho tôi một sự nhìn biết sâu sắc hơn về tình cảm của Phaolô dành cho nữ giới. Một số người sẽ xét đoán Phaolô vì lời lẽ của ông ở chương 2, nhưng chúng ta hãy nhớ lại rằng các huấn thị của Phaolô đều là mạng lịnh của Chúa:

“Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình. Hãy làm như trong cả Hội thánh của các thánh đồ, đờn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy. Nhược bằng họ muốn học khôn điều gì, thì mỗi người trong đám họ phải hỏi chồng mình ở nhà; bởi vì đờn bà nói lên trong Hội thánh là không hiệp lẽ. Có phải là đạo Đức Chúa Trời ra từ nơi anh em, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi chăng? Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng đều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa. Mà nếu ai muốn bỏ qua thì mặc họ bỏ qua!” (I Côrinhtô 14:33-38, phần nhấn mạnh là của tôi).

Hơn thế nữa, hãy suy nghĩ về những gì toàn bộ sách I Timôthê dạy dỗ chúng ta về mối quan tâm của Phaolô dành cho nữ giới, và giá trị chức vụ của họ trong Hội Thánh. Ở chương 2, ông kể cả phụ nữ trong các huấn thị của ông; ông không bỏ qua họ, giống như họ chẳng có góp phần gì cả thảy. Phaolô làm sáng tỏ những chức vụ mà nữ giới có (và không có) trong Hội Thánh, nhưng khi kể cả nữ giới có trong các huấn thị của ông, ông chỉ ra rằng ông xem họ là một phần của Hội Thánh và chức vụ của Hội Thánh.

Ở chương 3, một lần nữa chúng ta tìm thấy rằng nữ giới đóng vai trò chính yếu trong công tác truyền giáo. Ở câu 11, Phaolô viết:

“Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trang, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc” (I Timôthê 3:11).

Tôi tin rằng câu nầy áp dụng cho cả hai: những người vợ của hàng chấp sự và vợ của các trưởng lão nữa. Phẩm chất vợ của một người có thể khiến người trở thành hay sụp đổ trong vai trò lãnh đạo Hội Thánh. Lời lẽ của Phaolô ám chỉ rằng vợ của một cấp lãnh đạo đóng một vai trò chủ yếu trong chức vụ của chồng mình.

Ở chương 5, Phaolô dành một tiểu đoạn của chương cung ứng các huấn thị liên quan tới nữ giới. Phaolô bảo Timôthê (và tất cả những người khác) phải tôn trọng những người nữ có tuổi tác và những phụ nữ còn trẻ trung. Những phụ nữ có tuổi tác cần phải được đối xử như những người mẹ (tôn kính lắm ở đây), và những phụ nữ còn trẻ như chị em. Hoàn cảnh của những góa phụ được Phaolô xem trọng. Trong khi nữ giới có một sự đóng góp rất lớn phải thực hiện trong việc sanh con và nuôi con (I Timôthê 2:15), họ cũng có một sự đóng góp rất lớn trong Hội Thánh như những chiến binh cầu nguyện và họ cung ứng sự mến khách cho những ai qua đường (I Timôthê 5:5-10). Một số góa phụ sống có giá trị như thế đến nỗi họ cần phải được “ghi vào sổ”, để được tài trợ đầy đủ trong chức vụ của họ.

Khi trải qua hết sách I Timôthê, chúng ta thấy những bằng chứng khác về tình yêu rời rộng của Phaolô dành cho và tán thưởng nữ giới trong Hội Thánh. Phaolô nhắc cho Timôthê nhớ đến vai trò của mẹ và bà của người đã đóng trong đời sống thuộc linh của người (II Timôthê 1:5). Ở phần cuối bức thư của Phaolô, ông kêu gọi sự chú ý đặc biệt đến nữ giới, những người đã lo góp phần quan trọng trong Hội Thánh (thí dụ, Rôma 16). Thêm vào với điều nầy, tôi nhớ lại Luca là bạn đồng hành truyền giáo của Phaolô. Trong sách Tin Lành và sách Công Vụ các Sứ Đồ của ông, Luca ghi lại một số phụ nữ quan trọng, khi Tin Lành được nhắc tới. Chắc chắn Luca đang phản ảnh các thái độ của Phaolô ở đây.

Đúng là một quyển sách tuyệt vời! Có rất nhiều điều cho chúng ta học hỏi. Nguyện đây chỉ là phần khởi đầu cho một nghiên cứu cả đời về sách I Timôthê. Nguyện Đức Chúa Trời ưng nhận chúng ta nhận lời lẽ chân thành của Phaolô vào tấm lòng và đời sống của chúng ta.

Tags: ##From the Creation to the Cross#baigiangkinhthanh
Previous Post

Sự kêu gọi của Ápraham và Giao ước của Đức Chúa Trời | Sáng thế ký  11:26—17:27

Next Post

Giờ tốt đẹp nhất của Ápraham | Sáng thế ký  18:1—26:35

Admin

Admin

Next Post

Giờ tốt đẹp nhất của Ápraham | Sáng thế ký  18:1—26:35

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In