DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Hội Thánh là nơi ngự của Đức Chúa Trời

Admin by Admin
10 Tháng Mười Một, 2023
in Bài Giảng Kinh Thánh, Thần Học - Kinh Thánh
0
Share on FacebookShare on Twitter

Hội Thánh là nơi ngự của Đức Chúa Trời

Mục sư Bob Deffinbaugh

Phần giới thiệu:

Hội Thánh là một huyền nhiệm đối với các thánh đồ trong Cựu Ước, họ rất lấy làm lạ. Họ có dám nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa vòng dân sự Ngài giống như Chúa Jêsus đã hứa và như Phaolô mô tả không?

“Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi” (Giăng 14:16-18).

“Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh” (Êphêsô 2:19-22).

Mục đích của bài học nầy sẽ lần theo câu chuyện nói tới sự ra đời của Hội Thánh qua Kinh Thánh, để thấy rõ Đức Chúa Trời đã hành động để tỏ ra sự vinh hiển của Ngài trong và qua Hội Thánh.

Sự đề phòng trong Cựu Ước

Hội Thánh là tuyệt đích của chương trình đời đời của Đức Chúa Trời để ngự giữa vòng dân sự Ngài trên đất. Câu chuyện bắt đầu trở ngược lại trong các thời kỳ Cựu Ước với chẳng ai khác hơn là kẻ bất lương Giacốp.

“Gia-cốp từ Bê-e-Sê-ba đi đến Cha-ran, tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó; bèn chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận trời, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên xuống trên thang đó. Nầy, Đức Giê-hô-va ngự trên đầu thang mà phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, cùng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi đang nằm ngủ đây. Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông tây nam bắc, và các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước. Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi. Gia-cốp thức giấc, nói rằng: Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây mà tôi không biết! Người bắt sợ và nói rằng: Chốn nầy đáng kinh khủng thay! Đây thật là đền Đức Chúa Trời, thật là cửa của trời!” (Sáng thế ký 28:10-17)

Giacốp chẳng có gì tốt lành với gia đình mình trong thời buổi ấy. Sau khi thua cuộc đấu với Êsau trong lòng mẹ mình (Sáng thế ký 25:21-26), Giacốp thấy mình ở địa vị phụ thuộc. Ông không muốn bị lừa một lần nữa. Trước tiên, Giacốp đã tìm cách “mua” lấy quyền trưởng nam của Êsau (Sáng thế ký 25:27-34), rồi kế đó ông (với sự khích lệ của mẹ mình) đã thành công trong việc nói dối với cha già của mình để ông ấy chúc phước của ông ấy trên ông, cứ tưởng ông là Êsau (Sáng thế ký 27:1-41). Giacốp quả thật là đứa con của mẹ mình. Bằng cách ở trong nhà lo nấu nướng (hai bữa ăn mỗi ngày), trong khi Êsau lo săn bắn trong đồng ruộng, Giacốp đã tìm cách kiếm được cả hai: quyền con trưởng và phước hạnh của hàng tộc trưởng.

Êsau đã giận dữ và chờ đợi thời cơ cho tới khi Ysác qua đời; khi ấy ông dự tính giết chết Giacốp rồi khôi phục lại những gì ông tin là thuộc về mình theo cách hợp pháp (Sáng thế ký 27:41). Chẳng thấy nhắc tới Giacốp hay Êsau người nào vốn biết rõ về lời tiên tri nói tới hai cậu ấm nầy, đã được trao cho Rêbeca khi nàng còn mang thai (Sáng thế ký 25:22-23). Chính ý tưởng của Rêbeca muốn Giacốp rời khỏi xứ cho tới chừng nào Êsau nguôi giận đi. Mọi sự nầy đã được làm ra với chiêu bài tìm một người vợ “tin kính” (Sáng thế ký 27:42—28:5). Một lần nữa, Ysác lại rơi vào bẫy.

Giacốp nhơn đó đã chạy trốn để cứu lấy mạng mình. Được ưng nhận, Rêbeca nói rằng ông cần phải đi qua nhà Laban, anh của nàng trong “ít lâu” (Sáng thế ký 27:44), nhưng Giacốp phải nhìn biết nhiều hơn là chỉ có bấy nhiêu đó. Chuyến hành trình đến Charan không phải là chuyện nhỏ đâu. Trên hành trình của ông từ Bêe Sêba đến Charan, Giacốp đã qua đêm dưới bầu trời đầy sao, với một hòn đá làm gối đầu. Đêm ấy, ông có một điềm chiêm bao thật là bất thường. Ông mơ thấy một cái thang dựng dưới đất, bắt lên đến tận trời. Trên cái thang nầy, có nhiều thiên sứ đi lên và đi xuống. Khi ấy Đức Chúa Trời lặp lại lời hứa mà Ngài đã lập với Ápraham, Ysác và Giacốp. Đức Chúa Trời sẽ ban đất nầy – vùng đất mà cái thang được dựng lên ở đó – cho Giacốp và cho dòng dõi của ông. Dòng dõi của ông sẽ đông vô số, và nơi Giacốp và dòng dõi của ông, Ngài sẽ chúc phước cho mọi chi tộc ở trên đất. Tôi tin, cái điều quan trọng nhất trong mọi sự, là sự bảo đảm của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ bảo hộ cho Giacốp và đem ông an toàn về với vùng đất nầy.

Giacốp rất có ấn tượng, mà thật như vậy. Lời lẽ của ông tỏ ra sự hiểu biết của ông về sự hiện thấy mà ông đã được ban cho.

“Gia-cốp thức giấc, nói rằng: Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây mà tôi không biết! Người bắt sợ và nói rằng: Chốn nầy đáng kinh khủng thay! Đây thật là đền Đức Chúa Trời, thật là cửa của trời!” (Sáng thế ký 28:16-17)

Giacốp đã chú ý đến địa điểm nơi cái thang được dựng lên ở đó. Chốn nầy, ông lý luận, là một nơi thánh. Đức Chúa Trời đã có mặt ở đó, và thậm chí ông không nhìn biết điều đó (cho tới khi có giấc chiêm bao). Đây là nơi ngự của Đức Chúa Trời. Không cứ cách nào đó thì chỗ nầy “cửa của trời”, địa điểm mà trời và đất giao hòa, ở đó con người ở trên đất tìm phương tiếp cận với thiên đàng. Kết quả là, Giacốp đặt tên chỗ ấy là Bê-tên, là nhà của Đức Chúa Trời. Điều nầy dường như là điểm xoay chiều chủ yếu trong đời sống của Giacốp. Chắc chắn điều đó đã cung ứng một sự động viên mạnh mẽ cho ông phải trở lại xứ Israel (bất chấp nguy hiểm khi làm như vậy).

Còn bây giờ, chúng ta hãy công nhận rằng Đức Chúa Trời đã chọn đồng hóa chính mình Ngài với một địa điểm thật đặc biệt – Israel. Chính ở chỗ nầy mà Đức Chúa Trời và con người không cứ cách nào đó sẽ giao hòa. Chính ở chỗ nầy Đức Chúa Trời đã chọn để ngự trị. Chỉ có thời gian mới tỏ ra ý nghĩa đầy đủ của những gì đã xảy ra cho Giacốp trong cái đêm định mệnh ấy.

Nhiều năm trời trôi qua, sau cùng Giacốp đã trở về lại Bêtên và về với đất Israel. Nhưng tuy nhiên khi ấy chưa hẳn là thời điểm dành cho ông hay dòng dõi ông chiếm lấy vùng đất ấy. Nhiều năm về sau, Đức Chúa Trời đã báo cho Ápraham biết:

 “Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm. Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều. Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời. Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy” (Sáng thế ký 15:13-16).

Các con trai của Giacốp đã bán Giôsép làm nô lệ trong xứ Aicập, và chính Giôsép cùng Aicập mà Đức Chúa Trời đã sử dụng để cứu Israel (Giacốp) và gia đình của ông (xem Sáng thế ký 50:20). Dòng dõi của Giacốp đông lên rất nhiều trong xứ Aicập, bất chấp nghịch cảnh của họ. Hiển nhiên là thì giờ đã đến để Đức Chúa Trời giải phóng dân sự Ngài ra khỏi Aicập và đưa họ về lại đất Israel để chiếm lấy nó. Sau khi băng qua Biển Đỏ, cả dân tộc đã đến tại Núi Sinai, ở đây Đức Chúa Trời ban luật pháp cho dân Israel. Đức Chúa Trời cảnh cáo dân sự đừng đến quá gần:

“Qua sáng ngày thứ ba, có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run hãi. Môi-se bèn biểu dân ra khỏi trại quân nghinh tiếp Đức Chúa Trời; dân sự dừng lại tại chân núi. Vả, bấy giờ, khắp núi Si-na-i đều ra khói, vì Đức Giê-hô-va ở trong lửa giáng lâm nơi đó; khói ra khác nào khói của lò lửa lớn kia, và cả hòn núi đều rung động cách kịch liệt. Tiếng kèn càng vang động; Môi-se nói, Đức Chúa Trời đáp tiếng lại. Đức Giê-hô-va giáng-lâm trên chót núi Si-na-i, đòi Môi-se lên, Môi-se bèn lên. Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy xuống cấm dân sự đừng xông pha đến gần Đức Giê-hô-va mà nhìn, e nhiều người trong bọn phải chết chăng” (Xuất Êdíptô ký 19:16-21).

Sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở đó trên núi rất kinh khiếp, kinh khiếp đến nỗi dân sự kinh hãi không dám đền gần. Họ vui vẻ chấp nhận Môise làm trung bảo của họ:

“Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa. Dân sự bèn nói cùng Môi-se rằng: Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe; nhưng cầu xin Đức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi phải chết chăng. Môi-se đáp rằng: Đừng sợ chi, vì Đức Chúa Trời giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các ngươi không phạm tội. Vậy, dân sự đứng cách tận xa, còn Môi-se đến gần đám mây đen kịt có Đức Chúa Trời ngự ở trong” (Xuất Êdíptô ký 20:18-21).

Sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự Ngài rất là quan trọng. Môise không muốn tiếp tục nữa trừ phi Đức Chúa Trời ở cùng họ:

“Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nầy, Chúa phán cùng tôi rằng: Hãy đem dân sự nầy lên! Song Chúa chẳng cho tôi biết Chúa sai ai đi cùng tôi. Vả, Chúa có phán rằng: Ta biết ngươi vì danh ngươi, và ngươi được ơn trước mặt ta. Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin cho tôi biết đường của Chúa, để cho tôi biết Chúa và được ơn trước mặt Ngài. Xin cũng hãy nghĩ rằng dân nầy là dân của Ngài! Đức Giê-hô-va đáp rằng: Chính mình ta sẽ đi cùng ngươi, và ta sẽ cho ngươi an nghỉ. Môi-se thưa rằng: Nếu chính mình Ngài chẳng đi, xin đừng đem chúng tôi lên khỏi đây. Lấy cớ chi mà người ta sẽ biết rằng tôi cùng dân sự Ngài được ơn trước mặt Ngài? Có phải khi nào Ngài cùng đi với chúng tôi chăng? Thế thì, tôi cùng dân sự Ngài sẽ được phân biệt với muôn dân trên mặt đất” (Xuất Êdíptô ký 33:12-16)

Vấn đề, ấy đây là một dân tội lỗi, cứng cổ. Làm sao một Đức Chúa Trời thánh khiết ngự ở giữa họ cho được chứ? Giải pháp được tìm thấy trong chính luật pháp. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời đã ban ra luật pháp của Ngài ngắn cấm những việc làm buồn lòng Ngài. Thứ hai, Đức Chúa Trời cung cấp một hệ thống con sinh, ở đó tội lỗi có thể được chuộc cách tạm thời. Nhiều người không thể tuân giữ luật pháp mà Đức Chúa Trời đã ban ra; vì thế hệ thống con sinh được chu cấp cho làm sự chuộc tội sẽ được thực thi cho tới chừng “Chiên Con của Đức Chúa Trời” đến để chuộc tội lỗi “một lần đủ cả” (xem Giăng 1:29; Rôma 3:21-26; Hêbơrơ 9). Thứ ba, Đức Chúa Trời thiết lập nhiều đường ranh khác nhau, bảo đảm rằng con người tội lỗi sẽ không được đến quá gần. Đây là bằng chứng thật đặc biệt trong đền tạm, ở đó chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mới được vào Nơi Chí Thánh, và một năm chỉ có một lần mà thôi.

Thậm chí khi Môise xin nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời rất cần thiết khi che chắn tầm nhìn của ông, để ông sẽ không nhìn trực tiếp nơi mặt Ngài mà ngã chết đi:

“Môi-se thưa rằng: Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài! Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót. Ngài lại phán rằng: Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà còn sống. Đức Giê-hô-va lại phán: Đây có một chỗ gần ta, ngươi hãy đứng trên hòn đá; khi sự vinh hiển ta đi ngang qua, ta sẽ để ngươi trong bộng đá, lấy tay ta che ngươi, cho đến chừng nào ta đã đi qua rồi. Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy phía sau ta; nhưng thấy mặt ta chẳng được” (Xuất Êdíptô ký 33:18-23).

Chẳng có gì phải lấy làm lạ khi người nào đã gặp thiên sứ của Đức Giêhôva đều mong chết đi (xem Các Quan Xét 6:22-24; 13:21-23).

Khi tất cả các thứ phòng ngừa hay các rào chắn đã ở đúng vị trí, sự hiện diện của Đức Chúa Trời bèn ngự đến và đầy dẫy đền tạm, cũng một thể ấy cho đền thờ sau đó:

“Áng mây bao phủ hội mạc và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm, cho đến nỗi Môi-se vào chẳng đặng, vì áng mây bao phủ ở trên và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm” (Xuất Êdíptô ký 40:34-35).

“Xảy khi những thầy tế lễ đã ra khỏi nơi thành, bèn có mây đầy dẫy nhà của Đức Giê-hô-va, đến nỗi những thầy tế lễ vì có mây ấy không thể đứng đó mà hầu việc được, vì sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Đức Giê-hô-va” (I Các Vua 8:10-11; II Sử ký 5:11-14; 7:1-3).

Tội lỗi của Israel đã kết quả trong sự rời đi của vinh hiển của Đức Chúa Trời, cuộc phu tù cho người Babylôn của người Do thái, và sự hủy diệt của đền thờ, y như Chúa đã cảnh cáo:

“Nhưng nếu các ngươi bội nghịch, bỏ các luật lệ và giới mạng ta đã đặt trước mặt các ngươi, đi hầu việc những tà thần và thờ lạy chúng nó, thì ta sẽ rứt nhổ các ngươi khỏi đất ta đã ban cho các ngươi; còn cái nhà này mà ta đã biệt riêng ra thánh cho danh ta, ta sẽ bỏ nó đi, làm cho nó nên một câu tục ngữ, một việc nhạo cười giữa các dân tộc. Cái nhà này dẫu cao dường nào, hễ ai đi qua gần nó cũng sẽ lấy làm lạ mà nói rằng: Cớ sao Đức Giê-hô-va có xử xứ này và đền này như thế? Thì người ta sẽ đáp rằng: Bởi vì họ lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng đã dẫn họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, và vì họ đeo đuổi theo các tà thần, thờ lạy và hầu việc chúng nó, nên Ngài đã giáng trên họ các tai vạ này” (II Sử ký 7:19-22; cũng xem Phục truyền luật lệ ký 28:36-37, 41; II Các Vua 24:20—25:21; Ca thương 2).

Đức Chúa Trời cũng hứa rằng Ngài sẽ phục hồi dân sự Ngài, giải phóng họ ra khỏi vòng nô lệ, rồi đem họ về lại trong đất Israel:

“Khi các điều nầy đã xảy đến cho ngươi, hoặc phước lành, hoặc rủa sả, mà ta đã đặt trước mặt ngươi, nếu trong các nước, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đuổi ngươi đến, ngươi đem lòng nhắc lại những điều ấy, trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ngươi và con cháu ngươi hết lòng hết ý vâng theo tiếng phán của Ngài, như mọi điều ta truyền cho ngươi ngày nay, thì bấy giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ thương xót ngươi, đem những phu tù ngươi trở về, nhóm hiệp ngươi từ giữa các dân, là nơi Ngài đã tản lạc ngươi đó. Dẫu những kẻ bị đày của ngươi ở tại cuối trời, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cũng sẽ từ đó nhóm hiệp ngươi lại và rút ngươi khỏi nơi đó. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đem ngươi về xứ mà tổ phụ ngươi đã nhận được, và ngươi sẽ nhận lấy nó; Ngài sẽ làm ơn cho ngươi và gia thêm ngươi nhiều hơn tổ phụ ngươi. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ cất sự ô uế khỏi lòng ngươi và khỏi dòng dõi ngươi, để ngươi hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hầu cho ngươi được sống” (Phục truyền luật lệ ký 30:1-6).

Sau cùng, ngày đã đến cho Đức Chúa Trời giải phóng dân Do thái ra khỏi cảnh phu tù của họ và đưa họ về lại Đất Hứa. Họ nhìn thấy thành Jerusalem đang ở trong tình cảnh rối ren và đền thờ vinh hiển của họ đã bị hủy diệt. Không bao lâu sau đó họ bắt đầu công tác tái thiết đền thờ. Khi cái nền được đặt rồi, có kỳ lễ lớn lắm, nhưng nó pha trộn với nước mắt của những ai đã nhìn thấy sự vinh quang của đền thờ trước kia:

“Khi các thợ xây nền đền của Đức Giê-hô-va, thì có những thầy tế lễ đứng đó mặc áo lễ và cầm kèn, còn những người Lê-vi, con cháu A-sáp, đều cầm chập chỏa, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va y như các lễ-phép của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đã lập ra. Chúng ca hát đối đáp mà ngợi khen cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là tốt lành, lòng thương xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời! Cả dân sự đều kêu reo tiếng lớn, ngợi khen Đức Giê-hô-va, bởi vì người ta xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va. Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước, bèn khóc tiếng lớn trong khi người ta xây nền của đền mới tại trước mặt mình. Cũng có nhiều người khác lại la tiếng lớn vui mừng hớn hở; nên người ta khó phân biệt tiếng vui mừng với tiếng khóc lóc; vì dân sự la lớn tiếng lên, và tiếng ấy vẳng vẳng nghe xa” (Exơra 3:10-13).

Qua tiên tri Aghê, Đức Chúa Trời nhắc tới sự khóc than nầy, đặt toàn bộ vấn đề vào triễn vọng:

“Ngày hai mươi mốt tháng bảy có lời của Đức Giê-hô-va phán ra bởi đấng tiên tri A-ghê mà rằng: Bây giờ hãy nói cùng Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ Giu-đa, và Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, và dân sự sót lại, bảo chúng nó rằng: Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao? Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc; vì ta ở cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Lời giao ước mà ta lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi: chớ sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Còn một lần, khỏi ít lâu nữa, ta sẽ làm rúng động các từng trời và đất, biển và đất khô. Ta cũng làm rúng động hết thảy các nước, và những sự ước ao của các nước hầu đến; rồi ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy nhà nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Bạc là của ta, vàng là của ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy; và ta sẽ ban sự bình an trong chốn nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Aghê 2:1-9, phần nhấn mạnh là của tôi).

Đối với tôi sự khóc lóc của những “thời xưa” thích ứng với sự thấp kém ngoài mặt của đền thờ thứ hai. Chắc chắn là đền nầy không có được nét nguy nga của đền thờ thứ nhứt. Nhưng điều gì làm cho đền thờ được cao trọng chứ? Có phải vẻ đẹp bề ngoài là quan trọng không? Khi tôi hiểu Lời của Đức Chúa Trời qua tiên tri Aghê, đền thờ thứ hai vốn long trọng vì cớ những gì nó đã có trước đó. Đức Chúa Trời đã ở với dân sự Ngài; Thánh Linh Ngài đã ngự ở giữa họ (Aghê 2:4-5). Đức Chúa Trời đã ở với họ. Đấy là điều tạo ra vấn đề. Và còn hơn thế nữa, đền thờ thứ hai chỉ là một tiên vị của một điều hầu đến còn long trọng hơn nữa, một điều gì đó vẫn chưa đến – Đức Chúa Trời ngự giữa vòng dân sự Ngài trong trời mới đất mới. Tác giả thơ Hêbơrơ đã trích dẫn Aghê 2:6-7, chỉ cho chúng ta thấy biến cố vinh hiển nầy vẫn còn ở tương lai (xem Hêbơrơ 12:18-29). Sự vinh hiển của đền thờ không phải được thấy ở nghệ thuật hay ở vàng, mà ở sự hiện diện của chính mình Đức Chúa Trời, đang ngự giữa dân sự Ngài.

Nhận thức của Tân Ước

Đức Chúa Trời đã đến ngự giữa vòng dân sự Ngài trong Thân Vị của Con yêu dấu Ngài:

“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Ấy là về Ngài mà ta đã nói: Đấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta. Vả, bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm ơn. Vì luật pháp đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến. Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:14-18, phần nhấn mạnh là của tôi).

Ghi chú bên lề nầy ở NET Bible giải thích Chúa Jêsus Chúa chúng ta “chiếm lấy nơi ngự” giữa vòng loài người có ý nghĩa như thế nào:

Từ ngữ Hylạp dịch “chiếm lấy nơi ngự” (skhnovw, skhnow) ám chỉ đền tạm trong Cựu Ước, nơi Shekinah, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời thấy được bằng mắt thường, ngự trị. Tác giả cho rằng sự vinh hiển nầy giờ đây có thể được thấy nơi Chúa Jêsus (hãy chú ý câu nối theo sau). Động tự được sử dụng ở đây có thể ám chỉ sự vinh hiển Shekinah thường được thấy trong đền tạm đã chiếm lấy nơi ngự trong Thân Vị của Chúa Jêsus. Cũng đối chiếu với Giăng 2:19-21. Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Câu nầy trở thành câu nói ngắn gọn nhất về sự hóa thân thành nhục thể trong Tân Ước. Giăng 1:1 nói rõ ràng rằng Đạo là Đức Chúa Trời trọn vẹn, nhưng 1:14 nói rõ Ngài cũng là con người trọn vẹn nữa. Một sự giải thích Docetic hoàn toàn bị loại bỏ. Ở đây, lần đầu tiên Đạo của 1:1 được đồng hóa với Chúa Jêsus người thành Naxarét — cả hai là một và như nhau. Vì thế, đây là lần sau cùng chữ Đạo được sử dụng trong sách Tin Lành thứ tư để nói tới Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Từ đây trở đi, chính Chúa Jêsus người thành Naxarét, Ngài là tâm điểm của Tin Lành Giăng.

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời từng ngự trong đền tạm, rồi sau đó là đền thờ, đã đến với đất trong Thân Vị của Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta.

Về sau trong chương đầu tiên của Tin Lành Giăng, Chúa chúng ta được nối kết với phần tỏ ra khác trong Cựu Ước về sự hiện diện của Ngài:

“Phi-líp gặp Na-tha-na-ên, nói với người rằng: Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến; ấy là Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, con của Giô-sép. Na-tha-na-ên nói rằng: Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao? Phi-líp nói: Hãy đến xem. Đức Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến cùng mình, bèn phán về người rằng: Nầy, một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi hết. Na-tha-na-ên thưa rằng: Bởi đâu thầy biết tôi? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trước khi Phi-líp gọi ngươi, ta đã thấy ngươi lúc ở dưới cây vả. Na-tha-na-ên lại nói: Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Vì ta đã phán cùng ngươi rằng ta thấy ngươi dưới cây vả, thì ngươi tin; ngươi sẽ thấy việc lớn hơn điều đó! Ngài lại phán: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người” (Giăng 1:45-51, phần nhấn mạnh là của tôi).

Vì cớ những gì Chúa Jêsus đã phán với Nathanaên, ông tin rằng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi. Đấy là một thực tại thật tuyệt vời, nhưng Nathanaên vẫn chưa nắm bắt hết được là Đấng Mêsi thì có ý nghĩa như thế nào!?! Chúa Jêsus đưa Nathanaên trở lại với giấc mơ của Giacốp ở Sáng thế ký 28, với phân đoạn mà chúng ta đề cập tới ở phần đầu bài học nầy. Như một kết quả của giấc chiêm bao của ông về cái thang, Giacốp đã tin rất đúng rằng nơi nầy (Bêtên) là nơi ngự của Đức Chúa Trời, là địa điểm mà trời và đất giao hòa, là chốn tiếp cận với thiên đàng.

Sự chú ý của Giacốp vẫn chú vào chỗ đất mà cái thang được dựng lên ở đó. Giacốp có ấn tượng rằng Đức Chúa Trời không cứ cách nào đó đã ngự tại địa điểm theo phần địa lý nầy – Bêtên. Những gì Chúa Jêsus nói cho Nathanaên biết có mọi sự phải làm với vấn đề nầy. Giacốp đã nhìn thấy thế đất kia là tối quan trọng – “chốn nầy”. Chốn ấy quan trọng đấy, nhưng Chúa Jêsus đưa vấn đề nầy lên một tầm cao hoàn toàn mới. Đây không phải thế đất trên đó cái thang được đặt để là quan trọng đâu, mà là chính cái thang kìa. Cái thang là cửa lên trời, như nó vốn thật vậy. Và Chúa Jêsus là cái thang ấy! Chúa Jêsus là Đấng Mêsi, là Đấng đã đến với đất làm Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người:

“Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ” (I Timôthê 2:5-6).

Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đang ngự trị giữa vòng loài người. Tôi tin lẽ đạo nầy đã được chọn trong chính chương kế đó của Giăng:

“Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành Ca-bê-na-um; và chỉ ở tại đó ít ngày thôi. Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa hầu đến; Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem. Trong đền thờ, Ngài thấy có người buôn bán bò, chiên, bò câu, và có người đổi bạc dọn hàng ở đó. Ngài bện một cái roi bằng dây, bèn đuổi hết thảy khỏi đền thờ, chiên và bò nữa; vãi tiền người đổi bạc và đổ bàn của họ. Ngài phán cùng kẻ bán bò câu rằng: Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán. Môn đồ Ngài bèn nhớ lại lời đã chép rằng: Sự sốt sắng về nhà Chúa tiêu nuốt tôi. Các người Giu-đa cất tiếng thưa cùng Ngài rằng: Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại! Người Giu-đa lại nói: Người ta xây đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày! Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình. Vậy, sau khi Ngài được từ kẻ chết sống lại rồi, môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã phán” (Giăng 2:12-22, phần nhấn mạnh là của tôi).

Chúa Jêsus đã phán về chính mình Ngài là đền thờ của Đức Chúa Trời, là nơi ngự của Đức Chúa Trời. Không có gì phải lấy làm lạ khi Giăng nói rằng Chúa Jêsus “ở” giữa loài người (Giăng 1:14). Bất cứ đâu có Chúa Jêsus, có Đức Chúa Trời ở đó. Bất cứ đâu có Chúa Jêsus, loài người có thể thờ phượng Đức Chúa Trời bằng cách thờ lạy Ngài. Điều nầy chỉ ra cuộc trao đổi của Chúa Jêsus với người đàn bà ở bên giếng. Khi Chúa Jêsus yêu cầu người đàn bà nầy gọi chồng mình tới, bà ta đáp rằng bà ta không có chồng. Lời đáp của Chúa chúng ta cho thấy rõ ràng rằng Chúa Jêsus vốn biết rõ hoàn toàn tiểu sử của người đàn bà nầy, chẳng có chi giấu kín khỏi Ngài. Người đàn bà kết luận rằng Chúa Jêsus phải là một vị tiên tri, và bà ta cầu hỏi Ngài về cuộc tranh cãi quan trọng Do thái/Samari về chốn thờ phượng thích đáng:

“Người đàn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri. Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến. Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. Người đàn bà thưa: Tôi biết rằng Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó” (Giăng 4:19-26).

Tôi tin rằng Chúa Jêsus đang nói cho người đàn bà nầy biết nhiều hơn bà ta có thể hiểu được trong thì giờ đó. Ngài đang nói cho bà ta biết rằng thờ phượng ở đâu thì chẳng phải là vấn đề nữa, mà thay vì thế phải thờ phượng ai kìa. Hãy thờ lạy Đấng Mêsi! Và khi người đàn bà hỏi ai là Đấng đáng được thờ lạy, Chúa Jêsus nói cho bà ta biết, “Ta … là Đấng đó” (4:26). Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đang ngự giữa loài người. Chính Ngài là Đấng đáng được thờ lạy. Nơi chốn chẳng còn là vấn đề nữa rồi; mà là Thân Vị nào đáng được thờ lạy kìa.

Mọi sự nầy khiến cho tôi hiểu Giăng 14-16 theo một cách khác. Tôi luôn luôn có khuynh hướng nghĩ tới phân đoạn nầy là lời lẽ của Chúa chúng ta để yên ủi riêng tư cho các môn đồ mà thôi. Tất nhiên, sự thể là như vậy rồi (xem Giăng 14:1; 16:6), nhưng còn hơn thế nữa. Tôi tin, Chúa Jêsus đã phán với các môn đồ là những người sẽ trở thành những nhà sáng lập Hội Thánh của Ngài (hãy nhớ Mathiơ 16:18). Chúa Jêsus nói tới sự vắng mặt của Ngài là một việc tốt hơn sự có mặt theo phần xác của Ngài, vì sự hiện diện của Ngài sẽ tiếp tục trong một phương thức quen thuộc hơn qua Đức Thánh Linh, là Đấng mà Ngài sắp sửa sai đến:

“Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến. Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Về tội lỗi, vì họ không tin ta; về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha, và các ngươi chẳng thấy ta nữa; về sự phán xét, vì vua chúa thế gian nầy đã bị đoán xét” (Giăng 16:7-11).

“Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng  Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. Còn ít lâu, thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta; vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống. Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở trong Cha ta; các ngươi ở trong ta, và ta ở trong các ngươi” (Giăng 14:15-20).

Đức Thánh Linh sẽ làm cho họ nhớ lại những điều mà Chúa Jêsus đã căn dặn họ và vùa giúp cho họ hiểu rõ mọi sự nầy (Giăng 14:25-26; 16:13-14). Đức Thánh Linh sẽ mặc lấy quyền phép cho sự rao giảng của họ bằng cách thuyết phục thế gian về tội lỗi, về sự công bình, và về sự phán xét (Giăng 16:8-11). Nhưng tôi tin, trong mọi sự, Đức Thánh Linh sẽ ngự trong vòng Hội Thánh, và trong vòng từng cá nhân tín đồ, tỏ ra sự hiện diện của Chúa Jêsus. Nói khác đi, sự ra đi của Chúa chúng ta (sự phục sinh và sự thăng thiên) không phải là phần kết của việc Đức Chúa Trời ngự giữa vòng loài người qua Đấng Christ, mà là phần khởi sự của việc Đức Chúa Trời ngự trong vòng loài người qua Đức Thánh Linh là Đấng mà Đấng Christ sai đến từ trời.

Lễ Ngũ Tuần trong Công Vụ các Sứ đồ

Giờ đây, tôi xem Lễ Ngũ Tuần và sự đến của Đức Thánh Linh trong sách Công Vụ các Sứ đồ theo một phương thức rất khác biệt. Có bốn lần trong sách Công Vụ các Sứ đồ khi Đức Thánh Linh giáng trên các tín đồ theo “phương thức ngũ tuần” (Công Vụ các Sứ đồ, các chương 2, 8, 10, 19). Trong mỗi trường hợp, Đức Thánh Linh đã đến trên một nhóm người, thay vì trên một cá nhân. Trong các trường hợp nầy, không có trường hợp nào có người tiếp nhận Đức Thánh Linh làm việc chi quan trọng để tỏ ra biến cố. Tôi cũng thấy rằng sự đến của Đức Thánh Linh bắt lấy người ta với sự kinh ngạc. Đấy chẳng phải là điều mà họ đang tìm cách kinh nghiệm.

Tôi muốn nói rằng có một sự tương tự giữa phương thức sự hiện diện của Đức Chúa Trời giáng xuống đền thờ và phương thức sự hiện diện của Đức Chúa Trời (qua Đức Thánh Linh) đến với Hội Thánh.

“Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời giáng xuống đốt của lễ thiêu và các hi sinh, sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy trong đền. Những thầy tế lễ chẳng vào được trong đền của Đức Giê-hô-va, vì sự vinh quang Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Ngài. Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va giáng xuống đền, bèn sấp mặt xuống đất trên nền lót, thờ lạy Đức Giê-hô-va và cảm tạ Ngài, mà rằng: Chúa là nhân từ, vì sự thương xót của Ngài còn đến đời đời!” (II Sử ký 7:1-3, phần nhấn mạnh là của tôi)

Khi sự hiện diện của Đức Chúa Trời đầy dẫy đền thờ, lửa đã giáng xuống từ trời, thiêu đốt các thứ của lễ. Kết quả là, sự vinh hiển của Chúa đầy dẫy đền thờ. Để đáp lại, dân chúng đã sấp mặt xuống nền lót rồi bắt đầu ngợi khen Đức Chúa Trời. Giờ đây, hãy xem sự tương tự của sự cố nầy trong đền thờ với Lễ Ngũ Tuần đầu tiên trong Công Vụ các Sứ đồ 2:

“Đến ngày lễ Ngũ tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ. Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói” (Công Vụ các Sứ đồ 2:1-4).

Lễ Ngũ Tuần là một sự tỏ ra mắt thường trông thấy được về sự đến của Đức Thánh Linh ngự trong Hội Thánh. Trong mỗi và từng trường hợp ở Công Vụ các Sứ đồ, Đức Thánh Linh giáng trên một nhóm người đặc biệt. Ở Công Vụ các Sứ đồ 2, chính các môn đồ người Do thái của Chúa Jêsus. Ở Công Vụ các Sứ đồ 8, Đức Thánh Linh giáng trên các tín hữu Samari. Ở Công Vụ các Sứ đồ 10, Đức Thánh Linh giáng trên các tín hữu dân Ngoại. Ở Công Vụ các Sứ đồ 19, Đức Thánh Linh giáng trên những người ở trong thành Ephêsô, họ là môn đồ của Giăng Báptít, và họ mới vừa đạt tới sự hiểu biết về ơn cứu rỗi trong Đấng Christ. Những “lễ ngũ tuần” nầy là minh chứng trông thấy được cho thấy các tín hữu nầy là một chi thể của Hội Thánh, và Thánh Linh Đức Chúa Trời đã ngự trong họ. Mục đích của những “lễ ngũ tuần” nầy không phải là minh chứng lòng mộ đạo của các cá nhân đâu, mà để tỏ ra sự bao quát các nhóm tín hữu khác nhau trong Hội Thánh. Đức Chúa Trời giờ đây đã đến ngự trong Hội Thánh của Ngài, y như Chúa Jêsus đã hứa ở Giăng 14-16.

Lời bình về sự ném đá Êtiên Công Vụ các Sứ đồ 6:12-15; 8:54-56

“Chúng xúi dân sự, các trưởng lão và các thầy thông giáo, rồi xông vào người, dùng sức mạnh bắt và điệu đến trước tòa công luận. Chúng đặt ra những kẻ chứng dối, nói rằng: Người nầy hằng nói những lời phạm đến nơi thánh và luật pháp. Vì chưng chúng ta đã nghe người nói rằng Jêsus ở Na-xa-rét nầy sẽ phá nơi đây và đổi tục lệ mà Môi-se đã truyền lại cho chúng ta. Bấy giờ, phàm những người ngồi tại tòa công luận đều ngó chăm Ê-tiên, thấy mặt người như mặt thiên sứ vậy” (Công Vụ các Sứ đồ 6:12-15).

“Chúng nghe những lời đó, thì giận trong lòng, và nghiến răng với Ê-tiên. Nhưng người, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời; thì người nói rằng: Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời” (Công Vụ các Sứ đồ 7:54-56)

Giống như Chúa Jêsus (Mathiơ 26:60-61; 27:39-40; Mác 14:57-58) và Phaolô (Công Vụ các Sứ Đồ 24:5-6; 25:8), Êtiên bị vu cáo về việc nói nghịch với đền thờ. Một người có thể hiểu lý do tại sao. Người Do thái đã quá thiên về đền thờ (Mathiơ 23:16-17). Ngay cả các môn đồ dường như có ấn tượng thái quá với nét đẹp bề ngoài của nó (xem Mathiơ 24:1-2). Êtiên nhắc cho những kẻ vu cáo mình nhớ rằng Đức Chúa Trời không cần nơi ngự do con người lập ra, và Ngài còn to lớn hơn bất cứ đền thờ nào có thể chứa. Đền tạm là ý tưởng của Đức Chúa Trời, trong khi đền thờ là ý tưởng của David, mặc dù ông không được phép xây dựng đền thờ (Công Vụ các Sứ Đồ 7:44-50).

Lời lẽ của Êtiên làm tổn thương khán giả của ông thật nhanh chóng. Khi họ xúm nhau lại ném đá ông, Êtiên đã ngước nhìn lên trời, và ở đó ông nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, với Chúa Jêsus đứng bên tay hữu của Đức Chúa Trời. Có phải những kẻ vu cáo ông đã kết án Êtiên với việc nói nghịch với đền thờ vinh hiển của họ không? Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được thấy ở trên trời, trong sự hiện diện của Chúa Jêsus. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời không được thấy ở trong đền thờ của họ, vì trong một thời gian ngắn ngủi nữa thì đền thờ sẽ bị hủy diệt:

“Khi Đức Chúa Jêsus ra khỏi đền thờ, đang đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống!” (Mathiơ 24:1-2)

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong Hội Thánh, qua Đức Thánh Linh

Sự dạy của Tân Ước, ấy là Đức Chúa Trời giờ đây ngự trong Hội Thánh qua Đức Thánh Linh:

“Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh” (Êphêsô 2:19-22).

Đền thờ không phải là một tòa nhà thuộc thể; đền thờ là thân thể thuộc linh của Đấng Christ, là Hội Thánh. Đền thờ ấy được dựng nên bởi các tín hữu Do thái và dân Ngoại, họ kết hiệp lại với nhau qua Thân Vị và công tác của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài là hòn đá góc của Hội Thánh (Êphêsô 2:20).

Trong I Côrinhtô 3, Phaolô sử dụng hai hình ảnh khác nhau để mô tả Hội Thánh. Hình ảnh thứ nhứt, ấy là hình ảnh nói tới một thửa ruộng; hình ảnh thứ hai là hình ảnh nói tới một tòa nhà:

“Hỡi anh em, về phần tôi, tôi chẳng có thể nói với anh em như với người thiêng liêng, nhưng như với người xác thịt, như với các con đỏ trong Đấng Christ vậy. Tôi lấy sữa nuôi anh em, chớ chẳng lấy đồ ăn cứng, vì anh em không chịu nổi; đến bây giờ cũng chưa chịu được, vì anh em hãy còn thuộc về xác thịt. Thật, bởi trong anh em có sự ghen ghét và tranh cạnh, anh em há chẳng phải là tánh xác thịt ăn ở như người thế gian sao? Có người thì nói: Ta là môn đồ của Phao-lô; kẻ thì rằng: Ta là của A-bô-lô, vậy anh em há chẳng phải là người cũng như kẻ khác sao? Thế thì, A-bô-lô là ai, và Phao-lô là ai? Ấy là kẻ tôi tớ, mà bởi kẻ đó anh em đã tin cậy, y theo Chúa đã ban cho mọi người. Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên. Vậy, người trồng kẻ tưới, đều không ra gì, song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. Người trồng, kẻ tưới, đều bằng nhau; ai nấy sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm. Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày, nhà của Đức Chúa Trời xây. Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nền như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó. Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ. Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy, thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra. Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy. Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Ví có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ” (I Côrinhtô 3:1-17).

Thật lấy làm tốt cho chúng ta khi xem xét phân đoạn Kinh Thánh nầy. Hội Thánh Côrinhtô bị phân rẻ bởi những sự chia rẻ rất đa dạng (I Côrinhtô 1:11-12). Vấn đề dường như là sự “khôn ngoan” (I Côrinhtô 1:18—2:16). Tôi tin rằng các “giáo sư” khác đã đến tại thành Côrinhtô. Sứ điệp của họ “trổi hơn” sứ điệp đơn sơ “Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá” (I Côrinhtô 1:23), và phương pháp của họ là phương pháp rất thuyết phục và đầy năng lực. Mặt khác, Phaolô dường như chỉ có một điểm mà thôi – ấy là Đấng Christ. Sự tiếp cận của ông rất đơn sơ và trực tiếp (I Côrinhtô 2:1-5). Ông không nương vào mánh lới hay kỷ thuật lôi cuốn nào của con người, nhưng nương vào Đức Thánh Linh (I Côrinhtô 2:10-16).

Khôn ngoan như người thành Côrinhtô tự họ công nhận thế, thực sự họ là những con trẻ, vẫn còn cần thức ăn thuộc linh cho trẻ con (I Côrinhtô 3:1-3). Tình trạng con trẻ thuộc linh của họ bị phản hồi bởi sự họ nương vào người khác để làm việc nầy việc kia theo suy nghĩ của họ. Họ cũng nương nhiều vào con người, và đấy là hạng người sai trái. Trước tiên Phaolô mô tả Hội Thánh là ruộng của Đức Chúa Trời ở I Côrinhtô 3:5-9. Phaolô sánh bản thân ông ở đây với Abôlô. Abôlô là gì, và Phaolô là gì chứ? Họ chỉ là hạng tôi tớ, những bàn tay được thuê mướn. Họ không tạo ra mùa màng; Đức Chúa Trời tạo ra mùa màng. Tất nhiên là họ đã đóng một vai trò trong đó. Phaolô đã trồng, và Abôlô đã tưới. Nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên, và chính Ngài (chớ không phải con người) là Đấng đáng nhận lấy sự vinh hiển. Làm sao mà người thành Côrinhtô lại đặt nhiều vốn như thế vào những con người được chứ?

Bây giờ, ở các câu 10-17, Phaolô thay đổi hình ảnh của một tòa nhà – một đền thờ. Phaolô không còn nói về bản thân ông và Abôlô nữa, mà chỉ nói về bản thân ông là một “thợ xây bậc thầy”. Ông đã đặt nền móng cho Hội Thánh ở thành Côrinhtô (và ở những chỗ khác nữa) bằng cách rao giảng những tin tức tốt lành của Tin Lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Cái nền nầy không thể thay đổi đặng, thậm chí bởi chính mình Phaolô (xem Galati 1:6-9). Nhiều người khác có thể xây trên nền đó, nhưng họ phải xây theo một phương thức không làm xáo trộn hay tìm cách sửa đổi cái nền. Hể ai xây trên cái nền nầy (nói tới một mình Đấng Christ) phải xây sao cho thật cẩn thận. Họ phải thật cẩn thận về cách họ xây – xây dựng với một tư thế cẩn thận, chớ không được cẩu thả. Thật vậy, họ không được gạt bỏ bản vẽ chính của vị kiến trúc sư. Họ cũng phải xây chỉ với những vật liệu thật chất lượng.

Sau khi sử dụng hình ảnh nầy nói tới tòa nhà, được dựng lên trên một cái nền vững chắc đã được đặt ra rồi, Phaolô nhấn mạnh rằng bất cứ ai tìm cách xây trên nền ấy phải làm tốt hơn với một phương thức vững chắc với cái nền. Nói khác đi, phần cấu trúc phải bền bĩ với đạo thật (chớ không phải với thứ vật liệu chất lượng kém của sự khôn ngoan đời nầy). Sứ điệp cũng như phương pháp luận không được sử dụng để tách rời khỏi những gì của Phaolô cùng các sứ đồ thật đã lập nên:

“Hỡi anh em, ấy là vì cớ anh em, tôi đã dùng những lẽ thật nầy chỉ về chính mình tôi và A-bô-lô, hầu cho anh em học đòi hai chúng tôi, chớ vượt qua lời đã chép, và chớ sanh lòng kiêu ngạo, theo phe người nầy nghịch cùng kẻ khác” (I Côrinhtô 4:6, phần nhấn mạnh là của tôi).

Phaolô tiếp tục sử dụng hình ảnh nói tới Hội Thánh là đền thờ ở II Côrinhtô 6:

“Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta. Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy” (II Côrinhtô 6:14-18, phần nhấn mạnh là của tôi).

Là một Cơ đốc nhân không được miễn trừ khỏi những đau khổ trong cuộc sống (II Côrinhtô 4:16—5:10; cũng xem Rôma 8:18-25). Bởi đức tin nơi Đấng Christ, một người trở nên tạo vật mới trong Đấng Christ và nhơn đó phục hòa lại với Đức Chúa Trời và với tha nhân (II Côrinhtô 5:11-21). Sống đời sống Cơ đốc gồm có nghịch cảnh, sự khó nhọc, và sự bắt bớ, như kinh nghiệm của Phaolô cho thấy (II Côrinhtô 6:1-10). Tôi nghĩ đúng như thế vì những hoạn nạn của Phaolô mà có người đã lui khỏi Phaolô (II Côrinhtô 6:11-13), và đồng thời bước vào mối quan hệ với người nào khác thậm chí không phải là Cơ đốc nhân (II Côrinhtô 6:14-18). Phaolô xây trở lại với lối nói của Cựu Ước mô tả mối quan hệ của Đức Chúa Trời với các thánh đồ trong Cựu Ước. Nếu một Đức Chúa Trời thánh khiết còn ngự giữa vòng dân sự Ngài, họ phải tự biệt riêng ra khỏi những cách thực hành gớm ghiếc của các dân theo tà giáo kia. Những giả định mà Phaolô đưa ra trong phân đoạn nầy, ấy là Đức Chúa Trời quả thật đang ngự giữa vòng dân sự Ngài trong Hội Thánh. Và một khi Đức Chúa Trời ngự trong Hội Thánh, người nào ở trong Hội Thánh lại dám tạo ra sự gắn bó và những mối quan hệ không thể sánh với bổn tánh của Đức Chúa Trời.

Khi tôi nhìn vào Hội Thánh Côrinhtô, đấy chẳng phải là một cái nhìn đẹp đẽ đâu. Hội Thánh bị phân chia ra thành nhiều mảnh, các thánh đồ thì sống theo xác thịt, thiếu mất sự thông sáng thuộc linh sâu sắc. Hội Thánh nhóm lại không có kỷ cương, và dân sự dường như thích trình diễn cho người khác thấy hơn là bước vào sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Người ta khó mà thấy được Đức Chúa Trời đang ngự ở trong Hội Thánh nầy. Không chỉ Hội Thánh Côrinhtô là một ngoại lệ đâu mà một cái nhìn vào 7 Hội Thánh Á châu trong Khải huyền 2 và 3 cũng không biểu hiện một bức tranh đẹp về Hội Thánh. Làm sao Phaolô dám nói:

“nguyền Ngài được vinh hiển trong Hội thánh, và trong Đức Chúa Jêsus Christ, trải các thời đại, đời đời vô cùng. A-men” (Êphêsô 3:21, phần nhấn mạnh là của tôi).

Làm sao Đức Chúa Trời được vinh hiển trong một Hội Thánh bất toàn, đầy tì vít chứ? Phaolô nói cho chúng ta biết:

“Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa” (I Côrinhtô 1:26-31).

“Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo. Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (II Côrinhtô 12:7b-10).

Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong và qua Hội Thánh khi Đức Chúa Trời sử dụng hạng người yếu đuối và dại dột để hoàn thành mọi ý định thiêng liêng của Ngài. Điều nầy chẳng có gì mới:

“Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng. Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng? Vậy bây giờ, hãy đi; ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói” (Xuất Êdíptô ký  4:10-12).

“Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi như vầy: Trước khi tạo nên ngươi trong lòng mẹ, ta đã biết ngươi rồi; trước khi ngươi sanh ra, ta đã biệt riêng ngươi, lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước. Tôi thưa rằng: Ôi! hỡi Chúa Giê-hô-va, nầy tôi chẳng biết nói chi, vì tôi là con trẻ. Nhưng Đức Giê-hô-va lại phán: Chớ nói: Tôi là con trẻ; vì ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói. Đừng sợ vì cớ chúng nó; vì ta ở với ngươi đặng giải cứu ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đoạn, Đức Giê-hô-va giang tay rờ miệng tôi. Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng: Nầy, ta đã đặt những lời ta trong miệng ngươi” (Giêrêmi 1:4-9).

“Lúc đó, Đức Chúa Jêsus nói rằng: Hỡi Cha! là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay. Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành” (Mathiơ 11:25-26).

“Khi chúng thấy sự dạn dĩ của Phi-e-rơ và Giăng, biết rõ rằng ấy là người dốt nát không học, thì đều lấy làm lạ; lại nhận biết hai người từng ở với Đức Chúa Jêsus. Nhưng vì thấy người được chữa lành đứng bên hai người, nên chúng không có lời gì để bẻ bác được hết” (Công Vụ các Sứ Đồ 4:13-14).

Khi tôi đọc sách Công Vụ các Sứ Đồ, tôi không thấy một nhóm người nào là không tì vít, nhưng thay vì thế toàn là những kẻ có thể sai lầm. Ở chương 1, các vị sứ đồ và nhiều người khác đang nổ lực chỉ định vị sứ đồ thứ 12 như một sự thay thế cho Giuđa. Họ tìm cách làm theo Kinh Thánh, họ cầu nguyện, và họ dường như đến với một ý mà thôi. Nhưng đối với tôi, thì mặc dù Đức Chúa Trời chỉ định Phaolô làm sứ đồ thứ 12, chớ không phải Ma-thia. Ở chương 6, các vị sứ đồ tìm cách chỉnh sửa một vấn đề đã phát sinh từ sự chăm sóc cho các góa phụ. Họ đã chỉ định một nhóm người tin kính giám sát sự chăm sóc các góa phụ để họ, các sứ đồ, có thể dâng mình cho sự cầu nguyện và chức vụ giảng dạy Ngôi Lời (Công Vụ các Sứ Đồ 6:4). Nhưng đến cuối cùng, chính 2 trong 7 “chấp sự” họ là nhân vật chính cho công tác dạy đạo được chọn – Êtiên (Công Vụ các Sứ Đồ 6:8—8:3) và Philíp (Công Vụ các Sứ Đồ 8:4-40).

Các sứ đồ khó mà bỏ mọi việc để rồi lo dạy đạo cho dân Ngoại. Phải cần có một hành động đặc biệt nơi phần của Đức Chúa Trời để thuyết phục Phierơ để ông đi đến nhà của một người Ngoại (Công Vụ các Sứ Đồ 10:9-16). Khi ông đến nhà của Cọt-nây, một người Ngoại, và giảng đạo, những người Ngoại nầy được cứu một cách lạ lùng. Không những mấy người nầy đã được cứu, họ còn nhận lãnh Đức Thánh Linh nữa, giống như Phierơ và các bạn đồng sự người Do thái của ông đã nhận lãnh ở Công Vụ các Sứ Đồ 2 (10:17-48). Và nhiều người tại thành Jerusalem rất lo âu khi họ hay được Phierơ đã gắn bó với kẻ không chịu cắt bì (Công Vụ các Sứ Đồ 11:1-3). Câu chuyện của Phierơ nói tới phép báptêm bằng Đức Thánh Linh của họ dường như giải quyết mối lo âu đó:

“Ta mới khởi sự nói, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta. Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước; nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cũng một ơn như cho chúng ta, là kẻ đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, thì ta là ai, mà ngăn trở Đức Chúa Trời được? Tín đồ nghe bấy nhiêu lời xong, đều thỏa thuận và ngợi khen Đức Chúa Trời, rằng: Vậy Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho người ngoại để họ được sự sống!” (Công Vụ các Sứ Đồ 11:15-18).

Tuy nhiên, hãy nhìn vào câu kế tiếp xem:

“Những kẻ bị tản lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp Ê-tiên, bèn đi đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, chỉ giảng đạo cho người Giu-đa thôi” (Công Vụ các Sứ Đồ 11:19).

Ấy chẳng phải Hội Thánh tại thành Jerusalem xông cáo tìm cách giảng đạo cho dân Ngoại đâu; mà là một nhóm người vô danh khi họ trốn tránh bắt bớ trong thành Jerusalem:

“Nhưng trong đám những người ấy có một vài người quê ở Chíp-rơ và Sy-ren đến thành An-ti-ốt, cũng giảng dạy cho người Gờ-réc nữa, truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho họ. Tay Chúa ở cùng mấy người đó, nên số người tin và trở lại cùng Chúa rất nhiều. Tiếng đồn thấu tai Hội thánh Giê-ru-sa-lem, hội bèn sai Ba-na-ba sang đến thành An-ti-ốt” (Công Vụ các Sứ Đồ 11:20-22).

Hội Thánh tại thành Jerusalem đã sai Banaba đến Hội Thánh mới thành lập ở thành Antiốt, nhưng chính Phaolô (và nhiều người khác nữa) họ trở thành “sứ đồ cho dân Ngoại” (Galati 2:7-9).

Về sự Đức Chúa Trời ngự trong Hội Thánh Ngài có vinh hiển ra sao? Phaolô đưa ra lý do khác ở II Côrinhtô 3:

“Chúng tôi há lại bắt đầu tự phô mình, hay là như người khác cần có thơ gởi gắm cho anh em, hoặc nhờ thơ gởi gắm của anh em sao? Ấy chính anh em là thơ gởi gắm của chúng tôi, viết trong lòng chúng tôi, mọi người đều biết và đều đọc. Vả, rõ thật rằng anh em là bức thơ của Đấng Christ, bởi chức vụ chúng tôi viết ra, chẳng phải viết bằng mực, nhưng bằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống, chẳng phải viết trên bảng đá, nhưng trên bảng thịt, tức là trên lòng anh em. Nầy là sự tin chắc của chúng tôi nhờ Đấng Christ mà có trong Đức Chúa Trời: không phải tự mình chúng tôi có tài năng mà nghĩ việc gì như bởi chính mình chúng tôi, nhưng tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời; và ấy là Ngài đã ban tài năng cho chúng tôi giúp việc giao ước mới, chẳng phải giao ước về chữ, bèn là giao ước về Thánh Linh; vì chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống. Vả, nếu chức vụ về sự chết, chạm chữ trên bảng đá, đã là vinh hiển lắm đến nỗi con cái Y-sơ-ra-ên không có thể ngó trên mặt Môi-se, vì cớ sự sáng láng trên mặt người, dầu là tạm, phương chi chức vụ của Thánh Linh càng vinh hiển hơn biết bao! Vậy, nếu chức vụ về sự định tội còn được vinh hiển, thì chức vụ về sự công bình được vinh hiển hơn bội phần. Vả lại, cái điều được vinh hiển trong chức vụ thứ nhất biến đi bởi sự vinh hiển rất cao hơn của chức vụ thứ nhì; vì nếu sự phải qua đi còn có lúc vinh hiển thay, phương chi sự bền ở sẽ có vinh hiển dường nào nữa!” (II Côrinhtô 3:1-11).

Sứ điệp của Phaolô, như chúng ta đã lưu ý rồi, rất đơn sơ: Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá (xem I Côrinhtô 1:23). Phương pháp của Phaolô cũng rất là đơn sơ – một sự rao giảng rõ ràng về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, không có thêm thắt và lôi kéo của sự khôn ngoan đời nầy:

“Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ” (II Côrinhtô 2:17).

“Vậy nên, chúng tôi nhờ sự thương xót đã ban cho, mà được chức vụ nầy, thì chúng tôi chẳng ngã lòng; nhưng chúng tôi từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Đức Chúa Trời, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng” (II Côrinhtô 4:1-2).

Tôi dám chắc những sự quyến rũ của người thành Côrinhtô đã gây ấn tưởng cho người ta với lời lẽ “khai sáng” của họ, nhưng ấy chẳng phải là đạo Tin Lành mà họ rao giảng đâu. Có lẽ họ chú trọng vào Phaolô và cách rao giảng có tính cách đơn sơ của ông – “quê kệch quá!” “đơn sơ quá!” “chán ngắt quá!” Làm sao Phaolô có thể mong nhiều người trở lại đạo với loại rao giảng của ông chứ? Phaolô trả lời sự thách thức nầy ở II Côrinhtô 3.

Cứu người không phải là phần việc của Phaolô. Phaolô không cần biện hộ cho mình, không cần tìm kiếm tư vấn của con người để gây ấn tượng trên khán thính giả của mình (II Côrinhtô 3:1). Minh chứng cho chức vụ của Phaolô là bông trái mà Đức Chúa Trời đã tạo ra – bản thân các tín hữu thành Côrinhtô (II Côrinhtô 3:2-3). Phaolô sẵn sàng nhìn nhận sự bất toàn của mình, vì sự trọn vẹn của ông đến từ Đức Chúa Trời (II Côrinhtô 3:5). Phong cách và sắc thái của Phaolô chẳng có gì đặc biệt đối với những kẻ chỉ trích phê phán ông (và sự cạnh tranh), nhưng vị sứ đồ biện hộ chức vụ Giao Ước Mới và sứ điệp của mình còn vinh hiển hơn chức vụ của Giao Ước Cũ. Nếu luật pháp có sự vinh hiển, thì Tin Lành còn vinh hiển lớn lao hơn (II Côrinhtô 3:7-11).

Công tác của Chúa chúng ta trên thập tự giá ở đồi Gôgôtha đã tạo ra những gì mà luật pháp không bao giờ hoàn thành được – một sự cứu rỗi đạt được một lần đủ cả, cho mọi người nào tin. Phương thức tiếp cận với Đức Chúa Trời rất mới mẻ nầy qua huyết đổ ra của Con quí báu của Ngài cung ứng cho chúng ta lòng dạn dĩ tiếp cận Đức Chúa Trời theo một phương thức mà không một thánh đồ nào trong Cựu Ước có thể làm được:

“Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài, lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa. Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín. Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành; chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy” (Hêbơrơ 10:19-25).

Tuy nhiên, chúng ta không nên phóng túng quá về việc tiếp cận Đức Chúa Trời. Tác giả thơ Hêbơrơ lấy lẽ đạo của Aghê 2, áp dụng nó cho chúng ta theo một cách rất mềm mại:

“Anh em chẳng tới gần một hòn núi mà người ta có thể rờ đến được, cũng chẳng đến gần lửa hừng, hoặc tối tăm, hoặc âm ế, hoặc gió dữ, hoặc tiếng loa thổi vang, hoặc tiếng nói kinh khiếp đến nỗi ai nghe đều nài xin đừng nói với mình nữa; vì họ không chịu nổi lời phán nầy: Dẫu loài thú vật tới gần núi nầy cũng sẽ bị ném đá. Lại cảnh trạng đó rất kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: Ta thật sợ sệt và run rẩy cả người. Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại, gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành, gần Đức Chúa Jêsus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy. Anh em hãy giữ, chớ từ chối Đấng phán cùng mình; vì nếu những kẻ kia cự Đấng truyền lời báo cáo ở dưới đất, còn không tránh khỏi thay, huống chi chúng ta, nếu cự Đấng truyền lời báo cáo từ trên trời, thì càng không tránh khỏi được. Tiếng Đấng ấy bây giờ rúng động cả đất, hiện nay phán hứa rằng: Còn một lần nữa, ta sẽ chẳng những rúng động đất mà thôi, nhưng cũng rúng động trời nữa. Vả, trong những chữ: Còn một lần nữa, tỏ ra rằng các vật hay bị rúng động, vì là những vật đã chịu dựng nên, sẽ bị cất đi, hầu cho những vật không hề rúng động được còn lại. Như vậy, vì chúng ta có phần trong một nước không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài; vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt” (Hêbơrơ 12:18-29).

Chúng ta đã thấy rằng Đức Chúa Trời ngự trong Hội Thánh qua Thánh Linh Ngài (Êphêsô 2:19-22). Ngài làm vậy để đem lại sự vinh hiển cho chính minh Ngài (Êphêsô 3:8-12, 21). Ngài là một Đức Chúa Trời thánh khiết, và chúng ta không dám quên sự ấy (I Phierơ 1:16). Đền thờ của Đức Chúa Trời là một đền thờ thánh (2:21), và chúng ta cần phải trở thành chức tế lễ thánh khiết (1 Phierơ 2:5). Vì lẽ đó, chúng ta đừng mang ách với kẻ chẳng tin (II Côrinhtô 6:14-18). Chúng ta phải phục vụ Đức Chúa Trời với sự tôn trọng và kính sợ, vì Đức Chúa Trời là đám lửa hay thiêu đốt (Hêbơrơ 12:28-29).

“Phục vụ” trông như thế nào? Tôi tin điều nầy được tóm tắt lại, giữa vòng những chỗ khác, trong Hêbơrơ 13. Phục vụ sẽ được đánh dấu bằng tình yêu anh em (Hêbơrơ 13:1), sự mến khách đối với người lạ (13:2), chăm sóc các thánh đồ bị bắt bớ (13:3), thanh sạch về tình dục và trung thực trong hôn nhân (13:4), tự do không tham lam và cẩn thận về tiền bạc (13:5-6), tôn trọng các cấp lãnh đạo trong đời sống của bạn (13:7), chớ để mọi thứ đạo lạ dỗ dành (13:8-9), dạn dĩ liều mình đến với tha nhân (13:10-14), thường dâng của lễ ngợi khen (13:15),và có lòng từ thiện đối với những ai đang có cần (13:16). Một lần nữa, tác giả trở lại với các cấp lãnh đạo thuộc linh, trách nhiệm của họ là chăn bầy (13:17). Họ cần phải vâng theo các cấp lãnh đạo nầy trong một phương thức làm cho công tác của họ ra vui thích. Sau cùng, họ cần phải cầu thay cho tác giả và những ai đồng sự với người lo rao giảng Tin Lành (13:18-19).

Phần kết luận

Tuần nầy có người đến nói với tôi về một người bạn đang xem xét Tin Lành. Người nầy tin vào những sự kiện quan trọng nói tới Chúa Jêsus, nhưng sẽ không trở thành một Cơ đốc nhân vì người không muốn buộc mình phải đi nhà thờ cách đều đặn. Đúng là một nhận định bị vặn cong về Hội Thánh mà người nầy đang có! Đức Chúa Trời đã chọn ngự trong Hội Thánh của Ngài qua Thánh Linh Ngài. Đức Chúa Trời có ý định làm vinh hiển cho chính mình Ngài trong Hội Thánh,  không những trước mặt loài người thôi đâu, mà còn trước mặt hàng thiên sứ nữa (Êphêsô 3). Còn có sự phấn khích nào hơn khi được đặc ân trở thành một chi thể của Hội Thánh chứ?

Người bạn nầy rất giống với phần nhiều người trong chúng ta – người ấy quá thiên về với những gì Hội Thánh sẽ làm (hay không làm) cho người. Tôi nghĩ tới một người trong Hội Thánh Côrinhtô chẳng biết gì đến tầm quan trọng thuộc linh của Tiệc Thánh, và người nầy chỉ muốn chường mặt ra với đồ ăn và thức uống mà thôi (I Côrinhtô 11). Họ chỉ thích trình diễn trước mặt nhiều người khác hơn là lo gây dựng cho nhiều người khác (I Côrinhtô 14). Ở I Côrinhtô 10:1-13, Phaolô đã ôn lại những thất bại của dân Israel trong lịch sử, ông kết luận rằng họ bị chiếm hữu với tự mãn theo phần xác hơn là lo thờ phượng và hầu việc Đức Chúa Trời.

Ngược lại với lối suy nghĩ đó (một số người nầy ở giữa vòng các cấp lãnh đạo Hội Thánh), Hội Thánh không tồn tại để làm cho chúng ta được vui sướng hay làm cho chúng ta cảm thấy tốt đẹp đâu. Mục đích của Hội Thánh là làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời khi họ vâng theo các mạng lịnh của Ngài. Chúng ta không nên đi nhà thờ để Đức Chúa Trời sẽ phục vụ cho chúng ta, mà để chúng ta phục vụ Ngài. Mọi sự chúng ta làm trong vai trò Cơ đốc nhân phải được cai quản bởi nguyên tắc đề ra bởi Phaolô ở I Côrinhtô 10:31:

“Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm” (I Côrinhtô 10:31).

Không phải lấy làm lạ khi Phaolô nói tới sự phục vụ của chúng ta trong Hội Thánh bằng từ ngữ nói tới sự hy sinh (xem Rôma 12:1; Philíp 2:1-8; 4:18; Hêbơrơ 13:15-16). Đúng là một đặc ân khi trở thành chi thể của Hội Thánh và dự phần đem lại sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời của chúng ta!

Tags: ##From the Creation to the Cross#baigiangkinhthanh
Previous Post

Một Ngọn Đèn Trong Thời Buổi Tối Tăm | Sách Rutơ

Next Post

Sự Sa Ngã Của Con Người | Sáng thế ký 3:1—5:32

Admin

Admin

Next Post

Sự Sa Ngã Của Con Người | Sáng thế ký 3:1—5:32

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In