1 tháng 5
JOHN BROWN TÌM MỘT NGƯỜI VỢ
Giữa thập niên 1680 được xem là Thời điểm chết chóc ở xứ Tô cách Lan. Quân đội của triều đình đã bức bách những tín đồ thuộc hệ phái Trưởng Lão xứ Tô cách Lan phải tuận đạo. Mặc dù nguy hiểm, John Brown, tín đồ Trưởng lão đem lòng yêu mến Isabell Weir. Chàng cầu hôn với nàng, nhưng báo trước rằng một ngày kia chàng sẽ đóng ấn sự chứng đạo của mình bằng huyết. Isabell đáp: “Nếu quả thực vậy, em sẽ là nguồn yên ủi của anh. Chúa đã hứa ban cho em ân điển mà”. Họ đã thành hôn kín đáo trong một thung lũng hẹp do một vị Mục sư không được luật pháp công nhận, tên là Alexander Peden. Peden nói, khi bắt đầu nghi thức không theo đúng luật: “Những người chứng kiến lời thề hứa của hai người, đã liều mạng sống họ đến đây để nghe Lời của Đức Chúa Trời và mạng lịnh của Ngài về hôn nhân”. Những lời thề đã được thốt ra, tiếp đến Peden kéo Isabell qua một bên, ông nói: “Cô đã lấy một người chồng nhơn đức. Hãy giữ chiếc khăn kia dùng làm vải liệm cho người đứng bên cạnh mình; vì trong một ngày cô ít trông mong nhất, chồng cô sẽ bị đem đi”.
Gia đình Brown không bao lâu sau đó đã có được hai cháu. Thật là hạnh phúc, họ đầy dẫy với sự cầu nguyện và nói năng rất tin kính. Những nhà truyền đạo trốn tránh được che giấu và chăm sóc ở đó. Nhưng vào ngày 1 tháng 5 năm 1685, John thức dậy thật sớm, hát Thi thiên 27, thì thấy binh lính đến bao vây ngôi nhà. Cả gia đình bị chất đống ra bãi cỏ. Viên chỉ huy, Claverhouse, quát nạt John: “Hãy cầu nguyện đi, ngươi sẽ chết ngay bây giờ đó”. Sau khi quì gối xuống, John cầu nguyện khẫn thiết cho vợ mình, nàng lại có thai nữa, và cho mấy đứa con của chàng. Thế rồi chàng đứng dậy, ôm lấy Isabell mà nói: “Đây là cái ngày mà anh đã nói với em trước khi anh cầu hôn em”.
“Đúng thế John ạ! Nếu có ngày đó, em sẽ bằng lòng chia sẽ với anh mà”.
John đáp: “Đây là điều mà anh ước ao. Anh chẳng còn gì phải lo nữa, trừ cái chết”. Chàng đến hôn mấy đứa con, kế đó Claverhouse ra lịnh cho người của ông ta nâng súng lên bắn. Mấy tên lính chần chừ. Sau khi giơ khẩu súng lục lên, Claverhouse đưa súng lên đầu của John và bắn tung toé bộ óc của chàng ra. Hắn ta gầm gừ: “Nầy mụ kia, bây giờ mụ nghĩ sao về chồng của mụ?” Isabell, liếc mắt nhìn thẳng vào Claverhouse, nói cho hắn ta biết nàng chưa bao giờ tự hào như thế về chồng của mình. Claverhouse leo lên lưng ngựa rồi quất ngựa bỏ đi trước, còn binh lính thì kéo theo sau. Isabell gói cái đầu của John vào chiếc khăn ngồi dưới đất mà khóc với mấy đứa con cho tới khi bạn bè đến yên ủi họ.
“Dầu một đạo binh đóng đối cùng tôi, Lòng tôi sẽ chẳng sợ; Dầu giặc giã dấy nghịch cùng tôi, khi ấy tôi cũng có lòng tin cậy vững bền. Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, và cầu hỏi trong đền của Ngài” (Thi thiên 27.3-4).
2 tháng 5
TIẾNG KÈN
Giffordgate, xứ Tô cách Lan, ở phía ngoài Haddington, là một ngôi làng Công giáo rất nhiệt thành, ở đó có vài nhà thờ, hai tu viện, một chủng viện – và một đôi vợ chồng sống bằng nghề nông có tên là Knox, họ có một đứa con trai tên là John. Đứa trẻ rất xuất sắc ở Trường Haddington Grammar, ở đây thầy của nó tuyên bố nó là học sinh xuất sắc nhất mà ông từng dạy qua. John đã vào trường Đại học Glasgow, kế đó là Đại học đường St. Andrews, ở đây những ngọn gió Cải Chánh đã đánh mạnh vào trái tim Công giáo của anh.
Knox đã để ra 20 năm kế đó làm linh mục của ngôi làng và là giảng viên của trường Đại học. Thế rồi một ngày kia, sau khi lắng nghe Ông William giảng về lẽ thật Cải Chánh, ông như bị một mũi tên cắm phập vào người. Không bao lâu sau đó, bởi đức tin, ông “bỏ neo” chỉ nơi một mình Đấng Christ. Những ý tưởng Cải chánh của ông khiến cho ông phải liều mạng sống mình, và trong nhiều năm trời ông đã luân phiên giữa trốn chạy và tù tội (một lần bị xiềng xích vào các mái chèo của một con tàu). Sau cùng ông định cư an toàn nơi lục địa châu Âu, ở đó ông học hỏi, viết lách, tranh luận, và hướng mắt nhìn về cố hương.
Đến năm 1559, ông nhận ra đã đến lúc phải quay trở về nước. Nữ Hoàng Mary của Anh quốc đã bị thay thế bởi Elizebeth Tin lành, và các nhóm Tin lành ẩn náu ở châu Âu đã phấn khởi lên với nhiều lời đồn đại. Những tín đồ Tin lành bắt đầu trở về lại Anh quốc, và sau đó vào cuối tháng 4 chính Knox đã dong buồm về xứ Tô cách Lan, ông quyết định “thổi kèn của Đức Giêhôva” lên cách dạn dĩ.
Ông cặp bến vào ngày 2 tháng 5 năm 1559, nhìn thấy một xứ sở bất ổn đầy những hỗn độn. Mary de Guise, vị nữ hoàng nhiếp chính và là mẹ của Mary, Nữ hoàng của người Tô cách Lan, đã dấy lên nghịch cùng tín đồ Tin lành. Cuộc nội chiến đã đe doạ. Sự có mặt của Knox và công cuộc giảng đạo đã khích lệ dân chúng đến nỗi quan khâm sai nước Anh đã tường trình như sau: “Tiếng nói của một người có quyền hạn trong một giờ đồng hồ tra lắp sự sống vào trong chúng ta còn hơn cả 500 cây kèn thổi liên tục vào lỗ tai của chúng ta”.
Nhà cầm quyền đã chiến đấu với tín đồ Tin lành thật ác liệt cho tới ngày 10 tháng 6 năm 1560, khi vị nữ hoàng nhiếp chính kia băng hà. Hiệp ước Edinburge tạm thời kết thúc cuộc chiến, và công cuộc Cải chánh được duy trì. Nhiều cơn bão đang dấy lên ở trước mặt, và cụ Knox ngày càng gắt gỏng. Nhưng ông đã nắm quyền lãnh đạo một cuộc cách mạng không đổ máu trong xứ Tô cách Lan và đã thiết lập đức tin của một dân tộc.
“Hãy thổi kèn trong Si-ôn; hãy định sự kiêng ăn, gọi một hội đồng trọng thể!” (Giôên 2.15).
3 tháng 5
PHỤC VỤ QUÂN ĐỘI
Trước cuộc Nội Chiến, có vài vị Tuyên úy phục vụ trong quân đội Mỹ. Nhưng đến ngày 3 tháng 5 năm 1861, quốc hội miền Nam tán thành Dự luật 102, nói rằng: “Tổng thống sẽ bổ nhiệm những Mục sư Tuyên úy phục vụ quân đội Liên Bang trong khi còn chiến tranh”. Vào ngày 3 tháng 5 năm 1862, Mục sư A. C. Hopkins, thuộc hệ phái Trưởng Lão từ Martinburg, West Virginia, đến hiệp tác với họ, được uỷ nhiệm làm Mục sư Tuyên úy của Trung đoàn Virginia thứ hai.
Hopkins không để mất thì giờ. Vào ngày 16 tháng 5, ông hướng dẫn các binh sĩ trong một ngày kiêng ăn và cầu nguyện. Hai ngày sau, ông tổ chức những buổi thờ phượng vào ngày Chúa nhựt ở Mossy Creek. Tuần lễ sau người ta tìm gặp ông tiều tụy bởi người bị thương, người hấp hối và người chết.
Trong cuộc chiến 7 ngày gần Richmond, ông đã đi cả ngày khi trời nắng nóng rồi qua một đêm không ngủ phục vụ cho kẻ bị thương và người đang hấp hối. Sáng hôm sau, khi ra sức rao giảng cho binh sĩ của mình đang đứng xếp thành hàng, ông đã quỵ xuống, sức lực không còn nữa. Ông được đưa về phía sau để hồi sức lại, nhưng khi ông trở lại chiến tuyến mười ngày sau đó, ông mới hay rằng những người bạn thân cận nhứt của ông đã tử trận. Hopkins chìm trong nỗi thất vọng. Những mất mát nặng nề tại đồi Malvern làm cho ông lâm vào tình trạng cùng kiệt, và Hopkins cảm thấy ông không còn tiếp tục được nữa.
Ông lùi lại một thời gian để cầu nguyện khẫn thiết, và không bao lâu sau đó các lớp Kinh Thánh đã được tổ chức và phát triển. Những nhà truyền đạo đến thăm lữ đoàn, và các buổi thờ phượng tôn giáo nối theo sau bởi thảo luận nhóm, nhóm cầu nguyện và làm phép báptêm. Sách báo Cơ đốc được cung cấp với số lượng lớn cho các thành phố bị tàn phá. Nhiều tướng lãnh và sĩ quan được cứu, và các buổi nhóm cầu nguyện đã được tổ chức ba lần một ngày.
Tổng cộng, giữa 100.000 và 200.000 binh lính bên Thống Nhất và khoảng 150.000 binh lính miền Nam đã trở lại đạo trong khi có cuộc Nội Chiến. Toàn bộ quân đội cả hai phía đã trở thành những công trường rộng lớn, sẵn sàng cho mùa gặt. Và phần lớn các binh sĩ đã bị hư mất đều lên thiên đàng qua mọi nổ lực của những Mục sư Tuyên úy như Mục sư A. C. Hopkins, ông cứ tiếp tục khó nhọc trong sự phục vụ cho tới kết cuộc cay đắng.
Với cuộc Nội Chiến, các vị Tuyên úy đã kiếm được một chỗ sau cùng với các binh lính Mỹ trên khắp thế giới.
“Đừng sợ, vì ta ở cùng ngươi: ta sẽ khiến dòng dõi ngươi đến từ phương tây. Ta sẽ bảo phương bắc rằng: Hãy buông ra! và bảo phương nam rằng: Chớ cầm lại làm chi! Hãy đem các con trai ta về từ nơi xa, đem các con gái ta về từ nơi đầu cùng đất, tức là những kẻ xưng bằng tên ta, ta đã dựng nên họ vì vinh quang ta; ta đã tạo-thành và đã làm nên họ” (Êsai 43.5-7).
4 tháng 5
PHỔI YẾU
Bịnh tật đã chứng minh là ơn phước cho W. Robertson Nicoll, vì nó quyết định cho chức vụ và sự nghiệp của ông. Ông ra đời vào năm 1851 với hai buồng phổi rất yếu. Mẹ, anh chị em của ông đã qua đời vì chứng lao phổi. Bố ông là Mục sư Harry Nicoll đã nuôi dạy ông, Hội thánh của ông có chừng 100 linh hồn – nhưng thư viện của nhà thờ có tới 17.000 đầu sách.
Thừa hưởng tình cảm dành cho sách báo của cha mình, Robertson đã bắt đầu một cột hàng tuần cho tạp chí Aberdeen. Ông khởi sự giảng đạo, nhưng các bác sĩ cho ông biết hai lá phổi của ông yếu lắm không thể giảng dạy được. Ông bị nhiễm thương hàn và viêm màng phổi, xin thôi việc trong nhà thờ, và đã lui về với các quyển sách của mình. Ở đây Robertson đã tìm thấy sự kêu gọi của mình.
Ông đã sẵn sàng viết cho một tạp chí có tên là The Expositor, và năm 1886 ông bắt đầu Tuần báo British. Tuần báo nầy trở thành tờ báo Cơ đốc ở nước Anh. Sau đó ông khởi sự tờ Bookman, và hai năm sau là tờ Woman at Home đã xuất hiện trên các ngăn tạp chí. Trong khi viết bốn tạp chí xuất bản định kỳ của mình, Robertson đã khởi sự in sách (ông đã đọc hai quyển sách một ngày suốt cuộc đời mình). Bộ Chú giải Kinh Thánh (The Expositor’s Bible), một loạt 50 quyển, đã cho lưu hành giữa năm 1888 và năm 1905. Tiếp đến là quyển Chú giải Tân Ước tiếng Hy lạp (The Expositor’s Greek New Testament) đã ra đời. Robertson đã khuyên Alexander Maclaren phân phối các tác phẩm của ông; khi ấy ông đã tìm kiếm và phát triển thêm các tác giả khác nữa. Nói chung, Robertson đã viết hàng trăm tác phẩm và đã viết 40 quyển sách riêng của mình. Ông đã trở thành nhà báo Cơ đốc đáng kính trọng và xuất bản nhiều nhất trong thế giới nói tiếng Anh.
Vào năm 1909, khi được phong tước, ông nói: “Tôi không hề dự định một sự nghiệp văn chương. Tôi chỉ mong cứ tiếp tục chức vụ Mục sư, chỉ mong viết văn trong những lúc nhàn rỗi, nhưng số phận của tôi đã đóng ấn cho tôi”. Tình trạng bịnh tật của ông đã buộc ông phải làm việc nhiều trên giường bịnh giữa đống bừa bộn sách báo, ống điếu và tàn thuốc lá. Mấy con mèo của ông cất tiếng rừ rừ gần đó, và ông giữ một ngọn lửa cháy luôn, ông cho rằng bầu không khí mát mẻ là phát minh của ma quỉ. Thư viện của ông chứa 25.000 đầu sách, gồm 5.000 truyện ký. Ông nói: “Tôi đã đọc mỗi truyện ký đặt trên tay tôi, và chẳng có truyện nào mà không dạy cho tôi một điều gì đó”.
Nam tước W. Robertson Nicoll qua đời vào ngày 4 tháng 5 năm 1923. Giữa vòng những lời nói sau cùng của ông là: “Tôi tin mọi sự tôi đã viết về sự bất tử”.
“Vả, như mưa và tuyết xuống từ trên trời và không trở lại nữa, mà đượm nhuần đất-đai, làm cho sanh ra và kết nụ, đặng có giống cho kẻ gieo, có bánh cho kẻ ăn, thì lời nói của ta cũng vậy, đã ra từ miệng ta, thì chẳng trở về luống-nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều ta muốn, thuận lợi công việc ta đã sai khiến nó” (Êsai 55.10-11).
5 tháng 5
JUSTINIAN VÀ CHÚA GIÊXU
Các thế kỷ thứ tư, thứ năm và thứ sáu đã sôi sục với cuộc tranh cãi kéo dài về bổn tánh của Đấng Christ, và vô số giáo hội nghị được tổ chức để định liệu vấn đề. Giáo hội nghị Nicaea vào năm 325 nói rằng Đấng Christ có đầy đủ thần tánh. Năm mươi năm sau, giáo hội nghị Constantinople công bố Đấng Christ có đầy đủ nhân tánh. Giáo hội nghị Chalcedon vào năm 451 đã đưa vào bản tín điều nổi tiếng rằng Đấng Christ “thực sự là Trời và thực sự là người…hai bổn tánh không có sự nhầm lẫn, không thay đổi, không phân cách, hay không tách biệt…”
Vào ngày nầy trong lịch sử Cơ đốc, ngày 5 tháng 5 năm 553, giáo hội nghị khác đã được triệu tập, do Đại đế Justinian ở Constantinople. Justinian, sáng láng và không mệt mõi, vốn ao ước sống theo tôn giáo. Ông đã tốn nhiều đêm cầu nguyện và kiêng ăn, và vô số ngày nghiên cứu về thần học. Ông đã cho xây đại giáo đường Hagia Sophia và mong ước về một Hội thánh hiệp nhất.
Nhưng Justinian đã sống trong hư không, nhiều tham vọng, khoác lác. Người vợ xinh đẹp của ông, Theodora, con gái một người huấn luyện gấu, là người rất nhẫn tâm, và nàng đã đùa ông giống như đùa với một con rối vậy. Không thể hiểu nổi hai bổn tánh của Đấng Christ, nàng cứ nắm lấy quan điểm Monophysite – quan điểm nầy cho rằng Chúa Jêsus không có nhân tánh mà chỉ có thần tánh thôi, không cứ cách gì đó đã mặc lấy hình thể xác thịt của con người. Ở giáo hội nghị Constantinople, Justinian, bị vợ mình thao túng, đã phát ra một chiếu chỉ chuộng theo quan điểm Monophysites.
Giáo hoàng Vigilius đã từ chối không tham dự hội nghị vì ông lo sợ cho sự an toàn của mình, và vì ưu thế của các giám mục Đông phương. Ở Rôma, ông đã nhận được các tin tức nói tới mọi hành động của hội nghị với thái độ khinh khỉnh, nhưng đã nhận lấy mọi quyết định của hội nghị và xem chẳng có gì quan trọng hết. Tuy nhiên, các luận điểm của thuyết Monophysite cứ tiếp tục cho tới ngày nay ở Abyssinia, Syria, và ở Hội thánh Coptic ở Ai cập.
Còn Justinian? Ông đã trở thành người theo dị giáo, rao giảng rằng thân thể của Đấng Christ, là không hay hư nát, không thể kinh nghiệm sự thương khó và sự chết. Ông qua đời vào năm 565, không ăn năn, ở tuổi 83, những năm tháng sau cùng của đời ông bị tăm tối phủ lấy do nhiều tai vạ chồng chất.
Cơ đốc giáo lành mạnh đòi hỏi cả tri thức thần học chính xác về Đấng Christ và tri thức cá nhân về Cứu Chúa qua đức tin và sự vâng phục. Justinian đã nắm lấy phần trước, không hề đạt tới phần sau, và khiến cho chúng ta phải lấy làm lạ không biết ông nghĩ gì về tước hiệu của mình trong lịch sử – Đại đế Justinian.
“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1.1-3).
6 tháng 5
THẤT BẠI MỘT LẦN NỮA
Vào năm 1523, Giulio de’ Medici trở thành Giáo Hoàng Clement VII. Martin Luther đã gây ra nhiều nan đề lúc bấy giờ; nhưng các điềm gỡ không bao lâu đã xuất hiện chỉ ra nhiều tai vạ lớn sắp sửa xảy ra. Vào ngày 8 tháng 4 năm 1527, khi Clement chúc phước cho một đám dân đông khoảng 10.000 người, một người cuồng tín quấn thắt lưng bằng da đã leo lên một toà nhà gần đó, hô to: “Ngươi, kẻ đồi bại của Sôđôm! Vì tội lỗi của ngươi Rôma sẽ bị hủy diệt. Hãy ăn năn và hãy xây trở lại đi”. Chưa đầy một tháng sau, vào ngày 6 tháng 5 năm 1527, sương mù che phủ bầu trời, một đoàn quân đông đảo những kẻ dã man đã làm vỡ tung các bức tường thành của Rôma và xâm nhập vào thành phố. Họ đã được sai phái – nhưng không còn điều khiển được nữa – bởi Đại đế Charles V. Lúc bấy giờ các binh đoàn đã vào hết Rôma, họ đói khát, không có lương bổng, không giày dép, rách rưới, và mau lẹ.
Binh lính phòng thủ người Rôma và Thụy sĩ đã bị tiêu diệt hết. Những kẻ dã man đã gõ cửa từng nhà, cướp phá, và thiêu đốt những gì còn chừa lại. Họ xâm nhập vào các bịnh xá và những viện mồ côi, tàn sát những người có mặt ở đó. Phụ nữ ở độ tuổi nào cũng bị tấn công; các bà sơ bị dồn lại trong các nhà chứa; những vị linh mục đã bị quấy rối. Ngân hàng và các nhà kho đều bị cướp, người giàu có bị đánh đòn cho tới chừng họ lòi ra cho tới đồng xu cuối cùng. Móng tay bị rút ra từng cái một. Trẻ con bị ném xuống từ mấy khung cửa sổ ở trên cao. Nhiều huyệt mộ bị đào bới lên, các nhà thờ bị trấn lột, những thư viện, kho sách đều bị đốt hết. Các bản thảo vô giá trở thành đệm ngủ cho loài ngựa. Những tên lính say sưa vênh váo đi vòng quanh trong y phục của giáo hoàng, diễu hành theo nghi thức thánh. Trong vòng một tuần lễ, 2.000 thi thể trôi nổi trên sông Tiber và gần 10.000 người khác đợi chôn cất. Nhiều cộng đồng không còn nữa. Loài chuột và loài chó moi ruột các thi thể trôi nổi được chất đầy cả thành phố.
Giáo Hoàng Clement đã được đưa tới an toàn trong lâu đài St. Angelo, và từ mấy cái tháp của nó ông đã bất lực đứng quan sát thành phố bị bao vây. Ông khóc thét lên: “Sao người ta đem tôi ra khỏi tử cung? Tôi đáng bị thiêu đốt lắm”.
Khi tin tức lan đi khắp Âu châu, những tín đồ Tin lành đã giải thích sự thất bại của Rôma là sự báo thù thiêng liêng, và một số người Công giáo đã đồng ý như thế. Cardinal Cajetan là đối thủ của Luther ở Augsburg, đã viết: “Chúng ta, là muối của đất đã mất mặn, cho tới chừng chúng ta sống nhơn đức để chẳng được gì. Ai nấy đều tin rằng mọi điều nầy đã xảy ra như một sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên kẻ chuyên chính bạo ngược và sự hỗn loạn của triều đại giáo hoàng”.
“Mắt ta hao mòn vì chảy nước mắt, lòng ta bối rối; Gan ta đổ trên đất, vì sự hủy diệt con gái dân ta. Vì con trẻ và các con đương bú, ngất đi nơi các đường phố trong thành…Những người qua đường thấy ngươi thì vỗ tay; Xỉ báng lắc đầu vì thấy gái Giê-ru-sa-lem, Nói rằng: Có phải nầy là thành mà người ta gọi là sự đẹp đẽ trọn vẹn, sự vui mừng của cả đất chăng?” (Ca thương 2.11, 15).
7 tháng 5
TÔI PHẢI TRÌNH VỚI CHÚA JÊSUS
Nhiều lời hứa trong Tân Ước có những câu tương ứng trong Cựu Ước làm tăng thêm sức mạnh của chúng. Thí dụ, khi Phierơ nói: “lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em” (I Phierơ 5.7), ông chỉ nói lại lời lẽ của David ở Thi thiên 55.22: “Hãy trao gánh-nặng ngươi cho Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi; Ngài sẽ chẳng hề cho người công bình bị rúng động”.
Elisha A. Hoffman vốn ưa thích mấy lời nầy. Ông ra đời vào ngày 7 tháng 5 năm 1839 ở Orwigsburg, Pennsylvania. Cha của ông là một vị Mục sư, và Elisha đã bước theo Đấng Christ lúc tuổi còn trẻ. Ông đã học các trường công ở Philadelphia, theo môn khoa học, kế đó theo đuổi các bộ môn cổ điển ở Chủng viện Union thuộc Hội truyền giáo. Ông đã làm việc trong 11 năm với nhà in của Hội ở Cleveland, Ohio. Kế đó, sau cái chết của vợ ông hãy còn trẻ, ông trở về lại Pennsylvania rồi dâng 33 năm làm Mục sư Chủ tọa Hội thánh Trưởng lão Cảng Benton.
Thì giờ tiêu khiển của Hoffman là sáng tác các bài thánh ca, phần nhiều trong số đó được cảm thúc bởi những việc có liên quan tới chức vụ Mục sư. Thí dụ, một ngày kia, trong khi kêu gọi giúp đỡ cho người nghèo ở Lebanon, Pennsylvania, ông gặp một phụ nữ có sự chán chường dường như không phương cứu chữa nổi. Bà ta mở lòng ra dốc đổ hết mọi nổi buồn đau của mình trên ông. Khi ông siết chặt bàn tay của bà ấy, bà ta kêu lên: “Tôi sẽ làm chi đây? Ôi, tôi phải làm chi đây?” Hoffman vốn biết bà ta phải làm gì rồi, vì bản thân ông đã học biết sâu sắc các bài học về sự yên ủi của Đức Chúa Trời. Ông nói với phụ nữ ấy: “Bà không thể làm chi khác hơn là đem những nổi buồn đau đó mà trình cho Chúa Jêsus. Bà phải trình cho Chúa Jêsus”.
Đột nhiên gương mặt của người phụ nữ ấy sáng rực hẳn lên. Bà ta kêu lên: “Đúng rồi, phải rồi, tôi phải trình với Chúa Jêsus thôi!” Lời lẽ của bà ta vang dội trong hai lỗ tai của Hoffman, và ông đã nghĩ tới nghĩ lui nhiều lần khi ông về tới nhà. Ông rút cây viết ra rồi khởi sự viết: “Tôi phải thưa với Chúa Jêsus! Tôi phải thưa với Chúa Jêsus! Một mình tôi không thế mang nổi gánh nặng; Tôi phải trình với Chúa Jêsus! Tôi phải trình với Chúa Jêsus! Chúa Jêsus có thể vùa giúp tôi, chỉ một mình Chúa Jêsus mà thôi!”
Hoffman đã sống đến 90 tuổi, ông trình với Chúa Jêsus mọi gánh nặng của mình và cung ứng cho Hội thánh những bài thánh ca rất hay như: “Huyết Chiên Con Bôi Sạch Lòng”, “Kỳ Diệu Thay Christ Chuộc Tôi”, “Ta Theo Ý Chúa Chưa?”, “Mau Chiếu Ra” và cả ngàn bài khác nữa.
“vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy, hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên; lại hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em” (I Phierơ 5.5b-7).
8 tháng 5
NHỮNG NGƯỜI CHÍNH THỐNG CHIẾN ĐẤU
Khi phái thần học tự do nhập vào nước Mỹ ở thập niên 1900, một đội quân những người theo trào lưu chính thống đã chỗi dậy để bảo vệ đức tin. Phần nhiều là các chiến binh thập tự rất khôn ngoan, nhưng có một số….đúng, sốt sắng quá mấu.
- Frank Norris lớn lên trong túp lều hư nát ở Texas. Cha của ông, một tá canh nghiện rượu, hay đánh đập ông. Ông trở lại đạo ở độ tuổi thiếu niên, mẹ ông nói ông là: “một người có chí lớn, là người sẽ trở thành nhân vật lãnh đạo nhiều người”. Sau khi bước vào Trường Đại Học Baylor, ông làm cho các bạn học phải giật mình bằng cách nói trước rằng một ngày kia ông “rao giảng ở một toà giảng lớn nhất thế giới”.
Ông rất hay sinh sự. Một ngày nọ các sinh viên hay chơi khăm đã thả một con chó hay tru tréo vào trong giảng đường, và Hiệu trưởng O. H. Cooper, mất bình tỉnh, đã ném con vật xuống từ cửa sổ tầng thứ ba. Norris liền cho ông đối xử ác độc với thú vật hay và lãnh đạo sinh viên chống đối, kết quả là đơn xin từ chức của Cooper.
Sau khi tốt nghiệp, Norris làm chủ toạ Hội thánh Báptít Đầu Tiên Fort Worth, không bao lâu sau đó ông đã biến Hội thánh nầy thành Hội thánh tin lành lớn nhất ở nước Mỹ. Vào năm 1935, ông nhận Hội thánh Báptít Temple ở Detroit và làm chủ toạ cả hai Hội thánh cùng một lúc, ông đi qua đi lại như con thoi 1.200 dặm giữa hai nhà thờ nầy trong phần đời còn lại của mình. Ông đã trở thành một trong các nhà truyền đạo nổi tiếng nhất nước Mỹ, giọng nói của ông tràn ngập bầu không gian, bài giảng ông có đầy trong các ấn bản. Ông có mặt ở khắp mọi nơi.
Và ông là nhân vật hay sinh sự ở khắp nơi. Có lần từ toà giảng, ông phê phán nhân vật quan trọng của Công giáo ở Fort Worth. Thứ bảy sau đó, đang khi Norris đang giảng bài giảng của mình, một người bạn của nhân vật quan trong ấy cho gọi ông. Không lâu sau đó, bốn phát súng nổ vang lên, còn vị khách kia đã ngã chết. Norris được tha khỏi xiềng xích vào buổi trưa hôm ấy. Ngay lập tức ông rà lại bài giảng của mình, và qua ngày hôm sau hết thảy Fort Worth đều đến để nghe ông giảng từ Rôma 8.1 – Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ. Phiên xử của ông làm cho cả nước phải lo lắng, sau cùng quan toà tuyên bố rằng ông đã phải bắn để tự vệ.
Norris tiếp tục chức vụ có tính chiến đấu của mình, đưa nhiều linh hồn về với Đấng Christ, biện hộ cho chính thống giáo, đấu tranh với tội ác, lôi cuốn và thuyết phục nhiều khán thính giả. Vào ngày 8 tháng 5 năm 1947, chủ bút Ralph McGill của tờ Atlanta Constitution viết: “Mục sư J. Frank Norris và nhiều người khác giống như ông, là một lý do đúng đắn cho thấy tại sao có 50.000.000 người Mỹ không thuộc vào một nhà thờ nào hết”.
Norris đã qua đời vì bịnh tim một thời gian ngắn sau đó, và chỉ có trời mới biết ông đã làm đúng hay sai.
“Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ” (Galati 1.10).
9 tháng 5
ĐOÀN LỮ HÀNH ĐÔNG ĐÚC
Bá tước Nikolaus Ludwig von Zinzendorf được gọi là “vị quan trai trẻ giàu có, là người đã nói ĐƯỢC”. Chào đời trong một gia đình hàng đầu ở châu Âu, ông đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ, thiết lập một cộng đồng Cơ đốc ở bang Herrhut của mình, và giám sát việc sai phái các giáo sĩ đầu tiên trong lịch sử Tin lành. Ông đã lập gia đình rất muộn, Zinzendorf đã cưới Anna, là người yêu của ông.
Ba năm sau sức khoẻ ông suy sụp. Ông mong muốn hoàn tất một số dự án, nhưng ông cũng thấy Anna còn yếu hơn ông nữa. Vào ngày Chúa nhựt 4 tháng 5 năm 1760 họ cùng đi nhóm ở nhà thờ, nhưng với sự khó khăn lắm. Anna quay trở lại giường của mình. Ngày hôm sau Nikolaus không thể ăn trưa được, và ông than phiền về cơn khát. Ông bước qua thăm Anna tại giường bịnh, rồi ngã té vào chiếc giường đó. Nói năng cũng rất khó khăn, rồi cả hai, ông và Anna chắc sẽ lần lượt chết trong căn phòng đó.
Đến ngày 8 tháng 5 David Nitshmann đến thăm họ. Nikolaus tự chỗi dậy, ông nhớ lại rồi nói: “Ông có tin rằng vào lúc ban đầu Cứu Chúa đã làm thật nhiều việc mà giờ đây chúng ta hiện nhìn thấy trong cộng đồng người Moravian của chúng ta, giữa vòng các hệ phái khác, và giữa vòng người theo tà giáo không? Tôi chỉ nài xin Ngài ban cho một vài bông trái thôi, nhưng bây giờ có đến hàng ngàn. Nitshmann ơi, đúng là một đoàn người lữ hành đông đúc từ Hội thánh của chúng ta đang đứng bao quanh Chiên Con”.
Đến nửa đêm ông bị một cơn ho dữ dội hành hạ, và 9 giờ sáng hôm sau, ngày 9 tháng 5 năm 1760, ông nói với con rễ của mình là John Watteville: “Nầy John yêu dấu của ta, ta sắp sửa đi gặp Cứu Chúa rồi. Ta sẵn sàng rồi đây. Ta đành phải chìu theo ý muốn của Ngài, và Ngài đã vui lòng với ta…Ta đã sẵn sàng ra đi với Ngài. Không một điều gì ngăn trở trên con đường ta đi nữa”. Đôi mắt của ông đã nấn ná thêm một giờ nữa, thế rồi chúng nhắm nghiền lại. Watteville bắt đầu cầu nguyện: “Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi tớ Chúa qua đời bình an. Nguyện Chúa chúc phước cho người, và gìn giữ người…Nguyện mặt Chúa ngước lên nhìn người và ban sự bình an cho người”. Khi nói tới chữ “bình an” Zinzendorf mới trút hơi thở của mình.
Khi người ta thuật lại cho Anna hay, bà nói: “Tôi có một viễn cảnh sung sướng nhất về ông ấy. Không bao lâu nữa tôi sẽ đi cùng ông ấy”. Bà đã quan sát đám tang ông từ cửa sổ phòng của mình, rồi mười ba ngày sau, bà đã hiệp đi cùng ông.
“Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó” (II Timôthê 4.6-8a).
10 tháng 5
HIỆP SĨ CỦA ĐỀN THỜ
Khi những cuộc Thập tự chinh cho phép các Cơ đốc nhân thời Trung cổ được về thăm Xứ Thánh, vấn đề an ninh đã phát sinh. Làm sao khách hành hương được an ninh tránh khỏi quân trộm cướp? Vào năm 1118 Hugh de Payens, một hiệp sĩ của chiến dịch, đã hiệp với 8 hiệp sĩ khác nữa cùng long trọng đưa ra lời thề bảo vệ cho khách du lịch người châu Âu, họ tổ chức đội “Hiệp sĩ của Đấng Christ và của Đền Thờ Solomon”. Hugh đã giành được sự thừa nhận của Hội thánh, và đội Templar, khi họ được kêu gọi, đã mau chóng có được ảnh hưởng và sự giàu có. Họ đã mua đất đai rồi dựng lên một tổ chức khắp các nước theo đạo Cơ đốc. Họ kiếm được nhiều bầy gia súc rồi trở thành một lực lượng quân sự tinh túy nhất và những quan cai trị đều thuê mướn họ. Khi sự giàu có của họ tăng lên, họ đã dựng lên các cơ quan tài chính ở Paris và Luân đôn.
Đến năm 1305 Philip Vua nước Pháp, hướng mắt vào sự giàu có của họ, ông sử dụng một hiệp sĩ bất mãn để đưa đến nhiều bất lợi cho tổ chức. Nhiều hình thức được xướng ra gồm có phạm thượng và đồng tình luyến ái, các điều nầy đã được xác nhận. Đội Templar, đã bị kết án như thế, trong các nghi thức kết nạp kín đã buộc các tân binh phải chối bỏ Đấng Christ, phải khạc nhổ lên thập tự giá, và phải hôn mông và rốn của những hiệp sĩ đồng đội với mình. Trong đêm 13 tháng 10 năm 1307 (ngày đáng nguyền rủa), hết thảy đội Templar ở Pháp đều bị bao vây và bị bắt. Philip Clement buộc phải giải tán đội Templar và mở rộng sự bắt bớ sang Âu châu.
Nhưng Paris vẫn là trung tâm của sự chịu khổ, rồi vào ngày 10 tháng 5 năm 1310, 54 hiệp sĩ đã bị thiêu sống trong một bối cảnh thật rùng rợn. Ba mươi sáu người đã ngã chết do bị tra tấn, bốn người bị thiêu sau đó một tuần, và hàng trăm người bị chết mất ở trong tù. Hai mươi hai người (sau cùng) đã cừ khôi chiến đấu vì đội, Jacques de Moley, đã bị giữ lại chờ thiêu vào một ngày khác. Ngay đêm trước 12 tháng 3 năm 1214 ông bị dẫn ra trước nhà thờ Đức Bà rồi bị cột vào giàn hoả. Theo các nguồn tin, trong khi ngọn lửa được nhóm lên ở chung quanh ông, ông đã kêu gọi Giáo hoàng và nhà vua đối mặt với ông trong cuộc xét xử trong vòng một năm.
Giáo Hoàng Clement đã qua đời vài tuần lễ sau đó bởi một chứng bịnh rất ghê tởm, và Philip, 46 tuổi, đã bị chết mất trong một tai nạn đi săn trong vòng 6 tháng.
“Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy” (Khải huyền 20.11-12).
11 tháng 5
TÂN RÔMA
Cơ đốc giáo đầu tiên đã thiết lập một vài trung tâm chính. Đầu tiên là Rôma, quê hương của Thiên Chúa giáo (hệ phái Tin lành ra từ đây). Một trung tâm khác nữa, đó là Constantinople, nguồn gốc của các chi nhánh Đông phương hay Chính Thống của Hội thánh.
Constantinople ra đời năm 324 khi Hoàng đế Constantine, tin tương lai nằm ở Đông phương hơn là Tây phương, ông quyết định dời đô từ Rôma sang Byzantium, một bối cảnh nằm ở sườn phía đông của châu Âu, dưới chân núi Bosporus. Ông lãnh đạo các vị phụ tá, những kỹ sư, và các linh mục trong một cuộc hành quân quanh cảng và đồi núi của bối cảnh ấy, vạch ra đường biên giới cho thủ phủ đã được ông hình dung ra. Ông cho nhập hành ngàn lao động và thợ thủ công để xây dựng các bức tường, toà nhà, cung điện, dinh thự, đường phố và cỗng vòm thành. Ông cho đặt các tác phẩm điêu khắc nơi những công viên và vòi phun nước ở những nơi công cộng. Trước đó đã có trường đua ngựa, một trường đại học danh tiếng, năm cung điện của hoàng gia, chín đền đài dành cho những người quyền cao chức trọng, 4.388 lâu đài, 322 đường phố, 1.000 cửa hàng, 100 nơi giải trí, nơi tắm sang trọng, nhiều nhà thờ nguy nga, và số cư dân rất lớn. Đây là một thành phố lung linh mờ ảo ở dưới ánh mặt trời.
Tân Rôma đã được khánh thành như thủ phủ của Đế quốc phương Đông vào ngày 11 tháng 5 năm 330. Tà giáo chính thức cáo chung, Cơ đốc giáo được người ta vòng tay đón nhận, và vị Giám Mục (hay tộc trưởng) của Constantinople đã cạnh tranh với Giám Mục của Rôma. Ở đây, ngôi nhà thờ đẹp nhất đã được xây dựng – nhà thờ Thánh Sophia Khôn Ngoan Thánh Khiết (The Church of Holy Wisdom, St. Sophia).
Trong 1.100 năm, Constantinople đã bảo toàn cho Đế quốc La mã Đông phương (còn được gọi là Đế quốc Byzantine). Cơ đốc giáo chuyển mình theo hướng song song với nhau, Thiên Chúa giáo và Chính Thống giáo. Giáo Hoàng và tộc trưởng cạnh tranh với nhau, mà cũng từ chối nhau. Cuộc phân chia quan trọng nhất trong Cơ đốc giáo không phải là Công Cuộc Cải Chánh vào năm 1517, tách rời Thiên Chúa giáo và Tin lành, mà là Cuộc Ly Giáo vào năm 1054 (The Great Schism), tách rời các chi nhánh Đông và Tây Phương của Cơ đốc giáo. Từ Constantinople mà ra các chi tộc Chính Thống Đông Phương, theo truyền khẩu của người Nga và Hy lạp.
Đến năm 1453 Constantinople rơi vào tay quân Ottoman. Nhà thờ Thánh Sophia bị biến thành nhà thờ Hồi giáo, kế đó là viện bảo tàng. Constantinople giờ đây được gọi là Istanbul, và Thổ nhĩ kỳ, từng là pháo đài của Cơ đốc giáo, là quốc gia rộng lớn nhất “chẳng ai động tới được” ở trên đất.
“Hỡi các nước, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va; Hỡi các dân, khá ca tụng Ngài! Vì sự nhơn từ Ngài rất lớn cho chúng ta; Sự chơn thật Đức Giê-hô-va cho đến đời đời. Ha-lê-lu-gia!” (Thi thiên 117.1-2).
12 tháng 5
QUYỂN SÁCH CỦA NGƯỜI THỢ ĐÓNG GIÀY
William Carey chào đời ở một ngôi làng ít có ai biết đến trong thời kỳ ảm đạm nhất của nhiều thời đại. Gia đình ông rất nghèo, và ông ăn học chẳng có bao nhiêu. Một chứng bịnh về da khiến cho ông thường phải làm việc ở ngoài trời, vì vậy ông đã học nghề của một người thợ đóng giày ở gần nhà. Khi ông không làm được công việc ở ngoài nữa, ông đã mở một ngôi trường để có thêm phần thu nhập của mình. Chuyện nầy cũng chẳng thấy khắm khá bao nhiêu. Ông lập gia đình, nhưng cuộc hôn nhân cho thấy chẳng có hạnh phúc. Một chứng bịnh quái ác đã cướp đi mạng sống của đứa con gái nhỏ rồi để cho ông trơ trọi trong cuộc sống. Ông được kêu gọi đến làm chủ toạ một Hội thánh nhỏ, nhưng ông đã gặp rắc rối trong việc được tấn phong vì các bài giảng nhạt nhẽo.
Đấy chẳng phải là khả năng cần có để trở thành “Cha Đẻ Của Các Cuộc Truyền Giáo Hiện Đại”.
Nhưng khi Carey mượn một quyển trong bộ Voyages (Những chuyến hải hành) của Thuyền Trưởng Cook, nhật ký của người thủy thủ nổi tiếng kia đã thôi thúc ông, và ông bắt đầu nghĩ tới công cuộc truyền giáo ở hải ngoại. Trên bức tường cửa hiệu đóng giày của ông, ông cho treo một tấm bản đồ thế giới tự vẽ lấy, có chú thích những dữ kiện và con số bên cạnh của quốc gia. Rồi ông khởi sự nhìn thấy một việc cần phải thực hiện để nắm lấy thế giới cho Đấng Christ.
Mãi cho tới khi có nhiều Cơ đốc nhân tin Sứ Mệnh Cao Cả đã được ban ra bởi các vị sứ đồ đầu tiên. Carey khẳng định sứ mệnh ấy đang trói buộc tất cả các thế hệ Cơ đốc nhân nối tiếp nhau, một ý tưởng đã khiến cho nhiều nhà truyền đạo lên tiếng chế giễu. Người thời ấy gọi ông là “kẻ sốt sắng đáng tội nghiệp”, rồi vào một buổi nhóm Baptist Mục sư John C. Ryland, là người đã làm phép báptêm cho ông, nói rằng: “Nầy anh bạn trẻ, hãy ngồi xuống đi! Khi Đức Chúa Trời muốn biến đổi kẻ theo tà giáo, Ngài sẽ làm thế mà chẳng cần hỏi qua anh hay tôi đâu!”
Lời quở trách ấy đã khiến Carey viết ra một quyển sách, được in ấn vào ngày 12 tháng 5 năm 1792, Một cuộc thẩm tra các bổn phận của Cơ đốc nhân, sử dụng các phương tiện làm cho người theo tà giáo trở lại đạo, các thể chế tôn giáo của nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, kết quả của những công việc đã có trước đây, và tính khả thi của các công việc sắp tới đã được xem xét.
Mặc dù đề tựa của quyển sách hơi cồng kềnh, quyển sách 87 trang nầy đã trở thành giáo khoa trong lịch sử Cơ đốc xứng đáng với một địa vị sánh ngang hàng với quyển 95 Đề Cương của Luther nơi phần ảnh hưởng của quyển sách trên lịch sử của Hội thánh sau nầy. Quyển sách nầy dẫn tới chỗ hình thành một cộng đồng truyền giáo, nhiều ngân quỹ đã được thu thập trong bao thuốc lá. Nhiều công việc đã được sử dụng để sai phái Carey đến Ấn độ, phát động kỹ nguyên truyền giáo hiện đại.
“Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Mathiơ 28.18-20).
13 tháng 5
NHÀ TRUYỀN ĐẠO TRẺ
David Marks 15 tuổi, đôi mắt đẫm lệ, rời nhà với một đôla trong túi để rao giảng Tin lành. “Nhà truyền đạo trẻ” không bao lâu sau đó đã tạo ra một chấn động ở vùng đông bắc nước Mỹ, và anh cứ giữ như thế trong 25 năm tới. Anh cỡi một con ngựa đi 19.000 dặm đường, giảng đạo cho hàng ngàn người, tổ chức được nhiều Hội thánh khắp cả bang New England, xuất bản nhiều quyển sách, viết nhiều đề tài, dạy học, và cần cù làm việc trong sự chống báng tình trạng nô lệ cùng ủng hộ công cuộc truyền giáo ở hải ngoại. Thế rồi anh qua đời do bị kiệt lực ở tuổi 40.
Ngay trước khi mặt trời mọc vào ngày 13 tháng 5 năm 1828, Marks cỡi ngựa tới một thị trấn nhỏ Ancaster, Ontario, tuyên bố anh sẽ giảng trong 7 phút ở công viên. Một đám đông nhỏ tụ tập lại, và anh hỏi có ai muốn anh giảng câu Kinh Thánh nào mà họ thích nghe hay không!?!
Có người đáp với sự chế giễu: “Chẳng một câu nào hết” (nothing).
Ngay lập tức Marks bắt đầu giảng từ chỗ: “chẳng một vật nào” (nothing). Anh nói Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới từ chỗ “không không” [nothing] (chẳng có gì). Đức Chúa Trời đã ban ra luật pháp, trong đó có sự bất công “chẳng ra gì hết” (nothing). Nhưng Marks tiếp tục, chúng ta đã phá vỡ luật pháp của Đức Chúa Trời và nơi chúng ta “chẳng có gì hết” (nothing) để xưng công bình cho chúng ta. Sẽ là “hư không” (nothing) khi yên ủi hạng tội nhân ở trong sự chết hay địa ngục. Nhưng, trong khi Cơ đốc nhân “chẳng có gì hết” (nothing) nơi bản thân họ để khoe khoang, chúng ta có Đấng Christ để mà khoe. Và trong Ngài, chúng ta “chẳng có một điều gì”(nothing) làm cho chúng ta phải đau đớn, “chẳng một điều gì” (nothing) quấy rối sự bình an của chúng ta, và “chẳng có gì” (nothing) phải e sợ trong cõi đời đời.
Sau khi giảng xong, Marks leo lên lưng ngựa rồi cỡi qua làng kế cận. Một thời gian sau, anh quay trở lại Ancaster. Lần nầy một nhóm người đông hơn đã nhóm lại, và nơi nhóm lại đã rộng mở đón anh. David đã giảng “một điều quan trọng” (something) cho họ. Anh nói có một “việc quan trọng” (something) trên hết mọi sự. Có “một việc quan trọng” (something) đã được hoạch định nơi con người để được sống đời đời, nhưng cũng có “một việc quan trọng” (something) nơi chúng ta khiến cho chúng ta phải sống bất hạnh. Có “một việc quan trọng” (something) về Tin lành làm đảo lộn tình trạng bất hạnh của chúng ta, “một việc quan trọng”(something) cung ứng cho chúng ta niềm hy vọng. Có “một việc quan trọng” (something) quấy rối kẻ không biết ăn năn bằng sự chết, nhưng “một việc quan trọng” (something) đang ngự trong Cơ đốc nhân mà người thế gian không thể hiểu được, và “một việc quan trọng” (something) trong cõi đời đời cung ứng cho chúng ta niềm vui mừng miên viễn.
Mọi sự ấy ra từ một chàng trai thất học ngồi trên lưng ngựa đi lòng vòng, tâm trí của anh đầy dẫy với Kinh Thánh và tấm lòng anh đầy dẫy Đấng Christ, là Đấng có “một việc quan trọng” (something) để nói – và “chẳng có gì” (nothing) phải sợ hãi hết.
“Vì tôi chắc rằng chẳng một điều gì có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương…mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta” (Rôma 8.38-39).
14 tháng 5
MỘT ÁNH SÁNG CHO DÂN NGOẠI
John Berridge mong bước theo nghề chăn nuôi của cha mình, nhưng không sao nắm bắt được hết mọi tình huống. Người cha sau cùng lấy làm buồn lòng mới nói: “John à, ta thấy con không thể nắm được gì hết về giá trị của gia súc, và ta sẽ gửi con vào một trường học để trở thành một ánh sáng cho dân Ngoại”. Thế là John nhập học trường Cambridge, rồi bước vào công việc của Hội thánh, nhưng chưa có một kinh nghiệm riêng tư nào về Tin lành hết.
Sự rao giảng của anh rất có ấn tượng, đời sống anh thật ngay thẳng, năng lực của anh không bờ bến, chức vụ của anh thì chẳng ra gì hết. Sứ điệp của anh tránh né sự chết và sự sống lại của Đấng Christ, giống như hệ thống thái dương hệ mà chẳng có mặt trời vậy. Trong nhiều năm trời anh hoạt động rất chói sáng, nhưng không có kết quả.
Đến năm 1755 anh trở thành Mục sư xứ Everton, rồi ở tuổi 42 đó sau cùng anh thấy thương tiếc cho linh hồn mình. Anh bắt đầu kêu la: “Lạy Chúa, nếu con đang sống đúng đắn, xin cứ giữ con như thế; còn nếu con chưa đúng, xin khiến con ra đúng và dẫn con đến với sự thông biết lẽ thật của Chúa Jêsus”. Một buổi sáng kia, khi đang ngồi trước quyển Kinh Thánh mở ra, những lời nầy thoáng qua lý trí anh: “Hãy thôi các việc riêng của ngươi đi, chỉ tin mà thôi”. Ngay lập tức anh khởi sự rao giảng ơn cứu rỗi bởi ân điển chỉ nhờ vào một mình đức tin thôi! Không lâu sau đó, một trong các giáo dân của anh đến thăm anh. Anh nói: “Sao vậy Sarah, có việc gì thế!”
Phụ nữ kia đáp: “Tôi không biết! Những bài giảng mới mẻ kia, tôi thấy hết thảy chúng ta đều bị hư mất lúc bây giờ. Tôi không thể ăn uống, cũng không thể ngủ nghỉ. Tôi không biết rồi mình sẽ ra sao nữa”. Nhiều người khác cũng kêu la cùng một giọng điệu ấy. Chẳng bao lâu thì nhà thờ của Berridge đông người thêm, nhiều người dân làng biết dâng đời sống họ cho Đấng Christ. Dân chúng nhóm lại càng thêm, và ngôi nhà thờ dường như quá nhỏ cho họ. Đến ngày 14 tháng 5 năm 1759 Berridge bắt đầu giảng đạo ở ngoài trời. Anh viết: “Qua ngày thứ hai, chúng tôi tập trung ở một nông trại. Sau bữa ăn tối, tôi bước ra sân, rồi nhìn thấy có chừng 150 người, tôi cho dọn một cái bàn rồi lần đầu tiên đã giảng đạo trong một bầu không khí rộng mở. Kế đó, chúng tôi đi đến Meldred, ở đây tôi đã giảng ở ngoài đồng trống cho khoảng 4.000 người”.
30 năm còn lại của anh, anh đã rao giảng tin lành theo mùa tiết và thường thì ở ngoài trời. Anh không lập gia đình, luôn luôn ở riêng một mình, và cứ ở với các giáo xứ vùng nông thôn cho tới lúc anh qua đời ở tuổi 77 vào năm 1793. Anh là Whitefield của vùng nông thôn nước Anh.
“còn tôi đã trở nên kẻ giúp việc Tin Lành ấy cứ sự ban cho của ân điển Đức Chúa Trời, là ân điển đã ban cho tôi bởi công hiệu của quyền phép Ngài. Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Christ” (Êphêsô 3.7-8).
15 tháng 5
NGƯỜI CON TRAI HOANG ĐÀNG
Thi thiên 19.7 chép: “Luật pháp của Đức Giêhôva là trọn vẹn, bổ linh hồn lại” – và đôi khi theo những cách thức rất bất ngờ.
Một trong những nhà truyền đạo có uy quyền nhất của thế kỷ thứ 19 là “Cậu” John Vassar, ông lớn lên trong nhà máy ủ bia của gia đình ở Poughkeepsie, Nữu Ước. Sau khi trở lại đạo với Đấng Christ, ông lìa bỏ nghề làm bia để dẫn đưa nhiều người đến với Đấng Christ, rồi vào ngày 15 tháng 5 năm 1850 ông được bổ nhiệm là đại biểu cho The American Tract Society ở Nữu Ước. Vassar bị cuốn vào các chuyến đi dọc ngang trong xứ, không hề nghỉ công tác bán các sách báo Cơ đốc và hỏi thăm từng người mà ông gặp về mối quan hệ của họ với Đấng Christ.
Trong một dịp kia, khi đi về phía tây, ông đến viếng gia đình nọ có người chồng không tin Chúa, còn người vợ thì rất hay cầu nguyện. Bà nầy nài xin một quyển Kinh Thánh, và Vassar đã trao cho bà một quyển rồi đi đường mình. Sau khi ông rời khỏi đó, chẳng bao lâu thì người chồng về tới nhà, nhìn thấy quyển sách và nổi điên lên. Cầm lấy quyển Kinh Thánh ở tay nầy và cây búa tay kia, ông ta vội vã ra chỗ đống gỗ, ở đó ông ta đặt quyển sách lên mặt khúc cây rồi chẽ quyển sách ra làm hai. Sau khi trở về nhà, ông ta ném phân nửa quyển Kinh Thánh bị chẽ làm hai vào người vợ mình, rồi nói: “Khi em đòi một phần tài sản quanh đây, thì đây là phần của em đó”.
Còn phân nửa kia, ông ta ném vào nhà kho chứa dụng cụ của mình.
Nhiều tháng trời sau đó vào một ngày mùa đông ẫm ướt, người chồng kia không thích bị cuốn vào lối sống Cơ đốc của vợ mình, nên rút vào nhà kho mà ở. Thời gian trôi qua dần, và trong nỗi buồn tẻ khó chịu, ông ta nhìn quanh quất để tìm cái gì đó để đọc. Giở từng trang quyển Kinh Thánh còn phân nửa kia, sự chú ý của ông ta bị cuốn hút bởi câu chuyện nói tới người con trai hoang đàng trong Luca 15. Ông ta chăm chú vào thí dụ chỉ để khám phá ra rằng phần kết của nó nằm ở phân nửa quyển Kinh Thánh mà vợ mình đang giữ. Ông ta bò vào nhà rồi kín đáo tìm kiếm phân nửa kia của quyển sách, thế mà chẳng tìm được chỗ vợ ông ta giấu nó.
Sau cùng ông ta ngã lăn ra, năn nỉ vợ mình đưa cho phân nửa kia, rồi đọc đi đọc lại câu chuyện ấy. Tiến trình ông ta đến với Cha thiên thượng của mình rất giống với người con trai hoang đàng vừa quay trở về nhà vậy.
“Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con của cha nữa, nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhứt mặc hội chợ nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chơn…vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng” (Luca 15.2, 22, 24).
16 tháng 5
BỊ TIÊU NUỐT
Henry Martyn chào đời ở Cornwall, nước Anh vào năm 1781. Cha của anh là một người rất giỏi về kinh doanh, và Henry lớn lên giữa nhiều tiện nghi. Anh rất thông minh, xuất sắc trong học đường, và tiếp tục vào Cambridge, tốt nghiệp với bằng danh dự môn toán học. Các tác phẩm của Giáo sĩ David Brainard đã giúp đưa Martyn đến với sự đầu phục Cơ đốc, và không lâu sau đó anh đã nghĩ tới công cuộc truyền giáo ở hải ngoại. Anh nói: “Xin hãy khiến tôi quên đi thế gian, và bị tiêu nuốt trong nỗi ước muốn làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời”.
Thế nhưng anh không thể quên được Lydie Grenfell. Henry vốn yêu Lydie rất sâu đậm, mặc dù nàng chẳng có ham mến chi về công cuộc truyền giáo cho người Á châu. Một cuộc tranh chiến đã làm tan nát chàng trai trẻ. Liệu anh có nên đi với Đức Chúa Trời đến Ấn độ, hay ở lại Anh quốc với Lydie? Anh thao thức suốt cả đêm, lý trí anh đầy dẫy Lydie. Anh gọi nàng là “thần tượng yêu dấu” của mình. Thế nhưng, đã quyết bước theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, anh nói lời vĩnh biệt sau cùng rồi dong buồm ra khơi.
Buổi bình minh ngày 16 tháng 5 năm 1805, Martyn tới bờ biển Calcutta và được William Carey tiếp đón, không lâu sau đó Carey đã thúc đẩy anh bước vào công tác dịch thuật. Martyn lao mình vào chức vụ, giảng đạo, thiết lập nhiều trường học, và phiên dịch Kinh Thánh thành ba ngôn ngữ của người Á châu. Suốt khoảng thời gian ấy, anh đã suy nghĩ nhiều về Lydie. Vào ngày 30 tháng 7 năm 1806, sau nhiều đắn đo, anh viết, đề nghị hôn nhân. Nhiều thư từ qua lại, rồi một năm trôi qua trước khi anh nhận được một câu trả lời. Lời từ chối của Lydie chạm đến chàng trai trẻ nầy giống như một tia sét vậy, và sức khoẻ của anh, luôn luôn yếu ớt, bắt đầu suy sụp dần. Anh đã viết thư yêu cầu nàng hãy xem xét lại. Nàng không chịu, dù nàng đồng ý trao đổi thư từ trong chỗ bạn bè mà thôi.
Năm 1810 quyển Tân Ước tiếng Hindustani do anh dịch sẵn sàng lên máy in, Martyn qua xứ Ba tư với hy vọng sức khoẻ được phục hồi. Đến năm 1812 anh ngày càng yếu đến nỗi một chuyến đi bằng đường bộ đến nước Anh dường như là giải pháp duy nhứt. Anh biết rõ chuyến đi nầy cũng đưa anh đến với Lydie. Anh cũng muốn gặp nàng nhưng không sao thực hiện được, anh đã qua đời ở tuổi 31. Khi tờ nhật báo của anh khai trương, đặt tên là Lydie, giống như giọng trầm trầm của loại nhạc cung ai, được thấy ở từng trang báo. Còn Henry Martyn đã chu toàn mục tiêu của mình trong khi đến tại Ấn độ. Anh đã bị tiêu nuốt trong một nỗi ao ước muốn làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời, và quyển Tân Ước đã được người ta đọc với ba ngôn ngữ mới.
“Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe tiếng kêu của tôi, lắng nghe lời cầu nguyện tôi. Khi tôi cực lòng, tôi sẽ kêu cầu cùng Chúa từ nơi cực-địa; Xin hãy dẫn tôi khiến hòn đá cao hơn tôi…Tôi sẽ ở trong trại Chúa mãi mãi, nương náu mình dưới cánh của Chúa” (Thi thiên 61.1,2,4).
17 tháng 5
“HALÊLUGIA”
William Grimshaw ra đời ở vùng nông thôn nước Anh vào năm 1708, đến học tại Cambridge, rồi được tấn phong làm Mục sư vào năm 1731 mà chưa nhìn biết Đấng Christ. Ba năm sau trong khi đang làm chủ toạ ở Todmorden, anh có sự quan tâm sâu sắc về linh hồn mình. Anh thôi không đi săn, câu cá, đánh bài, và hội hè nữa, và khởi sự nài xin Đức Chúa Trời ban sự sáng cho. Thêm vài năm nữa, mấy cái vảy cá đã hoàn toàn rơi ra khỏi mắt của anh. Tin lành trở nên hiện thực và Kinh Thánh rất sống động. Anh nói với một người bạn rằng “nếu Đức Chúa Trời rút quyển Kinh Thánh của Ngài lên trời lại, rồi gửi cho tôi một quyển khác, thì quyển nầy chẳng mới gì hơn đối với tôi đâu!”
Anh dời sang Haworth ở Yorkshire rồi bắt đầu một chức vụ trong 21 năm trời. Nếu anh đến tại Luân đôn, đòi hỏi những người chuyên viết tiểu sử, anh sẽ trở thành một trong những nhà truyền đạo nổi tiếng nhất của thế kỷ thứ 18. Thực vậy, Haworth vốn là một ngôi làng hẹp hòi, thô lỗ và không lịch thiệp cho lắm. Con đường chính thì dốc đến nỗi loại xe ngựa liều lĩnh lắm mới dám chạy ngang qua nó. Ở đây Grimshaw đã lao động trong tình trạng chẳng có ai biết đến. Anh tập trung số khán thính giả bất cứ đâu anh có thể, trong các nhà kho, đồng ruộng, mỏ đá, rồi giảng tin lành cho họ nghe.
Có lần anh nói: “Khi tôi chết, khi ấy tôi sẽ có nỗi buồn và niềm vui lớn lao nhất của tôi – nỗi buồn sâu sắc nhất của tôi, ấy là tôi đã làm rất ít việc cho Chúa Jêsus, và niềm vui đầy hứng khởi nhất của tôi, ấy là Chúa Jêsus đã làm rất nhiều việc cho tôi”.
Nhưng tấm lòng của William Grimshaw đã bị con trai mình là John làm cho tan vỡ, John chối bỏ Đấng Christ, sống một đời sống vô ý vô tứ, rượu chè quá độ. Khi William nằm chờ chết, John đến thăm ông. William nói: “Hãy cẩn thận về mọi việc con đang làm, vì con chưa đến lúc phải chết”. Mấy lời ấy rõ ràng đã ám ảnh chàng trai trẻ, vì một ngày kia anh đã gặp một cư dân Haworth, người nầy nói: “Tôi thấy anh đang cỡi con ngựa của cụ Mục sư đó”.
John đáp: “Thưa phải, nó từng chở một vị thánh đồ rất cao trọng, và giờ đây nó đang chở một tội nhân rất đáng gờm”. Nhưng không lâu sau đó, vì John để ý tới những lời tha thiết lúc hấp hối của cha mình, và anh đã dâng lòng mình cho Đấng Christ. Một thời gian ngắn sau đó, anh qua đời vào ngày 17 tháng 5 năm 1766, anh nói: “Cha tôi sẽ nói gì khi ông nhìn thấy tôi được nhận vào trong thiên đàng”?
Có phải là “Halêlugia” không!?!
“Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao?…Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn” (Luca 15.4, 7).
18 tháng 5
ÔNG CHỈ BỀN ĐỖ MÀ THÔI
Chúng ta thường xông tới đang khi chúng ta bước đi khó nhọc, quên rằng chúng ta thường đạt được nhiều do bền đỗ hơn là vội vã. Sheldon Jackson chào đời vào ngày 18 tháng 5 năm 1834 ở Mohawk Valley, Nữu Ước. Khi ông lên bốn, bố mẹ ông đã dâng ông cho sự phục vụ Đức Chúa Trời, và tham vọng của ông từ lúc ấu thơ là phải trở thành một giáo sĩ.
Sau khi tốt nghiệp từ Thần Học Viện Princeton, ông hiệp với hàng ngàn người di cư đến miền Tây nước Mỹ. Hầu hết số người nầy đều tìm kiếm vàng, đất đai và những khung trời rộng mở. Những đoàn xe do ngựa kéo mỗi ngày rời khỏi thành phố St. Louis. Những mũi đinh bằng vàng đã kết chặt Đông và Tây vào năm 1866 khi Công ty Đường Sắt Union Pacific khai trương. Nhiều thị trấn mọc lên rất nhanh. Những chàng cao bồi cùng những trại mỏ, nhiều quán rượu lúc nào cũng lộn xộn cùng các tay đấu súng ở đầy biên giới. Jackson đi khắp mọi nơi, tìm kiếm những linh hồn với khí thế bừng bừng của ngọn lửa vùng thảo nguyên. Có lần ông đã tổ chức được 7 Hội thánh trong 15 ngày.
Ông chỉ cao hơn 5 feet, nhưng tầm vóc của ông, ông nói, nó cho phép ông ngủ bất cứ chỗ nào. Giường ngủ của ông là sàn xe ngựa, gác xép của quán rượu, một khúc gỗ mới bị đốn hạ, một túp lều bằng da thú, một chiếc xuồng. Có người mô tả ông “lùn, cận thị, nhưng là một gã khỗng lồ”. Và công trường của ông rất rộng lớn. Ông phục vụ như một viên giám sát công cuộc truyền giáo của hệ phái Trưởng Lão từ bang New Mexico sang bang Minnesota.
Khi Hoa kỳ mua bang Alaska, ngay lập tức ông nhắm vào địa thế ấy, và không lâu sau đó phía Bắc trở thành nỗi đam mê của ông. Ông đã thăm dò vùng biển đầy nguy hiểm, chưa có mặt trên bản đồ, vùng Biển Bering và Biển Bắc Cực bị sương mù che kín. Ông đã thiết lập nhiều trường học cho lứa tuổi thanh thiếu niên rồi đặt các giáo sĩ vào các thôn nhỏ. Ông đã truyền đạo, lập nhiều Hội thánh, và đưa Kinh Thánh đến với người Eskimo. Ông lo ngại các nhà thám hiểm cùng những người đến khai khẩn sẽ giết nhiều cá voi và hải cẩu, tước đi nguồn cung cấp thực phẩm tự nhiên của người dân Eskimo. Vì vậy, ông dạn dĩ chỉ trích và bài bác, rồi thu thập được 2.000$US và đưa tuần lộc ra khỏi Siberia. Không bao lâu sau đó, nhiều bầy lớn lên cung ứng phương tiện chuyên chở, thực phẩm, quần áo và kế sinh nhai cho con người.
Sheldon đã thực hiện 26 chuyến hành trình đến Alaska, và trong 50 năm chức vụ, ông đã đi một triệu dặm đường qua phía Tây và lên hướng Bắc. Ông đã giám sát việc xây dựng 886 ngôi nhà thờ. Có rất ít người từng mở mang đức tin Cơ đốc trên một bình diện rộng như thế. Bí quyết của ông? Bạn bè ông đã giải thích rất đơn sơ: “Ông ấy chẳng hề vội vã. Ông ấy chỉ bền đỗ mà thôi”.
“Sứ giả trung tín với người sai đi, giống như tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt; Vì người bổ sức linh hồn của chủ mình. Kẻ nào tự khoe khoang giả dối về lễ vật mình, tợ như có mây có gió, mà không mưa. Hằng chậm nóng giận mới khuyên được lòng của quan trưởng; Còn lưỡi mềm dịu bẻ gãy các xương” (Châm ngôn 25.13-15).
19 tháng 5
GIÁO HỘI NGHỊ ĐỘNG ĐẤT
Thi thiên 46 chép: “Đức Chúa Trời là nơi nương náu…của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ, dầu đất bị biến cải…”. Sự biến cải của đất dám quyết với con cái của Đức Chúa Trời về quyền năng của Ngài, như đã xảy ra trong ngày nầy, 19 tháng 5 năm 1382. Ngày Thánh Dunstan được gán cho một nhà chính trị người Anh, ông đã xem thường nhà vua, rồi thấy mình bị trục xuất ra khỏi chủng viện ở Belgium. Ở đó ông đã dâng mình cho lý tưởng của Đấng Christ, thậm chí đã quay trở về lại Anh quốc rồi trở thành Giám Mục xứ Canterbury. Dunstan qua đời vào ngày 19 tháng 5 năm 988.
Ba trăm năm sau đó có một Giám mục khác đảm nhiệm xứ Canterbury, William Courtenay, nắm lấy quyền lực. Courtenay, có trí dũng và quyền lực rất mạnh, đã nổi giận chống lại giáo sư Oxford là John Wycliffe, ông nầy đã chỉ trích sự dạy của giáo hội. Wycliffe tin đầu của Hội thánh phải là Đấng Christ, chớ không phải Giáo Hoàng. Ông bài chống việc mua bán thẻ xá tội và cảnh cáo chống lại mọi sự mê tín gắn liền với lễ Mass. Ông nói, chúng ta được cứu bởi đức tin nơi Đấng Christ, một mình Kinh Thánh là uy quyền của chúng ta. Ông là Luther tiền Luther, và nhơn đó được người ta gọi là Sao Mai của Công cuộc cải chánh.
Courtenay cố gắng tìm cách thuyết phục Wycliffe, nhưng vị giáo sư được lòng dân nầy luôn luôn thắng hơn ông ta. Sau cùng, Courtenay triệu tập một ủy ban đặc biệt để điều tra mọi sự giảng dạy của Wycliffe, hầu kết án và tiêu diệt vị giáo sư dạy Kinh Thánh. John Foxe kể lại câu chuyện: “Không nên bỏ qua phép lạ lớn lao của Đức Chúa Trời ở đây…vì khi Giám mục cùng với các học giả thuộc linh và một số thầy thông giáo khác, với một đoàn đông những thầy dòng hay bép xép và hạng người tôn giáo, họ nhóm lại phanh phui các sách báo của Wycliffe, khi họ nhóm lại ở Luân đôn để bắt đầu công việc của họ vào ngày Thánh Dunstan, sau bữa ăn tối, khoảng 2 giờ, đúng vào giờ đó, một trận động đất thật tuyệt vời và kinh khiếp xảy ra tại khắp nước Anh: nó gieo ra sự khiếp sợ, nó khiến cho họ phải bỏ đi mục đích cố quyết của họ”.
Wycliffe về sau công bố rằng Đức Giêhôva đã sai trận động đất đến “vì những thầy dòng đã đặt tình trạng dị giáo lên trên Đấng Christ. Đất bị rúng động theo như thực đã xảy ra khi Đấng Christ bị rủa sả cho tới lúc chết về phần xác”. Tuy nhiên, Wycliffe đã không run sợ khi đất bị rúng động, vì Đức Chúa Trời là nơi nương náu của ông. Còn buổi nhóm của vị giám mục từng được nhìn biết trong lịch sử nước Anh là Giáo Hội Nghị Động Đất.
“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân. Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải, núi lay động và bị quăng vào lòng biển” (Thi thiên 46.1-2).
20 tháng 5
BỊ HÀNH HÌNH
Ân điển của Đức Chúa Trời đến đúng lúc chúng ta cần tới nó, thích ứng cho từng thách thức. Chúng ta cô đơn? Hoặc đau ốm? Thậm chí khi chúng ta bị hành hình chăng? Phải, dù bất cứ trường hợp nào.
Michael Sattler, chào đời ở nước Đức khoảng năm 1490, đã trở thành một thầy tu dòng Benedictine. Khi ông nghiên cứu các thư tín của Phaolô, sự bất mãn nơi ông càng lớn thêm, rời khỏi tu viện, lập gia đình, rồi trở thành tín đồ hệ phái Luther. Một thời gian sau, ông càng tin quyết vào phép báptêm của người tin Chúa và trở thành một người Anabaptist, ngày càng nổi tiếng, chức vụ của ông đã lôi cuốn cả những người mới trở lại đạo và kẻ thù.
Sattler, vợ ông, và một nhóm cộng sự đã bị bắt vào giữa thập niên 1520 rồi bị nhốt tù trong tháp Binsdorf, ở đây ông đã viết một lá thư cho bầy chiên của mình: “Anh em đã hay rằng một số người trong chúng ta đang ở trong tù. Vô số lời vu cáo đã được kẻ thù của chúng ta bung ra để chống nghịch chúng ta; có lúc họ đe doạ chúng ta bằng giá treo cổ; lúc khác bằng lửa và gươm giáo. Ở bước đường cùng nầy, tôi hoàn toàn phục theo ý chỉ của Chúa, và dọn lòng, cùng với toàn thể anh em và vợ tôi, chịu chết vì cớ sự làm chứng cho Ngài”.
Đến ngày 20 tháng 5 năm 1527, cuộc hành quyết ông, mở đầu cho án tử hình, đã bắt đầu tại trung tâm thành phố, ở đó lưỡi ông bị cắt bỏ. Từng khoanh thịt bị cắt rời ra khỏi thân thể ông bằng những cái kẹp hơ lửa nóng đỏ, và ông bị một chiếc xe ngựa kéo lê đi. Trên đường tới chỗ hành hình, mấy cái kẹp được nung nóng thêm 5 lần. Vẫn còn nói được, Sattler không nao núng cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Sau khi bị cột vào chiếc thang rồi bị nhúng vào trong ngọn lửa, ông đã khuyên dân chúng, các quan toà, và thị trưởng hãy ăn năn và nên trở lại đạo. Ông cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời toàn năng, đời đời, Ngài là đường đi và chân lý, vì con không sống trong lầm lạc, ngày nay với sự vùa giúp của Ngài con sẽ làm chứng cho lẽ thật và đóng ấn nó bằng chính huyết của con”. Không bao lâu sau đó mấy sợi dây cột nơi cổ tay ông bị lửa đốt đứt ra, Sattler đưa hai ngón tay lên làm dấu hứa với anh em ông rằng cái chết của một người tuận đạo là có thể chịu đựng được. Khi ấy đoàn dân đông nghe thấy câu nói nầy phát ra từ môi miệng đã được đóng ấn của ông: “Lạy Cha, con xin dâng linh hồn con trong tay Cha”.
Vợ của Sattler bị hành quyết dìm chết dưới nước tám ngày sau đó.
“Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất” (Hêbơrơ 11.36-38).
21 tháng 5
KHÔN NGOAN VÔ HẠN
Issac Watts, được gọi là “Tổ phụ của những bài Thánh ca tiếng Anh”, đã viết nhiều bài rất hay như Đấng Xưa Giúp Chúng Tôi (TC 44), Phước Cho Nhân Loại (TC 54), Giờ Được Chiêm Ngưỡng Thập Giá (TC 95), và 600 bài khác nữa. Ông là một người có vóc dáng nhỏ thó, kỳ cục, đời sống ông được nắn đúc bởi cha ông là “Bố Issac”. Gia đình Watts đã bị tù đày vì những niềm tin lập dị của ông. Vào ngày 21 tháng 5 năm 1685, ông viết bức thư nầy cho gia đình từ trong tù, thốt ra những lời bình của ông đặc biệt cho cậu Issac mới 11 tuổi: “Chúng ta phải kiên nhẫn cố gắng chờ đợi để phục theo ý chỉ của Ngài mà chẳng một lời ta thán; và đừng nghĩ xấu về sự Ngài trừng phạt chúng ta, hãy biết rằng mọi công việc của Ngài đều là sản phẩm của sự khôn ngoan vô hạn”. Bố Watts khi ấy đưa ra một vài mạng lịnh cho con trai của mình:
- Hãy thường xuyên đọc Kinh Thánh, và xem đấy không phải là một công việc, mà là một sự vui thích.
- Hiểu rõ tình trạng tội lỗi của mình và bắt đầu trở thành một Cơ đốc nhân hay cầu nguyện, nhớ luôn rằng cầu nguyện là vũ khí tốt nhất cho sự phòng thủ của một thánh đồ.
- Luôn nhớ tới hy vọng được cứu có nơi Đức Chúa Jêsus Christ.
- Bền đỗ trong trí rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá của chúng ta, và hầu việc Ngài bằng một tâm trí sẵn sàng.
- Thờ lạy Đức Chúa Trời theo đúng đường lối của Ngài, nghĩa là, theo các luật lệ trong Tin lành chớ không theo những phát minh hay truyền khẩu của con người.
- Không hướng lòng mình theo bất kỳ một giáo lý nào của Công giáo La mã, đặc biệt không cầu nguyện với các thánh đồ hay với Nữ Đồng Trinh Mary hoặc một tạo vật nào khác. Thay vì thế hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho con tri thức về lẽ thật của Ngài, vì khi con xu hướng vào đấy, đó là thời điểm nguy hiểm nhất của con.
- Đừng nghĩ quấy về Đức Chúa Trời hay về các đường lối của Ngài vì dân sự Ngài đã bị bắt bớ, vì chính mình Đức Chúa Jêsus Christ đã bị kẻ dữ bắt bớ cho tới chết vì đã rao giảng lẽ thật và làm lành.
- Phải phục theo các đấng bậc cao hơn mình – ông bà, và với mẹ của con theo một cung cách thật đặc biệt.
Không bao lâu sau đó, Bố Watts đã được phóng thích ra khỏi tù và sống tới 85 tuổi. Chính ông là người đã cài đặt thanh nhạc Tin lành vào tấm lòng của con trai ông, và ông đã khích lệ con trai mình cứ theo đuổi đường lối đó.
“Hỡi cả trái đất, hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va! Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài. Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài” (Thi thiên 100.1-3a).
22 tháng 5
CÁI CHẬU BỊ BỎ QUÊN
Nửa phần sau chức vụ của Chúa chúng ta đã bị sự ganh tỵ và đấu tranh trong nội bộ giữa vòng các môn đồ Ngài làm cho hoen mờ đi. Các môn đồ mưu nghịch lẫn nhau ngay trước lúc Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, đã khiến cho Ngài phải quấn khăn rồi rửa chơn cho họ trong một cái chậu của hàng tôi tớ.
Nhiều vị giám mục đã quên phứt bài học nầy trong các thế kỷ nối theo sau. Khi có nhiều nhà thờ mọc lên khắp thế giới của người Lamã, các vị giám mục xứ Antioch, Alexandria, và Rome đã khoác lấy quyền lãnh đạo. Rốt lại, Antioch và Rome rất nổi bật trong các tường trình của Tân Ước, và Hội thánh của xứ Alexandria lần theo nguồn gốc của nó qua nhà truyền đạo Mác đến Phierơ. Giáo hội nghị Nicaea vào năm 325 đã đặt ba vị giám mục nầy ít nhiều gì cũng ngang hàng với nhau.
Giám mục thành Jerusalem, cho rằng thành phố của ông xứng đáng được công nhận, đã trở thành trung tâm thế giới thứ tư của Cơ đốc giáo. Không bao lâu sau đó đã có thành phố thứ năm. Hoàng đế Constantine quyết định dời thủ đô Rôma về thủ phủ mới của ông ở Bosporus, và giám mục xứ Constantinople xứng đáng với danh dự “đứng kế với giám mục Rome”.
Một sự ganh đua ở cấp độ thấp phát sinh giữa hai vị Giám mục nầy. Tình trạng nầy càng tồi tệ hơn khi Giáo hội nghị Chalcedon vào năm 451 đã phát ra văn kiện kéo dài quyền hành của Giám mục xứ Constantinople: “Với lý do các giáo phụ ban quyền hành cho ngôi vị Rome xưa với tính chất là thủ phủ của đế quốc; và được di dời với cùng sự cân nhắc ấy, quí giám mục đều công nhận cùng những quyền hạn ấy cho ngôi vị thánh khiết nhất ở Tân Rome”.
Giáo hoàng ủy nhiệm từ Rome phản kháng địa điểm đó, rồi vào ngày 22 tháng 5 năm 452, Giáo hoàng Leo đã phát ra ba bức thư đầy sự giận dữ giống như đầu đạn tên lửa vậy, gửi cho Hoàng đế, Hoàng hậu, cùng tộc trưởng thành Constantinople. Leo tuyên bố rằng sự nâng cao xứ Constantinople là: (1) một việc rất kiêu ngạo; (2) một cuộc tấn công vào các trung tâm khác của Cơ đốc giáo; (3) một sự vi phạm quyền hành được trao cho Rome bởi các giáo hội nghị trước đó; và (4) có tính cách hủy diệt sự hiệp một của giáo hội. Các bức thư của ông chỉ làm cho tình trạng phải trầm trọng thêm mà thôi. Cơ đốc giáo Đông và Tây phương đã bị tách rời rất lâu cho tới chừng một cuộc phân ly hoàn toàn đã diễn ra vào năm 1054.
Hết thảy họ dường như đã quên bẳng cái chậu cùng chiếc khăn rồi.
“Vậy, nếu ta là Chúa là Thầy, mà đã rửa chơn cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chơn lẫn cho nhau. Vì ta đã làm gương cho các ngươi…” (Giăng 13.14-15a).
23 tháng 5
CUỘC CHIẾN 30 NĂM
Vào thế kỷ thứ 17, Bohemia là một khu vực rất xinh đẹp nằm ngay trọng tâm của châu Âu, có nhiều núi non và cao nguyên vây quanh, là quê hương của người Moravian. Đây là quê hương của John Hus, là người đã chịu chết vì Công cuộc Cải chánh trước khi Luther phát động phong trào nầy. Và xứ nầy được đầy dẫy với ao ước của Hus muốn có sự tự do để thờ phượng.
Thế nhưng Bohemia bị cai trị bởi vua xứ Hapsburg, Ferdinant II, một người có khuynh hướng thiên về với Công giáo La mã. Ông ta đã mở một chiến dịch để tái lập Công giáo Lamã cho xứ Bohemia, và nhằm ngày 23 tháng 5 năm 1618 Bohemia nổi loạn hô vang lý tưởng Tin lành thật dữ dội tại cung điện vua. Đúng ra họ đã ném các quan hàng tỉnh của Ferdinant qua cửa sổ. Các quan tổng trấn bị chất thành đống như đống phân vậy (ngay tại nơi mà những kẻ nổi loạn tưởng họ đang làm chủ), và Ferdinant đã phái quân đội tới chống lại những người Tin lành, đánh bại họ vào tháng Giêng năm 1620 tại chiến trường White Mountain. Những người Tin lành trên khắp xứ Bohemia bị đặt vào tình trạng tối nguy hiểm.
Jan Amos Comenius, là Mục sư và là nhà giáo Cơ đốc, đã mất mát gia đình mình cho cuộc chiến, và bản thân ông thoát ra khỏi ngôi nhà đang bị thiêu đốt. Các thuộc viên Hội thánh của ông bị bắt làm phu tù, rồi họ trở thành dân tị nạn, tìm cách trốn ra khỏi quê hương của họ. Họ gói ghém một ít đồ dùng cá nhân, rời bỏ nhà cửa và xứ sở, rồi lê bước qua vùng băng tuyết hướng đến xứ Ba lan. Sau khi tới biên giới, họ quay lại nhìn xứ sở mình lần cuối cùng. Trong một bối cảnh mà về sau trở thành một hình ảnh đáng ưa chuộng cho các nhà hoạ sĩ Cơ đốc, Comenius đã dẫn bầy chiên của mình vào sự cầu nguyện xin Đức Chúa Trời dành để trong xứ Bohemia “một hột giống kín giấu để làm vinh hiển cho danh của Ngài”. Sau khi cầu nguyện xong, bầy nhỏ ấy đã cất bước ra đi.
Comenius không hề quay trở lại, không hề nhìn thấy xứ sở quê hương, và khi ông qua đời vào năm 1670, ông chẳng có một thứ gì trừ ra một túi quần áo rách. Nhưng ông đã để lại cho thế gian 154 quyển sách đặt nền tảng cho nền giáo dục Cơ đốc hiện đại.
Đồng thời, White Mountain không phải là phần kết của cuộc chiến đâu, mà là sự khởi đầu của nó, Đan mạch đã bước vào trận, kế tiếp là Thụy điển, rồi nước Pháp. Châu Âu bị tàn phá, và phân nửa những người Đức đã bị hư mất. Mãi cho tới năm 1648 thì Hiệp ước Westphalia được ký kết – 30 năm sau cuộc nổi dậy lúc ban đầu ở xứ Bohemia.
Đúng như lời cầu nguyện của Comenius, điều nầy đã được nhậm 100 năm sau, khi Count Zinzendorf cho phép dòng dõi người Bohemia nương náu ở Herrnhut. Đây là dòng dõi của Comenius cùng những người đi theo ông, được Zinzendorf gom lại trong sự an ninh, họ đã trở thành những người tiền khu cho phong trào truyền giáo hiện đại.
“Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu” (Luca 9.57-58).
24 tháng 5
SỢ HÃI: CƠN BÃO LỚN LAO HƠN
Tác giả Thi thiên nói: “Trong ngày sợ hãi, tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa” (Thi thiên 56.3). John Wesley chưa bao giờ thấy sợ như thế vào ngày 25 tháng Giêng năm 1736. Ông đã lên một con tàu buồm nhỏ đang đi giữa mùa Đông ở vùng biển Đại tây dương, trên đường tới Georgia làm giáo sĩ cho người da đỏ, mặc dù bản thân ông khi ấy chưa được cứu. Một nhóm giáo sĩ người Moravian từ Đức đã lấy vé đi cùng chuyến tàu nầy. Cuộc hành trình rất là nguy hiểm. Ba cơn bão đã đập liên hồi vào con tàu, và cơn bão thứ tư đang bắt đầu ụp đến. Ông ghi lại trong tờ báo của mình: “Sợ hãi: cơn bão lớn lao hơn”. Còn những người Moravian, chẳng tỏ ra sợ hãi chút nào, đã bền lòng trong chương trình của họ tổ chức một buổi thờ phượng. Khi họ cất tiếng hát, một cơn sóng khỗng lồ đập mạnh vào mạn tàu, làm gãy cột buồm chính, ụp lên con tàu, trút nước xuống giống như thác Niagara đổ xuống trên boong tàu: “giống như thể một vực sâu thật lớn hả miệng nuốt chửng chúng tôi vậy”.
Các hành khách người Anh la thét lên khi chiếc tàu tròng trành và bị nhồi giữa các làn sóng cao như ngọn tháp kia. Wesley cứ bám chặt lấy mong được sống còn. Còn các giáo sĩ người Đức, họ không bỏ sót một nốt nhạc nào. Wesley, khiếp đảm bởi sự điềm tĩnh của họ, ông đến gặp người lãnh đạo mà hỏi: “Ông có sợ không?”
“Không, cảm tạ Chúa”.
“Mấy người phụ nữ và trẻ con của ông cũng chẳng sợ à?”
Người kia đáp: “Không đâu. Phụ nữ và trẻ em của chúng tôi cũng không sợ”.
Công việc truyền giáo của John Wesley ở George bị thất bại, ông bèn quay trở về lại Anh quốc, ông nói: “Tôi tới Mỹ để khiến cho người da đỏ trở lại đạo, nhưng mà, ai sẽ làm cho tôi được biến đổi đây?” Những người Moravian, chính những người đó. Trở lại Luân đôn, Wesley đến dự buổi nhóm của người Moravian tại đường Aldersgate, ngày 24 tháng 5 năm 1738, và lắng nghe người ta đọc lời tựa của Luther viết cho người Roma. Sau đó, ông nói: “Tôi thấy lòng mình ấm lên cách lạ lùng. Tôi cảm thấy mình đã tin cậy nơi Đấng Christ, chỉ một mình Đấng Christ để được cứu; và sự bảo đảm đã được ban cho tôi rằng Ngài đã cất bỏ tội lỗi của tôi, phải, mọi tội lỗi của tôi”.
Wesley đã trở thành một nhà truyền đạo nổi tiếng và là một nhà cải chánh về mặt xã hội, với thế giới như là xứ đạo của ông. Nhưng bản thân ông đã được dẫn đến với Đấng Christ bởi quyền phép của một nhóm nhỏ, sự đầu phục của họ đối với Đấng Christ mạnh đủ để giữ họ không hề chao đảo giữa một cơn giông bão.
“Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; vì người ta muốn ăn nuốt tôi; Hằng ngày họ đánh giặc cùng tôi, và hà hiếp tôi. Trọn ngày kẻ thù nghịch tôi muốn ăn nuốt tôi, Vì những kẻ đáng giặc cùng tôi cách kiêu ngạo là nhiều thay. Trong ngày sợ hãi, tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa. Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ấy sẽ chẳng sợ gì…” (Thi thiên 56.1.4a).
25 tháng 5
NHÀ TRUYỀN ĐẠO LẬP DỊ
Charles Spurgeon từng viết một quyển sách có đề tựa là Nhà Truyền Đạo Lập Dị. Ông mô tả 11 vị Mục sư rất lập dị, nhân vật sau cùng là Billy Bray xứ Cornwall, Anh quốc. Billy, một người thợ mỏ nghiện rượu, đã gặp Chúa ở tuổi 29. Billy nói: “Trong một khoảnh khắc Chúa đã làm cho tôi sung sướng đến nỗi tôi không thể tả được điều tôi đã cảm nhận. Tôi gào lên vì vui sướng. Mọi sự đối với tôi dường như rất mới mẻ; con người, đồng ruộng, trâu bò, cây cối. Tôi như một người đang sống trong một thế giới mới…” Billy hiệp tác với những tín đồ Giám lý và ngay lập tức làm chứng đạo đem nhiều người về với Đấng Christ. Năng lực nóng cháy của ông đã khiến cho nhiều người khác gọi ông là một kẻ mất trí.
Billy nói: “Nhưng họ có ý nói `người vui sướng’ đấy!”
Ông bắt lấy xứ Cornwall bằng bão tố. Trong lần gặp gỡ với nhiều người xa lạ, Billy đã hỏi han về linh hồn họ; và ông hô lên: “Vinh hiển thay!” bất cứ lúc nào ông nghe nói có người vừa được cứu. Có khi ông túm lấy người ta rồi xoay tròn họ trong phòng. Ông nói: “Tôi không làm chi khác hơn là ngợi khen Đức Chúa Trời. Khi tôi đi dọc theo đường phố, tôi nhấc một chân lên và bước chân ấy dường muốn nói: `Vinh hiển thay!’ rồi tôi nhấc chân kia lên, và dường như bước chân ấy muốn nói: `Amen!’ Và cứ thế suốt quãng đường tôi đi”.
Từ 29 tuổi cho đến khi qua đời ở tuổi 73, ông nhảy múa, hô to lên mỗi ngày như thế. Ông đã giảng đạo và xây dựng nhiều nhà thờ, đưa trẻ mồ côi vào ở trong nhà mình. Mỗi tuần ông kiêng ăn từ trưa thứ Bảy cho tới tối Chúa nhựt. Khi bị ép ăn, ông nói: “Vào ngày Chúa nhựt tôi ăn điểm tâm và ăn tối tại bàn của Vua, hai bữa ăn rất là ngon”.
Khi vợ ông qua đời, Billy nhảy nhót quanh căn phòng với sự mừng rỡ, ông hô to lên: “Đáng chúc phước thay là Đức Giêhôva, Joey yêu dấu của con đã ra đi với những con người sáng láng! Vinh hiển thay! Vinh hiển thay! Vinh hiển thay! Không bao lâu nữa con sẽ được ở trên thiên đàng”. Kế đó, khi hạ thấp giọng của mình, ông nói thêm: “Khi con thức dậy ở đó, con sẽ trao cho họ những lời chúc tụng Ngài, thưa Bác sĩ, và cũng nói cho họ biết Ngài sẽ tái lâm nữa”.
Lời nói lúc lâm chung khi ông thiếp đi vào ngày 25 tháng 5 năm 1868 là: “Vinh hiển thay!”.
Spurgeon bình luận như sau: “Một người lập dị như thế chẳng có gì là xấu xa cả”.
“Ha-lê-lu-gia! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Trọn đời sống tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va; Hễ tôi còn sống chừng nào tôi sẽ hát xướng cho Đức Chúa Trời tôi chừng nấy” (Thi thiên 146.1-2).
26 tháng 5
MỘT ĐỜI SỐNG THẦM LẶNG
Một số đời sống nổi bật với mạo hiểm – những câu trả lời quan trọng cho sự cầu nguyện, những lần thoát thân hiểm nghèo, những sự biến đổi thật xúc động, các chuyến hành trình sôi nổi. Nhưng có những Cơ đốc nhân với đời sống thầm lặng hơn thường để lại cái bóng lâu dài hơn. Đời sống của Venerable Bede rất bình ổn đến nỗi chẳng có một tí gì để nói về ông hết. Tuy nhiên một phần nhỏ thành tích đã được chừa lại như sự uyên bác và lòng trung tín.
Bede ra đời vào khoảng năm 672 ở miền Bắc nước Anh. Khi được 7 tuổi, có lẽ bị mồ côi sớm, cậu đến sống trong một tu viện gần đó. Cậu bé được gần gũi với sách vỡ, nghiên cứu Kinh Thánh, truyện ký, văn chương, âm nhạc, và lịch sử. Cậu miệt mài với các bản thảo – các giáo phụ của Hội thánh, Bản Kinh Thánh 70, các bộ môn cổ điển. Cậu đã học tiếng Latinh, tiếng Hy lạp, và tiếng Hy bá lai. Đến tuổi 30, ông đã thêm nhiều sách do ông viết vào nền văn chương lúc bấy giờ. Ông nói: “Tôi luôn luôn thích thú trong việc học hỏi, dạy dỗ và viết lách”. Ông đã trở thành học giả uyên bác nhất trong thời của ông, là cha đẻ của bộ môn lịch sử và thần học Anh quốc. Quyển Lịch sử truyền giáo ở nước Anh của ông là quyển sách chính xác đến độ rất tỉ mỉ, đề ra một tiêu chuẩn cho các nhà viết sử.
Mùa xuân năm 735 người ta tìm gặp Bede đang làm công việc đáng tôn tặng của ông, ông đang dịch sách Tin lành Giăng sang tiếng Anglo Saxon. Vào ngày 25 tháng 5, ông nói với những viên phụ tá của mình: “Hãy làm nhanh lên, tôi không biết tôi sẽ còn làm việc được bao lâu nữa, và nếu như Đấng Tạo Hoá của tôi sẽ cất tôi đi sớm thì sao?” Đến sáng sớm, ngày 26 tháng 5 năm 735, chỉ còn một chương nữa thôi, và Bede nói: “Hãy cầm viết lên mà viết thật nhanh nhé”. Ông nói với một người bạn: “Tôi còn một vài thứ có giá trị trong rương – tiêu, khăn ăn, và trầm hương: Hãy mau đưa các linh mục đến gặp tôi hầu cho tôi có thể phân phát chúng cho họ như một số quà mà Đức Chúa Trời đã ban hiến cho tôi”. Ông nói với từng vị linh mục, và họ đã bật khóc, ông nói: “Tôi đã sống đủ rồi. Tôi ao ước muốn được chết và được ở với Đấng Christ”.
Bede trải qua ngày ấy với sự vui mừng, và gần tối người giúp việc ông nói rằng chỉ còn có một câu duy nhứt đã được phiên dịch xong. Bede nói với sự thoả lòng: “Hãy viết cho nhanh đi”. Công tác hoàn tất, Bede ngồi trên sàn nhà của căn phòng nhỏ của mình bắt đầu cất tiếng hát: “Vinh hiển thay là Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh”, và, sau khi hát xong bài thánh ca ấy, ông im lặng bước vào sự hiện diện của Chúa.
“Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy. Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em (Philíp 1.21-24).
27 tháng 5
MẶT TRỜI LẶN
Nếu cái chết đẹp đẽ có thể xác nhận cho một đời sống tin kính, thế thì chúng ta có cảm nhận tốt về John Calvin. Vào ngày 6 tháng 2 năm 1564, Calvin, 55 tuổi, đã đứng lần cuối cùng trên bục giảng tại Saint Pierre ở Geneva. Đến giữa bài giảng, một cơn ho liên tục và miệng đầy máu đã khiến ông phải dừng lại. Từ mấy bực thang của bục giảng ông chầm chậm bước xuống, ông chưa giảng xong bài giảng đó.
Đến ngày Chúa nhựt Phục sinh 2 tháng 4, ông được đưa trở lại giảng đường Saint Pierre rồi đến ngồi gần bục giảng, lắng nghe Theodore Beza rao giảng. Đến cuối buổi thờ phượng, Calvin hiệp với hội chúng cất tiếng hát bài thánh ca cuối cùng: “Giờ đây, xin cho tôi tớ Chúa qua đời bình an”. Người ta đưa ông lên giường nằm, song vẫn cứ làm việc với giấy tờ của mình. Khi bạn bè tới xin ông hãy nghỉ ngơi, ông đáp: “Sao chứ! Bộ quí vị muốn Chúa thấy tôi nhàn rỗi khi Ngài đến sao?” Vào ngày 30 tháng 4 Giáo hội nghị Geneva nhóm lại ở quanh ông. Ông nói chuyện với họ, cầu thay cho họ, rồi đưa tay phải ra bắt tay từng người. Nhiều người rời căn phòng ấy đã khóc giống như những đứa trẻ. Hai ngày sau, các vị Mục sư ở Geneva đã thực hiện một cuộc thăm viếng tương tự. Calvin xin tha thứ cho những thất bại của ông, chỉ cho nhiều người đến với Đấng Christ và nằn nì bắt lấy tay của họ. Họ cũng thế, đã để rơi nhiều nước mắt.
Khi sự cuối cùng đã đến gần, bạn bè cùng vị gia sư của ông, William Farel 80 tuổi, cùng để chân trần đi một khoảng xa xa, hy vọng được thấy Calvin ra đi êm ái. Ông đã đến bao phủ bằng bụi đất hiệp với nhiều người khác đã nhóm lại bên chiếc giường hấp hối của Calvin. Calvin còn nấn ná, trưng dẫn Kinh Thánh và liên tục cầu nguyện, mãi cho tới thứ Bảy, 27 tháng 5 năm 1564, ngay lúc mặt trời vừa lặn. Ông đã được chuyển từ đời sống nầy sang đời sống khác một cách yên bình, không có co giật hay thở hắt hoặc thở sâu gì cả. Beza nói: “Vào ngày nầy, lúc mặt trời lặn, ánh sáng chói lói nhất trong Hội thánh của Đức Chúa Trời ở trên đất đã được cất đi về trời”. Geneva than khóc rất thảm thiết.
Calvin đã trối rằng thân thể ông nên được đặt trong một nghĩa trang bình thường không cần có bia mộ. Ông không muốn mồ mả của ông trở thành một cái lăng mà các vị thánh đồ xưa đã có. Đúng như thế – ngày nay ngôi mộ của ông chẳng có ai biết đến.
“Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài; Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài, mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân, soi khắp thiên hạ, và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài (Luca 2.29-32a).
28 tháng 5
TIẾNG BÁO NGUY CỦA ALLEINE
Khi vị giáo sĩ ở Oxford, Joseph Alleine do nghiên cứu hay trễ nãi với bạn bè. Ông giải thích: “Họ sẽ lấy làm lạ nơi cung cách bất lịch sự của tôi tốt hơn là tôi bị mất thì giờ; vì chỉ có một ít người sẽ để ý đến chỗ bất lịch sự đó, nhưng có nhiều người sẽ cảm nhận được việc mất thì giờ của tôi”. Mặc dù độc thân ở tuổi 21, ông rất “tham muốn về sự nhiều linh hồn trở lại đạo”, ông dâng từng giây phút cho việc nghiên cứu, giảng dạy và truyền đạo.
Đến năm 1655 Joseph được kêu gọi đến với một Hội thánh ở miền tây nước Anh. Không lâu sau đó, ông lập gia đình, và vợ ông Theodosia, về sau nói rằng lỗi duy nhứt của ông là không để nhiều thì giờ với bà. Ông nói: “A, em yêu dấu ơi, anh biết rõ linh hồn em được an ninh rồi; nhưng biết bao người đang hư mất mà anh phải lo tìm kiếm họ?”
Theo thói quen Joseph thức dậy lúc 4 giờ sáng, cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh cho tới 8 giờ sáng. Các bữa trưa của ông được dành ra để kêu gọi người chưa được cứu. Ông giữ danh sách dân cư ở mỗi đường phố và biết rõ tình trạng của từng linh hồn một. Ông nói: “Hãy đưa đến cho tôi một Cơ đốc nhân nào biết kể thời gian của mình quí giá hơn vàng ròng”. Vào ngày đầu tuần lễ, ông lưu ý: “Tuần lễ khác hiện đang đứng trước mặt chúng ta, chúng ta hãy dành tuần lễ nầy cho Đức Chúa Trời”. Mỗi buổi sáng, ông nói: “Bây giờ, chúng ta hãy sống ngày nầy cho thật tốt”.
Nhưng thì giờ của ông đã bị rút ngắn lại. Sự phục hồi thể chế quân chủ của nước Anh vào năm 1662 đã kết quả với Luật Thống Nhất (Act of Unformity), cất bỏ 2.000 nhà truyền đạo ra khỏi toà giảng của họ trong chỉ một ngày. Hầu hết đều rao giảng bài chia tay của họ vào ngày 17 tháng 8 năm 1662. Tuy nhiên, Joseph xứ tiếp tục giảng đạo. Giới cầm quyền chiếu cố ngay, rồi đúng vào ngày 28 tháng 5 năm 1663, ông bị bắt bỏ tù. Không lâu sau đó, sức khoẻ ông đà suy giảm.
Ông nói với Theodosia khi ông được phóng thích lần sau cùng: “Bây giờ chúng ta có thêm một ngày nữa, chúng ta hãy sống cho thật tốt, chịu khó làm việc vì nhiều linh hồn, hãy chất chứa nhiều của cải ở trên trời trong ngày nầy, vì chúng ta có ít ngày để sống lắm”. Ông đã rao giảng rất chân thật. Ông qua đời vào ngày 17 tháng 11 năm 1668, ở tuổi 34. Nhưng ông đã sử dụng những năm tháng đời mình rất là tốt, ông đã sống không những trong các linh hồn mà ông đã cứu, mà còn trong quyển sách ông đã để lại, một sách giáo khoa cho người Thanh Giáo với đề tựa là “Tiếng báo nguy của Alleine”.
“Vậy, hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan. Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu. Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõ ý muốn của Chúa là thế nào” (Êphêsô 5.15-17).
29 tháng 5
PHỤC HƯNG
Sự Joseph Alleine bị tù là do thể chế quân chủ của nước Anh được phục hồi và các luật lệ do triều đình Anh quốc phát ra vào thập niên 1660. Anh quốc đã tốn nhiều thời gian bấp bênh giữa Thiên Chúa giáo và Tin lành, khi nương vào chế độ quân chủ để nắm lấy quyền lực. Khi nhà vua theo Thiên Chúa giáo, thì người Tin lành bị thiêu sống. Khi nhà vua theo Tin lành, thì người theo Thiên Chúa giáo phải chịu chết. Trong cả hai trường hợp, người theo Thanh giáo và người không theo Anh giáo sẽ bị săn đuổi với sự trả thù cho rằng họ đã làm loạn. Vua Charles I đã bị chặt đầu, con trai ông trốn sang Pháp, và một nhà cầm quyền theo Thanh Giáo (Puritan) đã được thiết lập.
Thế nhưng dân chúng không ưa thể chế quân chủ nầy, rồi vào năm 1658 Charles II từ Pháp hướng về quê hương hứa hẹn sự tự do tôn giáo. Ông đã vào thành Luân đôn đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 30 của mình, ngày 29 tháng 5 năm 1660. Hai mươi ngàn binh lính đã hộ tống vị vua trẻ tuổi nầy qua các đường phố rãi đầy hoa. Những tiếng kèn được thổi lên, nhiều đoàn dân đông chào đón tung hô, chuông trên các tháp cao đổ rền vang. Đời sống rất dễ mến và đức tin mơ hồ của ông nơi Đức Chúa Trời khiến cho ông trở thành nhà lãnh đạo gây xôn xao trong dư luận trong thời của mình. Nhưng nụ cười ấp áp và tính cách dễ gần gũi của ông đã khiến cho một ít người không ưa thích ông.
Một số người đã hành động. Vào năm 1661, một nhóm những người quá khích về tôn giáo được mệnh danh là Phái Quân Chủ Thứ Năm (Fifth Monarchy Men) đã tìm cách lật đổ ông rồi dựng lên một vương quốc chờ đợi sự tái lâm của Đấng Christ. Họ đã thất bại, nhưng kinh nghiệm để lại cho Charles nhiều nghi ngờ về số tín đồ không theo Anh giáo nhiều hơn trước đó. Những nhà truyền đạo như John Bunyan đã gặp họ tiều tụy ở trong nhà tù, và một loạt các luật lệ gây sức ép cho số tín đồ không theo Anh giáo.
Năm điều luật đã được phát ra: (1) Luật đoàn thể năm 1661 loại trừ tín đồ không theo Anh giáo ra khỏi chính quyền địa phương; (2) Luật thống nhất năm 1662 đòi hỏi hết thảy quí Mục sư phải sử dụng quyển Cầu nguyện bình thường (The book of Common Prayer) như một công thức cho các buổi thờ phượng của họ. Chính điều luật nầy đã đẩy 2.000 nhà truyền đạo ra khỏi toà giảng của họ trong chỉ một ngày; (3) Luật hội họp tôn giáo vào năm 1664, nhắm thẳng vào tín đồ Báptít, ngăn cấm tín đồ không theo Anh giáo hội họp tôn giáo; (4) Luật Năm Dặm (Five Mile) năm 1665 ngăn cấm các Mục sư không thuộc Anh giáo sống cách nơi họ hầu việc Chúa trong vòng 5 dặm không được giảng đạo; và (5) Luật Thử Thách (Test) năm 1673 loại trừ Thiên Chúa giáo ra khỏi những địa vị trong quân đội và trong dân sự.
Các tín đồ Báptít, Thiên Chúa giáo, hệ phái Quaker, Trưởng lão, và Hội Chúng hết thảy đều thấy mình một lần nữa đang chịu lấy cây roi. Trong nhà tù. Trên giàn hoả. Vì tự do tôn giáo mà họ phải chịu nhiều điều thể ấy.
“hầu cho không một người nào trong anh em bị rúng động bởi những sự khốn khó dường ấy; vì anh em tự biết rằng ấy đó là điều đã định trước cho chúng ta” (I Têsalônica 3.3).
30 tháng 5
NHÀ CẢI CHÁNH THẬN TRỌNG
Desiderius Erasmus, chào đời vào năm 1466 ở Rotterdam, Hà lan, là đứa con hoang của một linh mục. Ông bị mồ côi thuở còn ấu thơ, bị gạt ra khỏi cơ nghiệp, rồi bị buộc vào sống ở một tu viện mà ông rất ghét – trừ cái thư viện ở đó. Sau khi trải qua tuổi trưởng thành, Erasmus tiếp cận thần học với sự tươi mới, theo đuổi các vị học giả, rồi vượt qua họ. Ông đã trở thành một nhân vật chuyên nghiên cứu nhiều nhất trong thời của mình.
Ở bề ngoài, màu da của ông rất đẹp, mái tóc màu vàng hoe, đôi mắt màu xanh lơ, giọng nói dịu dàng. Tư cách của ông rất tao nhã. Về tánh tình, ông rất dễ cáu kỉnh. Ông thường hay đến thăm nước Anh (dù than phiền về `lắm bia và thời tiết không thích hợp cho lắm), ở đây John Colet thúc giục ông nên dạy môn nguyên ngữ của Tân Ước. Ông đã làm theo, rồi năm 1516 Erasmus đã cho in quyển Tân Ước tiếng Hy lạp của mình. Ông nói: “Mong rằng những quyển Kinh Thánh nầy đều được dịch ra từng thứ tiếng”. Trong khi nghiên cứu Tân Ước của Erasmus, các vị Mục sư thấy mình đang quay trở lại với lẽ thật của Kinh Thánh. Bản dịch của Erasmus đã trở thành sách cầm tay của Luther, và là nguồn chủ yếu cho bản dịch Kinh Thánh theo tiếng Đức (rồi sau đó, của bản dịch Tyndale theo tiếng Anh).
Còn Erasmus, sau khi để ra những năm đầu biện bác cho cải chánh, ông đã dành những năm sau cùng để kháng cự lại cuộc cải chánh đó. Tạm thời thì ông ủng hộ Luther, nhưng đã lui lại khi ông nhìn thấy giáo hội bị tách ra. Vào ngày 30 tháng 5 năm 1519, ông viết thư gửi cho Luther, đề nghị rằng: “thật là khôn khéo khi ông đoạn tuyệt với những kẻ lạm dụng quyền hành của Giáo Hoàng hơn là phê phán chính bản thân Giáo Hoàng…Những thể chế cũ không thể bị rứt bỏ chỉ trong một khoảnh khắc được. Tranh chấp trong thầm lặng sẽ làm được nhiều điều hơn là cứ xét đoán linh tinh. Hãy bình tỉnh. Đừng giận dữ”.
Erasmus không ủng hộ cũng không xét đoán thẳng thừng những tín đồ Tin lành. Như một kết quả, ông mất bạn bè ở cả hai phía. Ông viết: “Những người có học, một thời từng gắn bó với tôi, và những người bạn cũ, đang thuộc về hạng kẻ thù nguy hiểm nhất”.
Erasmus đã trông mong có rượu mới đựng trong bầu da cũ. Điều nầy không làm sao có thể được, ông bị mất tinh thần. Nhưng không sao đâu, ông đã làm phần của mình. Khi trao lại cho Hội thánh quyển Tân Ước tiếng Hy lạp của mình, ông đã có những cái bắt tay thật là thân thiện.
“Cũng không có ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm vậy thì bầu nứt, rượu chảy ra, và bầu phải hư; song ai nấy đổ rượu mới vào bầu mới, thì giữ được cả hai bề” (Mathiơ 9.17).
31 tháng 5
CRUDEN TÂM THẦN
Nhiều Cơ đốc nhân trong nhiều thế hệ đã tra cứu các câu Kinh Thánh bằng cách rút quyển Concordance của Cruden ra khỏi kệ sách của họ. Spurgeon đã viết ở tờ bìa quyển sách: “Trong 10 năm quyển sách nầy luôn ở bên tay trái của tôi khi Lời của Đức Chúa Trời ở bên tay phải”.
Đây là phần còn lại của câu chuyện: Alexander Cruden ra đời ở Tô cách Lan vào ngày 31 tháng 5 năm 1699. Cha ông, là một tín đồ Thanh giáo rất nghiêm khắc, đã ngăn cấm những cuộc thi đấu vào ngày của Chúa, và Alexander đã tự mình giải trí bằng cách tìm từ vựng trong cả Kinh Thánh. Ông được thu vào đại học ở tuổi 13, tốt nghiệp ở tuổi 19, rồi ngã vào tình yêu. Cha của cô gái đã cấm ông vào nhà, và khi cô gái có thai, nàng đã bị đuổi ra khỏi nhà. Alexander, lý trí ông bị tan vỡ, đã vào dưỡng trí viện.
Đến năm 1726, người ta thuê ông đọc sách báo cho Huân tước Derby xứ Sussex. Alexander bắt đầu đọc theo cách mà ông luôn đọc – đánh vần từng chữ cái một, hết từ nầy sang từ khác. Ông mau chóng bị đuổi, nhưng ông từ chối không để lại lý do. Trong nhiều tháng trời, ông theo Huân tước Derby đi khắp nơi, nắm bắt được nhiều điều. Ông dời sang Luân đôn rồi bắt đầu viết quyển Kinh Tiết Sách Dẫn của mình. Quyển sách được in ra vào năm 1737 rồi ông trở thành một người thành công rất nhanh.
Alexander lại rơi vào tình cảm, lại bị từ chối, rồi sa vào tình cảm của phụ nữ đến nỗi ông đã bị trói, bị đưa vào dưỡng trí viện tư, rồi bị xiềng vào giường trong 10 tuần lễ. Sau cùng, ông đã tìm cách thoát ra bằng cách cắt đứt chân giường, rồi bắt đầu đi đó đi đây tự nhận mình là: “Alexander nhà hiệu đính”, tìm cách cải thiện đạo đức. Một tối kia, khi muốn chặn một người đừng thề thốt, ông đã dùng cái xẻng đập vào đầu của mình. Một cuộc loạn đả xảy ra, và Alexander phải chịu ở trong dưỡng trí viện lần thứ ba. Khi được phóng thích, ông lại sa vào tình cảm một lần nữa, rồi bị từ chối, làm rối nhà vua khi chỉ định ông là “Alexander nhà hiệu đính”.
Người ta nghĩ ông bị tâm thần – nhưng họ rất ưa thích quyển Kinh tiết sách dẫn của ông. Alexander sử dụng ngày tháng sau cùng của mình phân phát các chứng đạo đơn và nghiên cứu Kinh Thánh. Một buổi sáng năm 1770, người giúp việc tìm thấy ông đang quì gối, đầu ông gục trên quyển Kinh Thánh, đã qua đời. Spurgeon nói: “Cruden tâm thần nầy, đã phục vụ Hội thánh tốt hơn phân nửa quí vị Tiến sĩ thần học trong mọi thời đại”.
“Vả, hoặc chúng tôi cuồng, ấy là vì Đức Chúa Trời; hoặc chúng tôi dè giữ, ấy là vì anh em. Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (II Côrinhtô 5.13-15a).

