DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Vào Ngày Này | Tháng Tư

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

1 tháng 4

WILLIAM xứ CAM

                Philip II, vua xứ Tây Ban Nha, ra đời trong thời buổi của Luther, đã miệt khinh công cuộc cải chánh. Mục tiêu của ông ta là tiêu diệt những tín đồ Tin lành và nhìn thấy Công giáo Lamã bám chặt khắp Âu châu. Chính Philip, Pháp đình Tây Ban Nha của ông đã làm tiêu tan những ngọn lửa Cải Chánh tại Tây ban Nha và Bồ đào nha. Ông đã phái Hạm đội Tây ban Nha chống lại Nữ hoàng Elizabeth trong một nổ lực cải tạo Anh quốc cho Công giáo Lamã. Và chính Philip là người đã xúi bộ tộc Duke xứ Alva chống lại người Hà lan.

Người Hà lan từ lâu đã là vùng đất tốt của các ý tưởng Cải Chánh. Kinh Thánh sẵn có tự do ở đó, và các giáo sư từ nước Đức, Pháp, và Anh đã đến rao giảng các ý tưởng Cải Chánh, đặc biệt là học thuyết Calvin, khắp cả xứ.

Philip, đánh chiếm Hà lan, đưa Pháp đình Tây ban Nha vào rồi đặt bộ tộc Duke vào vùng đất thấp. Hàng trăm người dám đọc Kinh Thánh hay cộng tác với những nhà cải chánh đều bị bắt, bị siết cổ, bị giết, hay bị thiêu sống. Sự cai trị kinh khiếp trong tám năm của bộ tộc Duke đã khiến cho hàng ngàn người nam, người nữ và trẻ em đã bị hành hình và bị giết. Nhiều làng mạc toàn bộ đã bị tàn sát hết. Mặc dù người Hà lan nội bộ bị chia rẽ, một số tỉnh thành có nhiều người theo Công giáo và nhiều tỉnh khác có nhiều người theo đạo Tin lành, hành vi tàn bạo của bộ tộc Duke đã kết hợp mọi người lại chống Tây ban Nha và đã nhóm lên ngọn lửa chiến tranh dành lại độc lập.

William, Vua xứ Cam, được chỉ định lãnh đạo kháng chiến của người Hà lan, và đúng ngày 1 tháng 4 năm 1572, ông phát động chiến dịch chống lại các lực lượng Tây ban Nha, sử dụng một đội quân ngư phủ mà ai cũng biết là Đội Hành Khất Biển (The Sea Beggar). Họ chiếm lấy thành phố Brielle, và William đánh chiếm các tỉnh thành phía Bắc từng cái một cho tới lúc cả nước Hà lan được giải phóng khỏi quyền lực của người Tây ban Nha. Cuộc chiến lan xuống phía Nam. Leyden, bị quân Tây ban Nha bao vây, rơi vào cảnh đường cùng. Cư dân co cụm lại sống nhờ vào những con chó, mèo và chuột. Nhà vua và Giáo hoàng đã hứa tha thứ hết nếu thành phố chịu đầu hàng, thế nhưng những cư dân đã từ chối không chịu đầu hàng. William đề nghị họ nên mở các cửa đập nước ra, phá đê điều, và làm ngập hết vùng đồng bằng quanh thành phố. Lúc ấy là mùa thu hoạch và vụ mùa của thành phố sẽ bị hủy hoại, nhưng dân chúng lại tán thành. Những con đê bị phá vỡ, nước biển tràn vào, và Đội Hành Khất Biển của William dong thuyền vào thành phố. Quân Tây ban Nha tháo chạy trong kinh khiếp, và thành phố được giải phóng, họ tụ họp lại tại thánh đường dâng lời cảm tạ cho Đức Chúa Trời.

 

“Đức Giê-hô-va, sẽ nhậm lời họ; ta, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, sẽ không lìa bỏ họ đâu. Ta sẽ khiến sông chảy ra trên đỉnh núi trọi, và suối trào lên giữa trũng. Ta sẽ biến sa mạc thành ao, và đất khô thành nguồn nước…hầu cho mọi người xem thấy và biết, ngẫm nghĩ và cùng nhau hiểu rằng tay Đức Giê-hô-va đã làm sự đó, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên đã dựng nên sự đó” (Êsai 41.17b, 18, 20).

 

2 tháng 4

IDELETTE LÝ TƯỞNG

Trong nhiều thế kỷ, có nhiều tín đồ đã sống độc thân, và John Calvin đã lấy làm lạ không biết trong trường hợp ông, là một người Tin lành thuộc thế hệ đầu tiên, sẽ phá vỡ truyền thống hay không!?! Ông viết: “Trong trường hợp tôi có lấy vợ hay không thì tôi chưa biết. Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu tôi lấy vợ thì tôi phải được tự do không phải lo lắng nhiều, khi ấy tôi mới có thể dâng mình cho Chúa được”.

Ở tuổi 30, ông bắt đầu yêu đương, thế nhưng cuộc hôn nhân lại không thành. Bạn ông là William Farel đề nghị một phụ nữ khác, nhưng Calvin chẳng thấy có ấn tượng gì hết. Một người thứ ba trông đầy hứa hẹn lắm, nhưng Calvin rất dè dặt: “Tôi sẽ dại dột lắm nếu như hy vọng của tôi lại gãy đổ”.

Đúng như thế. Ông than phiền: “Tôi đã không tìm vợ nữa, và thường ngần ngại khi tôi muốn tìm kiếm một lần nữa”. Thình lình ông để ý tới một goá phụ trong hội chúng của mình, Idelette de Bure, nàng đã trở lại đạo qua sự rao giảng của ông. Ông thường hay đến thăm viếng nàng trong vai trò Mục sư chủ toạ, và đã say mê nàng. Họ mau chóng thành hôn.

Idelette đã minh chứng cho thấy mình là vợ của vị Mục sư.  Nàng thăm viếng kẻ đau yếu, nghèo khổ, và ngã lòng. Nàng chiêu đãi những người đến thăm viếng, tham khảo ý kiến của người chồng nổi tiếng của nàng. Nàng dọn bàn ăn với các thứ rau xanh trồng từ vườn của mình. Nàng kiên nhẩn chịu đựng nỗi mất mát ba đứa con của một cặp vợ chồng. Nàng làm cho chức vụ khó nhọc của Calvin được vơi đi và làm cho ông luôn được vui mừng.

Lúc Idelette ngã bịnh, Calvin đau khổ lắm. Khi giờ chết kéo đến gần, họ trao đổi với nhau về “ân điển của Đấng Christ, sự trông cậy về sự sống đời đời, đời sống vợ chồng của họ, và sự chết đang đến gần”. Kế đó, ông xây mặt đi để cầu nguyện. Idelette đột nhiên kêu lên: “Ôi sự sống lại vinh hiển thay! Ôi Đức Chúa Trời của Ápraham và của hết thảy các tổ phụ chúng ta, những người tin Chúa thuộc mọi thời đại đã đem lòng tin cậy nơi Ngài và chẳng một người nào đã trông cậy trong hư không. Và bây giờ con tin tưởng nơi Ngài”. Sau khi nói xong, nàng qua đời. Calvin đã viết cho Farel vào ngày 2 tháng 4 năm 1549: “Tin tức cái chết của vợ tôi có lẽ đã đến tai anh. Tôi đang làm mọi thứ có thể để giữ mình không bị đau khổ phủ lút. Bạn bè của tôi cũng chẳng làm điều chi khác hơn là giúp cho tôi được khuây khoả không bị dằn vặt trong lý trí”.

John và Idelette đã chung sống với nhau trong  chín năm trời. John Calvin không bao giờ tìm kiếm vợ nữa, vì không người nào có thể thay thể được Idelette lý tưởng của ông.

 

“Có ba việc lấy làm diệu kỳ cho ta, và bốn điều mà ta chẳng biết được: là đường chim ưng bay trên trời; lối con rắn bò trên hòn đá; lằn tàu chạy giữa biển, và đường người nam giao hợp với người nữ” (Châm ngôn 30.18-19).

 

3 tháng 4

TỪ CHÍNH TRỊ SANG TRUYỀN ĐẠO

                Ambrose ra đời ở xứ Gaul, cha ông làm Thống đốc ở đây. Gia đình ông chuyển sang Rôma, ở đó ông lớn lên trở thành một nhà thơ, một nhà hùng biện, và một luật gia có tài. Sau khi làm luật sư tại các toà án La mã trong một thời gian, ông được bổ làm Tỉnh trưởng một tỉnh của người Ý và trú ngụ tại Milan. Có một cơn khủng hoảng nổi lên khi Giám Mục Auxentius qua đời vào năm 374. Thành phố bị giao cho người thay thế ông, và nhiều sự căng thẳng dâng cao. Ambrose tập trung dân chúng lại và sử dụng năng lực hùng biện của mình kêu gọi sự hiệp một. Nhưng khi ông đang nói, một đứa trẻ hô to lên: “Hãy lập Ambrose làm Giám Mục”. Đám đông hô to theo, và Quan hàng tỉnh 35 tuổi, đã được lập làm Mục sư cho thành phố.

Ông tự buộc mình vào việc nghiên cứu thần học, không bao lâu sau đó trở thành một nhà truyền đạo lỗi lạc và là một nhà biện hộ hết mình cho lẽ đạo chính thống. Ông phản bác hình thức tà giáo và bội đạo với sự siêng năng, chuyên cần, duy trì tình trạng độc lập của Hội thánh chống lại các thế lực dân sự, và giữ vững tình trạng đạo đức. Ông đối mặt với các cấp lãnh đạo chính trị, ngay cả các Hoàng đế khi cần thiết. Ông đã viết nhiều sách, luận án, bài giảng, thánh ca, và thư tín. Ông đã chăn Milan như một người chăn chiên.

Có lẽ không một điều nào trong số đó quan trọng hơn ảnh hưởng của ông trên một kẻ vô tôn giáo có máu nóng, một Chúa nhựt kia người nầy đã vào thành phố để nghe ông rao giảng. Augustine là người hay chỉ trích, phê phán, lại thấy mình có ấn tượng sâu sắc với quyền phép trong các bài giảng của Ambrose, và ông đã tìm cách trao đổi riêng với vị Mục sư. Nhưng Ambrose quá bận rộn không tiếp được. Những khách viếng đều được phép vào phòng của ông, nhưng ông chẳng chú trọng nhiều đến họ. Ông cứ đi tới đi lui mà đọc sách. Có mấy lần Augustine ngồi quan sát ông, nhưng Ambrose cứ như là chẳng biết tới điều đó. Tuy nhiên, việc rao giảng của ông đã tác động vào con người hoang đàng nầy, và một thời gian ngắn sau đó Augustine đã trở lại đạo.

Ambrose cứ tiếp tục giảng đạo cho tới khi ông ngã bịnh vào năm 397. Khi bạn bè đau buồn cầu nguyện xin cho ông được lành, ông nói: “Tôi đã sống giữa vòng anh em đến nỗi tôi không hổ thẹn mà sống thêm nữa, tôi cũng không sợ chết đâu; vì chúng ta đang có một Chúa nhơn từ”. Đến ngày thứ Sáu Thương Khó 3 tháng 4 năm 397, Ambrose nằm với hai cánh tay giang ra theo hình thù của thập tự giá, mấp máy đôi môi trong sự cầu nguyện. Bạn bè ông hội ý với nhau trong đau buồn và lặng lẽ quan sát. Thời gian trôi qua đến nửa đêm, vị Mục sư yêu dấu của họ đã đi gặp Chúa nhơn từ của mình.

 

“Vì người giám mục làm kẻ quản lý nhà Đức Chúa Trời thì phải cho không chỗ trách được. Chẳng nên kiêu ngạo, giận dữ, ghiền rượu, hung tàn, tham lợi…hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành mà khuyên dổ người ta và bác lại kẻ chống trả” (Tít 1.7, 9).

4 tháng 4

GIÁM MỤC XUẤT SẮC KHÁC

                Isidore ra đời vào khoảng năm 560 ở Seville, Tây ban Nha, trong một gia đình Cơ đốc quý tộc. Ông là con út và được dạy dỗ theo cách riêng bởi Leander, người anh cả, là bạn thân của Giáo Hoàng Gregory. Mặc dù khắc nghiệt trong các phương pháp của mình, Leander đã tìm cách trang bị cho em út mình với cả lý trí sắc sảo và một tấm lòng thật dịu dàng.

Khi Isidore trở thành Mục sư ở Seville, ông dấn thân vào việc thiết lập nhiều trường học đào tạo các vị tân giáo sư trẻ, tốt nghiệp cho chính thống giáo, và truyền đạo cho người Do thái. Ông thiết lập nhiều chủng viện ở từng giáo khu người Tây ban Nha để đào tạo nhiều vị Mục sư trẻ.

Nhưng ông còn làm nhiều hơn thế. Ông đã biên soạn tự điển bách khoa đầu tiên trong lịch sử, quyển Etymologiae. Quyển tự điển nầy đã được sử dụng trong thời Trung Cổ, chứa nhiều mục về y khoa, số học, văn phạm, lịch sử, khoa học, và thần học. Isidore cũng đã mở ra một quyển tự điển về các chữ đồng nghĩa, một quyển sách chuyên về thiên văn, một tóm lược về lịch sử thế giới, một bộ ký thuật về những nhân vật nổi tiếng, các sách về những nhân vật trong Kinh Thánh, và nhiều sách ghi lại các bài giảng cùng những nghiên cứu về thần học. Ông trở nên nổi tiếng là một vị giáo sư lỗi lạc nhất ở Tây ban Nha.

Điểm nổi bật trong sự nghiệp của ông đã đến muộn trong chức vụ 37 năm của ông. Ông chủ toạ giáo hội nghị Toledo rất quan trọng ở Tây ban Nha, khai mạc vào ngày 5 tháng Chạp năm 633. Ở Giáo hội nghị nầy, quyết định rằng tín đồ chịu phép báptêm sẽ bị nhúng trong nước có một lần, chớ không phải ba lần. Giáo hội nghị cũng tán thành việc hát những bài thánh ca, chớ không chỉ những lời trong Kinh Thánh. Và giáo hội nghị cấm sự người Do thái trở lại đạo có tính cách ép buộc.

Hai năm sau, khi ông biết mình sắp qua đời, Isidore bắt đầu cho phân phát của cải mình cho người nghèo. Bốn ngày trước khi chết, ông yêu cầu hai người bạn tới đưa ông đến nhà thờ Thánh Vincent Tuận Đạo. Rồi ở đấy, ông nhờ một trong hai người bạn đó quấn ông bằng vải liệm và để tro bụi trên đầu ông. Vị học giả già nua khi ấy mới giơ hai tay lên trời mà cầu nguyện lớn tiếng, xưng ra mọi tội lỗi của mình và nài xin ân điển. Một đám đông nhóm lại, và Isidore đã nài xin họ cầu nguyện và tha cho những kẻ mắc nợ họ. Ông đã giảng cho người ta biết về tình yêu thương, rồi phân phối của cải còn lại. Sau khi về tới nhà, ông lên giường nằm và qua đời bình an vào ngày thứ năm 4 tháng 4 năm 636.

 

“Khi Ngài định sức nặng cho gió, độ lượng cho các nước, định luật lệ cho mưa, và lập đường lối cho chớp và sấm. Bấy giờ Ngài thấy sự khôn ngoan, và bày tỏ nó ra, Ngài lập nó và dò xét nó nữa; Đoạn, phán với loài nguời rằng: Kính sợ Chúa, ấy là sự khôn ngoan; Tránh khỏi điều ác, ấy là sự thông sáng” (Gióp 28.25-28).

 

5 tháng 4

NHÀ TRUYỀN ĐẠO TIN KÍNH CỦA NAUY

Hệ phái Luther ra đời do lòng sốt sắng của Martin Luther vào thập niên 1500, nhưng một thế kỷ sau đó hệ phái nầy đã rơi vào chỗ nguội lạnh và bước theo chủ nghĩa hình thức hời hợt lắm. Đến thập niên 1600, Đức Chúa Trời đã dấy lên nhiều “gã giềnh giàng” khác để nhóm lại ngọn lửa và mở rộng sự Cải Chánh theo một chặng đường mới.

  1. J. Spener, mang gánh nặng đối với Hội thánh mình, đã mở cửa nhà ra để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Hành động đơn sơ đó đã nhóm lên một cơn phấn hưng mới ngang qua nước Đức, từ đó người ta gọi là hệ phái Pietism. Phong trào Pietism quét qua lục địa châu Âu, thiên về tình trạng thuộc linh bề trong, các buổi nhóm ở tư gia, mở rộng truyền giáo, hát thánh ca, và công tác xã hội (đặc biệt nhắm vào các trẻ mồ côi). Lan sang Scandinavia, phong trào Pietism chạm đến Hans Nielsen Hague 25 tuổi.

Hans trưởng thành ở miền thôn dã xứ Nauy, học biết nhiều nghề từ bậc cha mẹ cần cù siêng năng của mình. Anh là thợ mộc, chuyên đóng đồ gỗ mỹ thuật rất khéo, là thợ rèn, và là người nuôi ong. Anh cũng biết Lời Kinh Thánh cùng các bài hát trong quyển thánh ca từ hồi thơ ấu. Nhằm ngày 5 tháng 4 năm 1796, khi anh đang làm việc ở ngoài trời và đang hát bài thánh ca: “Lạy Chúa Jêsus, con ao ước mối tương giao phước hạnh của Ngài”, thì bất ngờ có được một kinh nghiệm. Lý trí anh đột ngột tôn cao và tấm lòng anh bị phủ lút với Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tình yêu thương của Đấng Christ chiếu sáng linh hồn anh. Anh ý thức được một nổi khao khát sâu sắc muốn nghiên cứu Kinh Thánh và một sự thúc giục buộc phải rao giảng Tin lành.

Hans chạy về nhà rồi chia sẻ kinh nghiệm của mình với gia đình, kế đó với Hội thánh. Tiếp đến anh làm chứng cho nhiều khác biết, anh đi đó đi đây trong 8 năm và 10.000 dặm xuyên suốt xứ Nauy bằng cách đi bộ, ski, và bằng ngựa. Anh đã rao giảng cho nhiều đoàn dân đông lớn và nhỏ, nhấn mạnh sự ăn năn, sự biến đổi, và sự phấn hưng chơn thật. Sứ điệp của anh đã nhen nhóm lên ngọn lửa phấn hưng ở khắp mọi nơi. Các vị mục sư địa phương, e sợ lòng sốt sắng và sự anh được lòng người, đã chống đối anh, và anh đã 10 lần bị bắt. Nhưng hầu hết các giám mục, các mục sư, đều đã cảm tạ Đức Chúa Trời vì chức vụ của anh.

Sau khi hoàn tất chuyến du hành giảng đạo của mình, Hans đã dấn thân vào thương mại và đã trở thành ông chủ của các nhà máy giấy, một xí nghiệp muối, một công ty thương mại, và một xưởng đóng tàu. Ông đã sử dụng địa vị có trong thế giới thương mại để rao giảng sứ điệp của mình ở đó. Ông đã qua đời ở tuổi 53, sử dụng các hơi thở cuối cùng để khuyên vợ mình: “Hãy theo Chúa Jêsus”. Ngày nay ông được gọi là: “Tổ phụ của hệ phái Pietis ở Scandinavia”.

 

“Tay của Đức Giê-hô-va đặt trên ta; Ngài dắt ta ra trong Thần Đức Giê-hô-va, và đặt ta giữa trũng; nó đầy những hài cốt… Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Đức Giê-hô-va…Chúa Giê-hô-va phán cùng những hài cốt ấy rằng: Nầy, ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ đặt gân vào trong các ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi, và che các ngươi bằng da. Ta sẽ phú hơi thở trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; rồi các ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va” (Êxêchiên 37.1, 4-6).

 

6 tháng 4

NGƯỜI TÔ CÁCH LAN CHẮP CÁNH BAY CAO

                Eric Liddell là con của gia đình giáo sĩ chào đời ở Trung Hoa. Khi được 7 tuổi, bố mẹ ông đã gửi ông vào một trường nội trú ở Anh quốc, và ông đã qua thời niên thiếu của mình sống xa cách họ. Nhưng ban giám hiệu nhà trường đã khuyên ông dâng mình vào các bộ môn thể thao, và chàng thanh niên Eric không bao lâu sau đó đã phát triển thành một vận động viên thể hình. Ông cũng bắt đầu vận dụng các cơ bắp thuộc linh của mình nữa, ông dậy sớm mỗi ngày để gặp Chúa trong sự cầu nguyện và trong sự học hỏi Kinh Thánh.

Khi Eric bước vào Đại học, ông  đã phá vỡ hết thành tích nầy đến thành tích khác trong các bộ môn thể thao. Chị ông viết thư cho bố mẹ đang ở Trung Hoa biết như sau: “Mỗi tuần Eric đem về nhà nhiều giải thưởng lắm. Chúng con không còn có chỗ chứa nữa”. Khi danh tiếng ông nổi lên, có một nhà truyền giáo người Tô cách Lan tên là D. P. Thomson thấy ông rất có triển vọng cho công cuộc truyền giáo. Ông đến mời Eric chia sẻ phần làm chứng của mình với một nhóm thanh niên ở Armandale, và vào ngày 6 tháng 4 năm 1923, Liddell lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng truyền đạo công khai. Trong thời gian ấy, ông đến tại Thế Vận Hội Paris vào mùa hè, Eric được mọi người khắp thế giới nhận biết là một vận động viên có sức mạnh và là một Cơ đốc nhân năng động, ông đã từ chối không tham gia chạy vào những ngày Chúa nhựt, và ông đã đoạt được huy chương vàng.

Nhưng danh tiếng không cản được ông không bước theo cha mẹ mình đến Trung Hoa. Ông đến đó trong vai trò một giáo sĩ vào năm 1925. Khi quân đội Nhật bản đến bao vây vào năm 1937, ông đã ở lại; rồi qua năm 1943 ông bị họ nhốt trong một trại lính ở bên ngoài thành phố Bắc kinh. Mọi điều kiện sống rất tồi tệ. Eric đã phục vụ hết ngày nầy sang ngày khác, đã cầu nguyện với kẻ đau ốm, dạy dỗ các em thiếu nhi, làm chứng đạo cho kẻ bị hư mất. Dù có nhiều lúc đầu ông bị nhức nhối, sức khoẻ ông bắt đầu kém sút đi. Đến ngày 21 tháng 2 năm 1945, ông qua đời. Một cuộc khám nghiệm tử thi đã được thực hiện cho thấy ông bị bướu ở trong não.

Người ta hỏi thăm một kẻ sống sót trong trại tập trung lý do tại sao Liddell có ảnh hưởng cao trong trại như thế!?! Bà nầy cho biết rằng mỗi buổi sáng lúc 6 giờ ông đã thức giấc rồi thắp ngọn đèn đốt bằng dầu phộng đặt trên chiếc bàn nhỏ ở đầu nằm, ánh sáng cây đèn đủ để chiếu sáng quyển Kinh Thánh và sổ tay của ông. Ở đó ông đã thầm lặng gặp gỡ Đức Chúa Trời lúc rạng một ngày mới. Đây là thói quen lâu dài của một người Tô cách Lan, bà nầy cho biết, và là bí quyết của sức lực ông.

 

“Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời” (Philíp 3.12-14a).

 

                                                                                 7 tháng 4

THỬ THÁCH BẰNG LỬA

                Sao đám đông đã cổ vũ Chúa Jêsus trong ngày Chúa nhựt Lễ lá lại đóng đinh Ngài trên thập tự giá? Làm sao dư luận lại đổi ý nhanh như vậy chứ? Đấy là những gì Jerome Savonarola đã thắc mắc vào ngày 7 tháng 4 năm 1498. Ông sinh sống ở Florence trong cao trào phục hưng ở nước Ý. Đôi mắt màu đen tuyền của ông cùng các bài giảng nảy lửa của ông đã kích thích thành phố. Đám đông đã chờ đợi nhiều giờ mong hai cánh cửa giáo đường mở ra, và hàng ngàn người đã bám theo từng câu nói của ông. Ông nói như sấm sét: “Tôi giảng sự tái sanh cho Hội thánh, lấy Kinh Thánh làm kim chỉ nam”.

Thế rồi Savonarola trở thành người quản lý thành phố và biến Florence thành một xứ cộng hoà. Ông khởi xướng cải cách thuế má, trợ cấp cho người nghèo, làm cho toà án được thanh sạch, và đã thay đổi thành phố chính thức thành một tu viện. Ông đã thúc giục quần chúng đốt pháo bông mừng về việc thiêu đốt các loại sách báo khiêu dâm và các thứ cờ bạc. Sau khi phục hưng Florence, ông quở trách hàng giáo phẩm, đoạn tuyệt với những sự đồi bại của Giáo Hoàng. Khi Giáo Hoàng Alexander VI rút phép thông công đối với ông, ông đòi gạt bỏ Giáo Hoàng.

Một người dòng Franciscan đã đề nghị một sự “thử thách bằng lửa” để ổn định vấn đề. Trong tập tục thời trung cổ như thế nầy, một người buộc phải đi giữa hai bức tường lửa, và sự sống hay chết của người nầy được định để chỉ ra Đức Chúa Trời có bằng lòng hay không!?! Người bạn thân của Savonarola là Fra Domenico đã bằng lòng đi qua lửa, và sự thử thách được chỉ định vào ngày 7 tháng 4. Những sự chuẩn bị quan trọng đã được thực hiện khi tin tức được truyền đi khắp nước Ý. Hai hàng cây, trải dài khoảng 60 feet, đã được tẩm bằng dầu. Hai bàn chân đi giữa chúng chỉ rộng đủ cho một người đi qua. Sự phấn khích lên cao, và dân chúng bắt đầu kéo đến từ đêm hôm trước. Nhiều cánh cửa sổ, mái nhà quanh quảng trường đều đầy ắp với người ta. Cuộc thử thách được sắp đặt vào đúng 11 giờ sáng.

Nhưng thì giờ đến rồi đi. Sự kiên nhẫn của các đám đông đã tăng lên khi Savonarola đã chậm trễ không cho Domenico ra. Một trận bão dấy lên rồi im ắng. Buổi tối đến, và đám dân đông đã nổi loạn khi cuộc thử thách bị đình chỉ. Quyền lực của Savonarola không còn nữa. Ông bị bắt, bị tra tấn, và sau đó một thời gian ngắn đã bị hành quyết ngay tại chính quảng trường mà cuộc thử thách sẽ phải diễn ra. Đám dân đông đã tôn cao ông là một đấng tiên tri rồi chỉ định ông làm một chính khách, cuối cùng họ biến ông thành một kẻ tuận đạo.

 

“Ta nghe điều những kẻ tiên tri nầy nói, chúng nó nhơn danh ta mà nói tiên tri giả dối, rằng: Ta có chiêm bao…Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh lời ta, hãy truyền lại lời ta cách trung tín! Đức Giê-hô-va phán: Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao? Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy” (Giêrêmi 23.25a, 28-29).

 

                                                                 8 tháng 4

LẼ MẦU NHIỆM CỦA Ý TRỜI

                James Chalmers là một thiếu niên Tô cách Lan rất vô tư, và rất dạn dĩ. Về sau ông viết: “Tôi rất thích mạo hiểm, và rất hứng thú trong chỗ nguy hiểm”. Có lẽ đấy là lý do tại sao sáng Chúa nhựt kia ông đã cẩn thận lắng nghe khi vị Mục sư đọc một bức thư gửi đến từ các vị giáo sĩ ở Fiji. Nhà truyền đạo, hai hàng nước mắt, đã nói thêm: “Tôi lấy làm lạ không biết ở đây có một thiếu niên nào dám đem Tin lành đến cho các bộ tộc ăn thịt người hay không!?! Thiếu niên James bình tỉnh đáp: “Con đi” – và khi ấy ông vẫn chưa trở lại đạo.

Vào năm 1866, sau khi trở lại đạo và được huấn luyện, ông đã dong buồm đến Nam Thái Bình Dương trong vai trò giáo sĩ cho hệ phái Trưởng Lão. Chalmers đã có một con đường đến với hạng người ấy. Một người bạn của ông viết: “Chính sự hiện diện, chiếc xe ngựa, ánh mắt, giọng nói của ông ấy. Có cái gì đó rất lôi cuốn ở quanh ông ấy. Sự điềm tỉnh trọn vẹn, sự phán đoán, tài ứng biến, thái độ không sợ hãi đã đưa ông vượt qua được hàng trăm cảnh khó khăn”. Robert Louis Stevenson, là người không ưa thích các vị giáo sĩ cho tới khi ông gặp Chalmers, đã nói: “Ông ấy là kẻ rối, nhưng ông ấy là một anh hùng. Quí vị không thể làm cho tôi thấy chán về ông ấy được đâu. Ông ta đã bắt lấy tôi hoàn toàn bằng bão táp”.

Đến năm 1877 Chalmers dong buồm sang New Guinea. Chức vụ của ông rất thành công ở đó. Nhiều nhà thờ đầy ắp người thay chỗ cho các bữa tiệc thịt người. Nhưng khi thời gian trôi qua, ông đã sống trong cô độc. Ông rất vui khi thấy Oliver Tomkins đến hiệp tác với ông vào năm 1901. Hai người quyết định khám phá một hòn đảo mới, rồi vào ngày Chúa nhựt phục sinh, họ dong buồm đi dọc theo một ngôi làng mới. Sáng hôm sau, ngày 8 tháng 4 năm 1901, Chalmers và Tomkins đổ bộ lên bờ. Người ta không còn gặp lại họ nữa. Một toán giải cứu không bao lâu sau đó hay được rằng hai người đã bị đập bằng gậy cho đến chết, bị chặt ra thành nhiều mãnh, bị nấu chín và bị họ ăn thịt.

Tin tức lan đi khắp thế giới. Tấn sĩ Joseph Parker gào lên từ toà giảng của Đền Thánh nổi tiếng của Luân đôn: “Tôi không muốn tin việc ấy! Một lẽ mầu nhiệm của ý trời như thế khó phục hồi lại đức tin căng thẳng của chúng ta. Dù Chúa Jêsus đã bị giết. Phaolô đã bị giết. Nhiều vị giáo sĩ đã bị giết. Khi tôi nghĩ tới mặt đó của vụ việc nầy, tôi không làm chi khác hơn là cảm thấy người bạn cao thượng của chúng ta đã đến dự một buổi nhóm thật quan trọng”.

 

“Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con… Ấy vì đó mà chúng được ở trước ngôi Đức Chúa Trời” (Khải huyền 7.14b-15a).

 

9 tháng 4

PHẤN HƯNG TRÊN ĐƯỜNG AZUSA

                Đừng tự hại mình vì say rượu, Êphêsô 5.18 cảnh cáo: “nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Đây là mạng lịnh thiêng liêng, nhưng chúng ta phải đầy dẫy Đức Thánh Linh bằng cách nào? Câu hỏi ấy đã tạo cơ hội cho người ta phải tranh cãi trong cả một thế kỷ qua.

Từ vùng nông thôn bang Iowa, Mục sư Charles Fox Parham đã đem đến các thị trấn miền trung tây một sứ điệp nói tới sự thánh khiết ở cuối thập niên 1800. Vào tháng 10 năm 1900, được khích lệ bởi sự thành công của mình trong vai trò nhà truyền đạo và là nhà chữa lành, Parham đã mở một trường Kinh Thánh nhỏ tại Topeka. “Phép báptêm bởi Đức Thánh Linh” đã hấp dẫn ông. Đến tháng Chạp, ông phải đi dự các buổi nhóm tại Kansas City, nên truyền cho các học trò mình phải nghiên cứu đề tài nầy trong khi ông vắng mặt. Khi ông trở về, ngày 31 tháng Chạp, 40 học trò của ông đều nhất trí kết thúc phần nghiên cứu của họ rằng nói tiếng lạ là “minh chứng không cãi được” của phép báptêm bằng Đức Thánh Linh.

Đêm hôm đó họ đã tham dự các buổi nhóm lại đầu Năm Mới, các sinh viên bắt đầu cầu nguyện. Qua ngày hôm sau, ngày 1 tháng Giêng năm 1901, sinh viên Agnes Ozman bắt đầu nói tiếng lạ, và một ý thức về cơn phấn hưng quét qua cả nhóm.

Ngôi trường không bao lâu sau đó đã đóng cửa lại khi các vị giáo sư cùng những sinh viên của trường đều bung ra như các nhà truyền giáo cho khám phá mới của họ. Ở Texas, sứ điệp của Parham đã đến với Mục sư Báptít có tên là William Seymour, là dòng dõi của các nô lệ người châu Phi có một mắt. Seymour chuyển qua Los Angeles rồi mở ra một cửa hàng tại số 312 Đường Azusa trong một chuồng nuôi ngựa đã bỏ hoang. Ở đó ông bắt đầu giảng đạo. Đến ngày 9 tháng 4 năm 1906, Seymour cùng một số người khác nữa đã có một kinh nghiệm mà họ xưng nhận là “phép báptêm bằng Đức Thánh Linh”. Sự phấn khích lan nhanh, và một phóng viên tờ Los Angeles Times đã đến dự buổi nhóm của họ, ông viết: “Người ta đã làm cho buổi tối ấy ra ghê sợ…bởi nhiều tiếng hú của những kẻ đến thờ phượng”.

Nhiều đám dân đông từ các nơi trong xứ và trên thế giới đổ về đây, và những buổi nhóm cầu nguyện trong ba năm không ngừng nghỉ đã tiếp theo sau. Seymour thường ngồi ở trước phòng nhóm ngay phía sau hai cái thùng trống không, thùng nầy chồng lên thùng kia. Trong các buổi nhóm lại, đầu ông ta chui vào một trong hai cái thùng, sốt sắng cầu nguyện.

Phấn hưng ở đường Azusa được xem là phần mở đầu cho hệ phái Ngũ Tuần ngày nay, đã tấn triển thành một trong các phong trào Cơ đốc lớn nhất của thế kỷ thứ hai mươi.

 

“Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa. Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta” (Êphêsô 5.18-20).

10 tháng 4

CHRISTMAS TRONG THÁNG 4

                Vào ngày 25 tháng Chạp năm 1766, một con trai chào đời cho đôi vợ chồng thợ đóng giày nghèo khổ xứ Wales. Họ dự tính đặt tên cho nó là Vasover, thay vì thế họ đã chọn lấy tên ngày sinh mà đặt cho nó. Khi Christmas Evans lên 9 tuổi, bố nó qua đời đang khi làm việc bên chiếc bàn sửa giày của mình. Mẹ nó phải đứng lo liệu cho bầy con, và Christmas đến sống với một người chú nát rượu. Cậu bé rong chơi với đám bụi đời, đánh nhau, rượu chè, và gây nguy hại cho cuộc sống của mình. Nó không biết đọc đến một chữ nữa là.

Thế rồi khi Christmas nghe một nhà truyền đạo người xứ Wales là David Davies giảng đạo. Không bao lâu sau đó anh đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ, và Davies bắt đầu dạy đạo cho anh bên ngọn nến trong một nhà kho ở Penyralltfawr. Trong vòng một tháng Christmas có thể đọc được từ quyển Kinh Thánh của mình, và anh bày tỏ ra lòng ao ước muốn giảng đạo. Tuy nhiên, băng bụi đời trước kia của anh tỏ thái độ bực tức. Một tối kia chúng tấn công anh ở một con đường trên núi, chúng đánh và móc con mắt phải của anh.

Chàng thanh niên vẫn quyết tâm muốn giảng đạo, và anh đã giảng đạo. Bất cứ đâu anh đi tới – nhà thờ, các khu mỏ than, những đồng ruộng mênh mông – nhiều đoàn dân đông đã nhóm lại và một tinh thần phấn hưng quét qua số khán thính giả. Không có đủ khả năng sắm một con ngựa, anh đã khởi sự đi khắp xứ Wales bằng cách đi bộ, giảng đạo ở các thị trấn và làng mạc với hiệu quả rất lớn.

Nhưng Christmas Evans phải đánh mất niềm vui của công cuộc truyền giáo. Sức khoẻ của anh tàn lụn dần, và dường như anh đã sử dụng rất cao lòng sốt sắng thuộc linh của mình. Vào ngày 10 tháng 4 năm 1802, anh trèo lên các ngọn núi xứ Wales, quyết định vật lộn với Đức Chúa Trời cho tới chừng tinh thần anh hồi trở lại bình thường. Cuộc đấu vật đã kéo dài trong nhiều tiếng đồng hồ, nhưng sau cùng những giọt nước mắt bắt đầu tuôn chảy, và Christmas cảm thấy niềm vui của ơn cứu rỗi đã trở lại. Anh đã lập một giao ước với Đức Chúa Trời trong ngày ấy, anh ghi ra 13 khoản, ký tên vào mỗi khoản đó. Khoản thứ tư ghi như sau: “Xin ban cho con đừng có một hành động dại dột nào có thể làm khô héo các ân tứ của con…”. Và khoản thứ tám ghi: “Xin ban cho con kinh nghiệm được quyền phép của Lời Ngài trước khi con rao giảng Lời ấy”.

Nhà truyền đạo một mắt, vạm vỡ nầy đã rời khỏi đỉnh núi trong ngày đó với một quyền phép làm lay động xứ Wales và quần đảo Anglesea lân cận cho tới chừng anh qua đời 36 năm sau. Anh được gọi là “Bunyan của xứ Wales”.

 

“Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng…Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa… thì lưỡi tôi sẽ hát ngợi khen sự công bình của Chúa” (Thi thiên 51.10, 12a, 14b).

 

11 tháng 4

50.000 CÂU TRẢ LỜI CHO SỰ CẦU NGUYỆN

                George Mueller, chào đời trong một gia đình nhân viên thuế vụ người Đức, thường sống trong lo âu. Ông học biết trộm cắp, cờ bạc và say sưa rất sớm. Là một thiếu niên, ông đã học biết làm thế nào để sống trong các khách sạn đắt tiền, rồi lẻn đi mà chẳng trả một xu nào. Nhưng sau đó ông đã bị bắt rồi bị ngồi tù. Nhà tù đã làm cho ông ra tốt được một ít, thế nhưng sau khi được thả ra, ông lại tiếp tục lối sống gian ác của mình cho tới khi, vào tối thứ Bảy năm 1825, ông gặp gỡ Đức Chúa Jêsus Christ.

Mueller lấy vợ và định cư ở Bristol, Anh quốc, mỗi ngày lớn lên trong đức tin và phát triển một gánh nặng đối với trẻ em vô gia cư sống hoang đàng, lang thang trên các đường phố. Trong một buổi nhóm thờ phượng chung ở Bristol vào ngày 9 tháng Chạp năm 1835, ông đã trình bày một chương trình dành cho trẻ mồ côi. Có một số ý đóng góp vào. Mueller đã thuê số 6 đường Wilson, và đúng ngày 11 tháng 4 năm 1836, hai cánh cửa viện mồ côi đã mở ra. Hai mươi sáu em được nhập viện ngay khi ấy, Một viện thứ hai được khai trương, rồi viện thứ ba.

Ngay từ ban đầu Mueller đã từ chối không chịu yêu cầu gây nguồn quỹ hoặc giảng về các nhu cần tài chính của hội truyền giáo. Ông đã tin vào sự cầu nguyện cách sốt sắng và tin cậy Chúa sẽ tiếp trợ. Và Chúa đã tiếp trợ, mặc dù có lúc nhằm vào phút cuối cùng. Câu chuyện mà ai cũng biết, là vào buổi sáng kia khi đĩa, bát, chén đều được dọn ra ở trên bàn, nhưng chẳng có đồ ăn hay sữa chi hết. Các em đã ngồi đó chờ dọn bữa ăn sáng trong khi Mueller hướng dẫn cầu nguyện xin có bánh cho bữa ăn sáng hàng ngày của chúng. Một tiếng gõ cửa vang lên. Đó là người thợ làm bánh. Anh ta nói: “Thưa ông Mueller, tối qua tôi không thể ngủ được. Không biết sao tôi cứ nghĩ là ông không có bánh cho bữa điểm tâm, vì vậy tôi dậy lúc 2 giờ sáng và làm một số bánh mới đây nè”. Có tiếng gõ cửa lần thứ nhì vang lên. Xe của người đi giao sữa bị trục trặc ngay trước cỗng viện mồ côi, và anh ta muốn cho các em số sữa có trên xe để xe được trống cho anh ta dễ sửa chữa.

Những câu chuyện giống như thế đã trở thành chỉ tiêu trong công việc của Mueller. Trong suốt 93 năm sống của ông, Mueller đã nuôi dưỡng hơn 10.000 trẻ mồ côi, “đã cầu xin” hàng triệu đôla, đi đó đi đây trong nhiều quốc gia rao giảng Tin lành, và đã ghi lại 50.000 câu trả lời cho sự cầu nguyện.

 

“Giữa ngươi chẳng nên có thần lạ nào, Ngươi cũng chẳng nên thờ lạy thần kẻ ngoại. Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã đem ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô: Hãy hả hoác miệng ngươi ra, thì ta sẽ làm đầy dẫy nó” (Thi thiên 81.9-10).

 

12 tháng 4

CỐ VẤN CỦA CALVIN

                Có một số người tự làm ra vẻ trịnh trọng lắm. Ở đàng sau các bối cảnh thường có một vị cố vấn, đang quan sát với vẻ tự hào. John Calvin hiện hữu như một bậc anh hào trong lịch sử Hội thánh vì Guilaume Farel.

Farel là một nhà truyền đạo lưu hành ở nước Pháp, rất năng nổ và nồng nhiệt. Ông được người ta ví như Êli và họ gọi ông là “linh mục nghiêm nghị nhất trong các linh mục”. Ông đã xem Giáo Hoàng là anti-Christ và xem lễ Mass chẳng khác gì thờ lạy hình tượng. Các linh mục, họ ước ao ông chết đi, nên đem vũ khí giấu dưới áo choàng định ám sát ông. Sau một nổ lực nhắm lấy mạng ông, ông đã quay trở lại và đối mặt với các linh mục từng khai hoả viên đạn bắn ông. Ông gào lên: “Tôi chẳng sợ mấy viên đạn của các ông đâu”.

Ông là người nhỏ con, nước da rám nắng, sốt sắng, và có quyền năng. Các bài giảng của ông giống như những khẩu đại bác đang khai hoả vậy, và tài hùng biện của ông đã thu phục cả xứ. Ông thường nói quá nhiều, và một người bạn đến dè chừng ông: “Sứ mệnh của anh là truyền đạo, chớ không phải rủa sả đâu nhé”.

Đến ngày 12 tháng 4 năm 1523, Farel bị cấm giảng đạo tại nước Pháp. Ông bỏ trốn qua Thụy sĩ và đi lưu động từ thị trấn nầy sang thị trấn khác, biến gốc cây và hòn đá thành ra toà giảng. Khi ông đến tại Geneva, các giáo phụ và linh mục của thành phố đã tìm cách buộc ông phải đi chỗ khác. Họ hỏi như sau: “Ai mời ông đến đây?” Farel đáp:

                “Tôi đã nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà chịu phép báptêm, và tôi không phải là ma quỉ. Tôi đi đó đi đây rao giảng về Đấng Christ, là Đấng đã chịu chết vì tội lỗi của chúng ta và đã sống lại để xưng công bình chúng ta. Hễ ai tin nơi Ngài sẽ được cứu rỗi; những kẻ không tin sẽ bị hư mất. Tôi buộc phải giảng đạo cho hết thảy người nào chịu nghe. Tôi sẵn sàng tranh cãi với các ông, để trình sổ đức tin và chức vụ của tôi. Êli đã nói với Vua Aháp: “Chính Vua, chớ không phải tôi, đã làm rối loạn Israel”. Vậy, tôi nói: “Chính các ông và những gì thuộc về các ông, là những kẻ đã làm rối loạn thế gian bởi những lời truyền khẩu, những sáng tạo, và loại đời sống phóng đảng của các ông”.

Ông đã bị họ chế nhạo, bị đánh đập, bị ngược đãi. Nhưng ông không chịu nhượng bộ tại Geneva. Vài năm sau khi chàng thanh niên John Calvin đi ngang qua xứ, Farel vớ lấy Calvin và nhường cho Calvin một chỗ để giảng đạo – và, quả thực thế, một chỗ trong lịch sử của Hội thánh.

 

“A-háp bèn đi đón Ê-li…Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng? Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh” (I Các Vua 18.16b-18).

 

13 tháng 4

CHIẾU CHỈ NANTES

Năm 1516 Giáo Hoàng Leo X ban cho Francis, Vua nước Pháp, đặc ân chỉ định các cấp lãnh đạo giáo hội ở trong xứ sở của ông. Chiếu chỉ nầy, Concordant xứ Bologna, đã biến Giáo hội Pháp thành một gánh xiếc chính trị, và các vua Pháp nối theo sau e sợ Công cuộc Cải chánh vì họ không muốn mất quyền điều khiển trên giáo hội theo như chiếu chỉ quy định.

Tuy nhiên, Geneva, nằm ngay trên biên giới nước Pháp, và Geneva là một trung tâm năng lực cải chánh rất mạnh. Nhiều sinh viên đại học, luật gia, cùng các giáo sư Pháp bị cuốn đến với sự dạy của trung tâm nầy. Những tín đồ Tin lành Pháp, được gọi là Huguenos, tấn tới trong ảnh hưởng và số lượng, và suốt triều đại của Vua Henry II (1547-1559), họ phát triển rất nhanh từ 400.000 đến 2.000.000 tín đồ. Khi triều đình Pháp tìm cách ngăn chặn những người Pháp theo Tin lành, một loạt 8 cuộc chiến tranh  giữa các lực lượng Tin lành và Công giáo đã tàn phá nước Pháp. Đỉnh cao của các cuộc xung đột nầy đã xảy ra vào ngày 24 tháng 8 năm 1572, là ngày Thánh Bartholomew, khi khoảng 20.000 tín đồ Tin lành đã bị tàn sát.

Theo sau cuộc tàn sát Ngày Thánh Bartholomew, Henry xứ Navarre, là người bật đèn xanh đổi từ Tin lành qua Công giáo, ông ta nương vào các nhu cần chính trị của mình, đã quay đầu trở lại với Công giáo. Điều nầy cho phép ông ta xưng vương, đoạt lấy ngai vàng. Cố vấn của ông ta nói: “Paris xứng đáng cử hành Lễ Mass”. Henry đã đoạn tuyệt với mọi góc cạnh như một kẻ giả hình, nhưng ông ta còn giữ lại sự cảm thông với những người Pháp theo Tin lành và ông ta muốn chữa lành xứ sở đã bị phá tán của mình. Sau khi lên ngôi, Henry IV, ông ký một chiếu chỉ tại thành phố Nantes của nước Pháp, chấp nhận khoan hồng cho những người Pháp theo Tin lành. Chiếu chỉ nầy cho phép họ được quyền thờ phượng, in ấn tài liệu, mở văn phòng công khai, và giáo dục con em họ theo ý họ muốn. Chiếu chỉ Nantes, được ký vào ngày 13 tháng 4 năm 1598, là văn kiện đầu tiên cho bất kỳ quốc gia nào nổ lực đưa ra một văn bản khoan hồng tôn giáo.

Không phải ai cũng vừa lòng cả đâu. Giáo Hoàng Clement VIII đã xét đoán chiếu chỉ nầy là: “đáng nguyền rủa nhất mà người ta có thể tưởng tượng được, ý thức tự do được chấp nhận cho mọi người nhơn chiếu chỉ đó, đây là điều tệ hại nhất trong thế gian”. Thế nhưng chiếu chỉ Nantes đã cung ứng sự bảo hộ và khoan hồng cho những người Pháp theo Tin lành trong gần một thế kỷ, cho tới khi nó bị Vua Louis XIV thu hồi lại.

 

“Công việc tay Ngài là chơn thật và công bình; Các giềng mối Ngài đều là chắc chắn, được lập vững bền đời đời vô cùng, theo sự chơn thật và sự ngay thẳng. Ngài đã sai cứu chuộc dân Ngài, truyền lập giao ước Ngài đến đời đời. Danh Ngài là thánh, đáng kính sợ” (Thi thiên 111.7-9).

 

14 tháng 4

TỜ GIẤY BÁO CŨ

                Isarel ngày xưa gồm có 12 chi phái đóng trại chung quanh đền tạm chứng cớ. Cũng một thể ấy, Cơ đốc giáo luôn luôn có những trạm truyền giáo, những bộ tộc và các hệ phái, thường liên kết và cộng tác mật thiết với nhau làm việc vì Nước Trời. Một trong những sự phát triển nhanh nhất ở nước Mỹ ngày xưa là những người Báptít Ý Chí Tự Do (The Freewill Baptists) ở New England, đã khởi sự khi Benjamin Randall của New Hampshire trở lại đạo vào năm 1770. Những người Báptít Ý Chí Tự Do nổ lực theo đuổi công cuộc truyền giáo và giáo dục ở vùng Đông Bắc Mỹ và có mặt giữa vòng những tiếng nói mạnh mẽ nhất chống lại tình trạng nô lệ.

Sự kéo dài phong trào ra hải ngoại đã được kích động bởi một tờ báo cũ.

Những người Báptít chính thống ở nước Anh đã sai phái Amos Sutton đến Ấn độ vào năm 1830 trong vai trò một bác sĩ giáo sĩ. Trách nhiệm thật là lớn, và người vợ Mỹ của ông, đã lấy làm lo cho sức khoẻ của ông, nên đề nghị ông viết thư cho những người Báptít Ý Chí Tự Do, kêu gọi họ giúp sức. Sutton ngay lập tức viết một bức thư khá dài kết thúc với: “Vậy, hãy đến, hỡi các anh em người Mỹ của tôi, hãy qua đây và giúp đỡ cho”.

Không may, Sutton không có một địa chỉ nào để gửi thư cho những người Báptít Tự Do, vì vậy bức thư đã ở lì trên bàn giấy của ông trong nhiều tháng trời. Ngày kia ông nhận được một gói quà và, sau khi mở nó ra, ông thấy một món đồ dễ vỡ được gói trong tờ báo cũ bỏ rồi. Tờ báo cũ thật có giá trị hơn món quà, vì đó là tờ Morning Star, ấn bản của những người Báptít Ý Chí Tự Do. Bác sĩ Sutton liền lấy bức thư để địa chỉ vào rồi gửi đi. Hội Truyền Giáo Báptít Tự Do Hải Ngoại không bao lâu sau đó đã được thiết lập, và Sutton thực hiện một chuyến tham quan New Hampshire. Xanh xao và hốc hác, ông nói cho 3.000 Cơ đốc nhân đã nhóm lại biết: “Khi tôi chỗi dậy để giảng luận, dường như tôi thấy hàng triệu người ở Ấn độ quì gối dưới đất đổ nước mắt mà nói: `Xin biện hộ cho lý tưởng của chúng tôi – và biện hộ cho thật hiệu quả’”. Ông đã trở lại Ấn độ với 21 nhân sự. Phần lớn trong số họ đã chết, nhiều người khác đã chịu khổ nhiều lắm, nhưng vẫn cứ bước tới. Rồi nhằm ngày 14 tháng 4 năm 1839, toà giảng đầu tiên của tín đồ Báptít Ý Chí Tự Do ở Ấn độ đã được cung hiến cho Đấng Christ để giúp đỡ cho các tân tín hữu.

Một vị giáo sĩ viết: “Có phải bạn bè của hội truyền giáo đã chứng kiến hội chúng nhỏ của chúng ta yên tỉnh ngồi trên các tấm chiếu của họ, lắng nghe Lời của sự sống đời đời với sự chú ý thật nghiêm trang, họ đã mừng vui với chúng ta, và đã ngợi khen danh của Đức Chúa Trời là Đấng đã sắm sẵn chỗ cho chúng ta”.

 

“Hỡi các họ hàng của muôn dân, Đáng tôn vinh hiển và năng lực cho Đức Giê-hô-va. Hãy tôn vinh xứng đáng cho danh Đức Giê-hô-va; Hãy đem lễ vật mà vào trong hành lang Ngài. Hãy mặc trang sức thánh mà thờ lạy Đức Giê-hô-va; Hỡi cả trái đất, khá run sợ trước mặt Ngài” (Thi thiên 96.7-9).

 

15 tháng 4

JEROME XỨ PRAGUE

Jerome ưa thích cuộc sống tập thể, đi đó đi đây và Kinh Thánh. Anh ra đời ở Prague, rất xuất sắc ở trường đại học tại đây. Sau khi tốt nghiệp, anh qua Anh quốc để học tại Oxford, ở đó anh đã nếm trải mọi sự giảng dạy của John Wycliffe, “Ngôi Sao Mai của Cuộc Cải Chánh”. Anh càng đọc, anh càng thấy rung động thêm, rồi anh trở về lại Prague với tấm lòng đầy dẫy các ý tưởng mới. Lòng nhiệt thành của anh không bao lâu sau đó đã đưa anh đến với nhiều thành phố khác. Anh đến thành Jerusalem vào năm 1403, Paris vào năm 1404, Heidelberg vào năm 1405, và Cologne vào năm 1406. Anh đã tham quan các trường đại học ở châu Âu, chia sẻ các tin tức tốt lành nói đến sự xưng công bình bởi đức tin. Anh đã diện kiến Vua Sigismund của Hungary vào năm 1410, bàn bạc về các thói tật của hàng giáo phẩm, tìm cách làm cho vị vua nầy chiếu cố tới các ý tưởng tiền-Cải chánh. Anh sang nước Nga vào năm 1413, rồi sang Lithuania. Kế đó, vào năm 1415, anh đã đến với sự vùa giúp của bạn mình là John Hus.

Hus, một nhân vật tiền cải chánh khác, đã bị lôi ra trước Nhà hội ở Constance rồi bị kết án vì cớ đức tin của mình. Hus cảnh cáo Jerome nên ở lại, thế nhưng bất chấp mọi sự, Jerome đã đi qua Constance. Anh đã bị bắt đúng vào ngày 15 tháng 4 năm 1415, bị còng xiềng, rồi bị bỏ tù. Đồng thời, Hus đã bị thiêu trên giàn hoả.

Dướp áp lực quá lớn, Jerome đã nhất thời chao đảo, sau khi đọc một tài liệu vào ngày 11 tháng 9 năm 1415, anh chấp nhận thẩm quyền của Giáo Hoàng. Với hy vọng kiếm được nhiều công chứng như có thể được, giáo hội đã đưa anh ra xét xử tại Toà Thánh Constance. Họ muốn tất cả xứ Bohemia nghe được lời cáo từ lui đi của anh. Tuy nhiên, Jerome đã cải soạn lại và bảo vệ quan điểm của mình với tài hùng biện thật hữu hiệu. Anh không nhìn nhận lời cáo từ lui đi đó, công bố tình trạng vô tội của Hus và lòng trung thành của mình đối với mọi sự dạy của Wycliffe.

                Nhà cầm quyền rất tức tối tuyên bố anh là “một nhánh cây khô héo bị đốn hạ”. Họ kết một cái mũ giấy, sơn màu đỏ ma quỉ, đội trên đầu anh rồi dẫn anh ra chỗ mà Hus đã bị thiêu cháy. Một biểu lộ rất vui vẻ tràn ngập trên gương mặt của Jerome và anh cất tiếng hát những bài thánh ca Phục sinh khi gỗ được chất đống chung quanh anh. Ngọn lửa từ từ bốc cao thiêu đốt anh, và tro bụi của anh đã được rãi hết trên dòng sông Rhine.

 

“Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ, phải có lương tâm tốt, hầu cho những kẻ gièm chê cách ăn ở lành của anh em trong Đấng Christ biết mình xấu hổ trong sự mà anh em đã bị nói hành; vì nếu ý muốn Đức Chúa Trời dường ấy, thì thà làm điều thiện mà chịu khổ, còn hơn làm điều ác mà chịu khổ vậy” (I Phierơ 3.15b-17).

 

16 tháng 4

TẠI ĐÓ…

Một tấm bia kỷ niệm tại Westminster Abbey tôn vinh một người, chào đời ngày 16 tháng 4 năm 1786, mộ của người nầy chẳng ai tìm thấy đâu hết. Ông là một người Anh đi biển ở tuổi 15 với Admiral Nelson. Ông sống sót sau trận đánh ở Copenhagen rồi trở về nước Anh chỉ để ra đi một lần nữa, lần nầy trên một chuyến hành trình để lập biểu đồ cho nước Úc. Kế đó, ông tham gia trận đánh Trafalgan, rồi cuộc tấn công vào New Orleans đã bị Tướng Andrew Jackson đẩy lùi.

Tên của ông là John Franklin, và sáu năm sau cuộc tấn công vào New Orleans, ông tham dự một chiến dịch tìm cách băng ngang qua Polar Sea. Ông lại đam mê với cuộc thám hiểm Bắc cực, và khi các chiếc tàu buộc phải trở lại Anh quốc, ông đã tham gia vào một chiếc dịch khác để lập biểu đồ cho các bờ biển phía Bắc xứ Canada.

John được phước với tính lạc quan và không bao giờ cho phép bản thân mình rơi vào chỗ ngã lòng hay cô đơn. Mọi người ông gặp gỡ đều trở thành bạn hữu của ông. Ông nói, bí quyết của ông là Đấng Christ. “Nếu một người trăn trở: `Làm sao tôi được cứu?’” ông đã viết thư cho chị mình từ một trại băng tuyết phủ chung quanh, `há chẳng vui mừng cho người ấy khi thấy rằng tin lành chỉ ra đường lối đó sao? Đấng Christ đã chịu chết cho sự cứu rỗi tội nhân chính là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống”.

Một trong các thủy thủ của ông viết: “Ông ấy hoàn toàn là một giám mục! Chúng tôi đi nhà thờ vào buổi sáng và buổi tối vào ngày Chúa nhựt. Nhiều người nói họ muốn có ông còn hơn cả phân nửa linh mục ở nước Anh”.

Vào ngày 19 tháng 5 năm 1845, ông dong buồm từ nước Anh đi tìm Hành Lang phía Tây Bắc và để thám hiểm Bắc cực. Hai bức thư cổ vũ được ông gửi đi, thế rồi không còn nghe thấy tin tức gì nữa hết. Nhiều năm tháng trôi qua, và số phận của John Franklin cả gia đình và xứ sở đều chẳng ai biết hết. Vợ ông cứ mãi lo tìm kiếm ông. Sau cùng, một chiếc thuyền đã được người ta tìm thấy đóng băng ở phía Bắc. Trong đó là hai bộ xương và quyển Kinh Thánh của Ông John Franklin. Thi thiên 139. 9-10 đã được gạch dưới: “Nhược bằng tôi…ở tại cuối cùng biển, tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, tay hữu Chúa sẽ nắm-giữ tôi”.

John Franklin từ đó nổi tiếng với sự khám phá Hành Lang Bắc Cực, và các chuyến thám hiểm Bắc Cực của ông đã kết quả trong việc được phong tước và được cấp một học vị danh dự từ trường đại học Oxford.

 

“Chúa xét nét nẻo-đàng và sự nằm-ngủ tôi, quen biết các đường-lối tôi…Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, bay qua ở tại cuối cùng biển, tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, tay hữu Chúa sẽ nắm-giữ tôi” (Thi thiên 139.3, 9-10).

 

                                                           17 tháng 4

CÔNG VỤ CÁC SỨ ĐỒ TÁI DIỄN

                Có hơn 60 lần nói tới Êthiôpi trong Kinh Thánh, và Cơ đốc giáo ở đó đang lần trở lại với thời buổi của sứ đồ Philíp trong Công Vụ các Sứ Đồ 8. Nhưng câu chuyện hiện đại nói về Hội thánh Êthiôpi cũng vang dội giống như khi đọc trong sách Công Vụ các Sứ Đồ, đặc biệt giữa vòng bộ tộc Wallamo. Năm 1927 Hội Truyền Giáo Nội Địa Sudan (SIM) đã sai phái các giáo sĩ đến truyền đạo cho bộ tộc hoang dã nầy, là những kẻ thờ lạy Satan. Trong “Lễ Vượt Qua” hàng năm của bộ tộc nầy, người dân Wallamo đã dâng một con bò làm của lễ cho Satan, rải huyết nó trên các ngạch cửa nhà của họ rồi ban thịt nướng của con bò đó cho từng thành viên trong các gia đình của họ. Bầu không khí đầy mùi hương dâng cho ma quỉ.

Sau vài năm, một Hội thánh nhỏ đã được thiết lập, nhưng công việc truyền giáo đã bị đứt đoạn khi Mussolini đến bao vây xứ Êthiôpi vào năm 1935. Lúc quân đội Ý tiến đến các khu vực của bộ tộc, họ ra lịnh cho SIM phải rời khỏi đó. Các giáo sĩ đã nhóm lại lần sau cùng với các tín đồ Wallamo. Khi họ tới đó, chưa có một người Wallamo nào nhận biết về Đấng Christ cả. Bây giờ, sau 9 năm, 48 tín đồ người bản xứ đã nhóm lại xung quanh họ. Hội thánh nhỏ ấy đã thờ phượng, khóc lóc, và chia sẻ Tiệc Thánh của Chúa. Thế rồi 26 vị giáo sĩ SIM trèo lên các xe tải của quân đội để được sơ tán đi nơi khác. Đến ngày 17 tháng 4 năm 1937, ngày đầu tiên không có sự giúp đỡ của đoàn truyền giáo, Hội thánh Wallamo nhỏ bé ấy đã phải tự đứng trên chân của mình. Giáo sĩ Raymond Davis viết: “Chúng tôi biết rõ Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài có quyền bảo tồn mọi thứ mà Ngài đã bắt đầu giữa vòng bộ tộc Wallamo. Nhưng chúng tôi vẫn cứ lấy làm ngạc nhiên – nếu chúng tôi được trở lại đó, chúng tôi sẽ nhìn thấy điều gì?”

Cuộc xâm lược vào xứ Êthiôpi đã đánh dấu sự khởi đầu của Đệ II Thế Chiến, và mãi cho đến ngày 4 tháng 3 năm 1943, các vị giáo sĩ đã quay trở lại đó. Những gì họ nhìn thấy hầu như đã thách thức đức tin của họ. Các binh lính Ý đã cố gắng nghiền nát Hội thánh nhỏ ấy. Các vị lãnh đạo Hội thánh bị đánh 100 roi, và có người đã bị đến 400 roi. Họ không thể nói dối về lai lịch của họ trong nhiều tháng trời. Có mấy người đã ngã chết. Một trong số họ, Wandaro, bị đánh đòn ở chỗ đông người, đã rao giảng cho đám dân đông giữa những lằn roi. Một người khác, Toro, đã bị quất bằng roi da ở khu chợ búa, anh đã dạn dĩ hô vang Tin lành. Nhiều người trở lại đạo càng tăng thêm, và làng mạc của bộ tộc bắt đầu gửi giáo sĩ sang các làng mạc khác.

Thay vì 48 tín đồ, các giáo sĩ trở lại đó giờ đây đã nhìn thấy – 18.000 tín đồ.

 

“Bấy giờ, có một thiên sứ của Chúa phán cùng Phi-líp rằng: Hãy chờ dậy đi qua phía nam, trên con đường từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Ga-ra. Đường ấy vắng vẻ… Người chờ dậy và đi. Kìa, có một hoạn quan Ê-thi-ô-bi, làm quan hầu của Can-đác, nữ vương nước ê-thi-ô-bi, coi sóc hết cả kho tàng bà, đã đến thành Giê-ru-sa-lem để thờ phượng, khi trở về, ngồi trên xe…Phi-líp chạy đến, nghe người Ê-thi-ô-bi đọc sách tiên tri Ê-sai, thì nói rằng: Ông hiểu lời mình đọc đó chăng?…Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh Thánh đó mà rao giảng Đức Chúa Jêsus cho người” (Công Vụ các Sứ Đồ 8.26, 27-28a, 30, 35).

 

18 tháng 4

QUYỂN SÁCH GHI NHỮNG NGƯỜI TUẬN ĐẠO

                John Foxe vào đại học Oxford khi còn là một thiếu niên. Ông đã được bầu chọn làm nghiên cứu sinh của Trường Magdalen, và từ năm 1539 đến 1545 ông đã nghiên cứu lịch sử Hội thánh. Ông trở lại đạo Tin lành và buộc phải thôi không còn là nghiên cứu sinh nữa, đây là kết quả. Đến năm 1550 ông được Nicholas Ridley, Giám mục thành Luân đôn tấn phong, và ông kết bạn với Hugh Latimer, William Tyndale, và Thomas Cranmer. Nhưng khi Nữ Hoàng Mary lên ngôi, đưa Anh quốc trở lại với Công giáo La mã, Foxe đã bỏ trốn. Ở Thụy sĩ, ông đã nghe kể lại các tin tức khủng khiếp truyền đi từ nước Anh. Latimer, Ridley, Cranmer, và vô số những người khác đã bị bắt và bị hoả thiêu.

Một ý tưởng hình thành trong lý trí của Foxe, không bao lâu đã ám ảnh ông. Ông đã biên soạn một quyển sách nói về sự bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời. Sống trong cảnh nghèo khổ, Foxe đã để ra từng phút rỗi rãnh cho dự án của mình. Ông đã lao động cả ngày trong một xưởng in để giúp đỡ cho gia đình, nhưng vào ban đêm ông miệt mài với bản thảo của mình. Đến năm 1559 Foxe cho in quyển sách ở lục địa châu Âu – 732 trang bằng tiếng Latinh. Sau khi về lại Anh quốc dưới triều đại của Elizebeth Tin lành, ông khôi phục lại công tác Mục sư của mình và đã dịch quyển sách ấy ra tiếng Anh. John Day đã in quyển sách đó tại Luân đôn vào năm 1563 dưới đề tựa “Công Vụ các Sứ Đồ và Tưởng Niệm Thời Buổi Bách Hại Đụng Đến Các Vụ Việc Trong Hội Thánh”.

                Thế nhưng Foxe chưa hoàn tất công việc. Ông để ra bốn năm phỏng vấn những nhân chứng, thu thập tài liệu, tìm kiếm những bức thư. Sau nhiều ngày tháng trong chức vụ của Hội thánh, ông ngồi bên ngọn đèn lập loè, cứ tiếp tục ghi bản thảo của mình. Đến năm 1570, một ấn bản thứ hai ra đời – hai quyển sách lớn tổng cộng 2.315 trang – kế đó là ấn bản thứ ba và thứ tư. Quyển Sách Những Nhà Tuận Đạo của Foxe là một trong những quyển sách quan trọng nhất trong đời trị vì của Elizabeth, có một sự đụng chạm rất phi thường. Quyển sách nầy có mặt trong từng ngôi giáo đường lớn kề bên với quyển Kinh Thánh. Vicars đã đọc sách ấy trong suốt các buổi thờ phượng sáng Chúa nhựt. Francis Drake đã đọc sách ấy lớn tiếng trên vùng biển miền Tây. Sách ấy cảm động những người Thanh Giáo. Sách ấy bắt lấy cả thế giới giống như một cơn bão vậy.

Thế nhưng sách ấy cũng gây thiệt hại trên sức khoẻ cá nhân của Foxe, và ông không bao giờ hồi phục được. Ông qua đời do suy nhược vào đúng ngày 18 tháng 4 năm 1587. Nhưng ông đã cung ứng cho chúng ta sự thành tựu rất vinh hiển của đời sống ông.

“Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết. Trong lúc đó, Hội thánh ở thành Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ đữ tợn; trừ ra các sứ đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri. Dầu vậy, có mấy người tin kính chôn xác Ê-tiên và than khóc người quá bội. Nhưng Sau-lơ làm tàn hại Hội thánh: sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đờn ông đờn bà mà bỏ tù. Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành (Công Vụ các Sứ Đồ 8.1-4).

 

19 tháng 4

TỔNG GIÁM MỤC ALPHEGE

                Alphege, một người Anh chào đời vào năm 954, đã bước vào tu viện ở Gloucester khi còn là một thanh niên và mau mắn đem lòng yêu mến Đức Chúa Jêsus Christ. Một vài năm sau đó ông trở thành lãnh đạo Hội thánh tại xứ Bath, và khi anh được 30 tuổi, Thánh Dustin đã chọn anh làm Giám Mục của thành phố Winchester. Lúc đầu Alphege đã từ chối chức Giám Mục, tự xem mình là quá trẻ đối với một trách nhiệm như thế. Nhưng ông rất năng nổ, thánh thiện và rất được mến chuộng, và Dustin đã khuyên ông nên bắt tay phục vụ.

Cảm thấy gánh nặng về sự nghèo khó của Winchester, Alphege không bao lâu sau đó đã bắt đầu tổ chức các chức năng về lương thực và tài trợ. Khi ấy chẳng có một tên ăn xin nào trong giáo phận của ông cả. Tuy nhiên, trong khi đảm nhận chức vụ, bản thân ông lại bị bỏ đói cho tới chết, ông ốm đến nỗi những người đến thờ phượng tuyên bố họ có thể nhìn thấy qua bàn tay ông khi ông giơ tay lên trong lúc thực hiện Lễ Mass. Họ mến yêu ông thật nhiều, và Alphege đã phục vụ ở vai trò Mục sư cho họ trong 22 năm.

Khi Aelfric, tổng giám mục xứ Canterbury qua đời, Giáo Hoàng John XVIII đã chọn Alphege làm người kế tục cho Aelfric. Nước Anh lúc bấy giờ đã ở trong sự vất vả với cuộc chiến xâm lược của người Đan mạch, và một thời gian ngắn sau khi Alphege trở thành Tổng giám mục, các lực lượng người Đan mạch, được sự giúp sức của Bá tước Edric làm phản, đã tiến vào Kent rồi tấn công xứ Canterbury. Thành phố bị vây hãm, và các lãnh đạo của thành phố nài nỉ Alphege nên bỏ trốn vì ích của nước Anh. Vị Tổng giám mục đã chọn ở lại với dân sự của mình đang bị địch bao vây.

Người Đan mạch phá thủng các bức tường, xông thẳng vào dân chúng, rồi bắt đầu tàn sát cả người già lẫn người trẻ. Alphege đã xông thẳng vào trung tâm cảnh chém giết. Đối mặt với tên chỉ huy quân Đan mạch, ông đã ra lịnh chấm dứt cuộc chém giết. Thay vào đó, ông bị bắt, bị quản thúc, rồi bị ném vào ngục tối.

Người Đan mạch đòi một giá chuộc từ Anh quốc để họ phóng thích ông, nhưng Alphege từ chối được phóng thích, ông tuyên bố rằng quốc gia ông quá nghèo không thể trả nổi một giá như thế. Ông bị dẫn độ đến Greenwich, ở đây những kẻ xâm lược một lần nữa đòi giá chuộc. Alphege, một lần nữa khăng khăng từ chối, ông bị giết chết bởi người Đan mạch trong một tiệc rượu say sưa vào năm 1012.

Thi thể ông về sau được người ta tìm thấy và đem chôn ở Đại giảng đường Thánh Phaolô ở Luân đôn, rồi được dời về xứ Canterbury vào năm 1012. Mỗi năm nước Anh ghi nhớ nhà tuận đạo Cơ đốc  trung thành của mình vào ngày 19 tháng 4, ngày mừng tiệc Thánh Alphege, tổng giám mục xứ Canterbury.

 

“Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, bấy giờ loài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời; chánh tôi sẽ thấy Ngài, mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài, chớ chẳng phải kẻ khác: lòng tôi hao mòn trong mình tôi” (Gióp 10.25-27).

 

20 tháng 4

NGỤC TÙ CỦA MA QUỈ

                Phaolô đã cảnh cáo thẳng thừng những kẻ nào giả dạng làm sứ đồ của Đấng Christ. Một số người đã cuộn mình trong chiếc áo dài tôn giáo, đã hiểm ác còn hơn người ta tưởng. Hãy lấy Toà án Pháp đình [Inquisitors] làm thí dụ. Từ ngữ Inquisition [Pháp đình], có họ gia đình với chữ inquire [điều tra] và inquest [thẩm tra], có ý nói tới bộ máy luật pháp do giáo hội thời trung cổ điều hành để nhổ rễ dị giáo. Trong những thế kỷ đầu tiên Hội thánh đã rút phép thông công những người theo dị giáo, nhưng hầu hết các lãnh đạo Hội thánh đã chống đối hình phạt theo phần xác. Nhưng khi bọn quan liêu lấn lướt và dị giáo hưng thịnh, các thái độ đã thay đổi.

Trong suốt thập niên 1100 và 1200, các áp lực mạnh hơn đã mở ra; và vào ngày 20 tháng 4 năm 1233 Giáo Hoàng Gregory IX đã phát ra hai chiếu chỉ, cho phép bắt bớ dị giáo theo dòng tu Dominican. Toà án Pháp đình lan ra khắp xứ, khuyên những người theo dị giáo phải xưng tội. Những kẻ không xưng tội bị đưa ra xét xử, Toà án Pháp đình đóng vai trò như một toà án đặc biệt với quyền lực rộng khắp và đáng sợ.

Vào năm 1252 Giáo Hoàng Innocent IV cho phép sử dụng phương tiện hành hình, và Toà án Pháp đình không bao lâu sau đó trở thành “bộ máy đàn áp khủng khiếp mà lý trí của con người hay ma quỉ có thể nghĩ ra”. Những kẻ tình nghi bị đánh đòn, bị thiêu, bị chém, bị làm cho chết vì đông lạnh, bị đóng trăn, và bị treo lên bởi các chi của họ. Hai bàn chân của họ bị nướng từ từ trên đống than hầm. Những phát minh độc ác đầy dẫy các nhà tù và hầm tối của nhà thờ: dụng cụ tra tấn dùng để kẹp ngón tay để nghiền nát mấy ngón tay cái, những đôi giày để nghiền nát từ từ hai bàn chân, và Jungfer khủng khiếp, hay “hầu gái bằng sắt”. Món sáng chế nầy ôm lấy nạn nhân với hai cánh tay bằng kim loại, nghiền nát người bằng một cái ôm siết thật chặt, rồi buông ra để cho người té xuống, máu tuôn ra từ vô số những vết thương, xương cốt đều gãy hết, dãy chết từ từ trong một cái hố đào sẵn có những mũi giáo và dao chỉa đứng lên.

Trẻ em và người lớn sẽ bị hành hình “nhẹ” thôi, và chỉ có phụ nữ mang thai được miễn trừ – cho tới khi sanh nở xong. Toà án Pháp đình hoạt động ở nước Đức, hưng thịnh ở Pháp và Ý, lên đến đỉnh điểm của nó tại Tây ban Nha. Toà án nầy bày biện sự hủy diệt của nó chống lại người Do thái, người Waldensian, người da đen và tín đồ Tin lành. Nó thể hiện vẻ bề ngoài rất tôn giáo, nhưng trong các ngục tù tăm tối của nó chính là kẻ thù của Đấng mà áo xống của Ngài nó đang khoác lấy.

 

“Vì mấy người như vậy là sứ đồ giả, là kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ. Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lại gì; nhưng sự cuối cùng họ sẽ y theo việc làm” (II Côrinhtô 11.13-15).

 

21 tháng 4

ĐỨC CHÚA TRỜI TRÊN DÃY NÚI ALPS

                Quyền phép và bổn tánh đời đời của Đức Chúa Trời người ta không thể thấy được bằng mắt thường. Nhưng từ buổi đầu sáng thế, Đức Chúa Trời đã tỏ ra những điều nầy qua mọi vật mà Ngài đã dựng nên (Roma 1.20). Có nhiều người không hiểu được vẻ oai nghi sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, nhưng có một thiếu niên sống ở vùng biên giới Ý-Thụy sĩ đã tiếp thu được sứ điệp.

Anselm lớn lên nhờ vào sự dạy dỗ của Thánh Bernard. Mẹ ông thường hay nhắc cho ông nhớ về Đấng Tạo Hoá, và Anselm đã tưởng tượng Đức Chúa Trời đang sinh sống trên dãy núi Alps. Trong lúc tuổi niên thiếu, Anselm do tranh cãi với cha mình, đã bước vào một tu viện của người Pháp, ở đó ông đã mở rộng kiến thức mình về Đức Chúa Trời qua sự nghiên cứu Kinh Thánh. Tâm trí kỉnh kiền và đức tin trưởng thành của ông dẫn tới những lời kêu gọi được lặp đi lặp lại nhiều lần từ Anh quốc, và rồi Anselm đã băng qua eo biển để trở thành Giám Mục xứ Canterbury.

Cuộc đời và sự dạy dỗ của Anselm được Đấng Christ hà hơi. Niềm tin nơi Đức Chúa Trời, Anselm cảm thấy đúng đắn và hợp lý, không phải là một cú nhảy mù quáng của đức tin phi lý trí. Nét đẹp của sự sáng tạo đã làm chứng cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời; và hơn thế nữa, sự thật cho thấy rằng lý trí của chúng ta có thể hình dung một Đức Chúa Trời yêu thương, vô hạn đã cung ứng bằng chứng cho thấy Ngài tồn tại. Sự bàn bạc nổi tiếng của Anselm về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời cho rằng nếu Đức Chúa Trời có thể tồn tại trong lý trí của chúng ta, Ngài có thể hiện hữu trong thực tại.

Còn các tác phẩm sâu sắc nhất của Anselm đều viết về sự chuộc tội, ông đã xác định rằng huyết của Đấng Christ là một “sự thoả mãn” do Chúa Jêsus dâng lên cho Đức Chúa Trời. Lòng yêu mến sự chuộc tội của Đấng Christ đã mang lại cho Anselm niềm yên ủi khi ông thấy mình đang ở trong sự dồi dập giữa Giáo hoàng và Vua nước Anh. Nhà vua có mái tóc màu đỏ hoe William Rufus (Rufus tóc đỏ) là một vì vua phạm thượng và bạo lực. Ông ta thức dậy là một con người ác độc vào buổi sáng, rồi lên giường ngủ là một con người độc ác vào mỗi tối. Ông ta lấy làm thích thú khi nhìn thấy các loài thú và con người bị hành hạ, trong khi Anselm sẽ đuổi theo để cứu mạng sống một con thỏ rừng.

Bị trục xuất và bị triệu về, bị lưu đày rồi bị đem trở lại, Anselm đã ráng sức gánh chịu mọi thử thách cho tới ngày 21 tháng 4 năm 1109, khi bạn bè vây quanh ông, ông đã tạ thế ở tuổi 76 khi bình minh vừa ló dạng. Bạn bè đã nhấc thi hài của ông lên khỏi giường rồi đặt nó trên tro bụi của nền nhà. Thế là ông đã gặp gỡ Đấng Tạo Hoá mình mặt đối mặt, là Đấng mà ông đã công nhận lần đầu tiên nơi vẻ đẹp của dãy núi Alps và trong các trang Kinh Thánh.

“Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, Là Đấng đã dựng nên trời và đất. Ngài không để cho chơn ngươi xiêu tó; Đấng gìn giữ ngươi không hề buồn ngủ. Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên không hề nhắp mắt, cũng không buồn-ngủ (Thi thiên 121.1-4).

 

22 tháng 4

NHỮNG ĐÁM MÂY VẦY TRÊN GENEVA

                John Calvin đến tại Geneva vào tháng 7 năm 1536, dự định chỉ dừng lại vào lúc ban đêm mà thôi. Nhưng Mục sư John Farel đã tìm gặp ông và không để cho ông ra đi, Farel đe doạ rủa sả Clavin “với sự rủa sả của Đức Chúa Trời Toàn Năng” nếu Calvin không chịu ở lại trong cương vị phụ tá cho ông. Geneva, với số dân 12.000 người, dường như đã chín mùi cho Công Cuộc Cải Chánh, và Calvin bắt đầu công việc của mình vào tháng Chín.

Farel đã tin cậy Calvin với nhiều trách nhiệm, tin tưởng vào tính cần cù và thiên tài của chàng thanh niên nầy. Đổi lại, Calvin luôn giữ lòng tôn kính và đầy tình cảm đối với Farel. Không một sự ganh tỵ nào làm vẫn đục mối tương giao của họ.

Tuy nhiên, những đám mây khác đã hình thành, Geneva chưa sẵn sàng cho tố chất đúng mức mà Calvin và Farel tìm cách vận dụng. Đây là một thành phố vô tư lự, đầy tiếng ca hát và nhảy múa. Thành phố nầy cũng đầy dẫy cờ bạc, tà dâm, đỉ điếm, và tộc ác. Farel và Calvin đã lãnh đạo Hội đồng thành phố phát ra những điều luật ngăn cấm tình trạng phi luân, vô đạo đức, cờ bạc, phá vỡ ngày sabát, và ca hát theo cách ngu xuẩn. Hội đồng còn vượt xa hơn thế, họ ra lịnh cho hết thảy công dân thành phố phải học thuộc Bài Tín Điều, rồi vào ngày 12 tháng 11 năm 1537, thành phố đã bỏ phiếu trục xuất người nào không tuân theo mạng lịnh đó.

Tình trạng bất an hình thành trên thành phố giống như những đám mây bão táp, và những lời than phiền lớn tiếng nổ ra vào cuộc mít tinh ngày 15 tháng 11 của cư dân thành phố. Trong những cuộc trưng cầu dân ý ở địa phương vào tháng Hai sau đó, đảng Tự Do đã kiếm được nhiều phiếu hơn hết. Calvin và Farel, cứ tiếp tục sấm sét trên toà giảng của họ, họ bị cảnh cáo không được xen vào các vụ việc chính trị. Họ đã không xen vào dù bất cứ hình thái nào.

Giông bão đã đánh mạnh vào ngày Chúa nhựt Phục Sinh 21 tháng 4 năm 1538. Calvin đã giảng ở nhà thờ nầy, còn Farel thì giảng ở nhà thờ khác. Cả hai đã từ chối không chủ trì Tiệc Thánh của Chúa, họ cho rằng thành phố chưa thể dự phần vào Tiệc Thánh dưới những điều kiện như thế. Tình trạng hỗn loạn đã nổ ra, nhiều người đờn ông đã tuốt gươm của họ ra, phụ nữ thì há hốc miệng vì kinh ngạc, còn trẻ em thì kêu khóc. Hai nhà truyền đạo đã hối hả về nhà dưới sự bảo hộ của bạn bè. Qua ngày hôm sau, 22 tháng 4 năm 1538, Hội Đồng Thành Phố nhóm lại, công kích cả hai vị Mục sư, rồi ra lịnh cho họ phải rời thành phố trong vòng ba ngày.

Calvin nói: “Được thôi, thật lấy làm tốt phục sự Đức Chúa Trời hơn là phục vụ cho loài người”. Ông đã chạy sang Strasburg, cưới Idelette làm vợ, và đã lãnh đạo một nhóm truyền đạo người Pháp cho tới khi cơn thủy triều dâng lên cao một lần nữa ở Geneva. Đến năm 1541 thì giờ đã chín mùi cho Calvin và Công cuộc Cải chánh quay trở lại, lần nầy thì thật là tốt đẹp.

 

“Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện mà cầu nguyện cùng Ngài.– Đức Chúa Trời ơi, theo sự thương xót lớn của Chúa, và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi. Xin hãy cứu tôi khỏi vũng bùn, kẻo tôi lún chăng; Nguyện tôi được giải thoát khỏi những kẻ ghét tôi, và khỏi nước sâu. Nguyện dòng nước không ngập tôi, vực sâu chớ nhận tôi, hầm không lấp miệng nó lại trên tôi (Thi thiên 69.13-15).

 

23 tháng 4

NGƯỜI GIẾT RỒNG

Cơ đốc giáo thời Trung cổ, tấn tới ở giữa hạng người mê tín mà không có sự tiếp cận rộng rãi với Kinh Thánh, họ bắt đầu thờ phượng các vị anh hùng, những thánh đồ trong thời buổi trước đó. Đức Chúa Trời dường như không thể tiếp cận được. Người ta sợ hãi Cha Toàn Năng. Đức Thánh Linh chẳng ai màng tới. Chúa Jêsus dường như ít đe doạ, nhưng Ngài cũng là Đức Chúa Trời, và có nhiều người nghĩ khôn khéo hơn là để những lời cầu nguyện của họ trước mặt các vị thánh đồ, nài xin họ trình những lời cầu xin lên ngôi của Đấng Christ. Vì thế mỗi ngày có vị thánh riêng của nó, và từng dân tộc, từng thành phố và từng nhóm có vị thánh đỡ đầu riêng.

Đến thế kỷ thứ mười, 25.000 vị đã được Giáo Hội phong thánh. Nước Pháp có Thánh Denis. Thánh Bartholomew là thánh đỡ đầu của những người thợ thuộc da, bị lột da khi còn sống. Thánh John được những người thợ làm nến cầu hồn vì ông đã nhảy vào cái vạc dầu sôi. Giáo hội nghị Oxford vào năm 1222 đã lấy ngày 23 tháng 4 làm ngày Thánh George để tôn vinh “Đấng Bảo Hộ cho Vương quốc Anh”.

Thế nhưng George là ai? Mỗi năm, theo truyền thuyết mà ai cũng quen thuộc, một con rồng ở dưới vực sâu đã đe doạ đầu độc ngôi làng gần đó nếu không có một thanh niên, được lựa chọn do bóc thăm, được hiến cho nó để ăn thịt. Dần dà rồi thì lá thăm trúng nhằm con gái của nhà vua. Bước đi về hướng vực sâu, công chúa đã bị George chặn lại. Chàng nói: “Đừng sợ, tôi sẽ giúp công chúa trong danh của Đấng Christ”. Khi con rồng trồi lên, George làm dấu thập tự rồi phóng mũi giáo mình vào con quái thú.

Nhiều năm về sau, năm 1189, khi các đội quân nước Anh dưới sự chỉ huy của Richard Coeur de Lion nhảy vào cuộc thập tự chinh, họ đã ra đi dưới sự bảo hộ của Thánh George.

Thực ra, sự hiểu biết của chúng ta về George quá sơ sài. Rõ ràng chàng ra đời trong một gia đình quí tộc ở Cappadocia và đã tuận đạo trong thời kỳ bắt bớ của Đại đế Diocletian, đúng vào ngày 23 tháng 4 năm 304. Một tường trình nói George đã bị cột vào cây thập tự, ở đó da của chàng bị tách ra từng miếng bởi một cái lược bằng sắt. Song chính cuộc đối đầu theo truyền thuyết của chàng với con rồng mà chàng được nhiều tấm lòng tưởng nhớ – và trong nghệ thuật – của Cơ đốc nhân thời trung cổ.

Và rốt lại, theo một nhận định, có lẽ chàng đã giết chết con rồng.

 

“Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại; song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa. Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó” (Khải huyền 12.7b-9).

 

24 tháng 4

NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA MONICA

                Ông ra đời vào năm 354 ở một thị trấn Bắc Phi nằm giữa khu rừng gần vùng Địa Trung Hải. Cha của ông là một người thờ lạy hình tượng, còn mẹ của ông, Monica, là một tín đồ Cơ đốc tin kính. Augustine là một đứa trẻ vô kỷ luật, lười biếng và hay trốn học thường xuyên bị đánh đòn. Ông ưa thích các môn thể thao cùng những trò đùa tinh nghịch, không bao lâu sau đó đã khám phá ra những khoái lạc của lứa tuổi thanh niên. Khi ông được 15 tuổi, cha ông đã gặp ông trong những nhà tắm lộ thiên và nhận biết con mình đã là một người lớn. Ông đã là một người lớn. Về sau ông ước rằng “những cơn thủy triều cao ngất thời thanh niên của tôi đã tốn nhiều bọt của nó trên bến bờ hôn nhân”.

Augustine cũng là một người có tài, và không lâu sau đó ông dời sang Carthage để học tập và vui chơi thêm. Monica đã cảnh cáo ông không được gian dâm, nhưng “tôi cứ mù quáng lao tới”. Lúc được 18 tuổi, ông đã thấy mình là cha của một đứa con trai rồi. Đồng thời, ông cũng lao vào sự thờ lạy hình tượng nữa.

Nhiều năm tháng trôi qua, và Monica, đã cầu nguyện không thôi, bà hay rằng Augustine đã dự tính rời châu Phi để đến Rôma. Bà van xin ông đừng đi. Khi ông từ chối, bà quyết định cùng đi với ông. Sử dụng mánh khoé dối gạt, ông để cho bà cầu nguyện trong một nhà thờ rồi dong buồm ra đi mà chẳng có bà; nhưng bà lấy vé tàu đi sau và bắt kịp ông. Họ tới Milan, ở đây bà khuyên ông nên nghe theo Giám mục Ambrose. Các bài giảng sắc như dao cạo của Vị Giám Mục thấm vào đầu của Augustine, song chưa thấm vào tấm lòng của ông. Monica cứ tiếp tục cầu nguyện, tâm sự cho Ambrose biết mọi phấn đấu của bà. Ông bảo bà đừng lo lắng: “Những lời cầu nguyện cho đứa con sẽ không bị rơi vào chỗ nhưng không đâu”.

Ngày kia, khi Augustine ngồi trong vườn nhà của một người bạn, ông nghe thấy tiếng một đứa trẻ hát: “Hãy cầm lấy rồi đọc đi”. Ông mở quyển Kinh Thánh để gần ông rồi đọc từ Rôma 13: “Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ…nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ”. Khi ông đọc xong phân đoạn Kinh Thánh đó, về sau ông cho biết, ông đã được biến đổi.

Vào ngày lễ Phục sinh, 24 tháng 4 năm 387, Augustine cùng con trai mình là Adeodatus đã chịu phép Báptêm do Giám Mục Ambrose cử hành có Monica đứng xem. Lời cầu nguyện cả đời của bà đã được nhậm, và một giáo phụ Hội thánh vừa ra đời.

 

“Hãy bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét; nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Rôma 13.13-14).

 

25 tháng 4

VỊ GIÁM MỤC HIẾU CHIẾN

                Không một thế hệ nào mà chẳng có những anh hùng Cơ đốc của thế hệ đó, nhưng họ rất hiếm thấy trong thế kỷ thứ 10. Ratherius là một vị anh hùng nhưng theo cung cách ngoan cố của ông. Ông là một người rất có tài và tôn giáo, nhưng rất ngoan cố và hay đố kỵ.

Ratherius ra đời gần Verona, nước Ý. Ông rất xuất sắc ở trong trường và hiển nhiên đã trở thành một thầy tu. Vào năm 931, ông được tấn phong Giám mục thành Verona. Khi nắm giữ chức vụ, ông rất thất thường, vì ông hay xỉ vả nghịch lại tội lỗi của giới tăng lữ. Ông viết: “Lối sống như vợ chồng của giới tăng lữ với phụ nữ là rất thường xuyên, lại công khai nữa, thế mà họ nghĩ là hợp pháp”. Ấy không phải chỉ có những mối quan hệ bất chính mà Ratherius đã có trong trí, mà còn những mối quan hệ vợ chồng nữa. Ông chẳng chút thương xót chỉ trích các vị linh mục đã lấy vợ, gọi họ là bọn “tà dâm”.

Khái niệm về một tăng lữ độc thân đã nhập rất sớm vào lịch sử Hội thánh. Trong Hội thánh Đông phương, các giáo hội nghị đầu tiên đã tán thành hôn nhân cho giới tăng lữ. Nhưng Hội thánh Tây phương hì không dám quyết. Ở Giáo hội nghị Nicaea, một ý tưởng phát sinh cho phép các vị Mục sư bỏ vợ để dâng mình sống độc thân. Phương án đã bị từ chối, nhưng vài năm sau đó Giáo Hoàng Siricius ra lịnh độc thân cho các vị linh mục. Về sau, Giáo Hoàng Leo truyền lịnh rằng nếu một người đã có vợ bước vào chức vụ, người ấy không được “gạt bỏ” vợ mình, mà phải sống với nàng “giống như anh chị em” mà thôi.

Vấn đề đã được đem ra tranh cãi sôi nổi trong thời của Ratherius, và vị Giám mục thành Verona biết rõ mình đã tin điều gì – rằng đời sống độc thân cho phép dâng mình trọn vẹn cho Đấng Christ. Nhưng thế đứng có tính cách công kích của ông trên vấn đề nầy cùng nhiều vấn đề khác đã gây ra nhiều phản ứng dữ dội. Ông bị truất phế và bị bỏ tù trong hai năm, trong khoảng thời gian đó, sống không có một quyển sách nào, ông đã viết một quyển sách có đề tựa là “Trận Chiến”. Ông bỏ trốn sang Miền Nam nước Pháp rồi tự lo liệu cho mình qua việc dạy kèm các trẻ em con nhà giàu. Sau khi được phục hồi chức vụ Giám mục của mình, không bao lâu sau đó ông lại bị truất phế. Lần nầy ông trở thành cha trưởng của tu viện Alna, nhưng ông đã bàn với các thầy tu về lễ ban thánh thể. Họ đã thở dài nhẹ nhõm khi ông trở về lại Verona lần thứ ba. Một lần nữa, ông bị lưu đày, trở về với chức cha trưởng tu viện Alna. Ông đã ở lại đó một thời gian, rồi chuyển qua các chức vụ khác đây đó trước khi qua đời vào ngày 25 tháng 4 năm 974.

 

“Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau. Hãy siêng năng mà chớ làm biếng; phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa. Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện…Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người” (Rôma 12.10-12, 18).

 

26 tháng 4

MƯU SÁT TRONG LỄ MASS

Dưới thời Giáo Hoàng Sixtus IV, nguời xây dựng Giáo đường Sistine, chế độ Giáo Hoàng gia đình trị đã đạt tới chỗ tồi tệ nhất của nó. Toà thánh Vatican rộn ràng với 16 cháu trai, hai anh em trai, và ba chị em gái, họ cứ liên tục xen vào các vụ việc của quốc gia và giáo hội nước Ý. Họ trở thành những nhân vật hàng đầu của Rôma. Họ đi đó đi đây với các đoàn tùy tùng đông đảo, tiệc tùng liên miên, ăn mặc loại quần áo đính ngọc trai, và ngủ với vợ (chồng) trên loại giường ngủ sang trọng.

Nhưng không lâu sau đó họ đã xung đột với đối thủ của họ trong khoái lạc và quyền lực, họ Medici, đóng đô ở Florence. Nhà băng Medici khẳng định là những chủ ngân hàng của Vatican theo truyền thống. Nhưng khi cuộc xung đột dậy lên, Sixtus đã chuyển của cải to lớn trong gia đình Giáo Hoàng cho họ khác chuyên về ngân hàng, là họ Pazzi. Họ Medici đã phản công, nhiều cơn giận loé lên, và vào năm 1478, với tri thức của Giáo Hoàng, mấy người cháu trai và nhân viên ngân hàng của ông ta đã ngấm ngầm hoạch định một chương trình để mưu sát Lorenzo và Julian Medici.

Đến ngày Chúa nhựt, 26 tháng 4 năm 1478, hai anh em Medici bước vào giáo đường ở Florence để dự lễ Mass Phục Sinh. Theo thông lệ, họ không có vũ trang và chẳng có hộ tống. Buổi thờ phượng bắt đầu. Thình lình, khi vị linh mục đưa cao bánh tiệc thánh lên cao, Julian cảm thấy dao găm đâm thẳng vào ngực mình. Người kia rút mũi dao ra, rồi đâm nhiều nhát nữa. Ông ta ngã chết cách mau chóng. Lorenzo bị tấn công ngay sau đó. Theo bản năng, ông quấn chiếc áo choàng quanh cánh tay mình, tạo thành cái thuẫn, rồi chiến đấu với những kẻ đến tấn công mình.

Cơn giận của ông không thể dập tắt được. Ông theo dấu bọn phiến loạn rồi treo hoặc ném chúng ra khỏi những cánh cửa sổ của cung điện. Lỗ tai và mũi của chúng đều bị cắt hết, và chúng bị chặt ra thành nhiều mãnh, bị xe ngựa kéo lê qua các đường phố, rồi bị ném xuống sông Arno.

Sixtus đã trả thù bằng cách rút phép thông công Lorenzo, đình chỉ tất cả những buổi thờ phượng tôn giáo ở Florence, và mở ra một cuộc chiến tranh không có hiệu quả trong 2 năm chống lại thành phố. Hai người cứ xem nhau là kẻ thù cho tới năm 1484 khi Sixtus qua đời. Lorenzo Vĩ Đại, người ta đã gọi ông như thế, đã sống thêm 8 năm nữa, rồi qua đời ở tuổi 43 sau khi uống một thứ hỗn hợp đá quí do các y sĩ kê toa vì chứng đau bao tử của ông ta.

 

“Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy” (I Giăng 3.16).

 

27 tháng 4

HAI NGƯỜI, HAI NHÀ TUẬN ĐẠO

                Ngày 27 tháng 4 thuộc về hai người tử vì đạo. Họ chưa hề quen biết nhau, chưa bao giờ gặp gỡ, và quả thực, họ đã sống cách nhau nhiều thế kỷ. Một người lập gia đình trong ngày nầy, rồi bị giết chết một thời gian ngắn sau đó. Còn người kia đánh dấu ngày nầy là ngày chết của mình. Người sau là một Cơ đốc nhân có tên là Pollio ở thị trấn Gibalea (ngày nay là Vinkovce, Hungary). Vào ngày 27 tháng 4 năm 304, ông bị lôi tới trước mặt một quan toà đòi biết tên của ông. Ông nói: “Pollio”.

“Có phải ông là một Cơ đốc nhân không?”

“Thưa phải”.

“Ông giữ chức vụ gì?” Pollio đáp rằng ông là nhóm trưởng của nhóm chuyên đọc Kinh Thánh trong nhà thờ, bổn phận của họ là đọc Lời của Đức Chúa Trời cho hội chúng nghe. Vì lỗi đó, Pollio bị đẩy đến chỗ thiêu cho tới chết.

Sáu trăm năm sau, một Cơ đốc nhân khác có tên là Roy Orpin, một người Tân Tây Lan, bị kết án là đứng tổ chức truyền giáo. Ông cảm động sâu sắc bởi sự tuận đạo của John và Betty Stam ở Trung hoa. Ông sang Thái lan, rồi ở đó, nhằm ngày 27 tháng 4 năm 1961, đã kết hôn với một phụ nữ người Anh có tên là Gillian. Bà cũng là một vị giáo sĩ ở trong xứ ấy. Ở tiệc cưới, cả hai cùng hát bài thánh ca có tên là “Calvary” (đồi Gôgôtha).

Hai vợ chồng chuyển tới ở trong một túp lều thuộc một làng Thái rồi qua năm đầu tiên cuộc sống vợ chồng ở giữa mối nguy hiểm ngày càng tăng. Bạo lực đã gia tăng ở vùng Đông Nam Á. Gillian đã có thai, và Roy rất đỗi sợ hãi. Ông viết cho bạn bè: “Tôi đã không có sự bình an cho đến khi tôi nhớ tới II Côrinhtô 10.5”. Gillian chuyển tới thị trấn kia trong khu vực có một bịnh viện của hội truyền giáo đang khi Roy ở lại trong làng Bitter Bamboo để sinh hoạt với một nhóm Cơ đốc nhân nhỏ. Đột nhiên ba tên cướp xuất hiện, đòi lấy những thứ có giá trị của ông, rồi chúng đã bắn ông.

Người ta đưa ông đến một bịnh viện của chính phủ, và Gillian đã chạy ùa đến bên cạnh ông. Ông đã nấn ná trong bốn ngày. Ông mong ước khi sắp chết là vợ ông cùng hiệp với ông hát bài thánh ca mà họ ưa thích. Hai người yêu nhau ấy đã cất cao giọng hát: “Chúa Jêsus ơi, con sẽ yên nghỉ, yên nghỉ / Trong nềm vui được biết Ngài là ai / Con đã tìm ra sự cao cả / trong tấm lòng ngập tràn tình yêu thương của Ngài”. Thế rồi Roy, ở tuổi 26, đã qua đời. Họ đã sống với nhau chưa đầy 13 tháng.

 

“Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự cao tự nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ (II Côrinhtô 10.3-5).

 

28 tháng 4

QUYỂN KINH THÁNH BOUNTY

Chiếc tàu Anh quốc có tên là Bounty, dưới quyền chỉ huy của Trung úy William Bligh, hành trình đến Nam Thái Bình Dương vào năm 1787 để chọn những giống cây ăn quả. Nhiều thủy thủ đến đăng ký đi, họ vui sướng xem chuyến đi nầy là chuyến đi đến địa đàng. Không có người phụ tá nào hết, Đại úy Bligh đã chỉ định người bạn trẻ của mình là Fletcher Christian làm phụ tá chỉ huy. Chiếc Bounty đã ở lại Tahiti trong sáu tháng, và các thủy thủ, dưới quyền điều động đầy may mắn của Fletcher Christian, đã vui hưởng vùng địa đàng đó. Khi đến lúc phải ra đi, một số thủy thủ muốn ở lại chung sống với các cô gái bản xứ ấy. Ba người đã bị bán đứng khi tìm cách đi riêng. Tình hình trên chiếc tàu càng lúc càng tăm tối thêm, và vào ngày 28 tháng 4 năm 1789 Fletcher Christian đã mở ra cuộc nổi dậy nổi tiếng nhất trong lịch sử. Bligh cùng những người ủng hộ ông bị trôi giạt trên chiếc xuồng cứu hộ bị quá tải (họ đã bị trôi cách lạ lùng 3700 dặm đến Timor).

Những kẻ nổi loạn lên boong chiếc Bounty đã bắt đầu tranh cãi về việc mà sắp tới phải lo làm. Christian trở lại Tahiti, ở đó ông để lại một số những kẻ nổi loạn, bắt cóc một số phụ nữ, đem theo một số nô lệ, rồi đi cả ngàn dặm đường đến Đảo Pitcairn không có người ở. Tại đó nhóm nhỏ nầy tách ra một cách nhanh chóng. Họ cất rượu whisky từ một giống thực vật có ở bản xứ. Tình trạng say sưa và tranh chiến đã đánh dấu số cư dân của họ. Bịnh tật và giết chóc chắc chắn đã lấy đi sinh mạng của tất cả những người đờn ông, trừ ra một người, Alexander Smith, ông thấy mình là người đờn ông duy nhứt còn sống trên đảo, vây quanh là đủ loại đờn bà và trẻ con.

Thế rồi một sự thay đổi đáng kinh ngạc đã xảy ra. Smith tìm được quyển Kinh Thánh đã bị bỏ quên trên chiếc Bounty. Khi ông đọc quyển sách ấy, sứ điệp của quyển sách đã nhập tâm ông, kế đó ông đem dạy dỗ cho cộng đồng nhỏ bé kia. Ông đã dạy Kinh Thánh cho số dân trên đảo rồi giúp họ vâng theo những sự dạy đó. Sứ điệp của Đấng Christ đã làm biến đổi đời sống của họ đến nỗi 20 năm sau, vào năm 1808, khi chiếc Topaz cặp bến cảng của đảo, người ta đã nhìn thấy một cộng đồng Cơ đốc nhân rất phước hạnh, họ sống trong sự thịnh vượng và bình an, không có tội ác, bịnh tật, giết người – và nổi loạn. Về sau, quyển Kinh Thánh rơi vào tay những thợ săn cá voi, họ đem nó đến nước Mỹ. Vào năm 1950, họ đã gửi quyển Kinh Thánh ấy trở lại hòn đảo. Giờ đây, quyển sách ấy đang được trưng bày tại ngôi nhà thờ xứ Pitcairn như một vật lưu niệm cho sứ điệp làm thay đổi lòng người của nó.

 

“Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đòi ngươi điều chi? há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, đi theo các đạo Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, để ngươi được phước? (Phục truyền luật lệ ký 10.12-13).

 

29 tháng 4

CHẾT DO KIỆT SỨC

                Giacomo Benincasa, thợ nhuộm vải ở Siena, nước Ý, đã đặt tên cho đứa con thứ 23 của mình là Catherine. Ngôi nhà của họ nằm trên sườn đồi, dưới tầng hầm toàn là các phòng để nhuộm vải. Trên đỉnh núi là nhà thờ Thánh Dominic nằm ở đó, khi Catherine lên 7 tuổi, bà đã có một sự hiện thấy về Chúa Jêsus. Từ ngày đó trở đi, bà đã tìm cách để phục sự Đấng Christ.

Ở tuổi 12, bà đã kháng cự lại áp lực của cha mình bắt bà phải lấy chồng đến nỗi ông đã nói: “Hỡi con gái yêu dấu, nguyện Đức Chúa Trời gìn giữ chúng ta không rơi vào chỗ chống lại ý chỉ của Đức Chúa Trời. Lâu nay chúng ta đã thấy, không có con cái không phải là ý chỉ của Ngài, và giờ đây chúng ta biết rất rõ đây là Thánh Linh của Đức Chúa Trời”. Ông đã dành cho Catherine một căn phòng gần khu nhuộm vải, rồi ở đó Catherine đã lập cho riêng bà một ngôi giáo đường.

Cá tánh của Catherine bừng bừng giống như một con dao, và không bao lâu sau đó bà đã tự mình gia nhập không cần ai mời vào các vụ việc của cộng đồng và giáo hội, trở thành người phụ nữ Ý cương trực nhất vào thời Trung Cổ. Bà đã xỉ vả án tử hình một thanh niên bị kết tội chỉ trích chính quyền, và bà cùng với thanh niên đó đi đến chỗ hành quyết, nắm lấy cái đầu bị chặt đứt rời của anh ta rồi dấy lên cuộc chống đối công khai. Bà chăm sóc cho những tên tù phạm. Khi Cái Chết Đen quét qua nước Ý, Catherine đã có mặt ở khắp mọi nơi để cung ứng sự giúp đỡ.

Catherine dấy lên chống chọi lại sự đồi bại của giáo hội. Bà đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy vật và phi luân lý trong các chủng viện. Bà viết: “Người nào sắp trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời đều là những cái chuồng heo”. Bà tung ra các bức thư giống như khai hoả các hoả tiển vậy, luôn luôn có ba người thư ký ở bên cạnh cùng một lúc. Bà bảo Giáo Hoàng Gregory thật lấy làm tốt cho ông ta là nên thoái vị hơn là cứ ngồi lì ở đó, và “Đừng làm con nít nữa, mà phải làm người lớn đi”. Bà đứng ra đàm phán các hiệp định hoà bình. Bà chính là công cụ trong việc chuyển hệ giáo hoàng từ Pháp về lại Rôma.

Không có gì phải ngạc nhiên, nhằm ngày 29 tháng 4 năm 1380, bà qua đời ở tuổi 32 vì bị kiệt sức từ những công việc nầy và các công việc khác nữa. Những lời nói sau cùng của bà: “Hỡi con cái yêu dấu, đừng lấy cái chết của ta làm buồn phiền các ngươi; thay vì thế hãy vui mừng vì ta đang lìa khỏi một nơi có quá nhiều đau khổ để được kết hiệp đời đời với Chàng Rễ diệu kỳ, đáng yêu nhất của ta”.

Theo sau Thánh Francis, Catherine xứ Siena là vị thánh đáng được kỷ niệm nhất trong các vị thánh của nước Ý.

 

“Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. Vậy, đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin (Galati 6.9-10).

 

30 tháng 4

BÃO TỐ

                Trong ba thế kỷ đầu tiên, Hội thánh đã gặp gỡ sự bắt bớ trong suốt thời gian đế quốc cai trị. Nhưng chẳng có một sự bắt bớ nào đáng sánh với tình trạng hỗn loạn nổ ra trong thời của Hoàng đế Diocletian. Diocletian, đã chiếm lấy quyền lực từ Maximian là người chiến binh đồng cai trị và từ hai người phụ tá khác nữa là Constantius và Galerius. Bốn nhân vật nầy đã cai trị đế quốc, cả đông và tây, rất bảo thủ và với một triết lý theo “các giá trị truyền thống”.

“Các giá trị truyền thống” cho Rôma bao gồm cả Cơ đốc giáo. Mặc dù bản thân Diocletian dường như rất khoan dung lúc ban đầu đối với các Cơ đốc nhân (vợ và con gái của ông đều là tín đồ). Galerius chống đối Cơ đốc nhân rất mạnh mẽ. Lòng can đảm quân sự của ông cùng với những lần chiến thắng ở trận mạc đã cung ứng cho ông phần ảnh hưởng ngày càng tăng. Từ từ và có phương pháp ông đã xem Cơ đốc nhân là kẻ thù. Ông đưa ra hàng loạt các sự bắt bớ nghịch lại Cơ đốc nhân, bắt đầu với sự hủy diệt ngôi nhà thờ ở Nicomedia vào ngày 23 tháng 2 năm 303. Trong ngọn lửa đang lan nhanh, một vài chiếu chỉ đã được phát ra nghịch lại với Hội thánh, chiếu chỉ sau cùng đã được phát ra đúng vào ngày 30 tháng 4 năm 304.

                Không một người nào có thể mô tả cuộc tàn sát đó. Cơ đốc nhân bị trục xuất ra khỏi các nơi ở của họ, quyền dân sự của họ đã bị đình chỉ. Nhiều ngôi nhà thờ đều bị thiêu hủy hết. Các bản chép Kinh Thánh bị đốt tại những khu chợ búa. Những vị Mục sư cùng các cấp lãnh đạo Hội thánh bị lôi đi và bị hành quyết, nhiều người bị sư tử ăn thịt trong các đấu trường. Ở Phrygia, toàn bộ một cộng đồng đã bị quét sạch. Các Cơ đốc nhân khác bị quăng vào các nhà tù dơ dáy, bẩn thỉu hay bị đày vào các khu mỏ rất kinh khiếp. Hết thảy những lần bắt bớ trước đó đều bị quên lãng trong lần bắt bớ khủng khiếp như bão tố to lớn nhất và sau cùng nầy.

Nhưng đế quốc từ từ mắc phải chứng bịnh giết chóc ngày càng tăng. Những kẻ hành quyết đều bị kiệt sức, và thậm chí mấy con sư tử, người ta nói, chúng cũng lấy làm mệt vì thịt của Cơ đốc nhân. Đồng thời, Galerius thấy mình sắp chết vì một chứng bịnh thông thường ai cũng biết là: “bị dời ăn”. Đúng ngày 30 tháng 4 năm 311, kỷ niệm ngày phân phát chiếu chỉ trước đó, ông ta đã phát ra một chiếu chỉ khác, trong đó ông cho ngưng lại sự bắt bớ chống nghịch Cơ đốc nhân nếu họ chịu cầu nguyện xin cho ông ta được phục hồi. Từ cả ngàn nhà tù, khu mỏ, và các trại cải tạo lao động, những chiến binh đầy sẹo của Đấng Christ đã hướng về quê hương.

Phần nhiều trong số họ, không nghi ngờ chi nữa, đã cầu thay cho Galerius, nhưng ông ta không được lành lặn. Khoảng 5 ngày sau, ông ta đã ký vào một chiếu chỉ cho loài dời hoàn tất công việc của chúng.

“Dân chúng kêu lên rằng: Ấy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu Liền lúc đó, có thiên sứ của Chúa đánh vua Hê-rốt, bởi cớ chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời; và vua bị trùng đục mà chết. Bấy giờ, đạo Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra (Công Vụ các Sứ Đồ 12.21b-24).

 

 

 

 

 

Tags: #ThuVienOnline#VaoNgayNay
Previous Post

Vào Ngày Này | Tháng Ba

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Năm

Admin

Admin

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Năm

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In