ĐỨC CHÚA TRỜI CHƯA XONG VIỆC
2011: 100 NĂM TIN LÀNH ĐẾN VIỆT NAM
Tác giả: Lillian và Richard Phillips

Chúng tôi có mặt giữa vòng 7 giáo sĩ bị các lực lượng Bắc Việt bắt khi họ chiếm Ban mê thuột vào năm 1975. Giữa vòng những kẻ bị tù trong ngày thứ nhứt — binh lính và thường dân đang chờ xem không biết họ sẽ bị giữ lại lâu hơn hay được phóng thích — chúng tôi để ý đến một người sắc tộc. Ông ấy bị bắt đi từ nhà riêng vào lúc sáng sớm và ăn mặc thật sơ sài. Chúng ta không quen biết ông ấy, song trông ông ấy rất lạnh lùng. Và ở đó, chúng tôi đã sống với chiếc vali, là túi xách mà chúng tôi đã gói ghém trong trường hợp chúng tôi phải rời đi cách thình lình. Lillian bình tỉnh rút ra chiếc áo sơmi. Ông ta mặc nó rồi đứng lui lại. Chúng tôi chưa hề gặp lại ông ấy mãi cho tới khi . . .
Vào năm 1911, các giáo sĩ Hội Phước Âm Liên Hiệp trước tiên đã đem Tin Lành đến Việt nam. Hơn sáu thập kỷ kế đó, các tín đồ Tin Lành đã dâng hiến rời rộng để giúp đỡ cho các nhân sự trên khắp cả nước, từ đường phố Hà nội cho đến các làng mạc ở vùng sâu vùng xa. Chúng tôi được ơn dự một phần trong đó, đem những tin tức tốt lành đến cho các sắc tộc vùng cao nguyên, trước tiên cho người Hre và kế đó là người Bunong (Mnong).
Ký ức của chúng tôi hầu như là nhớ tới vùng cao nguyên. Ban mê thuột là nơi mà chúng tôi đã sinh sống với bốn người con của mình. Khi ấy, vào ngày Tết Mậu Thân năm 1968 khu vực truyền giáo đã bị hủy diệt, và 8 trong các đồng sự của chúng tôi đã bị chết. Gia đình chúng tôi đang ở xa lúc bấy giờ. Trong nhiều năm trời, tôi đã phấn đấu với thắc mắc: “Tại sao sinh mạng chúng tôi được cứu khi sinh mạng của họ lại bị cất đi?”
Trở lại Ban mê thuột sau khi khu truyền giáo được tái thiết, chúng tôi đã sống trong ngôi nhà “màu hồng” (cũng có một ngôi nhà màu vàng và màu xanh nữa). Đàng sau chúng tôi là các ngôi mộ của những người tuận đạo; ở trước cửa, chúng tôi có thể nhìn thấy Hội thánh Raday; bên kia đường, trường Kinh thánh; và kế bên chúng tôi, là trại cùi mới. Ban mê thuột thì an toàn hơn vùng Bunong. Mặc dù chúng tôi không thể đến với các làng mạc của người Bunong, chính sách tái định cư của nhà cầm quyền đưa nhiều người Bunong đến ở gần với chúng tôi.

Chúng tôi rất bận rộn. Chúng tôi đã nghĩ ra một hệ thống chữ cái và cỡ chữ để dạy đọc. Đội dịch thuật của chúng tôi đã làm việc thật khó nhọc, in ra các phần Tân Ước, các phần mà Hội Thánh Kinh đã cho in lẽ. Chúng tôi cũng đã cho in một quyển thánh ca (160 bài, 40 bài đọc đối đáp). Thỉnh thoảng, Richard đã bay vào vùng Bunong (các đường lộ đều không an toàn) để dạy đạo.
Nhưng mọi chuyện kết thúc vào tháng Ba năm 1975. Đã có một trận đánh lớn, và Ban mê thuột phải di tản. Chúng tôi đều bị bắt làm tù binh và bị giữ gần tám tháng trời. Chúng tôi không hề có thời gian tiếp xúc với người Mnong. Liệu chúng tôi có còn gặp lại họ không? Liệu chúng tôi có được tái hiệp với bốn đứa con của chúng tôi không, chúng đang ở tại trường Đà lạt? Chuyện gì sẽ xảy ra cho bản Kinh thánh Bunong? Các bản thảo của chúng tôi đã bị tịch thu và không hề được trả lại. Việt nam bị đóng cửa đối với công tác truyền giáo hải ngoại, và chúng tôi được tái phân công đến Burkina Faso.
Nhiều năm sau đó, sau khi chúng tôi về hưu rồi, những người tị nạn Bunong bắt đầu đến tại North Carolina. Trước sự kinh ngạc của chúng tôi, chúng tôi mới hay rằng nhân sự trợ giúp dịch thuật của chúng tôi là Nkem (có ảnh chụp với Richard ở trên, bên trái), cùng với mấy người khác nữa, đã tiếp tục công việc dịch thuật Kinh thánh. Bản Tân Ước đã hoàn tất; chúng tôi giữ một bản trong tay! Và ai đó đã tìm cách in lại quyển thánh ca. Họ đã bảo tồn sách vỡ bằng cách giấu chúng dưới đất hay trong các chỗ trũng của cây rừng. Đúng kỳ thì toàn bộ Cựu Ước Bunong cũng đã hoàn tất.
Trở lại để ca tụng
Nếu có một lễ kỷ niệm 100 năm công tác của Hội Phước Âm Liên Hiệp ở Việt nam, tất nhiên, chúng tôi muốn đi dự lắm! Bạn bè đã dâng hiến để trợ giúp với tổn phí, và Hội thánh nhà của chúng tôi đã cầu nguyện. Đến tháng Sáu năm 2011, chúng tôi lên máy bay sang Việt nam. Trong mấy ngày đầu tiên, chúng tôi cùng đi tour với một số cựu nhân sự trước kia, đến thăm viếng các nhà thờ và trường Kinh thánh mới. Mọi ký ức đã xoay trở lại!
Lễ kỷ niệm ở Đà nẵng tổ chức trong sân thể thao có mái che 12.000 chỗ ngồi. Người Kinh và Thượng đã đổ về trên các chuyến xe bus. Chỉ riêng người Bunong, đã có 700 người trên 30 chuyến xe bus. Đúng đây là một sự tái hiệp! Họ vây quanh chúng tôi, gợi nhớ lại các biến cố trong quá khứ: Chúng tôi đã cầu thay cho họ ở bịnh viện, chúng tôi đã hiến máu cho con trai họ, chúng tôi đã cung ứng quần áo, chúng tôi đã dạy dỗ họ trong chính trường Kinh thánh đầu tiên. Họ đã nhớ đích danh bốn đứa con của chúng tôi. Chúng tôi đã nghe nói rằng 40% người trong bộ tộc giờ đây đã là Cơ đốc nhân.
Mục sư Gary Benedict và Mục sư Tom Stebbins đã rao giảng, và Mục sư Thái phước Trường, Tổng Hội Trưởng của Hội thánh Tin Lành Miền Nam Việt Nam, đã ôn lại lịch sử của Hội Phước Âm Liên Hiệp tại Việt nam, mọi sự đều quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Các vị giáo sĩ đã hát bằng tiếng Việt nam: “Đi theo Chúa Jêsus bất luận tay Ngài dẫn dắt đến đâu”. Một ca đoàn đến từ thành phố Hà nội đã hát điệp khúc“Halêlugia”, và hàng trăm người đáp ứng với sự cứu rỗi nơi phần kết thúc của một sứ điệp truyền giảng. Hội Ghiđêôn đã phân phát hàng ngàn quyển Tân Ước tại kỳ lễ, lần đầu tiên được phép trong 36 năm.
Chúng tôi hướng đến vùng cao nguyên, nơi sắc tộc Bunong đang dự tính một buổi nhóm thật lớn. Một số bạn hữu người dân tộc đã lái xe đưa chúng tôi từ Ban mê thuột đến Bu Dak, nơi tổ chức buổi nhóm. Hãy tưởng tượng nổi kinh ngạc của chúng tôi khi nhìn thấy một nhà thờ mới thật lớn, với những hàng người đón chào trong sắc áo truyền thống đứng thánh hai hàng bên lối đi. Tất nhiên, chúng tôi đã dừng lại ở hàng ghế đầu hết.
Người hướng dẫn chương trình lễ kỷ niệm là Mục sư Rmah Loan, lãnh đạo của tất cả Hội thánh người Bunong. Trước sự kinh ngạc quá đỗi ấy, chúng tôi mới hay ông là người mà chúng tôi đã trao cái áo sơmi sau khi chúng tôi bị bắt làm tù binh 36 năm trước kia. Chính ông là người đã gom lại đội tín hữu Bunong để lo hoàn tất bản dịch Kinh thánh.
Đúng là một sự tiếp đón chu đáo mà ông đã dành cho chúng tôi! Có các ca đoàn thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên, tráng niên và các nhà truyền đạo nữa. Sau phần ca hát, từng nhóm đã trao cho chúng tôi những bó hoa, và một ca đoàn thậm chí đã trao cho chúng tôi một vòng hoa trên cổ nữa. Kinh thánh đã được đọc lên. Một vị Mục sư đã đọc lên lịch sử công tác sắc tộc Bunong và thể nào Richard đã đặt ra ngôn ngữ của họ để rồi giờ đây họ đã có Lời của Đức Chúa Trời. Đã có những năm tháng khó khăn. Nhưng Hội thánh đã tăng trưởng một cách lớn lao.
Khi ấy Richard phát biểu với cả nhóm, ông đã giảng luận theo chủ đề: “Chúng ta là bạn đồng sự với Đức Chúa Trời”. Có người rất đỗi ngạc nhiên vì ông có thể rao giảng bằng tiếng Bunong sau 36 năm xa cách.
Ở phần kết thúc, cả hội chúng được mời đến “chào hỏi” chúng tôi. Tiếp đến, bắt đầu đổ ra nhiều món quà. Tôi chưa hề có nhiều túi xách như thế đặt quanh cổ và vai của chúng tôi, những chuổi hạt đủ loại. Một chiếc váy đan được quấn quanh người tôi (và người tặng đã gài kim cho chắc). Richard cũng đã có hàng tá túi xách đeo quanh vai và cổ của ông ấy nữa. Và khi ấy một chiếc áo vest của bộ tộc đã khoác lên người ông, và còn nhiều thứ nữa. Có nhiều người đứng quanh chúng tôi, họ nói: “Ít nhứt thì chúng tôi cũng chạm được vào tay của họ rồi!”
Chúng tôi sẽ không bao giờ quên việc sống với họ một lần nữa và nhìn thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm.
Vào năm 1975 đã có 60.000 tín đồ ở Việt nam. Ngày nay có 1,2 triệu, hầu hết họ đều là chi thể của Hội thánh Tin Lành.

Lillian và Richard Phillips đã phục vụ trong vai trò nhân sự quốc tế tại Việt nam và Burkina Faso trước khi hưu hạ vào năm 1998. Giờ đây, họ sống ở Oakdale, Minn.

