TRẮNG NHƯ TUYẾT
Một đứa con hoang đàng trở về quê hương xứ Mông cổ
Mục sư Jintae Kim
Lần gặp gỡ đầu tiên của tôi với phụ nữ quả là không dễ chịu cho lắm.
Tôi không yên tâm từ một chuyến đi thâu đêm trong xứ Mông cổ, vì vậy tôi ngồi trên một khối xi măng lớn đối diện với Hội thánh Zaminwood Sarang, tôi đang giúp hướng dẫn một cuộc hội thảo ở đó. Nhưng thay vì nghỉ ngơi, tôi bắt đầu thấy khó chịu do thuốc lá thổi vào mặt tôi. Tôi nhìn quanh rồi thấy hai người phụ nữ đang hút thuốc ở đầu kia của tấm xi măng.
Có lẽ họ chưa rửa mặt và thay quần áo trong một thời gian dài. Trời hãy còn sớm, nhưng họ đã uống say rồi. Tôi có cái nhìn giận dữ nơi họ, song họ chẳng quan tâm. Tôi càng thấy khó chịu hơn vì sự ấy.
Tôi đứng dậy rồi đi hai ba bước, nhưng hãy còn ở trong chỗ mát. Zaminwood, một thị trấn biên giới phía Nam, được xây dựng trong sa mạc Gobi; thậm chí vào buổi sáng, trời quá nóng không thể ở trong bóng nắng được. Trong khi tôi quan sát, hai phụ nữ kia từng người một nằm xuống trên mặt đất đầy bụi bặm, họ ngủ gà ngủ gật ở chỗ mà người ta hay ói mữa.
Theo Toksha, một thuộc viên Hội thánh, hai phụ nữ nầy có mặt giữa vòng 7 người nghiện rượu, họ sống trong cái nhà kho bên kia đường đối ngang nhà thờ. Họ sinh sống bằng cách chuẩn bị đồ ăn đem bán tại nhà ga xe lửa đông đúc, có lẽ đấy là cách họ kiếm được rượu và thuốc lá. Hội thánh đem đến cho họ thức ăn tươi và đồ uống nhẹ, kết quả là, một vài người đã được cứu ra khỏi tình trạng nghiện ngập của họ và đã hiệp cùng Hội thánh. Còn những người khác thì kháng cự sự cứu giúp.
Lần gặp thứ hai của tôi với hai phụ nữ nầy đã đến với một phép lạ.
Chúng tôi có một thời gian ngắn vào ngày thứ hai của cuộc hội thảo, khi tôi nghe thấy vợ tôi kêu lên với một giọng thất vọng. Lo lắng, tôi chạy về phía có tiếng kêu đó. Tôi thấy vợ tôi và một nhân sự quốc tế của Hội Phước Âm Liên Hiệp, “Y” trong chỗ nhà kho tối thui, đang giữ lấy một trong hai “phụ nữ ghiền thuốc lá” và cầu thay xin sự chữa lành và ơn cứu rỗi cho cô ấy.
Họ tìm gặp cô ta ở đó khóc lóc vì cớ đau nặng ở chân. Gian phòng, đầy mùi hôi thối và rác thải, không lớn hơn 7feet x 12feet. Chai nhựa được đốt chung với các thứ rác thải khác. Trong gian phòng nhỏ đó, 7 người nghiện rượu ở xen lộn với nhau, họ không tỉnh táo. Tình trạng khủng khiếp của họ khiến cho vợ tôi và Y phải kêu la với Đức Chúa Trời.
Có một việc xảy ra trong khoảnh khắc ấy. Đức Chúa Trời chạm đến thân thể và tấm lòng của người phụ nữ bằng hai bàn tay của Ngài; cô ta được chữa lành ngay tức khắc. Sau đó, cô ta phụ với vợ tôi và xuất hiện vào buổi thờ phượng tối mà chúng tôi tổ chức ở hội thánh khác. Khi bước vào nhà thờ bất chấp cái nhìn soi mói của người khác, người phụ nữ được chữa lành mau mắn nói với vợ tôi “Saeng” giống như đứa bé gái gọi mẹ của nó vậy. Cái điều cô ta muốn nói là: “Tôi không còn thấy đau đớn nữa”.
Đấy là lần gặp thứ ba với cô ta. Không giống như hai lần gặp trước, cô ta sạch sẽ và tỉnh táo rồi. Cô ta đã rửa tay và rửa mặt trước khi đến. Cô ta vỗ tay và hát ngợi khen Chúa và hứa không uống rượu nữa.
Buổi tối đó, chúng tôi đặt kế hoạch tổ chức lễ báptêm cho ba thuộc viên của Hội thánh Zaminwood Sarang. Chúng tôi đã hoàn tất lễ báptêm cho người sau cùng khi người phụ nữ kia ào đại vô phòng, đòi chúng tôi phải làm phép báptêm cho cô ta.
Chúng tôi không dám chắc phải làm gì. Thứ nhứt, cô ta trông không tỉnh táo. Tôi chưa hề nghe có ai chịu báptêm trong khi bị ảnh hưởng của rượu chè bao giờ. Thứ hai, cô ta chưa dự nhóm lớp chuẩn bị cho phép báptêm. Thái độ chần chừ của tôi phải nhường bước cho thái độ thất vọng của cô ta. Cô ta đang bật khóc. Tuy nhiên, cái điều thúc giục tôi phải làm phép báptêm cho cô ta chính là điều mà Chúa Jêsus đã khuyên bảo chúng ta: “Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời” (Mathiơ 18:10).
Trước khi chịu phép báptêm, Y hỏi cô ta: “Tani ner hin bae” (“Cô tên gì?”)
“Binechagang”, cô e thẹn trả lời.
Binechagang có nghĩa là “rất trắng” trong tiếng Mông cổ, nhưng gương mặt của cô tuyệt đối ngược lại với cái tên của mình, phản ảnh nhiều năm nghiện ngập và suy dinh dưỡng. Đấy là lý do tại sao cô ta cảm thấy ngượng ngịu.
Nhưng, ồ, sau khi chịu báptêm xong, cô ta tỏ vẻ vui sướng là dường nào. Cô ta chạy đến bên vợ tôi rồi hôn nàng. Tôi bảo cô ấy: “Binechagang, tấm lòng của cô giờ đây đã trở nên trắng như tuyết bởi ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ”.
Cô ta dành cho tôi một nụ cười thật tươi. Có lẽ tôi không bao giờ quên được bối cảnh ấy! Mặc dù cô ta trông bẩn thỉu và đen đủi bề ngoài, cô ấy đã rạng rỡ như một thiên sứ. Cô ta giống như một đứa con hoang đàng đã tìm được ơn cứu rỗi trong lòng Cha của cô ấy.
Chúng tôi khám phá ra rằng Binechagang đã trốn tránh người chồng hay đánh đập vợ 9 năm trước đây. (Bạo lực gia đình đang lan rộng ở Mông cổ). Trong khi sống trên đường phố, cô ta bắt đầu dùng rượu nhiều rồi bị đưa vào cơ sở điều trị ở Ulaanbaatar, thủ phủ của Mông cổ. Nhưng cô ấy đã trốn ra rồi kết thúc ở Zaminwood.
Năm tháng sau khi chịu phép báptêm, Binechagang, 43 tuổi, đã đi ở với Chúa. Tôi tự hỏi điều chi sẽ xảy ra nếu vợ tôi và Y không đến viếng cái nhà kho cầu xin Chúa chữa lành cho cô ta vào ngày ấy.
Khi chúng tôi hoạch định chuyến đi nầy, chúng tôi không biết có điều gì đang dành chứa cho chúng tôi, nhưng mỗi ngày đều có những sự kinh ngạc. Dường như là Đức Chúa Trời đã sửa soạn một bữa tiệc đặc biệt cho chúng tôi. Mỗi buổi thờ phượng đều có một phần làm chứng đặc biệt của những người đã tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa của họ sau khi từ chối mọi nổ lực của các Cơ đốc nhân địa phương. Binechagang là một trong số những người đã chống cự.
Ở Mông cổ, chúng tôi có đội ngũ nhân sự tuyệt vời giữa các nhân sự quốc tế của Hội Phước Âm Liên Hiệp và các cấp lãnh đạo Hội thánh địa phương. Mỗi bên đều có phần của họ, nhưng Đức Chúa Trời biệt riêng một chức vụ quan trọng cho chúng tôi, đội ngũ ngắn hạn. “Những kẻ khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung; và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi” (Đaniên 12:3).

Mục sư Jintae Kim, PhD, là giáo sư Tân Ước trọn thời gian tại Trường Thần Học Phúc Âm Nyack (N.Y.) (1996–2009). Ông dấn thân vào công tác huấn luyện cấp lãnh đạo với Khu vực người Hàn quốc thuộc Hội Phước Âm Liên Hiệp. Vợ ông là Myungja, là thủ thư tại Trường Nyack từ 1996–2006.

