Từ sáng tạo đến thập tự giá
Văn chương khôn ngoan: Sách Châm ngôn
Mục sư Bob Deffinbaugh
Phần giới thiệu:
Cách đây gần 30 năm, tôi mới vừa hoàn tất năm thứ nhất thần học viện. Gia đình tôi và tôi trở về bang Washington để nghỉ hè. Chúng tôi không có chút ý tưởng nào về loại việc làm mà tôi phải tìm kiếm. Khi chúng tôi lái xe vào lối vào nhà bố mẹ tôi, họ đã nhận được một cuộc gọi từ ban giám hiệu nhà trường. Một giáo viên trưởng thành và dày dạn vốn có lòng quan tâm đến cấp lớp 4 của bà ấy. Họ cần một người lo vừa hoàn tất năm học, và hy vọng kiểm soát được lớp học. Họ đề nghị tôi đứng lớp ấy và tôi vui vẻ nhận lời.
Một tháng sau, khi năm học kết thúc, cấp lớp 4 đã được xử sự rất tốt một lần nữa. Vị hiệu trưởng gọi tôi vào văn phòng của ông rồi hỏi thăm tôi về kế hoạch làm việc trong phần còn lại của mùa hè. Ông nói cho tôi biết rằng nhà tù trong thị trấn của tôi đang có cần một vị giáo sư và đã hứa dành cho tôi một lời tiến cử rất xứng đáng. Và thế là tôi trở thành giáo viên trong nhà tù tiểu bang, ai nấy đều biết đấy là nhà tù “Shelton Hilton”. Có một chương trình trung học đầy đủ được dành cho nhà tù ấy, và vị hiệu trưởng của trường ấy là hiệu trưởng của tôi khi tôi còn ngồi ghế trung học. Nhiều vị thầy cô từng là giáo viên khi tôi còn là học sinh. Đây là một kinh nghiệm rất hay và rất thú vị.
Tôi đã dạy môn tâm lý học và lịch sử thế giới. Một trong các học trò của tôi trung thực đủ để cho tôi hay rằng ông ta dự tính sử dụng những điều đã tiếp thu được khi ông ta được tha ra khỏi nhà tù. Mọi điều ông ta cho tôi biết kế đó quả là một sự ngạc nhiên. Ông ta ám chỉ rằng khi ông ta được tha ra khỏi tù, ông ta sẽ trở lại với cuộc sống gian ác, song ông ta dự tính sẽ khôn khéo hơn lần nầy. Trong khi ở trong nhà tù đó, ông ta tìm kiếm mọi kinh nghiệm của tội ác và đã học được nhiều thủ thuật của họ. Sau đó, khi ông ta được tha ra, ông ta hoạch định trở thành nhà tư vấn của tội phạm. Ông ta sẽ tính lệ phí cho những hành vi tội phạm đặc biệt. Ông ta sẽ không tham gia trực tiếp vào tội phạm, nhưng chỉ tính huê hồng cho loại tội phạm nào thành công. Nếu khách hàng của ông ta bị bắt, thì đó là vấn đề của họ; sự dính dáng của ông ta gần như không thể chứng minh được.
Tôi nghĩ mình đã học được từ việc giảng dạy mùa hè đó nhiều hơn là các học trò tôi đã tiếp thu. Về một việc, tôi đã kinh nghiệm sự khác biệt giữa “kiến thức” và “khôn ngoan”. Kiến thức về tâm lý học và lịch sử thế giới, khi đem áp dụng với sự khôn ngoan, có thể minh chứng là rất có lợi. Thế nhưng chính tri thức ấy có thể được sử dụng trong một phương thức có cả hai mặt: hình sự và độc ác. Tôi lấy làm lạ không biết có bao nhiêu ngươi trong thể chế giáo dục của chúng ta đang được đào tạo để gây tổn hại lớn, cho bản thân họ và cho nhiều người khác.
Ngôn ngữ của sách Châm ngôn nói tới sự khôn ngoan:
1.- Châm ngôn của Salômôn con trai của David, vua Israel:
2.- Học biết sự khôn ngoan và điều khuyên dạy đạo đức, và để phân biệt mưu luận khôn ngoan.
3.- Để nhận lãnh điều khuyên dạy đạo đức trong cuộc sống sao cho thật khéo léo, trong sự công bình, công lý và công bằng.
4.- Để truyền đạt sự khôn ngoan cho kẻ chất phác về mặt đạo đức, và một kế hoạch biết phân biệt cho lớp người trẻ tuổi.
5.- (Hãy khiến kẻ khôn ngoan cũng biết lắng nghe và nhận lấy điều khuyên dạy, rồi để cho điều khuyên dạy dẫn dắt!)
6.- Để phân biệt ý nghĩa của một câu châm ngôn và một thí dụ, những câu nói của người khôn ngoan cùng mọi câu đố của họ.
7.- Kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu của tri thức về đạo đức; song kẻ dại xem khinh sự khôn ngoan và điều khuyên dạy (Châm ngôn 1:1-7).
Salômôn vốn cực kỳ khôn ngoan, và ông đã viết hầu hết những câu châm ngôn mà chúng ta thấy có trong sách Châm ngôn, với phần ngoại lệ ở các chương 30 và 31. Hãy nhớ rằng Salômôn đã viết nhiều câu châm ngôn hơn là chỉ có bấy nhiêu:
“Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người phương đông, và sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô. Người khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn Ê-than, người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Đạt-đa, là các con trai Ma-hôn; danh tiếng người đồn ra trong các dân tộc chung quanh. Người nói ba ngàn câu châm ngôn, và làm một ngàn năm, bài thơ” (I Các Vua 4:30-32).
Sách Châm ngôn đã được cô đọng lại, là những lời lẽ chọn lọc cẩn thận nói tới sự khôn ngoan. Trong Kinh thánh, châm ngôn được thấy có ở khắp nơi chớ không chỉ trong sách Châm ngôn thôi đâu. Tôi không làm chi khác hơn là mĩm cười khi tôi đọc câu châm ngôn mà Vua Aháp của Israel đã nói với Bên Hađát, Vua xứ Syri. Bên Hađát đã tập trung quân đội lại rồi bao vây thành Samari. Ông gửi lời đến Aháp, chuyển tải mọi đòi hỏi của mình, đe dọa tiêu diệt thành Samari nếu Aháp không khứng theo. Aháp đã gửi cho Bên Hađát đáp ứng như thế nầy:
“Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: Hãy nói với vua rằng: Người mặc áo giáp chớ khoe mình như người cổi nó ra” (I Các Vua 20:11).
Chúng ta sẽ nói: “Đừng đếm số gà con của người trước khi chúng nở ra”.
Châm ngôn có thể đã tồn tại trong từng nền văn hóa. Chúng ta có nhiều câu châm ngôn trong xã hội của chúng ta. Sau đây là một vài điển hình:
“trước tiên phải là những việc trước tiên”.
“chữa ngay đỡ gay sau nầy”.
“thôi đừng tiếc rẻ con gà quạ tha”.
“đừng dùng khăn tắm ném vào con trẻ”
“chậm biết thì tốt hơn là lo xa”
“Ai sống trong nhà kính thì đừng nên chơi ném đá”
“Đừng để hết các quả trứng trong một cái giỏ”
Châm ngôn là lời lẽ được tuyển chọn thật khéo léo để dán vào tâm trí chúng ta và buộc chúng ta phải suy nghĩ:
“Một người đàn bà đẹp đẽ mà thiếu dè dặt, khác nào một vòng vàng đeo nơi mũi heo” (Châm ngôn 11:22).
“Kẻ biếng nhác lăn trở trên giường mình, khác nào cửa xây trên bản lề nó” (Châm ngôn 26:14).
“Kẻ biếng nhác thò tay mình vào trong dĩa, lấy làm mệt nhọc mà đem nó lên miệng” (Châm ngôn 26:15).
“Có ba vật điệu đi tốt đẹp, và bốn vật nước bước xem sang trọng: Sư tử, mạnh hơn hết trong các loài vật, chẳng lui lại trước mặt loài nào cả; con ngựa hăng thắng tử tế, con dê đực, và vua không ai đối địch được” (Châm ngôn 30:29-31).
Châm ngôn không nhất thiết là những lời hứa, thay vì thế đó là sự suy rộng những gì là sự thực một cách phổ thông. Nói chung, người nào chịu khó làm việc và giàu có trong việc tự kỷ luật, trong khi những kẻ biếng nhác và tham ăn trở nên nghèo khó:
“Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; Khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan. Tuy nó không có hoặc quan tướng, hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn, thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt. Hỡi kẻ biếng nhác, ngươi sẽ nằm cho đến chừng nào? Bao giờ ngươi sẽ ngủ thức dậy? Ngủ một chút, chợp mắt một chút, khoanh tay nằm một chút, thì sự nghèo khổ của ngươi sẽ đến như kẻ đi rảo, và sự thiếu thốn của ngươi tới như người cầm binh khí” (Châm ngôn 6:6-11; cũng xem 13:18; 14:23; 20:13; 21:7, 17, 25; 23:21; 28:19).
“Kẻ làm việc tay biếng nhác trở nên nghèo hèn; còn tay kẻ siêng năng làm cho được giàu có” (Châm ngôn 10:4).
Có nhiều lý do khác nói tới sự nghèo khó, tuy nhiên, người nghèo không đủ sức để ngăn chặn:
“Chỗ người nghèo khai phá sanh nhiều lương thực; nhưng có kẻ bị tiêu mất tại vì thiếu sự công bình” (Châm ngôn 13:23).
Vì chịu khó làm việc không bảo đảm làm giàú, chúng ta thấy nhiều câu châm ngôn khuyến khích sự rời rộng và thương xót đối với người nghèo:
“Ai khinh bỉ kẻ lân cận mình phạm tội; còn ai thương xót người khốn khó lấy làm có phước thay” (Châm ngôn 14:21).
Vì lẽ đó, chúng ta tìm gặp một số câu châm ngôn cho thấy nghèo khó có thể là tốt hơn giàu có trong một số trường hợp:
“Thà người nghèo khổ ăn ở thanh liêm, còn hơn là kẻ có môi miệng gian tà và là một kẻ ngây dại” (Châm ngôn 19:1).
“Lòng nhân từ của người làm cho người ta yêu chuộng mình; và người nghèo khổ là hơn kẻ nói dối” (Châm ngôn 19:22).
“Thà người nghèo khổ ăn ở cách thanh liêm, còn hơn là kẻ giàu có theo đường tà vạy” (Châm ngôn 28:6).
Tất cả mấy câu nầy nói rằng chúng ta phải cẩn thận đừng đọc bất kỳ câu châm ngôn đặc biệt nào rồi tưởng câu ấy nói với sự bảo đảm vô điều kiện sẽ ứng nghiệm. Châm ngôn, giống như mọi câu Kinh thánh khác, phải được giải thích theo ánh sáng của các câu Kinh thánh khác.
Phần nhiều những câu châm ngôn xuất hiện như lời lẽ của một người cha, dạy dỗ con trai mình. Điều nầy dường như là trường hợp trong một số trường hợp, đặc biệt khi “con trai” cũng được thúc giục phải ấp ủ điều khuyên dạy của mẹ mình:
“Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con” (Châm ngôn 6:20; cũng xem 23:22, 25; 31:1).
Tuy nhiên, hầu hết các học giả dường như đồng ý rằng từ ngữ “con trai ta” đôi khi được sử dụng chung chung trong sách Châm ngôn. Người nói: “con trai ta” trong sách Châm ngôn dường như bao gồm cả hạng người khôn ngoan trong cộng đồng – những người lớn tuổi và khôn ngoan hơn trong cộng đồng và có một bàn tay trong việc khuyên dạy lớp người trẻ và kẻ chưa trưởng thành.
Trong Cựu Ước, cụm từ “cha tôi” được thấy có một số lần trong các tình huống người được gọi là “cha” không phải là cha ruột của người nói ra cụm từ ấy. Ở I Samuên 24:11, David nói với Saulơ là “cha” mình. Ở II Các Vua 2, chúng ta đọc câu chuyện nói tới việc Êli về trời. Khi Êli biến mất trên các từng trời, Êlisê la lên: “Cha tôi ôi! cha tôi ôi! là xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên!” (II Các Vua 2:12). Khi Êlisê sắp qua đời, vua của Israel sử dụng cùng cụm từ ấy “cha tôi” (II Các Vua 13:14). Các tôi tớ của Naaman nói với chủ của mình, họ gọi ông là “cha” (II Các Vua 5:13). Vua của Israel cũng nói với Êlisê là “cha” của ông (II Các Vua 6:21). Tôi nghĩ lời lẽ của chính Chúa chúng ta cho thấy một sự hiểu biết tương tự của lối nói “cha-con”:
“Họ (các thầy thông giáo và người dòng Pharisi) ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội; muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy! Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời. Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ. Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi. Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên” (Mathiơ 23:6-12, phần nhấn mạnh là của tôi).
Châm ngôn nhất định là một quyển sách dành cho bậc làm cha mẹ sử dụng trong sự dạy dỗ con cái của họ. Sách ấy cũng hướng dẫn cho bậc phụ huynh nghĩ đến các trách nhiệm làm cha mẹ của họ. Nhiều bậc phụ huynh Cơ đốc vốn kỷ lưỡng ấp ủ những sự dạy dỗ của sách Châm ngôn trong việc dạy dỗ và kỷ luật con cái, đặc biệt trong một nền văn hóa có khuynh hướng coi bất kỳ một sự đánh đòn hay kỷ luật là lạm dụng trẻ em. Nhưng bậc phụ huynh cũng nên ấp ủ bài học mà hạng người khôn ngoan trong cộng đồng Cơ đốc có một vai trò quan trọng phải đóng trong việc dạy dỗ con em của họ.
Các đây nhiều năm, khi tôi còn là sinh viên trong thần học viện, một vị giáo sư đã trao cho một danh sách những khả năng và tài khéo cần phải có cho một vị Mục sư. Khi tôi nhìn vào danh sách ấy, tôi đến gặp vị giáo sư đó: “Thưa Giáo sư, thực ra ông đã trao cho chúng em một bản danh sách tất cả các ân tứ thuộc linh đã được nhắc tới trong Kinh thánh. Ông có nghĩ rằng ai trong chúng em đang sở hữu tất cả những ân tứ nầy không?” Một số mục sư hành động giống như thể họ có hết các ân tứ thuộc linh, thế nhưng ai nấy đều nhận ra việc ấy. Đức Chúa Trời đã phân phát các ân tứ thuộc linh giữa vòng các thuộc viên trong Hội thánh để chúng ta phải phụ thuộc lẫn nhau trong vai trò các tín đồ:
“Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy. Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa. Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể. Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân. Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân. Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu? Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định. Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu? Vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân. Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay. Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng. Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn, còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn, hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau. Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng. Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy” (I Côrinhtô 12:12-27).
Bậc phụ huynh có một vai trò chính yếu trong việc nuôi dạy con cái của mình, còn Đức Chúa Trời đã ban bố các ân tứ cho toàn thân thể của Đấng Christ để chúng ta sẽ phụ thuộc lẫn nhau. Là bậc cha mẹ, chúng ta cần đến sự trợ giúp của các Cơ đốc nhân khác trong việc nuôi dạy con cái của chúng ta: nhân sự cho thanh niên, các giáo viên Lớp Trường Chúa Nhật, AWANA, Kinh thánh Hè, các kỳ trại Cơ đốc, hướng đạo, và còn nhiều nữa. Tôi không thể nói cho bạn biết bao nhiêu tín hữu khác đã góp phần vào việc nuôi dạy con cái của chúng ta.
Khi chúng ta đến với sách Châm ngôn, chúng ta nên in trong trí rằng phương pháp được sử dụng trong sách Châm ngôn thì rất giống với phương pháp giảng dạy mà Chúa chúng ta đang sử dụng.
“Đức Chúa Jêsus lấy lời ví dụ mà phán những điều đó cùng đoàn dân, Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng lời ví dụ” (Mathiơ 13:34).
“Để hiểu biết châm ngôn, thí dụ, và lời của người khôn ngoan, cùng câu đố nhiệm của họ” (Châm ngôn 1:6, phần nhấn mạnh là của tôi).
Sự diễn dịch từ ngữ Hylạp về từ “châm ngôn” trên đây là một sự chuyển ngữ của từ Hylạp nói tới thí dụ. Một vài lần bản Kinh thánh 70 chọn dùng từ Hybálai nói tới “châm ngôn” bằng từ Hylạp nói tới “thí dụ”. Châm ngôn thì giống như các thí dụ trong đó chúng kích thích người ta phải suy nghĩ, và chúng tạo nên nhiều hình ảnh rất nhanh trong trí về lẽ thật.
Hai phương thức, Hai người đàn bà
Tại thời điểm bắt đầu sách Châm ngôn, độc giả bị thách thức phải lựa chọn một trong hai “phương thức”. Trong khi sự khôn ngoan có nhiều chiều kích khác nhau, theo phân tích sau cùng, khôn ngoan là một vấn đề thuộc linh. Đây là “phương thức” mà một người chọn lựa, dẫn tới sự sống.
Phương thức ấy bắt đầu với sự kính sợ Chúa (1:7), rồi nó kết thúc với sự sống đời đời:
“Nhưng con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa” (Châm ngôn 4:18).
“Nó là cây sự sống cho ai nắm lấy nó; người nào cầm giữ nó đều được phước hạnh” (Châm ngôn 3:18).
“Phương thức” duy nhứt kia là phương thức dại dột dẫn tới sự chết:
“Người nào vững lòng ở công bình được đến sự sống; còn kẻ săn theo ác gây sự chết cho mình” (Châm ngôn 11:19).
Châm ngôn 1 có cả hai: một lời cảnh cáo và một lời khuyên dạy. Bảy câu đầu tiên giới thiệu toàn bộ sách Châm ngôn, mô tả những lợi ích của sự khôn ngoan, là điều mà sách Châm ngôn hiến cho tất cả những ai chịu tiếp nhận nó. Phương thức khôn ngoan là một sự lựa chọn cần phải được thực hiện, và phương thức kia chỉ là con đường dẫn tới sự chết. Điểm khởi sự cho con đường khôn ngoan là “kính sợ Đức Giêhôva”, còn kẻ dại xem khinh sự khôn ngoan và lời khuyên dạy (1:7). Người cha khôn ngoan dạy dỗ con trai mình rằng con đường của kẻ dại được kích thích bởi những bạn bè xấu:
“Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, chớ bỏ phép tắc của mẹ con; vì ấy sẽ như một dây hoa trên đầu con, giống như những vòng đeo quanh cổ của con. Hỡi con, nếu kẻ tội nhân kiếm thế quyến dụ con, chớ khứng theo. Nếu chúng nó nói: “Hãy đến cùng chúng ta, phục rình làm đổ huyết người, núp đợi hại vô cớ kẻ chẳng tội; chúng ta sẽ nuốt sống chúng nó như âm phủ, và còn nguyên vẹn như kẻ xuống mồ mả; chúng ta sẽ được các thứ của báu, chất đầy nhà chúng ta những của cướp; hãy lấy phần ngươi với chúng ta, chúng ta cả thảy sẽ có một túi bạc mà thôi.” Hỡi con, đừng đi đường cùng chúng nó; hãy cấm giữ chân con, chớ vào lối của họ; vì chân chúng nó chạy đến sự ác, lật đật làm đổ huyết ra. Vì giăng lưới ra trước mặt các loài có cánh lấy làm luống công thay; chính những người ấy thật phục mưu làm đổ huyết mình ra, và núp rình hại mạng sống mình. Đó là đường của những kẻ tham lợi bất nghĩa; lợi như thể đoạt lấy mạng sống của kẻ được nó” (Châm ngôn 1:8-19).
Lời lẽ của chương 1 sách Châm ngôn rất thực cho cuộc sống. Chúng mô tả mọi sự lựa chọn quá tốt lành mà người ta phải nắm bắt về con đường sai lạc. Sự lựa chọn nắm lấy con đường sai lạc được đưa ra trong thời son trẻ của một người. Một người trẻ tuổi phải quyết định tin cậy cha mẹ mình và làm theo lời khuyên dạy của họ, rồi kỷ luật hoặc đi theo mưu luận dại dột của bạn bè xấu dại dột. Việc lựa chọn những kẻ ngang hàng của một người thường đồng nghĩa với việc chọn lựa đường lối sống của một người. Hãy chú ý vào lời đề nghị rất quyến rũ và khiêu gợi của loại bạn bè chết người nầy.
Thứ nhứt, họ hứa sự chấp nhận và sự đồng nhất với cả nhóm. Không một điều gì dường quan trọng với một người trẻ tuổi khi được tiếp nhận bởi một nhóm đồng trang lứa với họ. Người nào dẫn người trẻ tuổi nầy vào chỗ lạc sai hiến cho anh ta mọi điều anh ta mong muốn – sự chấp nhận và ý thức về sự đồng nhất.
Thứ hai, họ hứa lợi ích về mặt vật chất, không phải có được do chịu khó làm việc mà do tội ác và bạo lực. Tôi nhớ rất rõ về một anh thanh niên kia mà tôi đã thăm viếng trong một số tuần lễ khi anh ta bị tống giam vào nhà tù thành phố Dallas. Anh ta nói cho tôi biết rằng anh ta biết rõ mình sẽ có một việc làm khi anh ta được tha ra khỏi tù, nhưng tội ác ấy sẽ khiến cho anh ta tốn nhiều tiền bạc trong một ít thời gian, và với rất ít nổ lực! Loại bạn bè nầy hiến cho “cuộc sống đàng hoàng” qua tội ác và bạo lực.
Thứ ba, họ hứa sự phấn khích và rung động đến từ việc có ý thức về quyền lực. Giờ đây, cũng như khi ấy, lớp người trẻ chán với mọi thói quen của cuộc sống và mong muốn hứng thú hơn. Loại bạn bè xấu nầy hiến cho sự hứng thú thật phong phú, song chính sự hứng thú và ý thức về quyền lực đến từ việc hội hiệp với những kẻ nào sống gian ác, và bởi việc phạm vào những tội ác bạo lực chống lại những người nào dễ bị tấn công và bất lực.
Có một vài vấn đề với đề nghị mà loại bạn bè xấu kia đưa ra. “Lợi ích” mà họ hứa hẹn không phải là lợi ích lương thiện, thay vì thế đó là ích lợi bằng tổn phí của người khác. Đó là “lợi ích” đạt được thông qua tội phạm. Hơn nữa, mọi “lợi ích” nầy thực sự lại là mất mát. Loại lợi ích nầy có được bằng tổn phí của nạn nhân và kẻ quê mùa. Theo phân tích sau cùng, người nào bước theo con đường dại dột phải đối diện với hậu quả chết chóc và sự hủy diệt. Tội ác có lẽ phải trả trong đời nầy, song nó không trả được trong cõi đời đời. Đừng để ai dối gạt mình – tiền công của tội lỗi là sự chết.
Khi tôi dạy sách Châm ngôn cách đây 20 năm hoặc lâu hơn, tôi thấy phần mô tả loại bạn bè xấu gần như quá nhiều không thể tin được. Ai từng quyến rũ người khác tham gia vào nhóm của họ bằng cách hứa hẹn bạo lực và sự hồi hộp của việc gây cho người khác đau khổ chứ? Câu trả lời giờ đây rất rõ ràng, chỉ một vài năm sau – các băng nhóm. Có phải Châm ngôn 1:8-19 không mô tả cuộc sống băng nhóm ngày nay? Con đường dại dột dẫn tới sự chết, và nó bắt đầu bằng cách chối bỏ sự khôn ngoan của cha mẹ khuyên dạy về sự cám dỗ đặc biệt của loại bạn bè xấu.
Người nào chọn con đường dại dột, sở dĩ họ chọn như thế là vì họ đã chối bỏ lời đề nghị của sự khôn ngoan:
“Sự khôn ngoan hô lên ngoài đường, cất tiếng dội ra nơi phố chợ; khôn ngoan kêu la ở đầu đường dộn dực ồn ào; tại cửa thành, và nội trong thành người phán lời mình ra, mà rằng: Hỡi kẻ ngu dốt, các ngươi sẽ mến sự ngu dại cho đến bao giờ? Kẻ nhạo báng sẽ ưa sự nhạo báng, và kẻ dại dột sẽ ghét sự tri thức cho đến chừng nào? Nhân vì ta trách các ngươi, các ngươi khá trở lại; Kìa, ta sẽ đổ thần linh ta trên các ngươi; Ta sẽ làm cho các ngươi biết những lời của ta. Bởi vì ta kêu gọi, mà các ngươi không khứng nghe, Ta giơ tay ta ra, lại chẳng có ai chủ ý; Nhưng các ngươi đã bỏ hết lời khuyên dạy ta, không chịu lời quở trách ta; Nên trong lúc các ngươi bị tai nạn, ta cũng sẽ chê cười, Khi sự sợ hãi giáng cho các ngươi, ắt ta sẽ nhạo báng; Khi sự sợ hãi các ngươi xảy đến thình lình như gió bão, tai nạn xông vào các ngươi như cơn trốt, và sự ngặt nghèo, khốn cực giáng trên các ngươi. Bấy giờ chúng nó sẽ kêu cầu cùng ta, nhưng ta sẽ không đáp lời; Sáng sớm chúng nó sẽ tìm ta, nhưng không gặp được. Ấy bởi vì chúng nó ghét sự hiểu biết, không chọn lấy sự kính sợ Đức Giê-hô-va, Cũng không muốn theo sự khuyên dạy ta, và chê bai các lời quở trách ta; Vì vậy chúng nó sẽ ăn bông trái của đường lối mình, và được no nê mưu chước của riêng mình. Vì sự bội nghịch của kẻ ngu dốt sẽ giết chúng nó, và sự yên ổn của kẻ dại dột sẽ làm hại cho chúng nó. Nhưng ai khứng nghe ta ắt sẽ ở an nhiên vô sự, được bình tịnh, không sợ tai họa nào” (Châm ngôn 1:20-33).
Ở đây, giống như ở chỗ khác trong sách Châm ngôn, sự khôn ngoan được nhân cách hóa bằng một người nữ kêu la cách công khai, mời mọc kẻ khờ khạo hãy đến rồi học sự khôn ngoan từ nơi nàng. Nàng được đối chiếu với “Madam Dại Dột”, là người được phác họa là một người nữ gian ác, tà dâm chuyên tìm cách quyến dụ những ai cả tin.
“Lại sự khôn ngoan sẽ cứu con khỏi dâm phụ, là người đàn bà lạ nói lời dua nịnh; Nàng lìa bỏ bạn của buổi đang thì, và quên sự giao ước của Đức Chúa Trời mình; vì nhà nó xiêu qua sự chết, và con đường nó dẫn đến chốn kẻ thác; chẳng ai đi đến nàng mà trở về, Hoặc được tới các lối sự sống; sự khôn ngoan sẽ khiến con đi trong đường người thiện, và gìn giữ các lối của kẻ công bình. Vì người ngay thẳng sẽ được ở trên đất, và người trọn vẹn sẽ còn ở đó luôn luôn. Nhưng kẻ gian ác sẽ bị truất khỏi đất, và kẻ bất trung sẽ bị nhổ rứt khỏi đó” (Châm ngôn 2:16-22).
Người nữ chuyên quyến dụ không thực sự quan tâm đến nạn nhân của nàng ta. Người ấy chỉ là một tấm phiếu cho xuất ăn của nàng ta mà thôi:
“Vì tại kỵ nữ có người nông nổi chỉ còn một miếng bánh mà thôi; người dâm phụ vẫn lừa sẵn linh hồn quí báu” (Châm ngôn 6:26).
“Tánh nết người kỵ nữ cũng vậy: Nàng ăn, rồi nàng lau miệng, và nói rằng: Tôi có phạm tội ác đâu” (Châm ngôn 30:20).
Trong khi người nữ tà dâm không tìm cách lôi cuốn những ham muốn dục vọng của nạn nhân mình (xem 7:10, 16-18), thứ vũ khí chính của nàng ta là tâng bốc. Nàng nói cho chàng trai ngờ nghệch kia biết mọi điều mà chàng ta muốn nghe. Nàng ta mời gọi bản ngã của chàng ta:
“Lại sự khôn ngoan sẽ cứu con khỏi dâm phụ, là người đàn bà lạ nói lời dua nịnh” (Châm ngôn 2:16).
“Để nó gìn giữ con khỏi dâm phụ khỏi đàn bà ngoại hay nói lời dua nịnh” (Châm ngôn 7:5).
“Nàng dùng lắm lời êm dịu quyến dụ hắn, làm hắn sa ngã vì lời dua nịnh của môi miệng mình” (Châm ngôn 7:21).
Người ta khó mà cho rằng lời nài mời của “madame Khôn Ngoan” là tâng bốc:
“Sự khôn ngoan đã xây dựng nhà mình; tạc thành bảy cây trụ của người; giết các con thú mình, pha rượu nho mình, và dọn bàn tiệc mình rồi. Người đã sai các tớ gái mình đi; ở trên các nơi cao của thành người la rằng: ai ngu dốt, hãy rút vào đấy; với kẻ thiếu trí hiểu, sự khôn ngoan nói rằng: hãy đến ăn bánh của ta, và uống rượu ta đã pha lộn. Khá bỏ sự ngây dại đi, thì sẽ được sống; hãy đi theo con đường thông sáng” (Châm ngôn 9:1-6).
Trong chỗ rộng rãi nhất của từ ngữ, chúng ta có thể nhìn thấy rằng sách Châm ngôn tóm tắt mọi sự trong cuộc sống bằng cụm từ hai phương thức, hai “con đường” – “con đường khôn ngoan” dẫn tới sự sống, và “con đường dại dột” dẫn tới sự chết. Mỗi một người chúng ta đang bước đi trên con đường nầy hay trên con đường kia. Mỗi một người chúng ta đưa ra các quyết định về ai mà chúng ta sẽ tin theo, về thẩm quyền của ai mà chúng ta phải tôn trọng và những lời khuyên dạy của ai mà chúng ta sẽ tuân theo. Mỗi một người chúng ta đang bước đi trên một con đường, và phương thức duy nhứt chúng ta có thể nhìn biết hậu quả là vì Đức Chúa Trời đã nói cho chúng ta biết chỗ mà mỗi con đường đang dẫn tới. Thắc mắc quan trọng nhất mà chúng ta từng phải trả lời là: “Tôi đang ở trên con đường nào?”
Tân Ước có câu trả lời cụ thể hơn. Trong Châm ngôn, con đường sự sống là con đường của sự khôn ngoan. Khôn ngoan được nhân cách hóa trong Châm ngôn 8, và không khó cho Cơ đốc nhân Tân Ước nhìn thấy điều nầy phải được làm cho ứng nghiệm bởi Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta. Trong Tân Ước, Chúa Jêsus đã nói rõ ràng về “con đường” mà chúng ta phải bước đi để nhận được sự sống đời đời:
“Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó. Các ngươi biết ta đi đâu, và biết đường đi nữa. Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được? Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:1-6, phần nhấn mạnh là của tôi).
Chúa Jêsus là sự khôn ngoan hóa thân thành nhục thể:
“Người Giu-đa bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy người sẽ tự tử sao? Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy. Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi. Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu. Ta có nhiều sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian. Chúng không hiểu rằng Ngài phán về Cha. Vậy Đức Chúa Jêsus phán rằng: Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta. Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài. Bởi Đức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài. Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta” (Châm ngôn 8:22-31).
“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người” (Giăng 1:1-4).
“Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài” (Côlôse 1:15-17).
“Người khôn ngoan ở đâu? Thầy thông giáo ở đâu? Người biện luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra dồ dại không? Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy. Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ dại; song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Bởi vì sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta. Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta” (I Côrinhtô 1:20-30).
“hầu cho lòng những kẻ ấy được yên ủi, và lấy sự yêu thương mà liên hiệp, đặng có nhiều sự thông biết đầy dẫy chắc chắn, đến nỗi có thể hiểu sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, tức là Đấng Christ, mà trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng” (Côlôse 2:2-3).
Đặc điểm: Nhìn vào những người đang bước đi trên hai con đường
Có rất nhiều sách vỡ nằm trên kệ của các hiệu sách cần phải xử lý với nhiều loại nhân cách; một số trong các sách vỡ ấy nhắm tới cộng động Cơ đốc. Tôi nghe nhiều Cơ đốc nhân nói với người khác rằng họ họ rất lạc quan hay rất dửng dưng, mặc dù điều nầy thực sự xác định họ. Vì vậy, tôi dám nói, loại hồ sơ tâm lý đã khởi sự với người xưa. Tôi chưa hề tìm thấy một câu nào trong Kinh thánh nói tới phạm trù nầy. Tôi cho rằng họ chẳng có gì thực sự quan trọng.
Kinh thánh – và đặc biệt là sách Châm ngôn – không nói về một bộ “hồ sơ” khác. Đây là loại hồ sơ nói tới đặc điểm của một người, chớ không phải nhân cách của một người. Có 5 loại đặc điểm cơ bản, tôi sẽ xác định vắn tắt trong sứ điệp nầy.
Tính đơn sơ của kẻ ngu dốt. Đặc điểm nầy có quan hệ nhiều đến tuổi tác và kinh nghiệm. Kẻ ngu dốt là những người nào chưa kinh nghiệm nhiều về cuộc sống. Người đơn sơ hay ngu dốt đều cả tin. Họ có khuynh hướng tin bất cứ điều gì mà người nói với họ:
“Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời; nhưng người khôn khéo xem xét các bước mình” (Châm ngôn 14:15).
Kẻ ngu dốt không nhìn xa; họ không xem xét các hậu quả của mọi hành vi của họ:
“Người khôn ngoan thấy điều tai vạ, và ẩn mình; Nhưng kẻ ngu muội cứ đi luôn, và mắc phải vạ” (Châm ngôn 22:3; cũng xem 27:12).
Có sự khác biệt nhiều giữa kẻ ngu dốt và người ngây thơ. Người ngây thơ có một lượng nhất định về sự dại dột và sự tội:
“Mà rằng: Hỡi kẻ ngu dốt, các ngươi sẽ mến sự ngu dại cho đến bao giờ? Kẻ nhạo báng sẽ ưa sự nhạo báng, và kẻ dại dột sẽ ghét sự tri thức cho đến chừng nào? Vì sự bội nghịch của kẻ ngu dốt sẽ giết chúng nó, và sự yên ổn của kẻ dại dột sẽ làm hại cho chúng nó” (Châm ngôn 1:22, 32).
“Kẻ ngu muội được sự điên dại làm cơ nghiệp; song người khôn ngoan được đội mão triều thiên bằng tri thức” (Châm ngôn 14:18).
Tuy nhiên, người ngu dốt có thể học tập. Đôi khi họ học biết từ chỗ quan sát sự ngu dại của kẻ khác cùng mọi hậu quả của nó:
“Hãy đánh kẻ nhạo báng, thì người ngu dại sẽ trở nên khôn khéo; khá sửa dạy người thông sáng, ắt người sẽ hiểu điều tri thức” (Châm ngôn 19:25).
Vì lẽ đó, sự khôn ngoan tìm cách khuyên dạy người ngu dốt, để cho được khôn ngoan:
“Hỡi kẻ ngu muội, hãy hiểu sự khôn khéo; hỡi kẻ dại dột, lòng ngươi khá nên thông sáng” (Châm ngôn 8:5)
“Ai ngu dốt, hãy rút vào đấy; với kẻ thiếu trí hiểu, sự khôn ngoan nói rằng”.
“Ai ngu dốt hãy rút vào đây; và nàng nói với kẻ thiếu trí hiểu rằng” (Châm ngôn 9:4, 16).
Kẻ ngu dốt. Kẻ ngu dốt già dặn đủ để học biết nhiều hơn. Kẻ ngu dốt là gã đần vốn chưa học biết con đường của sự khôn ngoan, nhưng đã đạt tới chỗ cự tuyệt nó. Kẻ ngu dốt càng dấn thân năng động vào sự dại dột. Chúng ta nên bắt đầu bằng cách nói rằng không nên tiếp thu sự dại dột.
Con người ra đời với xu hướng nhắm tới sự dại dột:
“Sự ngu dại vốn buộc vào lòng con trẻ; song roi răn phạt sẽ làm cho sự ấy lìa xa nó” (Châm ngôn 22:15).
Tôi có cảm giác rằng nhiều bậc phụ huynh cần phải dán câu châm ngôn nầy trên cửa tủ lạnh của họ. Ấy chẳng phải là điều mà Mục sư Spock đã nói với chúng ta sao:
Nếu nguồn của sự khôn ngoan là khiêm nhường và kính sợ Đức Giêhôva, sự dại dột bắt nguồn từ sự thù nghịch sâu xa đối với Đức Chúa Trời và những ai đang có thẩm quyền. Kẻ ngu dại lấy làm vui trong điều ác và trong sự khoe khoang mọi điên rồ của hắn:
“Sự ngu dại của người nào làm cho hư hỏng đường lối mình, và lòng người oán Đức Giê-hô-va” (Châm ngôn 19:3).
“Người có lòng khôn ngoan, nhận tiếp những điều răn; nhưng kẻ có miệng ngu muội phải bị sa ngã” (Châm ngôn 10:8).
“Kẻ thiếu trí hiểu coi sự làm ác như chơi; nhưng người thông sáng thích sự khôn ngoan” (Châm ngôn 10:23).
“Phàm người khôn khéo làm việc cứ theo sự hiểu biết; nhưng kẻ ngu muội bày tỏ ra sự điên dại mình” (Châm ngôn 13:16).
Kẻ ngu dại rất kiêu ngạo (14:16; 30:32). Hắn biết nhiều hơn mọi người khác. Hắn không học từ người khác, hoặc thậm chí từ mọi lỗi lầm của chính mình:
“Người khôn ngoan sợ và tránh khỏi điều ác; song kẻ ngu muội ở xấc xược, và có lòng cậy mình” (Châm ngôn 14:16).
“Nếu ngươi có làm ngu dại mà tự cao kiêu ngạo, và nếu ngươi có ác tưởng, hãy đặt tay che miệng mình” (Châm ngôn 30:32)
“Đường lối của kẻ ngu muội vốn ngay thẳng theo mắt nó; còn người khôn ngoan nghe lời khuyên dạy” (Châm ngôn 12:15).
“Kẻ nào tin cậy nơi lòng mình là kẻ ngu muội; còn ai ăn ở cáh khôn ngoan sẽ được cứu rỗi” (Châm ngôn 28:26).
Kẻ ngu dại bị lời nói mình bắt lấy.
“Khi nín lặng, dầu người ngu dại, cũng được cầm bằng khôn ngoan; còn kẻ nào ngậm môi miệng mình lại được kể là thông sáng” (Châm ngôn 17:28).
“Kẻ ngu muội không ưa thích sự thông sáng; nhưng chỉ muốn lòng nó ược bày tỏ ra” (Châm ngôn 18:2).
“Thà người nghèo khổ ăn ở thanh liêm, còn hơn là kẻ có môi miệng gian tà và là một kẻ ngây dại” (Châm ngôn 19:1).
Kẻ ngu dại không giữ được tánh khí mình (14:17; 29:11) và hay tranh cạnh (20:3). Kẻ ngu dại đào hào sâu trong tội lỗi mình và sẽ không thay đổi (15:5; 17:10, 12; 23:9; 26:11; 27:22). Khi phải đối mặt, kẻ ngu dại sẽ phản ứng thay vì ăn năn. Vì thế, đối mặt với một kẻ ngu dại là vô ích và có khi rất đau đớn (29:9). Kẻ ngu dại vốn phung phí và tự mãn (21:20). Kẻ ngu dại chẳng có ích chi cho người khác (10:1; 12:1, 7; 14:1, 7; 17:21, 25; 19:13; 26:6, 10).
Kẻ biếng nhác. Biếng nhác là một đặc điểm rất hay. Chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm phân biệt đối với kẻ biếng nhác.
Biếng nhác là lười biếng và chần chừ. Nếu hắn không làm việc được, hắn hy vọng sống nhờ vào công lao động của người khác:
“Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; Khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan. Tuy nó không có hoặc quan tướng, hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn, thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt. Hỡi kẻ biếng nhác, ngươi sẽ nằm cho đến chừng nào? Bao giờ ngươi sẽ ngủ thức dậy? Ngủ một chút, chợp mắt một chút, khoanh tay nằm một chút, thì sự nghèo khổ của ngươi sẽ đến như kẻ đi rảo, và sự thiếu thốn của ngươi tới như người cầm binh khí” (Châm ngôn 6:6-11).
“Vì có mùa đông kẻ biếng nhác chẳng cày ruộng; qua mùa gặt nó sẽ xin ăn, nhưng chẳng được gì hết” (Châm ngôn 20:4).
“Ta có đi ngang qua gần ruộng kẻ biếng nhác, và gần vườn nho của kẻ ngu muội, thấy cây tật lê mọc khắp cùng, gai góc che khuất mặt đất, và tường đá của nó đã phá hư rồi Ta nhìn xem, bèn để ý vào đó; Ta thấy và nhận được sự dạy dỗ. Ngủ một chút, chợp mắt một chút, khoanh tay ngủ một chút, thì sự nghèo của con sẽ đến như một kẻ đi rạo, và sự thiếu thốn của con áp tới như một kẻ cầm binh khí” (Châm ngôn 24:30-34).
Kẻ biếng nhác không những chậm khởi động, mà còn không thích đi cho tới nơi tới chốn:
“Kẻ biếng nhác thò tay mình vào trong dĩa, lấy làm mệt nhọc mà đem nó lên miệng” (Châm ngôn 26:15).
Kẻ biếng nhác là bậc thầy của sự hợp lý hóa:
“Kẻ biếng nhác nói: Có con sư tử ở ngoài đó; Tôi sẽ bị giết tại giữa đường” (Châm ngôn 22:13; cũng xem 26:13)
Kẻ biếng nhác bước đi trên con đường ít trở ngại, luôn luôn tìm con đường thoát dễ dàng, tỉ như “làm giàu nhanh” sẽ giúp cho hắn sống mà không phải lao động:
“Kẻ nào cày ruộng mình sẽ ăn bánh no nê; còn ai theo kẻ biếng nhác sẽ được đầy sự nghèo khổ”
“Người nào có mắt tham, vội ham kiếm của cải, chẳng biết rằng sự thiếu thốn sẽ lâm vào mình nó” (Châm ngôn 28:19, 22).
Kẻ biếng nhác là dại dột, dù hắn nghĩ mình là khôn ngoan:
“Kẻ biếng nhác tự nghĩ mình khôn ngoan hơn bảy người đáp lại cách có lý” (Châm ngôn 26:16).
Tôi đã dạy về kẻ biếng nhác cách đây một số năm, tôi rất buồn vì một số người đã vặn cong lời lẽ của tôi. Tôi tự hỏi: “Ai chứ?”, “Ai dám vặn cong lời lẽ của tôi để nói ra điều mà tôi không có nói?” “Ai sẽ cổ vũ tôi khi tôi giảng dạy bài học nầy, khi họ đáng phải bị quở trách vì dám làm như vậy?” Câu trả lời thoạt đến với lý trí tôi là “tham công tiếc việc”. Kẻ tham công tiếc việc sẽ thích nghe tôi giảng về kẻ biếng nhác. Có phải lời lẽ của tôi chẳng xác định lối sống của kẻ tham công tiếc việc đó sao? Trên thực tế là không! Kẻ tham công tiếc việc là kẻ biếng nhác, theo ý của tôi. Kẻ biếng nhác không dại dột đâu, kẻ biếng nhác cũng không hoàn toàn là thụ động nữa. Kẻ biếng nhác chịu khó làm việc để tránh né “công việc” mà hắn không thích. Kẻ biếng nhác tránh những phần việc mà hắn phải lo làm. Kẻ tham công tiếc việc thường sử dụng việc làm của hắn như một lời cáo lỗi cho việc không sử dụng thì giờ với vợ con mình. Công việc của hắn là có “con sư tử ở ngoài đường kìa”. Hỡi những kẻ tham công tiếc việc, hãy chú ý!
Kẻ nhạo báng. Dường như có một sự tiệm tiến từ kẻ ngây thơ đến kẻ ngu dại đến kẻ nhạo báng. Kẻ ngây thơ thiếu sự khôn ngoan; kẻ ngu dại khinh bỉ sự khôn ngoan; còn kẻ nhạo báng chế giễu và cự tuyệt sự khôn ngoan.
Kẻ nhạo báng rất kiêu căng và tự phụ:
“Nhạo báng, ấy là tên của người kiêu căng cao cách; nó cư xử cách xấc xược theo tánh kiêu ngạo của nó” (Châm ngôn 21:24).
Kẻ nhạo báng không chịu chỉnh sửa:
“Ai trách dạy kẻ nhạo báng mắc phải điều sỉ nhục, ai quở kẻ hung ác bị điếm ố. Chớ trách kẻ nhạo báng, e nó ghét con; hãy trách người khôn ngoan, thì người sẽ yêu mến con” (Châm ngôn 9:7-8).
“Con khôn ngoan nghe sự khuyên dạy của cha; song kẻ nhạo báng không khứng nghe lời quở trách” (Châm ngôn 13:1; cũng xem 15:12).
Sự sửa phạt và sự phán xét thiêng liêng đang chờ đợi kẻ nhạo báng:
“Quả thật Ngài nhạo báng kẻ hay nhạo báng; nhưng Ngài ban ơn cho người khiêm nhường” (Châm ngôn 3:34).
“Sự xét đoán dự bị cho kẻ nhạo báng; và roi vọt sắm sửa cho lưng kẻ ngu muội” (Châm ngôn 19:29).
Khi kẻ nhạo báng bị sửa phạt, người nào nhìn vào có thể học biết từ kinh nghiệm của hắn:
“Hãy đánh kẻ nhạo báng, thì người ngu dại sẽ trở nên khôn khéo; Khá sửa dạy người thông sáng, ắt người sẽ hiểu điều tri thức” (Châm ngôn 19:25).
Nhạo báng là một ảnh hưởng rất tiêu cực, và hành động tốt nhứt là đuổi hắn đi:
“Tư tưởng ngu dại là tội lỗi; kẻ nhạo báng lấy làm gớm ghiếc cho loài người” (Châm ngôn 24:9).
“Hãy đuổi kẻ nhạo báng ra, thì sự cãi lẫy cũng sẽ đi; điều tranh cạnh và sự sỉ nhục sẽ hết” (Châm ngôn 22:10).
Nguyên tắc của một trường học Cơ đốc từng khoác lấy sự dạy của Châm ngôn 22:10, và đấy thật là khôn ngoan. Có một số sinh viên (và giáo sư) họ là kẻ nhạo báng và họ chỉ gây đổ vỡ và tạo ra bất đồng. Một khi họ không còn chỉnh sửa được nữa, họ phải bị trục xuất (đuổi ra khỏi trường, bị thiêu đốt đi). Nhiều công nhân công nhận lẽ thật của câu châm ngôn nầy. Sở làm là một nơi làm việc tốt hơn khi kẻ nhạo báng bị đuổi đi.
Đường lối của người khôn ngoan. Toàn bộ sách Châm ngôn được sử dụng để khiến cho người ta được khôn ngoan (1:1-7), vì vậy chúng ta khó mà tóm tắt đường lối khôn ngoan chỉ trong vài từ ngữ được. Tuy nhiên, cho phép tôi đưa ra một danh sách vài đặc điểm của những ai là khôn ngoan:
Khiêm nhường – 11:2
Kính sợ Chúa – 2:6-7; 9:10; 11:7; 15:33; 21:30
Vui thích trong sự khôn ngoan – 10:23
Siêng năng tìm kiếm sự khôn ngoan – 4:5-7; 7:4
Chọn bạn cách cẩn thận – 13:20
Là nguồn phước cho người khác – 11:30; 13:14; 15:20; 23:15, 24; 27:11; 29:3
Khôn ngoan sử dụng lời lẽ của họ – 10:13-14, 19, 31; 12:18; 14:3; 15:2, 7; 16:21, 23; 31:26
Tiết độ, tránh tự mãn – 20:11; 21:20; 29:11
Tìm kiếm mưu luận khôn ngoan – 24:6
Lắng nghe và học hỏi – 1:5; 2:2; 5:1; 18:15; 23:19
Hòa nhã – 16:14; 29:8
Vô tư – 24:23
Đáp ứng tốt với sự khuyên dạy, chỉnh sửa, và quở trách – 9:8-9; 10:8; 12:15; 13:10; 15:31; 19:20; 21:11; 29:15
Sống khôn khéo – 1:1-6
Phần kết luận
Có nhiều điều tốt đẹp đáng nói về sách Châm ngôn, song cho phép tôi kết luận bằng cách tóm lược một số lợi ích có thể kiếm được bằng cách nghiên cứu và ứng dụng sách Châm ngôn.
Sách Châm ngôn dạy chúng ta biết suy nghĩ sao cho chính xác. Châm ngôn 1:1-7 nói tới sự khôn ngoan mà sách Châm ngôn hiến cho những ai cẩn thận tìm kiếm nó. Sách Châm ngôn giúp chúng ta học biết suy nghĩ thẳng thắn và biết nhìn vào cuộc sống như nó vốn có thực vậy. Sách Châm ngôn sẽ cải thiện lối suy nghĩ của chúng ta.
Sách Châm ngôn dạy chúng ta biết sống sao cho thật chính xác. Không những Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải suy nghĩ thẳng thắn, mà Ngài còn muốn chúng ta phải sống thật ngay thẳng nữa kìa. Người nào là khôn ngoan là hạng người sống đời sống của họ thật khôn khéo. Sách Châm ngôn không những nói ra mọi điều chúng ta nên tin theo, mà còn nói ra cách thức chúng ta phải sống theo nữa. Cho phép tôi đưa ra vào lợi ích thực tế của sách Châm ngôn.
(1) Châm ngôn dạy chúng ta về việc làm cha mẹ. Châm ngôn dạy chúng ta biết rằng con cái ra đời với một sự dại dột bẩm sinh mà cha mẹ phải nói ra cho chúng biết. Kỷ luật là cần thiết để xử lý với tình trạng ngu dại của con trẻ. Con cái không phải là vô tội hoặc tốt lành đâu. Chúng dễ phạm tội lắm. “Bậc cha mẹ chuyên tâm vào sách Châm ngôn” vốn hiểu rõ điều nầy và xử lý với con cái của họ sao cho thích đáng.
(2) Châm ngôn có nhiều điều để nói với con cái. Chúng cần phải lắng nghe và học tập từ cha mẹ của chúng. Chúng cần phải ý thức về việc hội hiệp với kẻ ác. Chúng cần phải vâng theo bố mẹ chúng. Hầu hết sự dại dột mà con cái kinh nghiệm có thể tránh né được bằng cách chú ý vào mọi lời cảnh cáo của sách Châm ngôn.
(3) Châm ngôn thách thức chúng ta hết thảy phải sống thật khôn ngoan, chất chứa và cẩn thận tìm kiếm sự khôn ngoan. Châm ngôn cho chúng ta biết rằng sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời ban cho những ai biết khiêm nhường và kính sợ Ngài. Khôn ngoan là con đường sự sống, xây chúng ta ra khỏi con đường sự chết. Nó dẫn tới sự sống đời đời, cũng như vùa giúp chúng ta sống một đời sống đầy dẫy trong hiện tại.
(4) Châm ngôn có nhiều điều để nói về hôn nhân. Người nào chú ý đến sự dạy của Châm ngôn, và người nào chọn bạn bè của họ thật tốt, sẽ tìm cách kiếm một người bạn thật khôn ngoan. Họ sẽ có được những đức tính khiến cho một người trở thành một người chồng hay một người vợ tin kính (thí dụ, Châm ngôn 31).
(5) Châm ngôn dạy chúng ta về công ăn việc làm của chúng ta. Nó dạy chúng ta biết tránh né tình trạng lười biếng và chịu khó làm việc. Nó dạy chúng ta biết dâng một đôla giá trị sản phẩm hay công lao động đáng với giá một đôla. Nó dạy chúng ta biết loại người nào cần thuê, và loại người nào cần phải đuổi đi.
(6) Châm ngôn là nguồn dẫn dắt thiêng liêng thật tuyệt vời. Có người nói rằng “dẫn dắt thiêng liêng là một cái la bàn, chớ không phải tấm bản đồ”. Dẫn dắt thường đến trong hình thức các nguyên tắc chung chung. Thí dụ, Kinh thánh không nói cho chúng ta biết chính xác người nữ nào phải kết hôn, nhưng nhất định Kinh thánh nói cho chúng ta biết loại phụ nữ nào phải tránh né, và loại phụ nữ nào phải tìm kiếm. Phần lớn “lời khuyên dạy” chúng ta nhận được là từ bạn bè của chúng ta. Châm ngôn dạy chúng ta về loại bạn bè mà chúng ta phải lựa chọn.
Cách đây nhiều năm, vợ tôi và tôi quyết định rằng chúng tôi sẽ cứ ở lại Texas. Chúng tôi đã khởi sự tìm kiếm mua một ngôi nhà. Tôi gọi điện cho cha tôi để xin ý kiến, và ông đề nghị rằng phải lo chức vụ của tôi cho xong trước khi chúng tôi mua một ngôi nhà thì là khôn ngoan hơn. Một thời gian ngắn sau đó tôi đã đến với câu châm ngôn nầy:
“Hãy sửa sang công việc ở ngoài của con, và sắm sẵn tại trong ruộng con; rồi sau hãy cất nhà của con” (Châm ngôn 24:27).
Chúng tôi đã chờ đợi cho tới chừng chức vụ của chúng tôi đã được lo liệu xong, rồi mới mua một ngôi nhà. Đây là một quyết định khôn ngoan, được châm ngôn giục giã trong hai phương thức. Thứ nhứt, tôi đã tìm kiếm mưu luận của cha tôi, và thứ hai, tôi đã làm theo mưu luận nầy và mưu luận của châm ngôn. Bạn phải lo liệu theo cách nầy: “Đừng lấy kết quả (ngôi nhà của bạn) làm nguyên nhân (chức vụ của bạn)”. Châm ngôn là một nguồn hướng dẫn rất thực tiễn, rất phong phú.
(7) Châm ngôn có phần xử lý quan trọng nói về nhà cầm quyền và chính trị. Có thể là khôn ngoan trong việc duy trì một cấp độ phân rẻ nhất định giữa giáo hội và nhà nước, nhưng sẽ chẳng có một sự phân rẻ nào giữa đức tin và cách thực hành. Chúng ta mới vừa bầu một vị Tổng Thống mới. Sách Châm ngôn đã nói gì về ông? Hãy xem xét một số mưu luận mà sách Châm ngôn hiến cho những ai đang nắm địa vị lãnh đạo và quyền bính:
“Vua ngồi trên ngôi xét đoán, lấy mặt mình đánh tan các điều ác” (Châm ngôn 20:8).
“Vua khôn ngoan làm tan kẻ ác, và khiến bánh xe lăn cán chúng nó” (Châm ngôn 20:26).
“Hãy trừ kẻ ác khỏi trước mặt vua, thì ngôi người sẽ nhờ công bình được lập bền vững” (Châm ngôn 25:5).
“Vua nhờ sự công bình mà làm nước mình vững bền; nhưng ai lãnh của hối lộ hủy hoại nó” (Châm ngôn 29:4).
“Sự nhân từ và chân thật bảo hộ vua; người lấy lòng nhân từ mà nâng đỡ ngôi nước mình” (Châm ngôn 20:28).
“Ai ái mộ lòng thánh sạch, và có duyên nơi môi miệng mình, sẽ được vua làm bạn nghĩa” (Châm ngôn 22:11).
“Nếu vua lắng tai nghe lời giả dối, thì các tôi tớ người trở nên gian ác” (Châm ngôn 29:12).
“Vua nào theo sự chân thật mà xét đoán kẻ nghèo khổ, ngôi người sẽ được vững bền đời đời” (Châm ngôn 29:14).
Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tâm trí biết ao ước sự khôn ngoan và sẽ cẩn thận tìm kiếm trong Lời của Ngài. Nguyện Đức Chúa Trời biến chúng ta thành loại học viên của quyển sách Châm ngôn kỳ diệu nầy.

