DAT DNA
Thứ Bảy, Tháng Tư 18, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Năm

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

                                                                     1 Tháng 5

MỘT CUỘC CHẠY TỐT LÀNH

                Vào năm 1980, Lake Speed đã đoạt được cúp vô địch Winston, và hai năm sau đã đoạt cúp Transouth 500 tại Arlington. Đến năm 1985, đội đua thể thức 1 NASCAR đã yêu cầu Lake trở thành tay đua mới cho họ, nhưng họ không có một bảo trợ nào hết. Lake sốt sắng cầu nguyện, thu xếp hành trang của mình, rồi ra đi. “Khi đội chuẩn bị bước vào mùa đua, tôi đã cầu nguyện mỗi ngày xin cho có nhà bảo trợ. Tôi thường đọc từ Êsai 41: “Vì ta, là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi, và phán cùng ngươi rằng: Đừng sợ, ta sẽ giúp đỡ ngươi”. Trong vài tháng, tôi đã giúp cho mấy ông chủ của đội, kêu gọi nhân sự, dự những buổi hội họp, và làm mọi sự tôi có thể để vận động tiền bạc. Sự thể chẳng đi tới đâu hết, song mấy lần tôi nghe được giọng nói: “Lake, ngươi không tin ta sao?” Cuộc đua Daytona 500 là cuộc đua xe hơi Siêu Cúp và là cuộc đua đầu tiên của mùa đua. Đội đua đang huy động tiền bạc và chẳng có một bảo trợ nào hết. Chúng tôi quyết định tham dự cuộc chạy với bất cứ giá nào. Nếu đội đua phải phá sản sau cuộc đua Daytona 500, thì phải chịu thôi”.

Nhưng đến ngày Chúa nhật khi Lake đứng quan sát một vòng chạy sơ bộ, có người đến gần anh, hiếu kỳ muốn biết về cuộc chạy. Hai người trao đổi với nhau, Lake đã trả lời mọi thắc mắc của người nầy và kiên nhẫn giải thích cuộc chạy cho ông ta nghe. Sau đó, người kia nói: “Đây là cuộc đua thú vị nhất mà tôi từng xem qua. Tôi làm việc với hãng Nationwide Auto Parts. Tôi đến đây với lòng mong muốn bảo trợ cho một đội đua, nhưng tôi không thể làm quen được với họ”.

Qua ngày sau, Lake Speed khởi sự cuộc đua Daytona 500 với tên của nhà bảo trợ được sơn lên còn ướt chưa khô bên sườn xe của anh. Anh đã có một cuộc chạy rất tuyệt vời, chỉ về thứ nhì sau Bill Elliott. Sau đó, với các chiếc máy thu hình của vô tuyến truyền hình vây quanh: “Nước mắt tôi chực trào ra và khởi sự oà lên giống như một đứa trẻ vậy. Tôi không còn nhớ mình đã nói gì, nhưng tôi cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi một cuộc chạy tốt lành và Ngài đã đáp trả những lời cầu nguyện của tôi”.

  

                “Vì ta, là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, sẽ nắm tay hữu ngươi, và phán cùng ngươi rằng: Đừng sợ, ta sẽ giúp đỡ ngươi” (Êsai 41.13)

 

                                                                     2 Tháng 5

THỜI KỲ SUY THOÁI XƯA KIA

                Có nhiều người Mỹ phẩn nộ với công nghệ giải trí xấu ngày càng tăng và họ thích xem lại các chương trình cũ từ một thời vang bóng, như chương trình Donna Reed chẳng hạn, chương trình nầy nguyên đã có mặt từ năm 1958 đến năm 1966.

Donna Reed chào đời ở Denison, Iowa vào năm 1921, là một trong bốn người con đã lớn lên ở một nông trại. Gia đình bà đã chịu khổ trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế, và những người lân cận của bà đã vật vã đấu tranh với hạn hán, mùa màng khô héo, và nhiều trận bão bụi cát. Hết gia đình nầy đến gia đình khác lo chất đồ đạc của họ vào những chiếc xe ọp ẹp rồi ra đi. Bố mẹ của bà đã chịu khó lao động để tồn tại. Thức dậy sớm và đi ngủ trễ, hết ngày nầy qua ngày khác, lao động cho tới kiệt lực hầu vượt qua được thời kỳ suy thoái đó. Làm sao họ có thể chịu đựng như vậy chớ?

“Tôi có được cái nhìn thoáng qua câu trả lời vào những ngày Chúa nhật. Bố dồn Mẹ và bốn đứa con vào chiếc xe cũ rồi chúng tôi lạch cạch đến Hội thánh Giám lý nhóm ở Denison. Ai cũng có thể tìm được sức lực qua việc ngồi cạnh Bố. Khi vị Mục sư đọc từ Kinh Thánh. Bố nghiêng người về phía trước. Chúng tôi – mấy đứa con có thể nhìn thấy những lời lẽ xưa cũ ấy chính là thức ăn cho tâm linh của ông, sức lực để dẫn dưa ông đi suốt cả tuần lễ.

                Vị Mục sư của chúng tôi thường đọc từ các sách trong Kinh Thánh chứa đầy nguồn hy vọng. Mới đây thôi, tôi đã tìm tòi trong Kinh Thánh để xem coi mình có thể tìm được vài phân đoạn quen thuộc hay không, và ở đó, trong sách Êsai, tôi đọc thấy mấy câu đem lại toàn bộ kinh nghiệm giống như tôi đã có mặt tại nhà thờ một lần nữa vậy, đang ngồi ở hàng ghế kế hàng ghế của Bố: ‘Những kẻ nghèo nàn thiếu thốn tìm nước mà không được, lưỡi khô vì khát; nhưng ta, Đức Giêhôva, sẽ nhậm lời họ; …Ta sẽ biến sa mạc thành ao, và đất khô thành nguồn nước’.

                Bố là một con người sống cho gia đình, một con người thực sự sống cho gia đình. Bố hay nói: ‘Nếu có sức lực của gia đình, thời kỳ suy thoái xưa kia không gây hề hấn gì cho chúng ta’. Và thời kỳ suy thoái đã trôi qua và nó chẳng hề làm hại chi cho chúng tôi”.

 

                “Những kẻ nghèo nàn thiếu thốn tìm nước mà không được, lưỡi khô vì khát; nhưng ta, Đức Giêhôva, sẽ nhậm lời họ; ta, Đức Chúa Trời của Ysơraên, sẽ không lìa bỏ họ đâu. Ta sẽ khiến sông chảy ra trên đỉnh núi trọi, và suối trào lên giữa trũng. Ta sẽ biến sa mạc thành ao, và đất khô thành nguồn nước” (Êsai 41.17-18)

 

                                                                     3 Tháng 5

VƯỢT QUA CÁC DÒNG NƯỚC

                Robert Morrison là giáo sĩ Tin lành đầu tiên cho Trung quốc, do Hội Truyền Giáo Luân đôn sai đi vào năm 1807. Sau khi đến tại Canton, ông đi thẳng vào một hầm rượu và hiếm khi trông thấy ông ở chỗ đông người, ông đang dấn thân vào việc học ngôn ngữ. Ông lập một đề án thật hay đến nỗi Công ty Đông Ấn đã thuê ông làm thông ngôn và cứ làm việc như thế trong 25 năm kế đó. Công việc nầy đã giúp ông có cơ hội phiên dịch Kinh Thánh, các truyền đạo đơn, những quyển thánh ca, và loại sách cầu nguyện từ tiếng Anh sang tiếng Hoa. Ông đã soạn một quyển từ điển Anh – Hoa và một sách văn phạm tiếng Hoa.

Trong cả cuộc đời ông, Morrison chỉ nhìn thấy có ba hay bốn người trở lại đạo mà thôi, nhưng công việc của ông đã lót đường cho hết thảy các giáo sĩ đã đến sau ông.

Ông tìm được Êsai 43.2 khi còn là một thanh niên trên chuyến hành trình từ Nữu ước sang Luân đôn. Ông đang trên đường đi học, và biển thì động luôn. Morrison đã bị say sóng, nhưng ông vẫn giữ việc đọc Kinh Thánh hàng ngày. Ông viết thư cho cha mình:

“Con ngạc nhiên đến sung sướng, lúc nằm bệnh trong phòng ngủ, con nghe thấy một số người đang hát các Thi thiên trên boong; và mỗi đêm khi thời tiết cho phép, chúng con đã cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Phân đoạn Kinh Thánh rất khó hiểu, trong một vài chi tiết của nó; một đêm họ lái con tàu đi, và đêm khác thân nó chòng chành theo sóng biển, sự cố vừa xảy ra rất nghiêm trọng, mấy cột buồm tàu như sắp gãy hết.

Con nhắc lại những hoàn cảnh nầy để kích thích sự cảm tạ đối với Đức Chúa Trời, Ngài đã đưa chúng con đi bình an. Con đã kêu nài lời hứa, theo nghĩa đen của lời hứa ấy: ‘Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng’, và Đức Chúa Trời đã chúc phước cho, lời hứa ấy đã ứng ghiệm”.

 

                “Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông; sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi” (Êsai 43.2)

 

                                                                     4 Tháng 5

GỖ VÔ DỤNG

                Trước khi ông bị giết chết ở Polinesia, John Williams đã có một chức vụ trọn vẹn và kết quả. Ông từng là một chàng trai hoang đàng sống ở nước Anh, song mọi sự đã thay đổi vào một tối Chủ nhật khi ông lẻn vào nhà thờ để trốn tránh một tốp du đảng đang săn đuổi ông. Ở đấy trên hàng ghế phía sau cùng ông đã nghe giảng Tin lành. Rồi ở đó, vào một ngày Chúa nhật khác, ông đã nghe thấy sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào công cuộc truyền giáo. Ông đã được sai tới Polynesia từ Hội Truyền Giáo Luân đôn vào năm 1816 và ngay lập tức ông khởi sự đi từ đảo nầy sang đảo khác chia sẻ Đấng Christ.

Một số hòn đảo bị cai trị bởi một tù trưởng gian ác có tên Romatane, Williams đã giảng cho ông ta nghe từ Êsai 44.15-17 về sự dại dột của tục thờ lạy hình tượng. Có một người kia cắt một khúc gỗ và sử dụng một phần làm củi: “Đoạn, gỗ còn thừa lại, làm một vì thần, tức là tượng chạm mình; cúi mình trước mặt nó mà thờ lạy, cầu nguyện nó mà rằng: ‘Xin giải cứu tôi, vì ngài là thần của tôi!’…”. Thật là dại dột làm sao!

Ngày đó vị tù trưởng bắt đầu thấy thoang thoáng lẽ thật của tin lành, và ông ta cứ ngồi đó suốt đêm trao đổi với John. Đến sáng, ông ta kêu gọi hết thảy dân sự của mình nhóm lại rồi ra lịnh cho họ phải hủy diệt hết các thần tượng của họ.

Dân sự kêu lên: “Liệu các thần không trừng phạt chúng ta chứ?”

                Romatane nói: “Không đâu. Mỗi vị thần đều là mảnh gỗ vô dụng mà chúng ta đã lo trang hoàng cho. Hãy chất chúng lại thành đống rồi đốt thiêu đi”.

Họ đã làm theo, và việc ấy đã biểu lộ sự thành công của John ra khắp nơi. Trong suốt chức vụ của ông, 55 hòn đảo ở Biển Nam đã tiếp nhận Tin Lành.

Ông được 43 tuổi khi ông nhắm vào một nhóm quần đảo mới, quần đảo New Hebrides. Sau một chặng đường khó, ông đã lên bờ với 7 người khác tiến về đảo Erromanga chuyên ăn thịt người rồi bắt đầu băng qua eo một hòn đảo nhỏ hơn. Ông nghe tiếng động phía sau lưng mình, ông đổi hướng, bỏ chạy, vấp té và ngã quỵ. Xương sọ ông bị đánh vỡ ra làm hai phần, rồi xương ống đã bị họ bẻ gãy.

Linh hồn ông bay thẳng về thiên đàng. Thân thể ông bị họ ăn thịt.

 

                “Đoạn, gỗ còn thừa lại, làm một vị thần, tức là tượng chạm mình; cúi mình trước mặt nó mà thờ lạy, cầu nguyện nó mà rằng: Xin giải cứu tôi, vì ngài là thần của tôi!…” (Êsai 44.17)

 

                                                                     5 Tháng 5

HÃY NHÌN XEM TA

                Lý trí của Charles Haddon Spurgeon thật là phi thường. Thư viện của ông có 12.000 quyển sách, ông đọc 6 quyển trong một tuần, ông giảng 10 lần trong một tuần, và ông từng nói ông đã đếm 8 tập hợp tư tưởng trải qua lý trí ông cùng một lúc trong khi ông rao giảng.

Nhưng chỉ có một việc xảy ra trong lý trí của ông vào ngày Chúa nhật 6 Tháng Giêng năm 1850. Đó là ngày mà ông đã đến với Đấng Christ. Một trận bão tuyết đã ụp đến, và Charles 15 tuổi đã chạy vào một ngôi nhà thờ nhỏ để trú ẩn. Vị Mục sư không đến vào sáng hôm ấy; tuyết rơi thật dày, tôi nghĩ thế. Sau cùng một người trông ốm yếu, một người thợ giày hay một thợ may hoặc đại loại giống như thế, đứng dậy bước tới toà giảng. Bấy giờ, các nhà truyền đạo có trách nhiệm dạy dỗ, nhưng người nầy lại thực là dở hơi. Ông ta buộc phải đưa ra câu gốc của mình, vì lý do rất đơn giản: ông ta chẳng có gì khác để nói hết. Câu gốc là: “Hết thảy các đầu cùng đất, hãy nhìn xem Ta và được cứu”.

Nhà truyền đạo bắt đầu: “Nầy các bạn tôi ơi, đây là một câu gốc rất đơn giản. Câu ấy nói: ‘Hãy nhìn xem’, phải, người ta không cần phải đến trường để học nhìn xem. Quý vị có thể trở thành kẻ dại dột nhất, và quý vị có thể nhìn xem. Bất cứ ai cũng có thể nhìn xem. Thậm chí một đứa trẻ cũng có thể nhìn xem. Câu ấy nói: ‘Hãy nhìn xem Ta’”

                Khi ông ta dạy dỗ khoảng 10 phút đồng hồ, ông ta đã đi đến mức cuối của sự chịu đựng. Khi ấy ông ta hướng mắt nhìn vào tôi như thể ông ta biết rõ điều chi có trong lòng tôi, ông ta nói: “Anh bạn trẻ kia, trông anh đáng thương lắm”. Phải, tôi đáng thương lắm; nhưng tôi không thích những lời nhận xét đưa ra từ toà giảng về bề ngoài của tôi trước đó. Tuy nhiên, điều đó gây xúc động khá tốt, ngay tại chỗ ấy. Ông ta nói tiếp: “và anh bạn sẽ luôn luôn đáng thương – trong khi sống và cả lúc chết – nếu anh bạn không nghe theo bài giảng của tôi. Còn nếu anh bạn nghe theo trong lúc ấy, giây phút nầy đây, anh sẽ được cứu”. Rồi đưa hai tay cao lên, ông ta hô lên: “Nầy bạn ơi, hãy nhìn xem Đức Chúa Jêsus Christ! Hãy nhìn xem đi! Hãy nhìn xem đi! Hãy nhìn xem đi! Anh chẳng phải làm gì hết, chỉ có nhìn xem và được sống!”.

Spurgeon đã nhìn xem, và ngày đó ông đã được cứu rỗi.

 

                “Hỡi các ngươi hết thảy ở nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác” (Êsai 45.22)

 

 

                                                                     6 Tháng 5

SỰ GIẢI CỨU

                Khi người Cộng sản tràn ngập lục địa Trung quốc vào thập niên 1940, cả ngàn nhân sự của Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa [CIM] đã bị mắc kẹt lại ở đàng sau Bức Màn Tre. CIM đã ra mệnh lệnh quan trọng nhất trong lịch sử: sơ tán các giáo sĩ, song chẳng ai biết người nào sẽ được phép ra đi.

Hai giáo sĩ Arthur và Wilda Mathews đã nộp visa của mình rồi chờ đợi. Nhiều ngày chuyển sang thành nhiều tháng, và tình cảm của họ trở nên “cao su bị căng ra” vậy. Rồi một ngày kia, Arthur bị mời đến sở cảnh sát, ở đây các quan chức người Trung quốc đã cố sức thuyết phục ông đóng vai trò như một gián điệp cho người Cộng sản. Sự việc nầy cứ tiếp diễn trong mấy ngày, và mỗi buổi tối trên đường trở về nhà, Arthur để ý thấy các tấm áp phích lớn dán trên các bức tường suốt cả thành phố, chúng ghi tên những người bị hành quyết trong ngày hôm sau. Từ căn bếp nhà mình, ông đã nghe tiếng súng nổ. Sẽ ra sao nếu ông bị hành quyết chứ? Điều chi sẽ xảy ra cho Wilda và cho đứa con mới chập chững đi của họ?

Sau cùng áp lực đè nặng trên Arthur lên tới đỉnh cao của nó, và ông quả quyết: “Tôi không phải là Giuđa. Làm theo như các ông yêu cầu sẽ là phản bội lại lý tưởng của Đấng Christ”. Rốt lại ông đã được trở về nhà, mong chờ tên của mình sẽ nằm trên danh sách bị hành quyết qua ngày sau đó. Buổi tối hôm ấy, Arthur và Wilda lòng tràn ngập nỗi sợ hãi đã quỳ gối trong căn bếp nhỏ của họ và kêu cầu: “Lạy Chúa, xin hãy phán với chúng con!”. Quyển Kinh Thánh của họ mở ra Êsai 49.25: “…mồi của người đáng sợ sẽ bị giựt lại. Vì ta sẽ chống cự kẻ đối nghịch ngươi, và chính ta sẽ giải cứu con cái ngươi”. Khi họ đứng dậy, tấm lòng họ tràn đầy niềm vui. Arthur nói: “Chúng tôi có lời hứa của Ngài, chúng tôi không phải là miếng mồi của người đáng sợ. Chúng tôi là tù nhân của Đức Chúa Jêsus Christ – chỉ mượn hạng người gian ác để tỏ ra sự dư dật của quyền phép Ngài!”

Chúa nhật sau khi các Cơ đốc nhân nhóm lại trong lo lắng, Arthur đã thuật lại kinh nghiệm khủng khiếp của ông và sự đáp lời của Đức Chúa Trời trong Êsai 49.25. Câu chuyện nầy đã trở thành sứ điệp sau cùng của ông cho các Cơ đốc nhân người Trung quốc. Arthur Mathews và gia đình ông sau cùng đã ra khỏi Trung hoa Cộng sản, Arthur là giáo sĩ sau cùng của CIM ra khỏi xứ.

 

                “Song Đức Giêhôva phán như vầy; Thậtt, những kẻ bị người mạnh bạo bắt lấy, sẽ được cứu thoát, mồi của  đánng sợ sẽ bị giựt lại. Vì ta sẽ chống cự kẻ đối địh ngươi, và chính ta sẽ giải cứu con cái ngươi” (Êsai 49.25)

 

                                                                     7 Tháng 5                                                                                                       

VỚI MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI THỂ ẤY

                Có ít người gặp nhiều nguy hiểm, ngăn trở, và khó khăn hơn Alexander Mackay – một kiến trúc sư được sai đến châu Phi vào năm 1876 bởi Hội Truyền Giáo Tô Cách Lan. Ông đã làm việc suốt ở châu Phi, không hề trở lại xứ Tô cách Lan, nhưng đã để lại sau lưng ông một di sản của công tác truyền giáo rất có giá trị.

Khi ông đến tại Entebbe – thủ phủ của Uganda, vua M’tesa đã tiếp đón ông và ban cho ông quyền tự do rộng rãi để rao giảng Tin lành. Mackay luôn luôn có nhiều trẻ em vây quanh, và mọi người, già cũng như trẻ đều ao ước muốn nghe sứ điệp của ông. Không lâu sau đó, một Hội thánh đã được thành lập, và Mackay rất bận rộn lo phiên dịch Kinh Thánh.

Nhưng mọi sự đã thay đổi khi vua M’wanda 18 tuổi rất độc ác kế vị. Ba mươi người con trai đều là học trò của Mackay đã bị thiêu sống vì chống cự nỗi đam mê đồng tình luyến ái của M’wanda. Ba người con trai khác đã bị hành quyết trước khi chết, những cánh tay của họ đã bị chặt đứt trước mặt đoàn dân đông nhạo báng. Nhiều kẻ khác nữa giữa vòng số người theo ông trở lại đạo đã bị siết cổ tay hay bị đánh bằng gậy gộc cho tới chết. Và bây giờ M’wanda theo tiếng đồn đại có Mackay trong ánh mắt của hắn ta.

Hầu như bên cạnh ông với nỗi buồn lo, vị giáo sĩ phủ phục trên hai đầu gối của ông, quyển Kinh Thánh mở ra trước mặt ông. Phân đoạn ông đang đọc là Êsai 51:

Các ngươi là kẻ theo sự công bình… hãy nghe ta!

Hỡi dân biết điều công nghĩa,

Ghi luật pháp ta trong lòng,

Chớ e người ta chê bai, đừng sợ họ nhiếc móc…

Ta, chính ta, là Đấng yên ủi các ngươi.

Ngươi là ai, mà sợ loài người hay chết,

Sợ con trai loài người là kẻ sẽ trở nên như cỏ?

Vì ta là Giêhôva Đức Chúa Trời…

Ta đã để lời nói ta trong miệng ngươi,

Và cho ngươi núp dưới bóng bàn tay ta.

Alexander Mackay đã chỗi dậy từ hai đầu gối mình để tiếp tục công việc. Ông nói: “Với một lời hứa và một Đức Chúa Trời như vậy, tôi sẽ sợ hãi ai chứ?”.

 

                “Vì  ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi… Ta  đã để lời nói ta trong miệng ngươi, và cho ngươi núp dưới bóng bàn tay ta, đặng dựng các từng trời và lập nên đất, cùng nói với Siôn rằng: Ngươi là dân ta!” (Êsai 51.15-16)

 

                                                                     8 Tháng 5

ĐỈNH NÚI CẦU NGUYỆN

                Lyman Jewett đã nhìn thấy kết quả nhỏ trong chức vụ truyền giáo của mình ở Ấn độ xa xôi nhất qua 17 năm làm việc cật lực, tuy nhiên khi Hội Truyền Giáo Báptít Mỹ muốn kết thúc chức vụ nầy, Jewett đã nài xin họ thêm một ít thời gian nữa. Hội đồng ý, nhưng địa điểm ấy bị gán cho cái tên: “Forlorn Hope” [Hy vọng trong tuyệt vọng].

Sáng sớm ngày đầu năm mới năm 1854, Jewett và các cộng sự người bản xứ của ông đã trèo lên đỉnh của một ngọn núi sau Forlorn Hope để khởi sự năm cầu nguyện. Họ leo tới đỉnh trước khi mặt trời hé rạng, lúc 4 giờ sáng, và đọc những lời lẽ nầy từ Êsai 52: “Những kẻ đem tin tốt, rao sự bình an, đem tin tốt về phước lành, rao sự cứu chuộc, bảo Siôn rằng: Đức Chúa Trời ngươi trị vì, chơn của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào!”.

Sau khi đọc xong, họ hiệp với nhau mà cầu nguyện, nài xin Đức Chúa Trời sai đúng người nào có thể chọc thủng tình trạng cằn cỗi của công trường truyền giáo của họ. Họ cầu nguyện xong đúng lúc mặt trời mọc ngay trên đường chân trời. Ngọn núi bây giờ được gọi là Núi Nhóm Lại Cầu Nguyện.

Mười năm sau, John Clough là nhà nông đang lao động như một thợ gặt trong đồng lúa của mình ở Iowa khi ông nhận được tin tức cho biết đơn xin của ông đã được Hội Truyền Giáo Báptít Hải Ngoại chấp thuận. Họ sẽ sai ông đến một nơi gọi là Forlorn Hope.

Sau khi đến tại Ấn độ, John bắt tay thẳng vào công việc, giảng đạo, cầu nguyện, lãnh đạo, và làm việc không mệt mỏi để lo cho người bị đói có ăn và tổ chức cứu trợ nạn đói trong mùa hạn hán năm 1876-1878. Người Ấn rất mực yêu thương ông vì mọi việc làm của ông đầy tràn tình thương, và có nhiều người đáp ứng lại sứ điệp của ông. Một cơn phấn hưng đầy quyền năng quét qua khu vực, và trong một ngày thôi, Clough cùng các cộng sự của mình đã làm phép báptêm cho 2222 người trở lại đạo. Sự biến đổi cứ tiếp diễn, và trong 39 ngày, họ đã làm phép báptem cho 8691 tân tín hữu. Hai mươi bốn vị Mục sư người bản xứ đã được tấn phong để quản nhiệm Hội thánh còn non trẻ vừa bùng nổ; và trong cơn phấn hưng, hơn 20.000 người đã tiếp nhận Chúa.

Forlorn Hope đã minh chứng chẳng có chi bằng Núi Nhóm Lại Cầu Nguyện.

 

                “Những kẻ đem tin tốt, rao sự bình an, đem tin tốt về phức lành, rao sự cứu chuộc, bảo Siôn rằng: Đức Chúa Trời ngươi trị vì, chơn của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào!” (Êsai 52.7)

 

                                                                 9 Tháng 5

CÁCH GIẢI THÍCH HAY HƠN

                Solomon Ginsburg là một trong những giáo sĩ hiệu quả và đầy màu sắc nhất. Những chuyến phiêu lưu của ông đều là tư liệu cho các bảng phim điện ảnh. Solomon ra đời ở Balan vào năm 1867, là con của một rabi Dothái, ông được đặt cho một cái tên theo tên của vị vua vinh hiển nhất trong các vì vua xứ Dothái. Rabi Ginsburg muốn con trai mình lớn lên noi theo các bước chân ông, một nhà lãnh đạo thuộc linh cho người Dothái ở Tây Âu Châu.

Ngày nọ, Solomon và cha của ông đang kỷ niệm Lễ Lều Tạm bằng cách ở qua đêm trong một chiếc lều nhỏ gần nhà của họ. Chàng trai cầm một quyển sách nói về Các Tiên Tri lên và lật đại trúng nhằm Êsai 53. Khi ông đọc mấy câu đầu, tánh tò mò của ông bật dậy lên. Ông hỏi ngay: “Tiên tri nói tới ai trong chương nầy vậy bố?” Khi bố ông trả lời với: “sự im lặng thăm thẳm”, Solomon đã nhắc lại câu hỏi. Lần nầy bố của ông chụp lấy quyển sách ra khỏi tay ông và tát thẳng vào mặt ông.

Nhiều năm sau đó, Solomon đi qua Luân đôn. Đi ngang qua đường Whitechapel, ông gặp một người bạn Dothái, người nầy mời ông đến Hội Truyền Giáo Mildmay. Người bạn nói: “Tôi sẽ giảng chương 53 của sách Êsai, bạn không đến dự sao?” Solomon đến dự, tò mò: “muốn thử coi liệu người nầy có cách giải thích hay hơn cách giải thích mà bố tôi đã giải thích hay không?”.

Khi ngồi nghe, ông thấy bồn chồn hơn. Đấng Christ dường như đã làm ứng nghiệm trọn vẹn những lời tiên tri của Êsai trong chương thứ 53. Solomon mua ngay một quyển Tân ước và không bao lâu ông tin quyết rằng Đấng Christ chính là Đấng Mêsi. Thế thì bố ông sẽ nghĩ sao? Chú bác của ông? Gia đình ông?

Sau đó, ông đến nghe Tấn sĩ John Wilkinson giảng một bài thật quyền năng với câu Kinh Thánh: “Người nào yêu cha mẹ hơn ta, không đáng cho ta”. Trở về nhà, Solomon cứ đi qua đi lại trên sàn nhà cho tới nửa đêm, rốt lại ông đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ ngay sau đó.

Ông đã bị gia đình từ bỏ, bị đánh đập và gần bị bạn hữu giết chết trong cơn giận dữ của họ. Nhưng: “Tôi biết mình đã được tha tội và được tiếp nhận. Tôi cảm thấy gánh nặng của mình đã được cất đi. Tôi biết tội lỗi tôi đã được sạch bởi huyết quý báu của Chúa Jêsus”.

 

                “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh” (Êsai 53.5)

 

                                                                   10 Tháng 5                                                                                                       

NGÀI ĐANG HIỆN DIỆN Ở ĐÂY

John Marrant – một thiếu niên da đen 14 tuổi sống ở Charleston vùng thuộc địa, đã trở lại đạo qua sự rao giảng của George Whitefield, nhưng gia đình cậu không tán thành đức tin mới mẻ của cậu. John ngã lòng ngay, nên rời khỏi nhà với quyển Kinh Thánh và quyển thánh ca nhỏ trong túi. Cậu lang thang qua đồng vắng mấy ngày, ăn rất ít và ngủ trên cây vì sợ thú dữ.

Thế rồi cậu bị một thợ săn Cherokee bắt. “Ông ta hỏi tôi sinh sống như thế nào. Tôi nói tôi được Chúa tiếp trợ. Ông ta hỏi tôi ngủ nghê thế nào. Tôi đáp Chúa bảo hộ cho. Ông ta đòi biết rõ điều chi đã bảo hộ tôi tránh không bị thú dữ ăn nuốt? Tôi đáp Chúa Jêsus gìn giữ tôi tránh khỏi chúng. Ông ta đứng ngạc nhiên rồi hỏi: ‘Cậu nói Chúa Jêsus làm điều nầy, điều nọ, và làm mọi sự cho cậu; Ngài phải là một người tốt bụng lắm; vậy Ngài ở đâu?’ Tôi đáp: ‘Ngài đang hiện diện ở đây’. Với câu đáp nầy ông ta không nói gì nữa”.

Trở lại ngôi làng của tay thợ săn, John liền bị kết án tử hình. “Kẻ hành quyết chỉ cho tôi thấy cái rổ bằng gỗ trét nhựa thông chất đầy những sọ người. Hắn bảo tôi phải cởi quần ra rồi trần truồng ngồi vào cái giỏ, và họ dùng những cái chốt nhọn gài xung quanh tôi, rồi họ nhúm lửa lên, và khi họ thiêu đốt thân thể tôi, tôi bị ném vào ngọn lửa, thế là xong phần hành quyết tôi”.

John liền bật thốt ra lời cầu nguyện, và lời lẽ đáng thương ấy đã cảm động những kẻ hành quyết, họ bèn đưa cậu đến viên tù trưởng. Khi mở quyển Kinh Thánh nhỏ ra ở Êsai 53. John đọc: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người”. Lật hết chỗ nầy đến chỗ khác, John đã gảng tin lành khiến cho vị tù trưởng và nhiều người khác cùng trở lại đạo. Trong hai năm kế đó, cậu thiếu niên cứ sống giữa vòng bộ tộc Cherokee, giảng đạo, dạy dỗ và môn đồ hoá.

 

                “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai thoe đường nấy; Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết tảy chúng ta đều chất trên người” (Êsai 53.6)

 

                                                                   11 Tháng 5

TIỆM ĐÓNG GIÀY Ở PAULERSPURY

                Chẳng có một điều chi đặc biệt tỏ ra về William Carey. Ông chào đời ở làng Paulerspury, Anh quốc năm 1761. Bố ông là thợ đóng giày rất nghèo, và William là một đứa trẻ bịnh hoạn, lớn lên mà chẳng có tích sự chi hết. Nhưng ông có một sự hiện thấy. Ông say sưa đọc cả Kinh Thánh và quyển Những chuyến hành trình của thuyền trưởng Cook, và ghép cả hai lại với nhau, ông bắt đầu mường tượng việc nắm lấy cả địa cầu cho Đấng Christ. Đây là một ý tưởng rất mới lạ, vì trong thời của Carey chẳng có một Hội Truyền Giáo Tin Lành nào được tổ chức hết. Ông đem treo tấm bản đồ thế giới sau chiếc ghế ngồi vá giày của mình rồi bắt đầu trao đổi công khai về công cuộc truyền giáo cho thế giới.

Ông bị những người theo phái Calvin giữa vòng các tín đồ Báptít xem khinh, họ bảo ông rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho người theo dị giáo phải biến đổi khi người ấy đàng hoàng và sẵn sàng, “chẳng cần sự giúp đỡ nào hết từ chúng ta”. Không nản lòng, Carey viết một quyển sách có đề tựa là An Enquiry into the Obligations of Christians, rồi bồi tiếp một bài giảng thật quyền năng trong kỳ hội nghị hàng năm. Phân đoạn Kinh Thánh của ông chọn là Êsai 54.2-3: “Hãy mở rộng nơi trại ngươi”, và kết luận với một tiếng kêu gào khó mà quên được: “Hãy thử làm các việc lớn cho Đức Chúa Trời! Hãy trông đợi những việc lớn từ Đức Chúa Trời”.

Nhiều người cảm động, một trong số họ về sau đã viết: “Nếu hết thảy mọi người cất tiếng lên khóc, tôi chẳng lấy làm lạ đâu. Điều đó cân xứng với lý tưởng: Ông Carey đã minh chứng rõ ràng tội biếng nhác của chúng ta trước lý tưởng của Đức Chúa Trời”. Nhiều vị Mục sư dường như bằng lòng trì hoãn không làm theo lời yêu cầu khẩn thiết của Carey. Khi buổi nhóm giải tán, Carey nắm lấy cánh tay của bạn mình là Andrew Fuller gào lên: “Chẳng có làm một việc gì được hết sao?”. Có một việc đã hình thành. Một cộng đồng Báptít không bao lâu sau đó đã được thành lập: “vì công tác truyền bá tin lành giữa vòng người theo dị giáo, theo mọi đề nghị từ quyển Enquiry của Carey”, và Carey đã ra đi trên chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên của họ. Thế là các hội truyền giáo tin lành hải ngoại ra đời, và cho đến hôm nay tiệm giày nghèo nàn ở Paulerspury được gọi là: “Cha đẻ của các Hội Truyền Giáo Hiện Đại”.

 

                “Hãy mở rộng nơi trại ngươi, giương màn chỗ ngươi ở. Chớ để chật hẹp; hãy giăng dây cho dài, đóng nọc cho chắc! Vì ngươi sẽ lan rộng ra bên hữu và bên tả; dòng dõi ngươi sẽ được các nước làm cơ nghiệp, và sẽ làm cho các thành hoang vu đông dân cư”

 

                                                                   12 Tháng 5

CHỒNG NGƯƠI

                Tiếp viên nói: “Bà Agnes mới hỏi thăm ông và xin mau đến. Bà ấy không đợi lâu được”. Tôi thấy buồn ngay, vì bà Agnes Frazier là một người rất tử tế. Bà ấy đã dâng mình vào việc giáo dục lớp người trẻ; và sự làm chứng Cơ đốc rất hay, nồng nhiệt của bà đã để lại dấu ấn cho đời sống của nhiều người. Bà trao đổi thư từ không mệt mỏi với và đã cầu thay cho nhiều giáo sĩ trên khắp thế giới. Bà đã đi đầu tung mọi nổ lực để mở ra chức vụ của phụ nữ trong hệ phái của bà. Bà đã đồng đi với Đức Chúa Trời, và bây giờ dường như Ngài không còn sai phái các thiên sứ Ngài đến với bà nữa.

Tôi đến bên giường bà Frazier hỏi: “Bà sai gọi tôi, có phải không?”

                “Dạ đúng thế, anh Morgan ạ! Tôi muốn anh nói cho tôi biết mấy người kia là ai vậy?”

                “Mấy người nào?”

                “Mấy người đang đứng cạnh chân giường của tôi đó!”

                Tôi đáp: “Có người nào đứng ở đấy đâu. Chỉ có Sally, là người chăm sóc cho bà mà thôi”.

“Anh Moran ơi, có mấy người đang đứng cạnh chân giường của tôi đấy”, bà cứ khăng khăng: “và họ mặc áo toàn trắng kia. Tôi không biết họ là ai. Tôi phải nói gì với họ đây?” Tôi suy nghĩ về câu hỏi của bà và quyết định chắc có lẽ có mấy người mặc áo trắng đứng gần giường của bà. Tôi nói: “Hãy nói cho họ biết rằng bà thuộc về Chúa Jêsus”.

Agnes đã qua đời mấy ngày sau đó, và bà để quyển Kinh Thánh của bà lại cho tôi, một quyển Kinh Thánh có bao bì rất đẹp, bìa in chữ màu đỏ. Lật quyển sách ra, tôi thấy Êsai 54.5 được gạch dưới và sực nhớ một câu chuyện khác về bà Agnes. Bà và Emmett chồng mình đã cưới nhau hơn 50 năm rồi, và mỗi buổi sáng họ ngồi tại bàn ăn sáng và cùng chia sẻ cho nhau những điều tin kính. Vào buổi sáng sau khi ông qua đời, Agnes ngồi một mình tại bàn ăn sáng đó, úp mặt trong hai bàn tay và thầm nguyện: “Lạy Chúa, con không nghĩ là con có thể ngồi ở đây cầu nguyện thêm nữa. Chồng con đã chết rồi”.

Tuy nhiên, bà dạn dĩ mở quyển Kinh Thánh ra, và phần Kinh Thánh đọc trong ngày ấy dẫn bà đến với câu nầy: “Vì chồng ngươi tức là Đấng đã tạo thành ngươi; danh Ngài là Đức Giêhôva vạn quân”.

Bà mỉm cười, lau giọt nước mắt đi, rồi nói: “Cảm tạ Chúa”.

 

                “vì chồng ngươi tức là Đấng đã tạo thành ngươi; danh Ngài là Đức Giêhôva vạn quân” (Êsai 54.5)

 

                                                                   13 Tháng 5

BÀI GIẢNG TỪ TẤM BIA MỘ

                Trong lá thư gửi cho Công nương Huntingdon vào năm 1768, Henry Venn bạn thân của nhà truyền đạo George Whitefield đã mô tả một buổi nhóm điển hình của Whitefield. Nhà truyền đạo đã rao giảng từ câu gốc Kinh Thánh nầy khi đứng trên tấm bia mộ trong sân nhà thờ của Hội thánh Giáo xứ Cheltenham, khi ông bị từ chối không cho giảng trong nhà thờ. Venn nói:

“Gửi đến công nương bất kỳ một phần mô tả nào về những điều mắt chúng tôi chứng kiến và lòng chúng tôi đã cảm nhận được, là điều vượt quá sức lực của tôi. Linh hồn ở trong tôi bị dầm thấm với một ý thức phủ lút về quyền phép và sự hiện diện của Đức Giêhôva, Ngài đã thăm viếng chúng tôi với một sự dạt dào Thánh Linh Ngài trong một kiểu cách thật oai phong. Có một bề ngoài trông thấy được về sự quan tâm đến linh hồn giữa vòng đám đông đứng đầy từng chỗ trong nơi chôn cất người chết. Có nhiều người ngây ngất đắc thắng; nhiều người khác bật khóc nức nở; có người khóc trong thầm lặng; và một vẻ nghiêm trang hiện trên từng gương mặt của hầu hết những người đến nhóm lại. Thế nhưng khi ông ấy nhấn mạnh phần huấn thị trong câu gốc ở Êsai 55.1 trên kẻ chưa trở lại đạo và người bất kỉnh, lời lẽ của ông ấy dường hành động như một thanh gươm, và nhiều người bật tiếng kêu la bức thiết lắm. Trong thời điểm nầy, ông Whitefield đã ngừng giảng trong mấy giây đồng hồ, và chính ông cũng đã bật khóc. Trong cách quãng đó, ông Madan và tôi đứng dậy yêu cầu dân sự, bao nhiêu người cũng được hãy tự kiềm chế đừng làm ồn ào quá. Ồ, với tài hùng biện, với năng lực, với sự dịu dàng, ông Whitefield đã nài xin hạng tội nhân nên làm hoà với Đức Chúa Trời, hãy đến với Ngài để được sự sống đời đời, và để cho linh hồn mệt mỏi của họ được yên nghỉ trên Đấng Christ Đấng Cứu Thế. Khi bài giảng kết thúc, dân sự dường như bị xích lại trên mặt đất. Ông Madan và tôi thấy phải tìm cách yên ủi những người nào dường như tan vỡ dưới ý thức tội lỗi. Chúng tôi đã chia ra thành hai hướng khác nhau giữa đám đông, và mỗi người bị số thính giả có tấm lòng vây quanh, họ vẫn sốt sắng muốn nghe biết mọi lời của sự sống”.

 

                “Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước! Và người nào không có tiền bạc, hãy đến, mua mà ăn! Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền, không đòi giá” (Êsai 55.1)

 

                                                                   14 Tháng 5

SẮC MẶT CỦA CARROLE

                Bị thương và cay đắng, B. H. Carrole đã trở về từ Cuộc Nội Chiến. Ông bị mất một bên hông, và ông chỉ có thể đi bộ với sự trợ giúp của đôi nạng. Đem lòng oán giận Đức Chúa Trời, ông thề không bước chân vào nhà thờ nữa. Thế nhưng mẹ ông đã van nài ông đến dự nhóm ở kỳ trại của Hội Giám Lý vì cớ bà. Ông đến dự, mặc dù: “Tôi không có một nguyên tử thích thú nào. Buổi nhóm kết thúc chẳng có một sự thay đổi nào nơi phần của tôi. Bài giảng sau cùng đã được rao ra, sự chúc phước cũng đã xong, và hội chúng đang tan về. Một vài phụ nữ còn ngồi lại ở các hàng ghế đang bận rộn tập hát. Thình lình có một ánh chớp thoáng qua trí tôi, như một tia sét đến từ trời vậy: ‘Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ ban cho các ngươi được yên nghỉ’. Dường như tôi nhìn thấy Ngài đang đứng ở trước mặt tôi vậy, Ngài đang mời nài tôi hãy đến với Ngài. Trong một phút… tôi bước tới, một lần và cho đến đời đời, ném mình dưới chân Đấng Christ.

                Tôi chẳng có biểu lộ gì về sự thay đổi đã trải qua tôi, song đã bỏ ra cả đêm để thưởng thức sự thay đổi ấy. Tôi hiểu phần Kinh Thánh mà mẹ tôi thường lặp đi lặp lại cho tôi nghe: ‘Vì các ngươi sẽ đi ra vui vẻ, được đưa đi trong sự bình an. Trước mặt các ngươi, núi và đồi sẽ trổi tiếng ca hát, mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay’.

                Khi tôi về tới nhà, tôi chẳng nói gì với mẹ tôi về kinh nghiêm ấy hết, nhưng ngay lập tức đi thẳng về phòng, nằm xuống giường, hai tay bụm lấy mặt mình. Tôi nghe tiếng bà đang đến. Bà kéo hai bàn tay tôi ra khỏi mặt tôi, rồi nhìn tôi thật lâu chẳng nói một lời gì. Một tia sáng loè ngang qua mặt của bà, với đôi môi run rẩy, bà nói: ‘Con ơi, con đã gặp Chúa rồi’.

  1. H. Carrole đã trở thành nhà truyền đạo tin lành rất năng nổ, và rất có ảnh hưởng trong việc sáng lập ra Chủng viện Thần học Báptít Miền Tây Nam, ngày nay là chủng viện lớn nhất ở trên đất.

                “Vì các ngươi sẽ đi ra vui vẻ, được đưa đi trong sự bình an. Trước mặt các ngươi, núi và đồi sẽ trổi tiếng ca hát, mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay” (Êsai 55.12)

 

 

 

                                                                   15 Tháng 5

MỘT DẶM TRONG TỪNG SỨ ĐIỆP

Khi Đức Chúa Jêsus Christ bước vào chức vụ ở tuổi 30, Ngài đã trở về lại quê nhà ở Nazarét để giảng đạo trước mặt gia đình và bạn hữu của mình, Ngài đã chọn câu gốc từ Êsai, tuyên bố chính mình Ngài là sự ứng nghiệm trọn vẹn câu gốc đó.

Nhiều nhà truyền đạo kể từ thời Đấng Christ đã ý thức được phần ứng dụng câu Kinh Thánh nầy chắc chắn là cho chính bản thân họ nữa, vì chẳng người nào có thể phục vụ hiệu quả mà không có việc xức dầu và mặc lấy quyền phép của Đức Thánh Linh. Thí dụ, hãy xét trường hợp của Billy Sunday, ông đã đem hàng ngàn người đến với Đấng Christ mặc dù giọng nói của ông khàn khàn, và chẳng tự nhiên, lời lẽ của ông thì tầm thường và thô thiểu.

Sunday đã giảng đạo theo một kiểu cách rát xúc động – kêu la, nhảy nhót, hai tay quơ qua quơ lại, chạy từ đầu nầy qua đầu kia của sân khấu. Một biên tập viên ước lượng ông đã đi cả dặm đường trong mỗi sứ điệp. Là một cựu vận động viên bóng chày, Sunday có thể lực của một lực sĩ, và ông đã sử dụng từng cơ bắp. Đôi khi trượt ngang qua diễn đàn giống như đang chơi bóng vậy, hoặc nhảy qua bục giảng, xuống mấy hàng ghế. Một số động tác nhào lộn đã làm cho thính giả phải há hốc vì kinh ngạc.

Tuy nhiên nội dung của ông là rất tự nhiên. Sunday chịu khó sáng tác lối chú thích rất phức tạp ghi trong sổ tay bằng da màu đen. Đến toà giảng, theo thói quen ông đặt sổ tay lên trên quyển Kinh Thánh mở ra ở Êsai 61.1: “Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành”.

Sunday đã nhìn thấy nhiều người giảng đạo không có quyền phép thuộc linh. “Trong khi ở Lễ Ngũ Tuần, một bài giảng đã cứu 3000 người, còn bây giờ phải cần tới 3000 bài giảng mới lôi kéo được một kẻ tái phạm đẫm mùi whiskey. Từ khi Đức Chúa Trời giải cứu linh hồn tôi và sai tôi ra đi giảng đạo, tôi đã cầu xin Ngài cho phép tôi rao giảng hai từ thôi, và làm bật ra được ý nghĩa của chúng. Một từ là: ‘Lost’ [hư mất] và từ kia là: ‘Eternity’ [cõi đời đời]. Từ giờ trở đi mười ngàn năm nữa hết thảy chúng ta sẽ ở một nơi nào đó. Tôi không hề giảng một bài nào mà chẳng suy nghĩ, ấy là bài giảng sau cùng ai đó sẽ nghe được, hoặc bài giảng chót mà tôi không còn có đặc ân để giảng nữa”.

 

                “Thần của Chúa Giêhôva ngự trên ta; vì Đức Giêhôva đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài sẽ sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục” (Êsai 61.1)

 

                                                                   16 Tháng 5

ĐỪNG CHO CHÚA AN NGHỈ

                Trong sách Êsai, các lính chiến và lính gác của thành Giêrusalem được truyền cho phải cầu nguyện thật bền đỗ để Đức Giêhôva không an nghỉ cho tới chừng nào Ngài đáp lời kêu cầu của họ. Một bản dịch ghi như sau: “Họ phải nhắc cho Đức Giêhôva nhớ tới mọi lời hứa của Ngài… Họ không cho Chúa an nghỉ cho tới chừng Ngài làm cho thành Giêruslem được hưng phấn”. Nhắc cho Đức Chúa Trời nhớ tới mọi lời hứa của Ngài ư? Đừng để Ngài an nghỉ cho tới chừng Ngài đáp lời chăng? Có bao nhiêu người trong chúng ta cầu nguyện giống như vậy? Có một người đã cầu nguyện như thế, và kết quả là ông được đặt cho một biệt danh: “Cầu nguyện”. John Hyde “cầu nguyện”  lớn lên ở Carthage, Illinois trong gia đình của một vị Mục sư. Ở Thần học viện McCormic, ông đã dâng mình cho công cuộc truyền giáo hải ngoại, và sau khi tốt nghiệp, ông liền qua Ấn độ. Chức vụ lưu động của ông đã đưa ông từ làng mạc nầy đến làng mạc kia, song việc giảng đạo của ông chỉ có một số ít người trở lại đạo, cho tới khi ông khám phá ra lẽ thật ở Êsai 62.6-7 và theo từng chữ nắm lấy mấy lời nầy.

Đầu năm 1908, ông đã cầu nguyện xin cho có ít nhất một linh hồn cho Đấng Christ mỗi ngày. Đến ngày 31 tháng Chạp, ông đã ghi lại hơn 400 người trở lại đạo. Năm sau, Chúa đặt hai linh hồn mỗi ngày vào tấm lòng của ông, và lời ông cầu nguyện một lần nữa được đáp ứng ngay. Năm kế nữa ông đã cầu nguyện xin cho có bốn linh hồn mỗi ngày với những kết quả tương tự. Có lần, khi dừng lại bên một ngôi nhà tranh để uống nước. Hyde “cầu nguyện” đã nài xin Đức Chúa Trời ban cho mười linh hồn. Ông đã giới thiệu Tin lành với gia đình, và đến giờ cuối chuyến thăm viếng nầy tất cả chín thành viên trong gia đình đã được cứu. Nhưng còn người số mười đâu? Thình lình một cháu trai đang chạy chơi ở ngoài sân vụt chạy vào phòng nhóm và tức thì xin trở lại đạo.

Công tác truyền giáo lớn lao của Hyde lưu xuất từ đời sống cầu nguyện của ông giống như nước chảy tràn từ một dòng thác vậy. Và sau cùng ông luôn dấn thân vào sự cầu nguyện, ông hay quỳ gối hết đêm nầy tới đêm khác, hết năm nầy đến năm khác, cứ nhắc cho Đức Chúa Trời nhớ tới mọi lời hứa của Ngài và không để cho Chúa an nghỉ. Người chiến sĩ cầu nguyện vĩ đại ấy đã qua đời vào ngày 17 tháng Hai năm 1912, lời nói sau cùng của ông là: “Bol, Visa Masih, Ki Jah” – nghĩa là: “Hãy hô to sự đắc thắng của Đức Chúa Jêsus Christ”.

 

                “Hỡi Giêrusalem, ta sẽ đặt các vọng canh trên thành ngươi; cả ngày và đêm chúng nó chẳng hề im lặng. Hỡi các ngươi là kẻ nhắc nhở Đức Giêhôva, chớ có nghỉ ngơi chút nào. Đừng để Ngài an nghỉ cho đến chừng nào đã lập lại Giêrusalem và dùng nó làm sự ngợi khen trong cả đất!” (Êsai 62.6-7)

 

                                                                   17 Tháng 5

ĐÙA VỚI LỬA

                Galaát – một khu vực đồi núi trùng điệp nằm ở phía đông sông Giôđanh đã lừng danh vì loại nhựa dùng làm thuốc ở đó. Giêrêmi đã khẳng định rằng nhựa thơm xứ Galaát không thể chữa lành cho linh hồn, chỉ có Đấng Y Sĩ Vĩ Đại mà thôi.

Đây là sự thật đã dẫn cậu Lorenzo Dow 15 tuổi đến với Đấng Christ. Cậu đến dự buổi nhóm của Hội Giám Lý, và nhà truyền đạo đã giảng từ Giêrêmi 8.22. Sau buổi tối đó, Lorenzo đã ngủ một ít. Tâm trí cậu trằn trọc, chao đảo và vật vã cho tới chừng cậu phải kêu lên: “Lạy Chúa, con chịu thua! Con đầu hàng”.

                Lorenzo bắt đầu giảng đạo khắp vùng New England, lê bước qua vùng tuyết trắng chỉ với chiếc chăn trùm giữ ấm. Áo quần cậu bị rách tả tơi, mái tóc mọc dài thêm. Trông cậu giống như một con người sống hoang dã, và đôi khi hành động cũng giống như họ vậy, cậu giảng đạo với nỗi đam mê, rồi băng ra cửa sau chạy qua ngôi làng kế cận. Ai cũng gọi cậu là: “Người kích động ma quỷ”.

Lần kia, trong khi giảng đạo qua miền Nam, Dow ở lại nhà một phụ nữ kia, chồng bà nầy đã đi vắng. Từ phòng ở của mình, cậu nghe thấy người vợ đang hú hí với người đàn ông khác trên giường ngủ của bà ta. Thình lình chồng của bà kia trở về nhà cách đột xuất, và người đờn bà ấy hoảng sợ giấu người tình của mình dưới các tấm ra giường. Khi người chồng có tánh hung dữ bước vào phòng ngủ, bà ta tìm cách trấn an chồng, bà ta nói: “Yên lặng nào! Lorenzo Dow đang có mặt ở đây; ông sẽ làm cậu ấy thức giấc đấy”.

Chồng bà ta gào lên: “Người kích động ma quỷ ấy à? Hãy tìm cho ra hắn đi. Tôi muốn nhìn thấy ma quỷ bị kích động”. Dow bước ra từ trong phòng, sau cùng cậu đã đồng ý kích động ma quỷ. Cầm lấy ngọn đèn, cậu rờ đến lớp vải rồi hô to lên: “Nào chàng trai, hãy ra đây!”. Khi ngọn lửa áp sát vào lớp ra giường, người đờn ông đang trốn kia bèn la lớn tiếng lên rồi phóng nhanh ra khỏi phòng giống như một con quỷ vậy.

Câu chuyện đã cung ứng cho Dow một minh hoạ thật hay cho bài giảng – một minh chứng sống động trong Châm ngôn 6.27…: “Há có người nào để lửa trong lòng mình, mà áo người lại chẳng bị cháy sao? Kẻ nào đi tới cùng vợ người lân cận mình cũng vậy”.

 

                “Trong Galaát há chẳng có nhũ hương sao? Há chẳng có thầy thuốc ở đó sao? Vậy thì làm sao mà bịnh con gái dân ta chẳng chữa lành?” (Giêrêmi 8.22)

 

 

 

 

                                                                   18 Tháng 5

HẾT THẢY CÁC ĐỨA CON CỦA TÔI

                Đây là câu chuyện của Karlanne:

Tôi trở thành một Cơ đốc nhân ở tuổi 29, không kết hôn, có thai 7 tháng. Khi Kevin ra đời, tôi phải đi làm ngay, nhưng Chúa dức dấy mấy phụ nữ trong Hội thánh đến giúp đỡ coi sóc đứa trẻ.

                Khi Kevin lên ba tuổi, tôi lấy Bill, tôi đã gặp anh ở nhà thờ. Anh nhận Kevin làm con nuôi, và khoảng hai năm sau chúng tôi có thêm một bé gái là Kaitlin. Tôi mong được ở nhà với Kaitlin và cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban phép lạ để Bill có công ăn việc làm lương bổng đàng hoàng. Nhưng phép lạ chẳng thấy đâu hết. Tôi bắt giận dữ khi cho rằng Đức Chúa Trời đối xử không đẹp với tôi, và tôi nhớ ngày kia tôi than vản với Ngài về việc phải đi làm trở lại. Một lúc sau, tôi lấy quyển Kinh Thánh xem một đoạn, và Chúa có một câu Kinh Thánh dành cho tôi, Giêrêmi 10.23: ‘Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước của mình’.

Sau đó một thời gian ngắn, mẹ chồng tôi tình nguyện đến nhà tôi mỗi ngày và trông chừng lũ trẻ. Tôi trả công chăm sóc trẻ cho bà, điều nầy cũng trợ giúp cho cha mẹ chồng tôi về tiền bạc khi họ đã nghỉ hưu rồi. Như bạn thấy đấy, Đức Chúa Trời đã thành tín tiếp trợ cho chúng tôi.

                Sự làm chứng của tôi sẽ bất xứng nếu tôi không nói cho bạn biết tôi còn có hai đứa con khác nữa mà chính Đức Chúa Trời đã chăm sóc chúng. Trước khi trở thành Cơ đốc nhân, tôi có hai lần sẫy thai. Tôi đã không lo sợ về vấn đề này, cho đến một ngày nọ khi Đức Chúa Trời phán với lòng tôi rằng: ‘Tại sao con cứ giữ cảm xúc tội lỗi về sự  nầy? Ta hiện đang chăm sóc mấy đứa con của con đây’. Nếu Đức Chúa Trời không tỏ ra lẽ thật ấy cho tôi, tôi sẽ chẳng có sự bình an trong đời sống của mình đâu.

                Giờ đây tôi biết Chúa đang chăm sóc bầy con của tôi, hết thảy những đứa con của tôi”.

 

                “Hỡi Đức Giêhôva, tôi biết đường của loài người chẳng do nơi họ, người ta đi, chẳng có quyền dẫn đưa bước của mình” (Giêrêmi 10.23)

 

                                                                   19 Tháng 5

KHÔNG PHÂN TÂM

                Theo I Côrinhtô 7 có nhiều lợi ích khi sống độc thân, vì: “Ai không cưới vợ thì chăm lo việc Chúa – tìm phương cho Chúa đẹp lòng… hầu cho không phân tâm”. Nhà truyền đạo John Berridge cung hiến một minh chứng sống động.

John sinh sống ở Luân đôn hay Edinburgh, ông rất nổi tiếng vì sự giảng dạy của ông rất có năng quyền, nhưng Chúa lại đặt ông trong những làng mạc xa xôi hẻo lánh, ở đấy ông trở thành: “Whitefield của vùng thôn dã”. John vốn kỳ quặc và lập dị, nhưng những tánh kỳ cục của ông đã thêm cho ông sức lôi cuốn và năng lực trong chức vụ. Ông dã giảng đạo cho nhiều đoàn dân đông ở vùng nông thôn nước Anh, trong một năm thôi đã dẫn đưa hơn 4000 người về cho Đấng Christ – và ông đã truyền giảng không ngừng nghỉ trong 30 năm trời.

Ông khẳng định ông có thể phục sự tốt nhất mà không lập gia đình, và ông lại lo rằng hai anh em nhà Wesley và George Whitefield không thể sống như thế được. George Whitefield đã cưới một phụ nữ, và ông đã sống với bà nầy không hơn một tuần lễ, bà qua đời vào năm 1768. và John Wesley đáng thương kia đã có nhiều khốn khổ về hôn nhân. Viết cho Công Nương Huntingdon – người bảo trợ cho các nhà truyền đạo người Anh, Berridge lưu ý: “Không một cái bẫy nào tác hại cho nhà truyền đạo vùng nông thôn cho bằng việc kết hôn; và việc ấy sẽ đẩy ông lọt vào góc kẹt của bất cứ hàng rào nào. Cuộc hôn nhân hoàn toàn ngăn trở Charles [Wesley] đáng thương kia, và làm suy giảm cả John [Wesley] và George [Whitefield], nếu Chúa khôn ngoan Ngài sẽ giàu ơn tách họ ra khỏi sự ràng buộc nầy, George thân mến có lại sự tự do của mình và ông sẽ thoát hẳn nếu ông không bị những cơn lo sốt vó khác lôi kéo. Cách đây tám hay chín năm, luôn bị xâu xé rất tội nghiệp với việc trông nhà, tôi nghĩ đến việc tìm kiếm cho mình một Jezebel. Song điều nầy cần phải cầu hỏi ý Chúa. Cho nên, khi quỳ gối trước bàn thờ, với quyển Kinh Thánh trong tay, tôi cầu xin Chúa dẫn dắt tôi”.

Chúa đã ban cho John Berridge Giêrêmi 16.2: “Ngươi chớ cưới vợ, chớ có con trai con gái trong chốn nầy…”. Vì thế ông đã bỏ đi mọi ý định về việc lập gia đình và đã dâng mình tìm phương cho Chúa đẹp lòng mà “chẳng phân tâm”.

 

                “Ngươi chớ cưới vợ, chớ có con trai con gái trong chốn nầy” (Giêrêmi 16.2)

 

                                                                   20 Tháng 5

LÁ XANH

                Khoảng một ngàn nhân sự cùng với Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa đã bị kẹt lại bởi Cuộc Cách Mạng của người Cộng sản tại Trung quốc, và từng vị giáo sĩ đã ở trong nguy hiểm chết chóc. Một trong số họ là Isobel Kuln: “đã thoát ra khỏi đồn lũy kiên cố của Trung quốc” vào năm 1950. Từ nơi trú ngụ mới của bà ở Thái lan, bà lo sợ chờ đợi tin tức của nhiều người khác. Một sáng nọ trong buổi nhóm cầu nguyện, một nhân sự đã cầu thay cho những người còn ở lại phía sau: “Ôi lạy Chúa, xin làm ơn giữ cho lá của họ cứ xanh tươi mãi trong cơn hạn hán!”. Tâm trí của Isobel bay bổng tới Giêrêmi 17.8 và bà cảm thấy Đức Chúa Trời đang sử dụng câu Kinh Thánh nầy để tái bảo đảm cho các bạn đồng sự của bà. “Đúng như thế! Có một Nguồn trưởng dưỡng kín nhiệm mắt thường không sao nhìn thấy được, mà người Cộng sản không thể tìm gặp và từ đó họ không thể cắt đứt được Nguồn ấy”.

Hết người nầy đến người khác, hết thảy các vị giáo sĩ trừ ra hai người đã thoát ra khỏi lục địa; và rồi…

                “Hôm ấy là ngày 23 tháng Bảy năm 1953, khi chúng tôi nhận được tin chúng tôi đã có mặt tại Base Camp, Chiengmai, Bắc Thái lan và trong những xứ nóng nực ấy nhà cửa được xây rộng thoáng hơn nhà riêng. Vì vậy, giọng nói của John sang sảng qua từng phòng: ‘Tấn sĩ Clarke và Arthur Mathews đã THOÁT RỒI! Hiện an ninh tại Hong kong!’. Ông vừa nhận được bản điện tín. Tôi đang bước xuống bếp, nhưng tôi đã dừng lại và hô to lên: ‘Ngợi khen Đức Chúa Trời!’ và từ mỗi căn phòng trong nhà tôi nghe nhiều tiếng khen ngợi đó vang lên. Thật là tự nhiên, hết thảy chúng tôi đều cất cao giọng của mình mà hát lên: ‘Ngợi khen Đức Chúa Trời, mọi ơn phước tràn tuôn ra từ Ngài’. Ấy không phải chỉ có mấy người anh em nầy, họ đã cố gắng quá nhiều rồi, người Cộng sản đã giam giữ họ ở góc xa nhất của miền Bắc Trung quốc, hiện nay đã được tự do. Ấy chính họ là người cuối cùng của Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa đã được giải cứu. Giờ đây chúng tôi có thể nói: ‘Chúng tôi – nhóm Truyền Giáo Tin Lành lớn nhất tại Trung quốc, hết thảy đã được đưa qua cơn thử thách Biển Đỏ nầy, mà chẳng có người nào tuận đạo’”.

Isobel Kuln về sau đã viết câu chuyện cảm động kể lại về sự thoát thân của các vị giáo sĩ sau cùng của Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa, đề tựa cho quyển sách của bà là Lá Xanh Trong Cơn Hạn Hán.

 

                “Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt” (Giêrêmi 17.8)

 

                                                                   21 Tháng 5

CÂU KINH THÁNH DÀNH CHO BILLY FRANK

Trước khi qua đời, Morrow Coffey Graham đã viết một quyển sách nhỏ ghi lại mọi kinh nghiệm của bà trong vai trò làm mẹ của nhân vật sẽ rao giảng tin lành cho nhiều người hơn bất kỳ một nhà truyền đạo nào khác trong lịch sử.

“Chồng tôi và tôi đã dựng lên một bàn thờ cho gia đình ngày chúng tôi cưới nhau, và chúng tôi mang bàn thờ ấy theo luôn. Trong phòng ăn sáng tôi luôn luôn giữ một lịch đọc Kinh Thánh với một câu gốc cho mỗi ngày. Buổi sáng nọ chúng tôi đọc Kinh Thánh rồi cầu nguyện với Chúa. Khi chúng tôi nhóm lại tại bàn ăn sáng, mỗi người đều cúi đầu và khoanh tay lại giống như chồng tôi cùng cầu xin ơn phước. Thường thì tôi lo dở đồ ăn trưa cho bầy trẻ đi học, tôi nghe chồng tôi đang trò chuyện với chúng. Ông đã giúp chúng học thuộc lòng hàng trăm câu Kinh Thánh.

                Tôi mong cho mau đến buổi nhóm tối của gia đình. Mọi người nhóm lại trong căn phòng của gia đình. Chúng tôi đã nhóm lại đúng lúc chén đĩa ăn tối đã được dọn dẹp hết rồi. Đây là việc quan trọng nhất trong đời sống của chúng tôi, thì giờ nầy dành để dọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Tôi biết hôm nay Bill gợi nhớ lại khoảng thời gian được dạy dỗ đó là phần quan trọng nhất trong đời sống của Billy, đã giúp Billy dầm thấm với Kinh Thánh.

                Từ khi con cái của tôi đã dựng vợ gả chồng và đã đi theo mọi hướng riêng của chúng, và từ khi chồng tôi đã qua đời, tôi thấy mình có nhiều thì giờ dành cho sự cầu nguyện. Tôi cầu nguyện không thôi cho Billy Frank”.

Trong những ngày đầu chức vụ của Billy, mẹ ông đã cùng đi với ông trên một chuyến truyền giáo. Nhìn thấy ông bận rộn với kế hoạch, với những đám đông người, và những căng thẳng mà ông gặp phải, bà cũng đã  phát lo. Nhưng Chúa đã ban cho bà Giêrêmi 23.23, và câu Kinh Thánh nầy đã trở thành câu gốc trong khi cầu thay cho ông: “Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?”

                “Tôi biết rõ Đức Chúa Trời có một cánh tay thật dài; Ngài hoàn toàn đáng tin cậy. Tôi luôn luôn có lòng tin cậy lớn lao nơi sự quan phòng của Chúa trên Billy, và vì cớ đó tôi chẳng sợ hãi về sự sống của Billy”.

 

                “Đức Giêhôva phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?” (Giêrêmi 23.23)

 

                                                                   22 Tháng 5

MÙA BÓNG CUỐI CÙNG

Vận động viên bóng chày chuyên nghiệp đã bước vào mùa bóng năm 1997…

  • Người già dặn nhất trở thành cầu thủ chạy biên và là cầu thủ tác động?
  • Đứng đầu trong các bộ ba giữa vòng những cầu thủ linh lợi?
  • Đứng hàng thứ tư trong việc tranh bóng? Hàng thứ bảy trong việc chạy?
  • Có bộ giò nhỏ nhất trong đội?

Câu trả lời: Brett Butler đội Dodger Los Angeles. Nhưng lý trí anh đã đặt chỗ khác trong năm đó, vì cảm giác ngứa trong cổ họng mà anh đã dẫn tới sự khám phá tế bào ung thư vảy biểu bì – chứng ung thư. Tin tức ấy đã làm cho Brett và gia đình anh choáng váng như một cơn động đất vậy, nhưng anh nói với báo chí “Đức tin tôi đặt nơi Đấng Christ chính là sức lực tôi, chớ không phải môn bóng chày đâu”.

“Tôi đã đọc đi đọc lại một câu mà Vince Nauss – đội trưởng đội bóng chày Chapel đã gửi cho tôi: ‘Vì tôi biết mọi chương trình mà tôi dành cho anh… các chương trình làm cho anh sung mãn chớ không phải làm hại anh, mọi chương trình dành cho anh niềm hy vọng và một tương lai’. Sau cùng tôi đã đạt tới chỗ bình an. ‘Lạy Chúa, xin ban cho con sức lực để chịu đựng chứng bệnh nầy, dù là bệnh gì, hoặc chết hay sống’. Tôi muốn Đức Chúa Trời được tôn vinh”.

Một thời gian ngắn sau, Brett cần giải phẩu để cắt bỏ những hạch bạch huyết, chỗ mà ung thư có thể lan tới, rồi những điều trị bằng phóng xạ khởi sự. Khi ấy Chúa cho phép Brett trở lại với đội Dodger để chơi mấy trận trong năm 1977, gồm một trận nhà nghề trong đó anh đạt tới 5/5, điểm trung bình đập bóng lên tới .311 và tỉ lệ chụp bóng của anh là .446, đỉnh cao trong Liên Đoàn Quốc Gia cho cầu thủ chuyên đập bóng.

“Tôi cảm tạ vì một lý do sau cùng, Đức Chúa Trời đã cho phép thành tích ấy xảy ra. Tương lai tôi nằm trong tay Đức Chúa Trời. Ngài biết rõ nhất. Mọi sự xảy ra cho tôi đang xảy ra vì một lý do. Nghề của tôi là phải quyết định lý do ấy mà phải biết chắc Đức Chúa Trời được tôn vinh hiển”.

 

                “Đức Giêhôva phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng mình” (Giêrêmi 29.11)

 

                                                                   23 Tháng 5

…KẺ MÀ TÔI GHÉT CAY ĐẮNG

                Sundar Singh ra đời trong một gia đình sùng bái Ấn độ giáo ở miền Bắc Ấn độ vào tháng 9 năm 1889, là con út của một người Sikh giàu có. Khi còn là một thiếu niên, cậu ghi danh vào một trường của Hội Truyền Giáo được bảo trợ bởi những tín đồ hệ phái Trưởng Lão, nhưng khi học tập cậu đã phải học qua Kinh Thánh, cậu đã nổi giận dữ. Cậu đã xé nhiều trang giấy từ quyển Kinh Thánh của mình rồi cầm đầu một số học sinh khác trong một cuộc nổi loạn công khai. Nhưng khi công kích Kinh Thánh, Sundar thấy Kinh Thánh kích thích tánh tò mò của mình. Cậu bắt đầu đọc Kinh Thánh và lập tức bị Đấng Cứu Thế lôi cuốn. Cậu hãy còn chống đối sứ điệp Kinh Thánh rất cay đắng. Cậu thôi không đến trường của hội truyền giáo học nữa, và công khai đốt quyển Kinh Thánh Tân ước. Cậu từng bỏ ra cả giờ đồng hồ kỳ cọ mình do bóng của một giáo sĩ ngã đè ngang qua thân thể của cậu.

Tuy nhiên, cậu vẫn còn bị Kinh Thánh cuốn hút, và gần như chống lại ý chí của mình, cậu kín đáo mở Kinh Thánh ra để đọc sứ điệp của Kinh Thánh. Ngày nọ cậu mở ra ở Giêrêmi 29.13 và bị ray rứt bởi câu nói sau đây: “Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng”. Chiến trận bên trong cậu ta nổ ra căng thẳng lắm.

“Tôi thức dậy lúc 3 giờ sáng, quyết định tìm kiếm sự bình an hay kết thúc cuộc sống mình bằng cách nằm dài ngang qua đường rầy xe lửa trước khi đoàn tàu chạy qua gần nhà lúc 5 giờ sáng. Sau khi tắm xong, tôi để một tiếng rưỡi đồng hồ cầu nguyện. Tôi cứ cầu khẩn: ‘Ôi Đức Chúa Trời ôi, nếu có một Đức Chúa Trời, xin tỏ chính mình Ngài ra cho con…’. Tôi hy vọng nhìn thấy Krishna hay Đức Phật. Ngay lúc ấy tôi nhìn thấy một quả cầu sáng ở trong phòng và trong ánh sáng tỏ ra ở đó, không phải các nhân vật tôi mong nhìn thấy, mà là Đấng Christ hằng sống, kẻ mà tôi ghét cay ghét đắng. Ngài đã tỏ cho tôi thấy hai bàn tay của Ngài và nói: ‘Tại sao ngươi bắt bớ Ta?’”.

Ngày đó Sundar Singh đã vòng tay ôm lấy Cơ đốc giáo. Cậu tiếp tục trở thành một nhà truyền đạo năng nổ đã kinh nghiệm hết chuyến phiêu lưu nầy đến chuyến phiêu lưu khác trong Đấng Christ.

 

                “Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng” (Giêrêmi 29.13)

 

                                                                   24 Tháng 5

“TA SẼ” CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

                Cuộc chiếm đóng Trung hoa của người Nhật trong Đệ II Thế Chiến thật rất tàn bạo, không những cho người Trung hoa, mà còn cho các vị giáo sĩ nữa. John và Edith Bell của Canada đã hầu việc Chúa trong các khu vực phía Tây Trung quốc. Ba đứa con của họ ở xa tít Chefoo đã bị bắt và bị bỏ tù trong trại tập trung Weihsien.

Ngày nọ có người đến ngưỡng cửa nhà Bell cho hay mấy đứa con đã được chăm sóc tử tế với đồ ăn và quần áo. Một thời gian sau, người ấy lại đến nữa. Lần nầy người ấy nói: “Thưa bà Bell, tôi có mấy tin rất là buồn. Hết thảy các tù nhân trong trại Weihsien đã bị thủ tiêu”.

Lý trí của Edith lảo đảo ngay, và bà tìm cách ngăn nổi hoang mang lại. Thình lình bà nhớ tới Giêrêmi 31.16-17, hai câu Kinh Thánh nầy Chúa đã ban cho bà ngay sau khi hay tin con cái của bà đã bị chôn sống: “Hãy nín tiếng ngươi… mắt ngươi đừng sa lụy; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù…Đức Giê-hô-va phán: … con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình”.

Bà mau chóng tìm hai câu Kinh Thánh trong bản Kinh Thánh tiếng Hoa của mình rồi bảo người kia đọc: “Thưa bác sĩ, ông hãy đọc mấy câu nầy đi”. Ông ta đọc lấy, rồi nổi giận ném quyển Kinh Thánh xuống đất và dậm chân bước ra khỏi ngôi nhà. Ông ta là một kẻ lường lọc, tìm cách huỷ diệt đạo đức của Cơ đốc nhân bằng những lời dối trá.

Một thời gian sau đó, John và Edith đã bỏ trốn qua Ấn độ. Hiển nhiên là họ đã lấy vé sang Mỹ mà chẳng biết gì về tình trạng của con cái họ. Khi họ đến tại New York, một nhân sự Hội Hồng Thập Tự đến chào họ với các tin tức cho biết con cái họ đã được phóng thích và đã về lại Canada trước cả họ nữa.

Edith nói: “Tôi đã đắc thắng hoàn toàn. Mấy đứa con của tôi không những đã về từ đất của kẻ thù, chúng đã trở về bờ cõi mình đúng như câu Kinh Thánh trong sách Giêrêmi đã hứa”.

Gia đình Bell đi chuyến xe lửa kế đó đến Ontario, ở đấy: “chúng tôi bước xuống và ngạc nhiên hết sức mấy đứa con tôi đều đến đón. Thật là vui khôn tả xiết và đầy sự vinh hiển. Những cái ‘Ta sẽ’ của Đức Chúa Trời không hề thất bại, và chúng tôi biết rõ quả thực là như vậy”.

 

                “Đức Giêhôva phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giêhôva phán vậy. Đức Giêhôva phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình” (Giêrêmi 31.16-17).

 

                                                                   25 Tháng 5

BÀI GIẢNG 70 TUỔI

                Charles E. Fuller trở thành một trong các nhà truyền đạo đầu tiên trên đài phát thanh của cả nước, ông đến giảng ở Thính Phòng của thành phố Long Beach mỗi tuần vào “Giờ Phục Hưng Old Fashioned” của ông. Ông cũng giúp thành lập Thần Học Viện Fuller vào năm 1947. Giêrêmi 33.3 trở thành câu Kinh Thánh ông ưa thích nhất qua cái chạm của nó trên đời sống ông – và trên đời sống của vợ ông.

Năm 1932, Charles và Grace Fuller bị căng thẳng với áp lực. Đứa con trai nhỏ của họ gần chết do bị viêm phổi. Cuộc Suy Thoái Kinh Tế đã quét sạch mọi chi viện về tài chánh cho họ, và Charles trong tuyệt vọng lo chạy vạy để không bị mắc nợ. Ông buộc phải bán đi vườn cam rất có giá trị của mình và tiêu phí hết cơ nghiệp của vợ để chi trả hết các hoá đơn của họ. Grace phải chịu giải phẫu, và Charles buộc phải rời khỏi chức vụ Mục sư Chủ toạ. Một trận động đất nghiệt ngã đã đánh sập ngôi nhà của họ ở Nam California, và nhiều nỗi khốn khó tài chánh của họ tăng thêm lên.

Grace cảm thấy không thể chịu nổi áp lực căng thẳng nữa, và bà đã kêu la với Đức Chúa Trời xin cứu giúp. Bước vào buổi nghiên cứu với chồng, bà mở quyển sách ghi các bài giảng của Spurgeon, và thấy một sứ điệp ông đã giảng 70 năm trước đó từ Giêrêmi 33.3.

“Khi tôi kêu cầu Đức Chúa Trời trong tuyệt vọng vào tháng Tám năm 1933. Ngài đã trả lời tôi bằng cách đưa tôi thẳng tới kệ sách trên đó có quyển sách và bài giảng nầy. Quyển sách đã đem lại nhiều yên ủi và giúp tôi tin cậy nơi Đức Chúa Trời và chờ đợi Ngài mở ra các chương trình dành cho chúng tôi”.

Sau đó bà nói rằng Đức Chúa Trời đã cất bỏ gánh nặng của bà theo cung cách rất đáng nhớ khi Charles trở về từ một ngày khó nhọc cùng với mấy vị luật sư, họ đang tìm cách chống đỡ tình trạng phá sản, bà đã nói với ông: “Đừng quan tâm tới những điều trông đen đúa như hiện nay. Đức Chúa Trời đã bảo đảm với em rằng Ngài có những việc lớn và khó đang dành sẵn cho chúng ta trong tương lai – những việc mà hiện nay chúng ta không thể tưởng tượng ra được”.

Khi thời gian trôi qua, Charles và Grace Fuller đã quay nhìn lại những giờ phút ấy thấy mọi khởi đầu mờ nhạt của chức vụ truyền giáo và giáo dục trên đài phát thanh, những điều rất khó tin. Rồi từ đó trở đi, Charles hay viết ra câu nầy dưới chữ ký của mình.

 

                “Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết” (Giêrêmi 33.3)

 

                                                                   26 Tháng 5

TÔI RAO NHƯ SẤM SÉT

Howell Harris trở thành bậc thầy xứ Wales với một tánh ưa thích đổ xí ngầu, làm tình, uống bia, và bề ngoài của chính ông. Ông là trọng tâm của cái vòng giải trí của mình. Nhưng ở tuổi 21, Harris đã nghe một bài giảng Phục Sinh trong đó vị Mục sư công bố rằng người nào ở ngoài Đấng Christ không xứng đáng để sống và để chết nữa. Lời lẽ ấy đụng thẳng vào ông giống như một luồng gió thổi vào hệ thống mặt trời và không bao lâu dẫn tới sự ông trở lại đạo. Ngay lập tức Harris khởi sự chia sẻ đức tin của ông. “Tôi không thể gặp gỡ hay cùng đi với ai, giàu hay nghèo, già hay trẻ, mà không nói với họ về linh hồn họ”.

Ông liền bắt đầu rao giảng, và các bài giảng của ông rất dài, dũng cảm, mạnh mẽ, đôi khi dài khoảng bốn hoặc năm tiếng đồng hồ. Một thính giả nói: “Ông thường nói về địa ngục, giống như ông đã sống ở đó rồi vậy”.

Harris từng xưng nhận rằng Đức Chúa Trời đã làm đầy dẫy môi miệng ông với: “những điều khủng khiếp và đe doạ. Tôi đã được ban cho một sứ mệnh để làm cho hạng tội nhân tan vỡ và ray rứt theo một tư thế đáng sợ nhất. Tôi rao như sấm sét vậy”.

Khi ông đi giảng đạo khắp xứ, ông thường sử dụng Giêrêmi 49.10: “Nhưng ta đã bóc lột hết Ê-sau, làm cho chỗ kín nó lõa lồ ra, không thể giấu mình được”. Harris đã cảnh cáo dân sự chẳng có một chỗ nào trốn khỏi được con mắt soi rọi của Đức Chúa Trời.

Đây là sứ điệp mà xứ Wales đã cần đến, vì cả xứ đã bị rò rỉ trong tội lỗi và trong sự thiếu hiểu biết. Dưới ơn giảng đạo của Harris, hàng trăm người đã trở lại đạo, kể cả hạng tội nhân khét tiếng nữa.

Harris đã làm cho cả Anh quốc phải bị sốc qua các bài giảng của ông nơi công cộng và qua đài phát thanh. Giới tăng lữ đã cự tuyệt sự đổi mới nầy; nhưng một người đã trông xa hiểu rộng, bị khuấy đảo thật sâu thẳm – ấy là George Whitefield.

Chính Harris là người đã cung ứng cho Whitefield mặc khải về sự giảng đạo công cộng, và chính Harris là người đã dạy cho ông làm thế nào để rao giảng như thế. Chính Harris là người đặt cả xứ Wales lên trên ngọn lửa, song chính Whitefield mới là người trở thành nhà truyền đạo giảng trên đài phát thanh tài ba nhất trong thế giới nói tiếng Anh.

 

                “Nhưng ta đã bóc lột hết Êsau, làm cho chỗ kín nó lõa lồ ra, không thể giấu mình được. Con cháu, anh em, kẻ lân cận nó đều bị diệt, và chính mình nó không con” (Giêrêmi 49.10)

 

                                                                   27 Tháng 5

NỖI LO CỦA CHÚNG TA

Thật là vui mừng khi đọc đi đọc lại quyển Thiên Lộ Lịch Trình. John Bunyan đã viết quyển sách nầy, ông là thợ hàn (chuyên hàn nồi, chảo), theo Thanh giáo ở Bedford, Anh quốc. Khi ông trở lại đạo rồi, Bunyan đến nhóm lại ở Hội thánh Báptít gần nhà; nhưng sau khi Charles II phục hồi lại ngôi vị ở Anh quốc vào 1660, John bị bắt vì giảng đạo mà không xin phép của Giáo hội đương thời. Ông bị ngồi tù ở Bedford hơn 12 năm, chịu khổ, giảng đạo, và viết sách khi ông có dịp. Gia đình ông lúc bấy giờ cũng đương nhiều gánh nặng.

Trong quyển hồi ký của ông, Bunyan viết: “Tôi thấy mình bất an, chia tay với vợ tôi và mấy đứa con đáng thương ở thời điểm nầy giống như thịt đã bị rút ra khỏi xương, và không những vì tôi rất thương yêu họ, mà vì tôi thường suy nghĩ đến nhiều sự khó nhọc, đau khổ, và thiếu thốn mà gia đình nghèo khốn của tôi sẽ gặp phải, đặc biệt là đứa con bị mù của tôi, tôi thường nghĩ tới nó hơn bao nhiêu điều khác. Ôi khi nghĩ tới sự khó nhọc mà đứa con bị mù của tôi phải gánh chịu đã làm cho lòng tôi phải tan nát ra từng mảnh vụn. Đứa con đáng thương ơi, bố nghĩ con có thấy đau khổ là phần của con trong đời nầy không? Con phải đi ăn xin, chịu đói khát, lạnh lẽo, trần truồng, và cả ngàn tai vạ, dù hiện nay bố không thể chịu nổi cơn gió thổi nhắm vào con.

                Nhưng cái điều nâng đỡ tôi rất nhiều trong cơn thử thách nầy là đọc câu Kinh Thánh nầy: ‘Hãy bỏ những kẻ mồ côi của ngươi; chính ta sẽ giữ mạng sống chúng nó; các kẻ góa bụa của ngươi khá trông cậy ta!’. Tôi đã có sự trông cậy nầy, là nếu tôi bây giờ liều phó thác mọi sự cho Đức Chúa Trời, tôi giao phó cho Đức Chúa Trời chăm sóc mọi lo toan của tôi”.

Bunyan vốn biết rằng mọi “lo toan” của ông sẽ được phục vụ “nếu để lại dưới chơn của Đức Chúa Trời, khi tôi đứng cho danh Ngài, mọi điều hiện có ấy. Đây là sự trông cậy, và là những điều khích lệ cho xác thịt tôi”.

 

                “Hãy bỏ những kẻ mồ côi của ngươi; chính ta sẽ giữ mạng sống chúng nó; các kẻ góa bụa của ngươi khá trông cậy ta!” (Giêrêmi 49.11)

 

                                                                   28 Tháng 5

SỰ THÀNH TÍN NGÀI LÀ LỚN LẮM

                Khi tôi còn đi học, tôi hay ngồi bất động trong các buổi thờ phượng ở nhà thờ; nhưng vì một lý do nào đó tôi luôn luôn bật khóc khi chúng tôi hát: “Thành tín Chúa rất lớn thay”, bài thánh ca dựa theo Ca thương 3. Giờ đây tôi xem đó là một phong vũ biểu cho đời sống thuộc linh của tôi. Dù mắt tôi có đẫm lệ hay không khi hát bài thánh ca nầy. Bài hát nầy do Thomas Chisholm, ông chào đời giống như Tổng Thống Lincoln trong một khoang lái tàu ở Kentucky. Khi trưởng thành, ông đã trở lại đạo dưới sự hướng dẫn của Mục sư H. C. Morrison. Sức khoẻ của Chisholm không ổn định, và ông luôn thay đổi giữa những lần vật vã của bệnh tật và đi làm kiếm tiền, ông đã làm mọi thứ từ báo chí, bảo hiểm kể cả công việc truyền giáo nữa. Qua mọi thăng trầm, ông đã khám phá ra những ơn phước mới đến từ Đức Chúa Trời mỗi buổi sáng. Ca thương 3 trở nên quý báu đối với ông, và ông đã viết bài thánh ca nầy sau 30 năm hầu việc Đấng Christ. Bài hát nầy chẳng ai biết mãi cho tới khi nó được ưa thích khắp thế giới do George Beverly Shea và ca đoàn hát lên ở Các chiến dịch truyền giảng Tin lành của Billy Graham.

Ở chiến dịch giảng tin lành Harringway của Graham vào năm 1954, Wilber Konkel đã nghe hát bài “Sự thành tín Ngài rất lớn thay” lần đầu tiên, và một dòng ký ức tuôn tràn ra qua lý trí ông. Ông nhớ lại những đêm dài tăm tối của Đệ II Thế Chiến. Khi Luân đôn gần như bị đánh bom tàn phá rất nặng nề, Konkel viết: “Mỗi đêm các phi cơ kẻ thù bay đến, chúng tôi chỉ biết phó mình vào sự chăm sóc của Ngài. Tôi đã trưng dẫn [câu Kinh Thánh nầy] cho chính mình tôi. Tôi đã sử dụng nó trong những lời cầu nguyện của mình. Đấy là những ngày tháng tối tăm nhất. Ở các thời điểm ấy mọi người dường như sống trong vô vọng. Đó là những giây phút tối tăm nhất mà Đức Chúa Trời đã minh chứng sự thành tín của Ngài cho tôi. Chúng tôi kể như mình gần chết đến nơi. Tuy nhiên chính sự thương xót của Chúa mà chúng tôi không bị mòn mỏi, vì lòng thương xót Ngài không hề vơi. Chúng luôn luôn mới mỗi buổi sáng”. Có lẽ chúng ta hết thảy đều đổ ra một giọt nuớc mắt cảm tạ bất cứ lúc nào chúng ta cất tiếng hát:

Thánh Chúa thành tín dường nào!

Thánh Chúa thành tín biết bao!

Ngày thêm tươi mới, lòng tôi cảm thấy ơn dào;

Điều tôi nhu yếu Chúa ban cho dư dật dường nào.

Lòng thành tín Chúa trên tôi rộng lớn làm sao!

 

                “Ấy là nhờ sự nhơn từ Đức Giêhôva mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm” (Ca thương 3.22-23)

 

                                                                   29 Tháng 5

CON MẮT CỦA NGƯỜI KHỐN CÙNG

                Lâm cảnh khốn cùng mới biết yêu mến người đồng cảnh ngộ; chúng ta thường đối diện khả quan hơn với những cơn thử thách khi chúng ta khám phá ra các nhân vật trong Kinh Thánh đều gặp gỡ các rối rắm tương tự. Vì thế Giêrêmi tác giả sách Ca thương đã có lời yên ủi Samuel Rutherford.

Rutherford là một Mục sư người Tô cách Lan ở thị trấn Anworth, ông đã bị nhà cầm quyền công kích vì không hoà hợp với Giáo hội đương thời. Bị định tội, ông bị tước chức vụ Mục sư chăn bầy của mình và bị trục xuất sang Aberdeen. Các bức thư ông gửi cho bầy chiên đều là các tác phẩm rất hay. Một trong các bức thư ấy đề ngày 13 tháng Bảy năm 1637:

“Hỡi các bạn yêu dấu trong Chúa, nguyện ân điển và sự bình an ở cùng các bạn. Đức Chúa Trời vốn biết rõ những ngày Sabát nặng nề và đau buồn mà tôi đã gặp phải kể từ khi tôi bị mất cây trượng chăn bầy của mình. Tôi thường nói, như Kinh Thánh đã chép: ‘Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim. Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi’. Còn đối với Đấng Christ, tôi chỉ có duy một điều vui mừng, là rao giảng Đấng Christ Chúa của tôi; và họ bằng mọi cách đã rứt điều đó ra khỏi tôi. Đối với tôi sự ấy giống như con mắt của người khốn cùng; họ đã móc con mắt đó, và dập tắt ngọn đèn của tôi. Nhưng mắt tôi chăm hướng về Chúa. Tôi biết tôi sẽ nhìn thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và sẽ không quên sự trông cậy tôi.

                Ôi nếu tôi có đủ giấy rộng bằng trời đất cộng lại, đại dương, sông suối của đất nầy làm mực, và có thể viết ra được tình yêu giá trị, nét uy nghi, sự ngọt ngào cùng những lời ngợi khen xứng đáng của Đấng Toàn Hảo nhu mì yêu dấu nhất của chúng ta! Và khi ấy các bạn sẽ đọc thấy và hiểu rõ mọi điều đó!

                Cho dù trời đất có được luyện thành vàng ròng đi nữa, nó sẽ chẳng xứng đáng với một phần ngàn tình yêu của Đấng Christ đối với một linh hồn, thậm chí đối với tôi, một tội nhân đáng thương… Hãy ghi nhớ mọi điều mà tôi đã rao giảng cho các bạn… Hãy nhớ đến tôi trong những lời cầu nguyện của các bạn với Đức Chúa Trời; tôi không hề quên được các bạn.

                Nguyện Ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ ở cùng các bạn hết thảy”.

                “Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim. Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi” (Ca thương 3.52-53)

 

                                                                   30 Tháng 5

BIG’UN

                Alvin York một người Tennesee nghèo có học, khuôn mặt màu đỏ hồng, dáng người lực lưỡng, bạn bè ông gọi ông là: “Big’Un”, và Alvin đã trở thành vị anh hùng tài ba nhất của Đệ I Thế Chiến. Vào ngày 26 tháng Chín năm 1918, ông cùng với đồng đội của mình đã bị quân Đức mai phục ở Rừng Argonne. Người bạn thân của ông đã bị bắn với nhiều loạt đạn đến nỗi bộ quân phục bị rách nát hết. Nhiều người khác ngã gục bên trái bên phải York, và những người Mỹ sống sót đã bị vây chặt. Đứng dậy trên chân của mình, York xung phong thẳng vào làn mưa đạn rồi khởi sự khai hoả. Khi ông hết đạn, ông liền rút khẩu súng lục của mình ra. Những làn mưa đạn và bazôka nổ quanh ông, nhưng York không chịu rút lui cho đến cuối cùng. Ông đã thổi tung 24 tổ súng máy, bắt 132 tù binh, và đơn thân độc mã giải cứu người của mình. Đó là : “chiến công hiển hách nhất của một chiến sĩ” trong Đệ I Thế Chiến.

Mỉa mai thay, York là một Cơ đốc nhân kỉnh kiền, trước đấy ông là người có khuynh hướng theo đòi chủ nghĩa hoà bình. Điều răn thứ sáu dường như rất rõ ràng đối với ông, và ông chẳng có ý muốn nhắm bắn vào một vật gì khác hơn là thỏ và sóc. Khi nguyện vọng của ông bị bác bỏ, York thấy việc nhập ngũ của mình đem lại nhiều rối rắm.

Thế nhưng trong quân đội, ông đã gặp Thiếu Tá George Edward Buxton. Một tối kia hai người hẹn gặp nhau rồi tranh cãi về Kinh Thánh. Khi York trưng dẫn Điều Răn Thứ Sáu, Buxton liền mở Luca 22.36 ra: “…ai không có gươm, hãy bán áo ngoài đi mà mua”. York trưng dẫn một phân đoạn nói về việc đưa luôn gò má bên kia, và Buxton dẫn chứng việc Đấng Christ đánh đuổi những kẻ đổi bạc. York nói: “Phước cho người làm sự hoà thuận”, và Buxton đáp: “Hãy trả cho Sêsa những gì của Sêsa”.

Sau cùng, Buxton mở Êxêchiên 33 rồi đọc thể nào những người canh giữ dân Ysơraên đã trổi kèn của họ lên và bảo vệ thành phố của họ. Ánh mắt của Buxton gặp gỡ ánh mắt của York, rồi từ đó, York về sau đã viết: “Tôi biết tôi phải nhập ngũ. Tôi biết tôi sẽ được bảo hộ khỏi mọi nguy khốn, và tôi tin nơi Ngài, Ngài sẽ không để cho một cọng tóc nào trên đầu tôi phải bị hại đến”.

 

                “Nầy, hỡi con người, ta đã lập ngươi được làm kẻ canh giữ cho nhà Ysơraên” (Êxêchiên 33.7)

 

                                                                   31 Tháng 5

BÀI GIẢNG HAY NHẤT

                Giữa vòng những người tín đồ hệ phái Trưởng Lão Tô cách Lan – “những người giao ước” – là John Livingstone, ra đời vào năm 1603, con trai của một vị Mục sư. John đã vào đại học với ý định trở thành một bác sĩ, song ông thấy bối rối về sự kêu gọi của đời sống mình và giải quyết bằng cách để ra một ngày dành cho cầu nguyện: “Vào ngày bổ nhiệm, ông lui vào rừng Cleghorn, ở đó, sau nhiều trạng thái rối rắm trong linh hồn, ông đã quyết định vào lúc sau cùng: phải rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ”.

Đến ngày 2 tháng Hai năm 1625, ông đã giảng bài giảng đầu tiên ngay chính toà giảng của cha mình. Sau đó ông đã rao giảng rất đều đặn. Trong một thời gian ngắn, Livingstone đã viết lại hết các bài giảng, đọc cho dân sự nghe từ một bản thảo viết tay. Nhưng ngày kia khi ông đang rao giảng, ông phát hiện thấy có mấy người bạn đã nghe rồi bài giảng mà ông định đưa ra. Ông mau chóng chọn một câu gốc mới và ghi vội một số điểm chú thích. Ông khám phá ra “nhiều sự nâng đỡ và dạt dào tình cảm trong lòng hơn trước đó; khiến cho ông không còn viết lại bất cứ bài giảng nào của ông, trừ phi các điểm chú thích ngắn gọn để hổ trợ cho bộ nhớ của mình”.

Bài giảng hay nhất mà ông đã rao giảng vào ngày thứ Hai 21 tháng Sáu năm 1630. Đêm trước đó, ông cùng với các bạn đồng sự của mình đã dâng toàn bộ buổi tối cho sự cầu nguyện. Bấy giờ Livingstone thấy yếu đuối và lo lắng khi ông bước lên toà giảng, nhưng tập trung hết sức lực, ông đọc câu gốc Êxêchiên 36.25-26.

“Tâm trạng ông lúc bấy giờ rất căng thẳng, bởi sự dốc đổ của Đức Thánh Linh từ trên cao, một sự thay đổi có thể phân biệt được phủ lấy trên 500 khán thính giả, họ gặp được sự biến đổi, hoặc một sự khẳng định đáng nhớ, từ ngày đó trở đi”.

Đó là sự nổi bật của chức vụ ông, nhưng đấy chưa phải là hết đâu. Ông cứ tiếp tục giảng đạo ở xứ Tô cách Lan rồi qua tới xứ Hà lan. Ở đây ông hầu việc Chúa trong tù cho tới lúc ông được 78 tuổi.

 

                “Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt” (Êxêchiên 36.25-26)

 

***

 

Tags: #ThuVienOnline#TuCauKinhThanhNay
Previous Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Tư

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Sáu

Admin

Admin

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Sáu

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In