1 Tháng 6
SỰ GIẢI CỨU CAO CẢ ĐẾN
William Carvosso không có tài năng gì nhiều, không học vấn, và có rất ít tiền bạc. Ông không thể đọc hay viết. Ông như con người tầm thường nhất của loài người, và ít người mong ông làm gì được nhiều cho chính bản thân mình. Ông không làm gì được cả.
Ông đã làm thật nhiều cho Đấng Christ.
Carvosso trở lại đạo lúc 21 tuổi từ một: “đời sống tội lỗi” và, lớn lên trong Chúa, ông mong muốn có được nhiều quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống của ông.
Điều tôi mong muốn hiện nay là “sự nên thánh bên trong”, và tôi đã cầu nguyện và tìm cầu Kinh Thánh vì điều nầy. Giữa vòng những lời hứa mà tôi tìm gặp trong Kinh Thánh, lý trí tôi đặc biệt hướng vào Êxêchiên 36.25-27: “… Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo”. Đây là lời hứa quý giá và cao trọng của Đức Giêhôva đời đời và tôi đã nắm chặt lời hứa đấy, quyết định không chịu ngưng tìm cầu sự ân ban cho mình; vì tôi đã nhìn thấy rõ ràng ý chỉ của Đức Chúa Trời là sự nên thánh của tôi.
Cho tới một tối kia, trong khi chuẩn bị nhóm cầu nguyện, sự giải cứu cao cả đã đến. Tôi bắt đầu luyện tập đức tin bằng cách tin: “Tôi sẽ có phước ngay bây giờ”. Đúng giây phút ấy, một ảnh hưởng từ trời đến đầy dẫy trong căn phòng của tôi; và không bao lâu sau đó tôi đã thốt ra hay nói ra những lời lẽ tận đáy lòng mình: “Tôi sẽ có phước ngay bây giờ”, hơn là ngọn lửa luyện lọc: “xuyên thấu tấm lòng tôi – soi sáng linh hồn tôi” – đã gieo rắc sự sống của nó qua từng chi thể, và làm nên thánh toàn thân thể tôi. Khi ấy tôi đã nhận đầy đủ sự làm chứng của Thánh Linh rằng huyết của Đức Chúa Jêsus Christ đã thanh tẩy tôi khỏi mọi tội. Tôi bèn kêu la lên: “Đây là điều tôi cần tới! Giờ đây tôi đã nhận được một tấm lòng mới”. Ôi, phước hạnh vô lượng có trong Đấng Christ thay, và mọi ơn phước dành cho một tội nhân đáng thương như tôi đây!”
Niên hiệu nhằm ngày 13 tháng 3 năm 1772, và Carvosso đã nếm qua 60 năm làm một người đưa dẫn nhiều linh hồn về với Chúa thật đầy dẫy năng quyền trong Hội thánh Methodist ở Anh quốc.
“Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo” (Êxêchiên 36.27)
2 Tháng 6
SỨ ĐỒ CHO NGƯỜI DA ĐỎ
John Elliot ra đời ở Anh quốc và tốt nghiệp ở Cambrige, ở đây ông xuất sắc với khoa ngôn ngữ. Ông đến Massachusetts Bay Colony để tìm kiếm sự tự do tôn giáo, và không bao lâu bắt đầu chức vụ 52 năm giảng đạo ở Roxbury – một nơi định cư giáp với Boston khoảng 2 dặm. Những năm đầu tiên của ông rất bận bịu với bầy chiên của mình, song vào thập niên 1640, Eliot 40 tuổi cảm nhận một gánh nặng ngày càng thêm trong việc tiếp cận với bộ tộc da đỏ Algonquian sống gần đấy với Tin lành.
Được sự giúp đỡ bởi một người da đỏ tên là Cockenoe, ông bắt đầu học hỏi tiếng da đỏ. Cách diễn đạt của người Algonquian cô đọng những ý tưởng phức tạp thành lời lẽ rất đơn sơ, và đầy dẫy âm thanh trong cổ họng. Nhưng Eliot rất nhạy bén với các thứ ngôn ngữ, và trong vòng hai năm ông đã có thể nói được tiếng của người Algonquian.
Vào tháng 10 năm 1646, ông mạo hiểm xâm nhập một ngôi làng gần đó rồi bước vào lều của một người da đỏ có tên là Waban. Ở đấy bên ngọn lửa của cuộc hội ngộ Eliot đã giảng bài giảng Tin lành đầu tiên bằng tiếng da đỏ vùng Bắc Mỹ. Câu gốc của ông Êxêchiên 37.9, và nhiều người da đỏ ngay lập tức lên tiếng tra hỏi về Đức Chúa Trời, tỉ như:
- Đức Chúa Trời nghe những lời cầu nguyện của người da đỏ như thế nào khi Ngài thường lắng nghe những lời cầu nguyện bằng tiếng Anh?
- Tôi đã quá già rồi làm sao đến với Đấng Christ được?
- Tại sao chẳng có một người da trắng nào nói cho chúng tôi biết những việc như thế nầy trước đây?
Khi Eliot rời khỏi ngôi làng, ông đã thết đãi các bữa ăn, kẹo ngọt, táo cho các em thiếu nhi, và thuốc lá cho người lớn. Cứ hai tuần thì ông quay trở lại, giảng đạo và giải đáp nhiều thắc mắc. Không bao lâu sau đó số người Mỹ bản xứ đã khám phá được Đấng Christ. Tân ước, rồi toàn bộ Kinh Thánh đã xuất hiện theo ngôn ngữ của người Algonquian. Đến năm 1651, một khu định cư được dựng lên và đặt tên là Natick – một thị trấn Cơ đốc nhân người da đỏ. Nhiều nhà cửa đã được xây dựng dọc theo hai bờ sông Charles, với một cây cầu nối liền chúng. Nhiều đường phố được dựng lên, và một toà nhà hai tầng đã được xây cất làm trường học, nhà thờ và nhà kho.
Ngày nay Natick là một trung tâm dân cư, kỹ nghệ, thương mại, và ngay trên bối cảnh của ngôi nhà nguyên trước đó là nơi nhóm lại – nhà thờ Eliot được đặt theo tên của con người lịch sử mà ai cũng biết là: “sứ đồ cho người da đỏ”.
“Bấy giờ, Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng gió; hãy nói tiên tri và bảo gió rằng; Chúa Giêhôva phán như vầy: Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho chúng nó sống” (Êxêchiên 37.9)
3 Tháng 6
NHƯNG NẾU CÁC NGƯƠI KHÔNG…
Trong khi hầu việc Chúa ở Hàn quốc vào thập niên 1920, giáo sĩ Stanley Soltau đã gặp Chinsoo Kim, một sinh viên mà ông gắn bó với như một đứa con vậy. Chinsoo bước vào thần học viện, rồi được tấn phong làm Mục sư. Hai người trở thành đôi bạn rất thân thiết. Vào năm 1936, chính quyền chiếm đóng người Nhật đã ra lệnh cho mọi trường học ở Hàn quốc phải cúi mình trước nữ thần Amaterasu-Omi-Kami – vị thánh đỡ đầu của quân đội Nhật bản. Các trường học của Hội Truyền Giáo không được miễn trừ, và Cơ đốc nhân đã đối diện với cùng một thách thức mà Sađơrắc, Mêsắc và Abếtnêgô đã gặp gỡ. Stanley từ chối không chịu thoả hiệp, ông đề nghị đóng cửa các ngôi trường của Hội Truyền Giáo nếu cần thiết. Ông nói: “Đâu cần phải làm gì nhiều, chỉ gật đầu thôi”. Sự bắt bớ rất nghiệt ngã đã nổi lên chống lại Cơ đốc nhân, với hơn 60.000 người bị bắt. Khi Stanley rời khỏi Hàn quốc, Chinsoo đã gặp ông tại nhà ga. Chinsoo nói khi chiếc xe lửa sửa soạn khởi hành: “Cha ôi, con lo sợ mọi thời điểm khó khăn đang ở trước mặt chúng ta… Chúng ta đang đứng với một tư thế chống nghịch lại sự thờ lạy hình tượng – một lần nữa cho con biết chúng ta đang làm điều phải làm”.
Stanley đáp: “Chẳng có gì phải thắc mắc về điều đó hết”. Khi ông lên xe lửa, Chinsoo đã ấn một tờ giấy vào tay ông. Stanley đọc: “Về một việc mà con rất quả quyết, cha sẽ không bao giờ thấy xấu hổ về đứa con của mình. Dù cho có điều chi xảy ra, con đang trông đợi Chúa mặc lấy quyền phép của Ngài…”. Stanley đã không trở lại Hàn quốc mãi cho tới năm 1952 rồi hay được về số phận của Chinsoo. Chẳng bao lâu sau khi họ chia tay, Chinsoo đã bị cảnh sát Nhật bắt vì anh đã từ chối không chịu cúi xuống trước tượng nữ thần Shinto. Anh đã bị nhốt vào ngục tối và bị hành hình rất tàn nhẫn. Một buổi sáng mùa đông có một người quen đi ngang qua nhà ngục nhìn thấy một đống thi thể đã đông cứng, bị chất giống như chất củi vậy. Giữa vòng họ là Chinsoo. Từ ngày Stanley hay được tin ấy cho tới lúc ông qua đời vào năm 1972, ông đã mang cái chết của Chinsoo theo quanh mình giống như ông đã mang lấy cái chết của Đấng Christ ở trong tấm lòng của ông vậy. Ông hiểu rõ rằng Chinsoo – đứa con và là bạn đồng sự của mình là một trong những con người bất khuất thuộc về Đức Chúa Trời.
“Sađơrắc, Mêsác, Abếtnêgô tâu lại cùng vua rằng: …Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực, ..xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua, và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng” (Đaniên 3.16-18)
4 Tháng 6
TÔI KHÔNG THỂ ĐỨNG NỔI
Henry Venn là một Mục sư thuộc giáo phái Anh, sanh gần Luân đôn vào được tấn phong vào năm 1749, các bài giảng của ông đã lôi cuốn giai cấp công kỹ nghệ ở Anh quốc vào thế kỷ thứ 18.
Ngày nọ trong nhà thờ tại Huddersfield, Venn đã giảng từ Đaniên 5.27 mô tả sự trị vì ngoan cố, đẫm khoái lạc của vua Bênxátsa. Ông mô tả bữa tiệc của Bênxátsa đãi cả ngàn đại thần có bàn tay của Đức Chúa Trời đang viết trên tường, và lời lẽ như sấm sét của Đaniên cho nhà vua gian ác biết: “Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu”.
Trong hội chúng, ông William Brook đang ngồi với người bác lớn hơn ông 19 tuổi, W. Mellor là người bị kéo vào trong nhà thờ khi nhìn thấy đoàn dân đông. Người ta khóc thút thít khi tiếng của Venn rung lên. Lúc họ rời nhà thờ chẳng có người nào lên tiếng. Họ im lặng bước qua cánh đồng gần đó, Mellor dừng lại, dựa người vào bức tường của một nông trại với hai hàng nước mắt nói: “Tôi không thể đứng nổi”.
William về sau đã viết: “Từ giờ phút đó, ông bị thuyết phục về tội lỗi, và ông đã trở hành một con người thay đổi hoàn toàn. Tôi không bị xúc động gì nhiều lúc ấy; nhưng tôi không thể sống buông thả trong tội lỗi được sau bài giảng ấy. Tôi bắt đầu cầu nguyện đều đặn; rồi cứ thế, qua nhiều cấp độ, tôi đã sốt sắng tìm kiếm sự cứu rỗi.
Người ta thường đi thành đoàn đến nhà thờ Huddersfield. Một số trong họ hay đứng với nhau ngoài khuôn viên nhà thờ; và họ thường dừng lại trao đổi với nhau qua mọi điều mà họ đã nghe, trước khi họ chia tay trở về nhà. Địa điểm ấy đối với tôi giống như một thiên đàng nhỏ dưới đất vậy.
Tôi chưa hề nghe một vị Mục sư nào giảng giống như ông. Ông rất có quyền năng khi mở ra những điều kinh khiếp của luật pháp. Khi giảng như vậy, ông đã có một cái nhìn nghiêm khắc có thể làm cho quý vị run sợ. Rồi ông ngưng lại để trình bày về ân điển, rồi bắt đầu mỉm cười, và tiếp tục khẩn nài cho tới chừng đôi mắt của ông đẫm đầy nước mắt”.
“Têken là: Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy kém thiếu” (Đaniên 5.27)
5 Tháng 6
ĐÁ SẠN VÀ XƯƠNG
Đaniên thích qua đêm với bầy sư tử hơn là quên cầu nguyện trong ngày. Ông đã ngủ say dưới sự canh phòng của thiên sứ trong hang sư tử hơn cả nhà vua trên giường ngà trong cung điện. Rốt lại, Spurgeon nói: “Bầy sư tử làm sao nuốt ông được khi người ông toàn là đá sạn và xương không thôi!”.
Lần đầu tiên tôi làm quen với truyện tích Đaniên trong quyển Kinh Thánh Scofield thật to mà bố mẹ tôi đã cho khi tôi còn nhỏ. C. I. Scofield – nhà xuất bản quyển sách ấy đã tham dự Cuộc Nội Chiến. Tổng Thống Grant về sau đã chỉ định ông làm Chánh Án Hoa kỳ ở Kansas, và Scofield được xem là một luật gia rất chói sáng. Thế nhưng sự nghiệp của ông đã bị rượu làm cho hư hỏng – cho tới khi ông trở lại với Đấng Christ ở tuổi 36. Scofield khi ấy trở thành một học viên Kinh Thánh rất giỏi, một Mục sư và là một nhà tuyền giáo, nhà sáng lập Hội Truyền Giáo Trung Mỹ, và là nhà xuất bản quyển Kinh Thánh nổi tiếng có phần tham khảo. Ông từng nói:
“Một thời gian ngắn sau khi tôi được cứu, tôi đi ngang qua cửa sổ của cửa tiệm kia ở St Louis, ở đấy tôi nhìn thấy bức tranh vẽ Đaniên trong hang sư tử. Nhân vật đức tin lẫy lừng đó với hai bàn tay sau lưng và bầy thú vây quanh ông đang ngước nhìn lên đáp trả với nhà vua là người rất lo sợ muốn biết Đức Chúa Trời có bảo hộ cho Đaniên hay không!?!”.
Khi tôi đứng ở đó, một sự trông cậy thật lớn lao tràn ngập tấm lòng tôi. Sau đó mấy hôm, tôi – một luật sư hay say sưa đã được biến đổi; và từ đó chẳng có ai nói cho tôi điều chi về quyền phép giữ gìn của Đức Chúa Jêsus Christ. Tôi tự nghĩ trong lòng, cũng có bầy sư tử đang vây quanh tôi, đúng y như các thói tật cũ và tội lỗi của tôi. Nhưng Đấng đã bịt miệng sư tử cho Đaniên cũng có quyền bịt miệng mấy thứ kia cho tôi! Tôi biết rõ mình không thể thắng trận đánh bằng sức của riêng mình! Bức tranh khiến cho tôi nhận biết rằng đang khi tôi yếu đuối và bất lực, Đức Chúa Trời tôi vốn có quyền và rất mạnh mẽ. Ngài đã giải cứu tôi, và hiện nay Ngài cũng có quyền giải cứu tôi khỏi bầy dã thú trong đời sống tôi. Lẽ thật ấy đã đem lại cho tâm linh tôi sự yên nghỉ, quả thật vậy!”.
“Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư tử, nên chúng nó không làm hại chi đến tôi” (Đaniên 6.22)
6 Tháng 6
NGƯỜI THỔI KÈN VÀ CÁC SỪNG NHỎ
Trong sách Đaniên có một phần mô tả antichrist hầu đến, là nhân vật phi luật pháp, hắn sẽ cuồng nộ chống lại Đức Chúa Trời và Ysơraên trong kỳ Đại Nạn. Nhưng I Giăng 2.18 chép rằng thời ấy có nhiều antichrist đã đến rồi. Ở xứ Tô cách Lan vào thế kỷ thứ 16, John Knox dám chắc ông đã phát hiện một số antichrist đó.
Knox ra đời khoảng năm 1514 trong một ngôi làng nằm ở phía Nam Edinburgh. Ông hoàn tất học vấn của mình đúng lúc những ngọn gió Cải Chánh bùng thổi lên từ Đại Lục. Patrick Hamilton và sau ông là George Wishart đã nắm lấy ý tưởng của Tin lành. Cả hai đều bị thiêu cháy trên giàn giáo. Những người bênh vực cuộc Cải Chánh ở Tô cách Lan khi ấy hướng vào chàng thanh niên Knox, họ yêu cầu ông gánh vác chức vụ lãnh đạo thuộc linh của phong trào. Knox bật ra hai hàng nước mắt và từ chối, song cả nhóm đều tán thành sự kêu gọi của ông với sự hoan nghênh nhiệt liệt, và Knox đã ngần ngại đồng ý.
Bài giảng đầu tiên của ông là dành cho các chiến sĩ tin lành, họ đã chiếm lấy thành trì của Thánh Andrew nơi những người Tin lành bị câu lưu. Ông đã chọn phân đoạn Kinh Thánh Đaniên 7.24-25 về cái sừng nhỏ sẽ dấy lên làm cho đất phải kinh khủng. Knox giảng rằng Giáo Hội Rôma đã dấy lên từ Đế Quốc La Mã suy sụp và là Anti-Christ. Ông mô tả đời sống trụy lạc của các giáo hoàng khác nhau. Ông công kích những lẽ đạo đồi bại cùng những cách hành đạo của dòng linh mục. Sứ điệp của ông thật mạnh mẽ, cảm động, bốc lửa, và lập nền trên lẽ đạo xưng công bình bởi ân điển nhơn đức tin, đến nỗi về sau Knox được mọi người gọi là: “Người trổi tiếng kèn của Đức Chúa Trời lên”.
Nhưng đấy là bài giảng mà ông đã phải trả giá rất đắt. Thành trì của Thánh Andrew sụp đổ cùng những người chiếm đóng nó, kể cả Knox đều bị kết án phải lưu đày trên chiếc thuyền buồm do nô lệ chèo bằng tay. Ở đấy trong lòng chiếc thuyền, ông đã bị xiềng vào mái chèo, áo quần ông mặc chỉ vừa đủ bảo hộ tránh những lằn roi quất của người cầm trống thúc giục nô lệ chèo. Ông đã chịu khổ ở đó trong 19 tháng trước khi được thả ra, rồi từ đấy ông trở về Đảo quốc Nước Anh để tiếp tục đấu tranh cho Cuộc Cải Chánh.
“Mười cái sừng là mười vua sẽ dấy khiến từ nước đó; và có một vua dấy lên sau, khác với các vua trước, và người đánh đổ bình an vua. Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh của Đấng Rất Cao, và định ý đổi những thời kỳ và luật pháp; các thánh sẽ bị phó trong tay người cho đến một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ” (Đaniên 7.24-25)
7 Tháng 6
PHẢN BỘI, CHUYÊN CHẾ, LỪA ĐẢO
Đây là câu chuyện khác nói về Donald Cargill – người đã noi theo Knox gần cả trăm năm trong vai trò một nhà lãnh đạo Cải Chánh ở xứ Tô cách Lan. Cargill ra đời khoảng năm 1619 và giống như Knox đã hưởng được một nền giáo dục tốt. Theo yêu cầu của cha ông, Donald đã bước vào chức vụ nhưng ông không mấy hài lòng khi thấy có sự phân rẽ trong Giáo Hội giữa những người ủng hộ cuộc Cải Chánh và những người chạy theo Giáo Hội hay Hoàng Triều. Tình trạng vỡ mộng của ông ngày càng tăng thêm, rồi sau cùng ông quyết định rời bỏ nhà thờ và không nắm lấy chức vụ nữa.
Song khi ông leo lên lưng ngựa của mình, có một bà cụ tất tả chạy đến gặp ông, bà nói: “Thưa ông, ông đã hứa giảng vào những ngày thứ Năm, ông đã sắp xếp một bữa ăn cho người cùng khốn, vậy lẽ nào ông ra đi và không lo liệu việc ấy? Nếu ông ra đi, sự rủa sả của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ cùng đi với ông đấy thôi”.
Lời lẽ của bà cụ đã đâm thấu vào xương cốt của Donald, và ông xuống ngựa quyết định tiếp tục giữ lấy chức vụ. Ông càng tiến tới gần với cuộc Cải Chánh hơn, và vào một ngày Chúa nhật sau đó một thời gian ngắn, ông đã giảng một bài thật sắc nét từ Ôsê 9.1: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ vui mừng; chớ nức lòng mừng rỡ như các dân; vì ngươi đã phạm tội tà dâm và cách xa Đức Chúa Trời ngươi. Ngươi đã ưa thích tiền công mình trên mọi sân đạp lúa”.
Trong bài giảng, ông đã công kích nhà vua xứ Tô cách Lan về việc gây ảnh hưởng của vua trên Hội thánh xứ Tô cách Lan: “Nhà vua sẽ trở thành con người tồi tệ nhất mà Hội thánh Tô cách Lan khốn khổ kia từng trông thấy: khốn thay, khốn thay, khốn thay cho nhà vua. Tên của nhà vua sẽ bốc mùi hôi thối khi thế gian vào hùa với, vì sự phản bội, chuyên chế, và lừa đảo”.
Câu nói nầy chẳng ăn thua gì đối với vẻ đường bệ của nhà vua, và ngày sau đó một toán kỵ binh phi nước đại vào phòng làm việc của ông đòi bắt: “kẻ phản bội xấu xa, Donald Cargill”. Cargill trốn sang nhà của một người bạn, và sử dụng phần đời còn lại giảng đạo cho tới khi ông bị bắt. Ông bị đưa lên giàn giáo và khi sắp chết, ông hãy còn hát Thi thiên 118: “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”.
“Hỡi Ysơraên, chớ vui mừng; chớ nức lòng mừng rỡ như các dân; vì ngươi đã phạm tội tà dâm và cách xa Đức Chúa Trời ngươi, ngươi đã ưa thích tiền công mình trên mọi sân đạp lúa” (Ôsê 9.1)
8 Tháng 6
KIÊNG ĂN
Cách thực hành sự kiêng ăn theo Kinh Thánh đã bị nhiều Cơ đốc nhân ngày nay chễnh mãng, vì kiêng ăn đi ngược lại với tinh thần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhưng Sandy Sheppard quyết định cố gắng kiêng ăn khi chồng bà là Rick mắc phải một căn bệnh kinh niên. “Tôi rất ngạc nhiên làm thể nào với hai đứa con còn đi học và một đứa trẻ còn nhỏ ở nhà, tôi có thể kiêng ăn mà cuộc sống không gặp phải rắc rối với những người khác trong gia đình tôi. Tôi quyết định kiêng ăn mỗi tuần một ngày, bỏ ăn sáng và ăn trưa rồi ăn chiều như thuờng lệ”.
Đêm thứ Ba kế đó bà cùng với gia đình ăn chiều, nhưng tránh các bữa ăn qua loa vào buổi tối, rồi bỏ ăn sáng và ăn trưa qua ngày sau. “Đến giữa trưa tư tưởng của tôi hướng vào việc chuẩn bị bữa ăn chiều cho gia đình. Vào khoảng 16 giờ thì có những cảm xúc khó khăn nhất. Ổ bánh mì thịt thông thường chưa bao giờ thấy cám dỗ như thế”.
Khi nhiều tuần lễ trôi qua, Sandy bắt đầu dấn thân vào cuộc nghiên cứu sự dạy của Kinh Thánh về kiêng ăn. Bà thấy trong sách Giô-ên một câu đã gây ấn tượng sâu sắc nhiều cho bà. “Tôi biết rõ Đức Chúa Trời đã nghe thấu mọi lời tôi cầu nguyện thậm chí trước khi tôi kiêng ăn nữa. Nhưng cách tự chối bỏ mình đã thêm một chiều kích mới cho đời sống thuộc linh của tôi, và tôi tìm được một sự hiểu biết sâu sắc hơn về sự dạy của Đức Chúa Trời trong Giôên 2.12: ‘Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu’. Cái đáng không ngại về cơn đói đã nhắc cho tôi nhớ phải hướng mắt mình nhìn về Đức Chúa Trời”.
Andrew Murray đã viết trong quyển: “Với Đấng Christ Trong Trường Cầu Nguyện” như sau: “Cầu nguyện cần sự kiêng ăn để có được sự tấn tới đầy trọn của nó… Cầu nguyện là một bàn tay chúng ta nắm lấy Đấng không thấy được; kiêng ăn là bàn tay kia, chúng ta buông thả ra cái gì trông thấy được bằng mắt thường’. Việc kiêng ăn – là điều tôi vui thích – nó khiến tôi ý thức được tình trạng yếu đuối của mình khi đem đối chiếu với năng lực của Đức Chúa Trời”.
Tình trạng của Rick ngày càng tệ hại hơn trong nhiều tháng trời, rồi bắt đầu cải thiện. Trong thời gian đó, Sandy học biết rằng kiêng ăn và cầu nguyện cho sự chữa lành phần xác của người khác là phương pháp tấn tới chắc chắn mạnh mẽ hơn trong tấm lòng của một người.
“Đức Giêhôva phán: Bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu” (Ôsê 2.12)
9 Tháng 6
ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA ÔNG Ở ĐÂU?
Lối giảng đạo không thể bắt chước được của Vance Bavner đã làm cho khán thính giả của ông phải bật cười trong một phút, kế đó là khóc lóc, gật đầu đồng ý, rồi rùng mình với ý thức tội lỗi. Bài giảng của ông từ Giô-ên 2.17 là một điển hình chính.
“Đã có đủ điện thế thiêng liêng trong từng Hội thánh cung ứng cho từng người trong hội chúng một lần nạp điện hay một lần bị điện giật. Đó là lúc các vị Mục sư của Đức Chúa Trời thấm mệt do nghe lời chế nhạo của hạng người theo ngoại giáo: ‘Đức Chúa Trời của ông ở đâu?’ Chúng ta cần phải có từng giải đáp cho từng nhu cần của con người. Nếu chúng ta thực sự tin điều nầy, không một thính phòng nào lôi kéo được con người. Có điều chi đó sai trật với Cơ đốc giáo khi chúng ta phải nài nỉ đoàn dân đông của chúng ta đến với nhà thờ để nghe giảng Tin lành!?! Giống như Giô-ên, chúng ta thấy xấu hổ khi thế gian sống bằng cách nhìn vào mớ hỗn độn của một cá nhân nơi những băng ghế ngồi trống trơn mà hát: ‘Xin phục hưng chúng tôi’. Nếu tôi là một người chưa tin Chúa bước vào một Hội thánh trung bình trong thời gian gọi là phấn hưng và nhìn thấy một số người đang ra sức tuyển thêm tân binh vào trong quân đội của Chúa khi hầu hết quân trang quân dụng đều là AWOL [absent without leave] (vắng mặt không phép), tôi sẽ kết luận rằng Cơ đốc giáo không phải là tôn giáo xứng đáng hoặc Cơ đốc nhân đã bị gán ghép với một hình thức đức tin nhẹ và được chủng ngừa chống lại một thứ có thật. Tôi có cảm giác giống như mình đang đứng dậy từ hàng ghế dựa rồi hỏi: ‘Đức Chúa Trời của ông ở đâu?’.
Quý vị muốn nói ra điều gì khi hát bài: ‘Tinh binh Giêxu tiến lên’ lúc hầu hết quân đội của quý vị đều thưa thớt?
Tôi đồng ý với Giô-ên. Tôi phải lúng túng khi người ngoại giáo bước tới gần những ngôi nhà thờ trống vắng của chúng ta, họ nhìn vào các nghi thức quá sơ sài của chúng ta, họ thấy chúng ta đang trao đổi tín đồ từ nhà thờ nầy qua nhà thờ kia, di chuyển những thây ma từ nhà đòn này sang nhà đòn khác, rao giảng một tin lành năng nổ và sống những đời sống năng động giòn như pháo Tết.
Chúng ta cần phải ăn năn, xưng tội, và lìa bỏ tội lỗi, đoạn tuyệt với thế gian, lập Giêxu làm Chúa, và phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Khi chúng ta làm theo, lời nói của kẻ ngoại đạo: ‘Đức Chúa Trời của ông ở đâu?’ không còn nghe thấy nữa”.
“Làm sao để người ta nói giữa các dân tộc rằng: Nào Đức Chúa Trời chúng nó ở đâu!” (Ôsê 2.17)
10 Tháng 6
TỚ GÁI CỦA CHÚA
Từ ngữ: “Tớ gái” trong câu nầy đã khích lệ hệ phái Quaker cho phép phụ nữ nắm lấy trọn chức vụ ngay từ lúc ban đầu. George Fox – nhà sáng lập hệ phái Quaker đã trưng dẫn từ sách Giô-ên khi trả lời những kẻ hay phê phán cứ khẳng định một vai trò bảo thủ cho phụ nữ trong Hội thánh. Mary Fisher được Fox chứng đạo cho và chiêu mộ cũng sử dụng trích dẫn Giô-ên 2.
Mary là một tớ gái ở Yorkshire, cô đã tham gia vào hệ phái Quaker sau khi nghe Fox giảng vào năm 1651. Không bao lâu sau đó cô đã làm chứng và giảng đạo, những việc làm khiến cô bị bỏ tù 16 tháng. Cô đã sử dụng thì giờ để học tín điều Quaker, trong đó có Giô-ên 2.29 và khi ra khỏi tù còn giảng dạy nhiều hơn nữa. Cô đã bị bắt và giảng đạo tại trường Sidney Sussex, và lần nầy cô bị quất roi vào hông, bị treo vào cây cột, và bị đánh: “cho tới lúc máu chảy xuống từ thân thể của cô”. Khi lằn roi cuối cùng hạ xuống, cô cất tiếng hát: “Chúa phước hạnh thay, đáng ngợi khen Chúa thay, Ngài đã tôn chúng con cao lên và nâng đỡ chúng con để chúng con chịu khổ vì danh Ngài”. Lúc cuối cơn thử thách, cô đã nói với kẻ chịu trách nhiệm hành hình: “Nếu ngươi nghĩ ngươi chưa làm đủ, chúng tôi đã sẵn sàng để chịu khổ cho Cứu Chúa của chúng tôi”.
Đến năm 1655, Mary dong buồm sang Mỹ, ở đấy nhà cầm quyền tại Boston đã đốt sách báo, bỏ tù, và đóng ván kín cửa sổ phòng giam của cô, rồi họ còn tắt đèn để chẳng ai trông thấy hay trò chuyện với cô. Cô bị đánh đòn, bị chế nhạo, bị ngược đãi, và hiển nhiên bị đày sang Barbados.
Trở về Anh quốc, Mary bấy giờ đã 34 tuổi, hành trình sang Thổ Nhĩ Kỳ trong vai trò giáo sĩ cho hệ phái Quaker vẫn tin chắc cô là tớ gái của Đức Chúa Trời trong Giô-ên 2.29. Ở đó cô đã giảng đạo cho chính vua xứ Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau đó, cô trở về lại Anh quốc, ở đây cô gặp gỡ và lấy chồng là William Bayly – một thủy thủ và là nhà truyền đạo cho hệ phái Quaker. Trong 40 năm kế đó, cô đã phục vụ trong vai trò người mẹ và nhà nội trợ, nuôi dạy ba đứa con và dành thì giờ rãnh rỗi của mình cho công việc của phụ nữ giữa vòng các tín đồ thuộc hệ phái Quaker.
“Trong những ngày đó, dầu những đầy tớ trai và đầy tớ gái, ta cũng đổ Thần ta lên” (Ôsê 2.29)
11 Tháng 6
CÀNG TỆ HƠN
Tuy mẹ anh không thích, song John Marrant – một thanh niên da đen tự do sống trong nước Mỹ thuộc địa đã trở thành một nhạc sĩ. Tiếng kèn Pháp và chiếc vĩ cầm của anh rất lôi cuốn ở những buổi khiêu vũ và tiệc tùng tại Old Charleston, Nam Carolina, và John luôn là người được cả thị trấn nâng cốc chúc mừng. Mọi sự ấy đã thay đổi vào buổi tối kia khi anh tản bộ xuống con đường dốc để chơi kèn ở đâu đó. Anh đã nhìn thấy một đám đông đứng bên ngoài nhà thờ và hay rằng có “một tên điên đang quậy ở bên trong”. Marrant đẩy cửa bước vào, dự tính làm cho đám đông phải tan đi bằng cách trổi tiếng kèn của mình lên.
“Gã điên”, nhà truyền đạo George Whitefield đang giảng từ Amốt 4.12. Khi Marrant bước vào, Whitefield chỉ ngón tay thẳng vào anh rồi hô to lên: “Hãy sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi”. Câu nói ấy chạm vào chàng trai trẻ với một sức mạnh khiến cho anh ta ngã sụp xuống sàn nhà bất tỉnh. Khi anh tỉnh lại, Whitefield hãy còn rao giảng. Marrant nói: “Từng lời nói giống như một thanh gươm đâm thẳng vào tôi”. Anh được đưa qua phòng bên cạnh, rồi sau buổi thờ phượng, Whitefield đến gặp anh, ông nói: “Đức Chúa Jêsus Christ sau cùng đã tiếp nhận anh”.
Marrant được đưa về nhà và chị của anh bèn đi gọi bác sĩ. Trong ba ngày, anh chẳng ăn hay uống gì được hết. Một trong các nhân sự của Whitefield đến thăm anh, và hai người cùng quỳ gối với nhau bên giường của Marrant. Sau khi cầu nguyện xong, vị Mục sư hỏi anh cảm thấy thế nào!?!
Anh đáp: “Tệ hơn trước”. Họ cầu nguyện một lần nữa, và vị Mục sư hỏi anh cảm thấy thế nào rồi!?!
“Càng tệ hơn”.
Họ cầu nguyện lần thứ ba. “Gần lúc kết thúc sự cầu nguyện, Chúa đã đẹp lòng buông tha cho linh hồn tôi được tự do, và đầy dẫy niềm vui mừng, tôi bắt đầu ngợi khen Chúa ngay lạp tức. Mọi nỗi buồn lo của tôi chuyển thành bình an và yêu thương”.
Lần nầy khi vị Mục sư hỏi anh cảm thấy thế nào, Marrant đáp liền: “Mọi sự tốt đẹp rồi, mọi sự phước hạnh lắm”. John Marrant mới có 14 tuổi lúc bấy giờ, song anh đã trở thành một nhà truyền đạo năng nổ khắp cả vùng Bắc Mỹ.
“Hỡi Ysơraên, vậy nên ta sẽ đãi ngươi dường ấy; hỡi Ysơraên, vì ta sẽ đãi ngươi dường ấy, nên ngươi khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi” (Amốt 4.12)
12 Tháng 6
OSWALD ĐÃ BƯỚC VÀO SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGÀI
Một số độc giả của quyển “My utmost for His Highest” nhận ra tác giả của quyển sách là một hoạ sĩ rất có tài, ông đã có một sự nghiệp rất nổi bật và lâu dài. Thế nhưng một bài giảng do Charles Spurgeon đã làm thay đổi sự kiện ấy, và Oswald Chambers đã bỏ những cây cọ vẽ của mình xuống, với ý thức rõ ràng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời nên đã bước vào chức vụ. Từ năm 1906 đến 1910, ông đã giảng đạo khắp thế giới, rồi từ 1911 đến 1915, ông đã lãnh đạo một trường Kinh Thánh. Lúc Đệ I Thế Chiến nổ ra, Chambers đã dâng mình truyền giáo giữa vòng các binh sĩ ở Ai cập. Dưới quyền lãnh đạo của ông ở đó, nhiều túp lều truyền giáo mọc lên để giảng cho các lực lượng Anh quốc đóng gần Cairo và bên kênh đào Suez. Nhiều người đã đến nghe các bài giảng và truyền giảng của ông.
Trong suốt thời gian đó, Chambers thường dậy sớm lúc 5 giờ 30 sáng để ở riêng với Đức Chúa Trời. Đứng nhìn cảnh mặt trời mọc trên nền sa mạc xưa luôn luôn đầy dẫy ông với nỗi kinh ngạc, và có lúc ông đã mô tả cảnh ấy trong tờ báo của mình, sử dụng câu nói của một nghệ sĩ: “Hôm ấy là một buổi sáng thật dễ thương, mặt trời mọc lên trong nét kỳ diệu của ánh sáng vinh hiển. Mỗi lần mặt trời mọc ở đây trông giống như thể đó là một tư tưởng mới đến từ Đức Chúa Trời…”. Chambers bỏ ra cả buổi sáng sau cùng của mình với các sách tiểu tiên tri. Ông để ý thấy những rủa sả và tai vạ đã được mô tả trong sách Amốt dường như đến từ “bàn tay quyền năng của Đức Chúa Trời, chớ không phải từ những lý cớ mù quáng đâu”. Ông đã ý thức được sự khôn ngoan tể trị của Đức Chúa Trời, thậm chí trong mọi tai vạ, dù giữa cảnh chiến tranh.
Ngày nọ, Chambers mô tả trong quyển nhật ký của ông cảnh mặt trời mọc thật huy hoàng “giống như một hệ thống được sắp xếp óng ánh đượm nét thiên đàng”. Ông đã suy gẫm về quyền phép của một Đức Chúa Trời là Đấng có thể tạo ra một sa mạc hùng vĩ, rồi ông đọc Amốt 5.8: “Hãy tìm Đấng đã dựng nên những sao Rua và sao Cày; đổi bóng tối tăm ra ban mai, …: danh Ngài là Giê-hô-va”. Câu nầy tái khẳng định cho bản thân ông về sự tối cao và siêu việt của Đức Chúa Trời, và Chambers bước qua một ngày khác. Ông cảm thấy trong người có một ít khó chịu. Chừng hai tuần lễ sau, ông nhập viện để cắt bỏ ruột thừa khẩn cấp ở bệnh viện Hội Chữ Thập Đỏ. Hai tuần sau, vợ ông đánh bức điện có bốn từ cho gia đình và bạn hữu của ông: Oswald In His Presence” [Oswald đã bước vào sự hiện diện của Ngài].
“Hãy tìm Đấng đã dựng nên những sao Rua và sao Cày; đổi bóng tối tăm ra ban mai, đổi ban ngày ra đêm thẳm, gọi nước biển mà đổ nó ra trên mặt đất; danh Ngài là Giêhôva” (Amốt 5.8)
13 Tháng 6
ANH JONAH
Chúng tôi nhớ đến Jonah chủ yếu là mồi ăn của cá voi, chúng tôi quên ông là một trong những nhà truyền đạo lưu động lỗi lạc nhất trong lịch sử đã làm thay đổi cả một thành phố lớn với một bài giảng có tám từ mà thôi.
Ngày nay tấm gương của ông đã thúc giục Jonah khác, một người sống ở Trung quốc dám liều mạng sống và sự tự do của mình đi khắp đó đây với một túi ba lô đầy Kinh Thánh. Khi Jonah rao giảng, ông thường lấy câu gốc nầy từ Giô-na 3.4 nói cho họ biết họ đang sống giống như dân thành Ninive: “Quý vị đang sống trong sự xem thường Đức Chúa Trời chơn thật, Ngài sẽ xét đoán quý vị nếu quý vị không chịu ăn năn”.
Vào một ngày cuối tuần Jonah thấy mình như bị niêm trong một toa xe lửa hạng ba đầy ắp người. Có một người lính đứng gần bên nói: “Ông già ơi, hãy nói cho chúng tôi biết lý do tại sao trông ông lúc nào cũng vui vẻ hết vậy!?!”.
Jonah đáp: “Anh đang nghĩ gì thế? Anh đã từng nếm trải điều chi là vui vẻ nhất chưa?”
Người đứng kế Jonah đáp: “Tôi muốn được một phụ nữ xinh đẹp yêu thương tôi”. Một phụ nữ nói: “Một ngôi nhà lớn sẽ khiến tôi trở thành một người hạnh phúc nhất trên thế gian nầy”. Người khác nữa nói: “Một giấy thông hành sang Mỹ”. Người lính nói: “Nếu tôi có quyền ra lệnh cho Quân Giải Phóng Nhân Dân, tôi sẽ vui vẻ nhất”.
Jonah nói: “Bây giờ, để tôi xem nào. Tôi có một toà lâu đài rộng lớn đến nỗi một hoàng đế phải đem lòng ganh tỵ; tôi được một người đẹp nhất trên thế gian nầy yêu thương; tôi có quyền tự do đi bất cứ đâu tôi muốn; và tôi là thiết hữu của người có uy quyền nhất trên đất; thực ra, tôi đã nhận lãnh mọi sự nầy từ một người; danh Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ”.
Khi chiếc xe lửa đi ngang qua Trung Hoa Cộng Sản, Jonah rút ra một quyển Kinh Thánh cũ, rồi sử dụng 20 tiếng đồng hồ làm chứng cho những người nghe ông nói suốt đêm về đức tin Cơ đốc.
Bước ra khỏi xe lửa, ông đạp xe 5 giờ đồng hồ khác, lẫn tránh những nhà cầm quyền đã được kẻ cung cấp tin tức trên xe lửa mật báo. Rồi trong ngày cuối tuần ấy, Jonah đã đi những 40 giờ trên xe lửa; 9 giờ trên xe bus, 9 giờ ngồi trên xe đạp; ông đã đưa 50 người đến với Đấng Christ – khi ấy ông đã 73 tuổi.
“Giô-na khởi đầu vào trong thành đi một ngày, thì rao giảng và nói rằng: Còn bốn mươi ngày nữa, Ninive sẽ bị đổ xuống!” (Giôna 3.4).
14 Tháng 6
TREO TÒN TENG NƠI Ổ CẮM
Vào ngày 18 tháng 11 năm 1845, David Maks 40 tuổi sắp chết đã giảng cho các sinh viên của trường Oberlin. Bạn thân ông là Charles Finney đã giới thiệu ông với họ, Finney tuyên bố rằng không chắc anh Marks sẽ sống qua bài giảng nầy. Ông nói bác sĩ Dascomb sẽ không tìm thấy nhịp đập nào nơi cổ tay, và chỉ có “một chút nhấp nháy” nơi cổ tay kia mà thôi. nếu ông ấy chết trong khi giảng, các sinh viên chỉ có nước im lặng và không rời khỏi chỗ ngồi của mình.
Được giới thiệu như thế, Marks bắt đầu bài giảng sau cùng của mình. Câu gốc hôm ấy là Michê 2.10.
“Hỡi các bạn thân mến, tôi muốn cảm tạ Chúa vì tôi có khả năng rao giảng cho các bạn thêm một lần nữa, và là lần cuối cùng. Đây là sự khao khát của lòng tôi. Ngọn đèn sự sống có lúc treo tòn teng nơi ổ cắm của nó, và theo ý kiến của một số bạn hữu tôi chỉ còn sống có vài giờ nữa mà thôi. Tôi nghĩ chiếc quan tài của tôi đã được đóng rồi đấy.
Sự yếu đuối cùng cực của tôi, và nỗi đau của sự nghẹt thở khi lồng ngực tôi phù lên, nó dìm hẳn quả tim tôi xuống, tôi không có phép sử dụng một phút nào để chuẩn bị cho buổi nhóm nầy. Tôi không sao tập trung được. Tư tưởng đầu tiên cứ luây huây trong đầu tôi, dù tôi muốn lui về nghỉ, Đức Chúa Trời đã không dự trù nơi chốn nầy là nhà sau cùng của tôi. Như vị tiên tri đã nói: ‘Các ngươi hãy đứng dậy! Đi đi! Vì đây không phải là nơi an nghỉ của các ngươi…’. Ánh sáng của buổi bình minh bất tử phước hạnh đang chiếu phía bên kia huyệt mộ. Đấng Christ đang ở gần và quý báu đến nỗi tôi không thể sợ cái chết. Ôi, các anh em ơi, không một thực tại nào là chắc chắn, là ngọt ngào, và vinh hiển cho bằng niềm hy vọng của Cơ đốc nhân…”.
Ông đã giảng về đời sống ngắn ngủi, sự chắc thật của thiên đàng, rồi ông kết thúc bằng cách giục giã các sinh viên: “Nào, hãy sống cho Đức Chúa Trời và cho thế hệ của các bạn! Các bạn đang bước vào cuộc sống để sống trong một thời đại rất vinh quang – có nhiều việc để làm cho Đức Chúa Trời. Tạm biệt, anh Finney ơi, tôi muốn chìa bàn tay tôi ra cho anh. Chào hết thảy những ai biết kính sợ Đức Chúa Trời. Tạm biệt”.
“Các ngươi hãy đứng dậy! Đi đi! Vì đây không phải là nơi an nghỉ của các ngươi, vì cớ sự ô uế làm bại hoại, tức là sự bại hoại nặng lắm” (Michê 2.10)
15 Tháng 6
CÁC NGUYÊN TẮC KHÔNG THAY ĐỔI
Jimmy đã học nhiều câu Kinh Thánh trong các năm tháng dự Lớp Trường Chúa Nhật, và ông đã đưa vào ứng dụng các câu Kinh Thánh ấy. Chúng hiện đến trong những lúc khó khăn, các dịp tiện, những lúc thất vọng, các thời điểm thử thách lớn lao. Bây giờ khi ông đối diện với thử thách to lớn nhất trong cuộc đời của mình, hai câu Kinh Thánh ông ưa thích hiện lên trên bề mặt suy tưởng của ông – II Sử ký 7.14 và Michê 6.8. Ông cùng với phu nhân bàn bạc, rồi cầu nguyện trên nền tảng hai câu Kinh Thánh ấy, sau đó ông quyết định sử dụng Michê 6.8 làm đề tài cho bài diễn văn sắp tới của ông.
Phải, đó không hẳn là một bài diễn văn. Đó là bài phát biểu trong lễ nhậm chức vai trò là Tổng Thống thứ 39 sắp tới của Hoa kỳ. Đứng trước khán đài đầy màu cờ hoa ở phía đông Toà nhà Quốc hội, Jimmy Carter nhìn lướt qua đám đông và muốn kéo xứ sở mình quay trở lại với gốc rễ thuộc linh của nó.
“Trong nghi thức bề ngoài thuộc thể nầy, chúng ta một lần nữa tuyên thệ với năng lực thuộc linh bên trong của Xứ sở chúng ta. Như cô Julia Coleman – giáo viên thời trung học của tôi hay nói: ‘Chúng ta phải điều chỉnh lại với dòng thời gian thay đổi và vẫn giữ lấy các nguyên tắc không đổi’. Ở đây trước mặt tôi là quyển Kinh Thánh đã được dùng trong lễ nhậm chức vị Tổng Thống đầu tiên của chúng ta năm 1789, và tôi đã đưa ra lời tuyên thệ nhậm chức trên quyển Kinh Thánh mà mẹ tôi đã trao cho tôi cách đây mấy năm, quyển Kinh Thánh mở ra ngay chỗ có lời khuyên của tiên tri Michê xa xưa: ‘Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giêhôva đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách kiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?’”.
Carter tiếp tục trình bày các mục tiêu và mơ ước của mình có cho xứ sở rằng người Mỹ sẽ cùng nhau học, làm việc và cùng nhau cầu nguyện; rồi ông kết thúc giống như đã bắt đầu bài diễn văn: “Tôi hy vọng rằng khi nhiệm kỳ Tổng thống của tôi kết thúc, người ta sẽ nói như thế nầy về xứ sở chúng ta: rằng chúng tôi ghi nhớ lời nói của tiên tri Michê”.
“Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giêhôva đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?” (Michê 6.8)
16 Tháng 6
BỊ ĐÁNH BẰNG QUYỂN KINH THÁNH
George Fox là một người cao lớn, trẻ trung, vạm vỡ với ánh mắt sắc sảo, mái tóc dài, và một giọng nói như còi tàu hụ trong ban đêm. Cảm thấy mình được Đức Chúa Trời kêu gọi phải đến đấu tranh với tình trạng bất khiết, và thỉnh thoảng anh mang giày vô chạy xuyên mấy ngôi làng, miệng hô lên: “Khốn cho thành đổ máu! Lichfield! Khốn cho Nottingham! Thành đầy sự dối trá và trộm cuớp!”.
Ai nấy tưởng anh phát điên, nhưng chẳng có người nào quên được mấy lời đó.
Fox ra đời vào năm 1624, và lớn lên anh thấy có ít Cơ đốc nhân bày tỏ ra được niềm vui mừng và sự thực Đấng Christ đang ngự ở bên trong họ. Ở tuổi 23, anh đã gặp Đức Chúa Trời. “Ngày nọ khi tôi đang đi dạo, tôi bị tình yêu của Đức Chúa Trời bắt lấy, tôi không thể bước tới được nữa chỉ có đứng thưởng thức sự cả thể của tình yêu Ngài. Khi ở trong tình trạng ấy, tình yêu ấy rộng mở cho tôi bởi ánh sáng và quyền phép đời đời, và tôi đã nhìn thấy rõ ràng mọi sự đã được làm ra, sẽ được làm ra, trong và bởi Đấng Christ. Tôi nhìn thấy màu trắng của mùa gặt, và hột giống của Đức Chúa Trời đang nằm dày đặc trên mặt đất, không có ai lượm nó; vì thế tôi đã bật khóc với hai hàng nước mắt”.
Anh bắt đầu rao giảng với quyền phép đã khiến cho khán thính giả phải rung động, nhờ thế dấy lên danh xưng bởi đó họ được gọi là – tín đồ hệ phái Quakers [tín đồ phái giáo hữu]. Sử dụng Nahum 3.1, Fox đã đi từ thành “đổ máu” nầy sang thành khác, giảng về sự ăn năn. Ở Tickhill, một tên lỗ mãng đập vào mặt anh thật mạnh bằng một quyển Kinh Thánh đến nỗi phun máu, rồi anh bị kéo ra ngoài, bị đánh đòn, rồi bị ném qua hàng rào.
Fox mất trọn 6 năm trong tù đày bẩn thỉu, tối tăm và bị đóng thành bánh trong chiếc thùng thiết bị cho ngành xây dựng đầy những phân hôi hám. Nơi nhốt anh không có ghế dài cũng không có nệm, và họ đã bỏ vào đó đầy những sâu bọ và chấy rận.
Thế nhưng George Fox vẫn chịu đựng, rồi bởi cái chết của ông vào năm 1691 đã có 50.000 tín đồ hệ phái Quakers ở Anh quốc và Ireland. Khắp thế giới ngày nay đang có 250.000 tín đồ hệ phái nầy.
“Khốn thay cho thành đổ máu! Nó đầy dẫy những sự dối trá và cường bạo, cướp bóc không thôi” (Nahum 3.1).
17 Tháng 6
CÂU GỐC CỦA LUTHER
Một câu Kinh Thánh nổi tiếng trong Kinh Thánh đã được lặp đi lặp lại ba lần trong Tân ước – ấy là Rôma 1.17, Galati 3.11, và Hêbơrơ 10.38.
Martin Luther không bao giờ quên được câu Kinh Thánh nầy.
Luther có dự định trở thành một luật sư, song khi bị kẹt trong cơn bão đầy sấm chớp kinh khiếp, ông đã kêu lên: “Ôi Thánh Anne ơi, xin cứu lấy tôi! Tôi sẽ trở thành một thầy tu”. Thế là ông đến thẳng tu viện, rồi trong hai năm ông đã là một linh mục. Nhưng Luther chẳng có được sự bình an ở bên trong, và ông ngày càng thấy kinh khủng bởi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
Câu nói nầy: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin mình”, cứ tới đến với Luther. Trong khi thật khó định vị chính xác giờ phút câu nói nầy tác động vào ông đưa tới sự biến đổi cá nhân, có một bức thư viết tay rất hay chỉ ra một trường hợp ở Thư viện Rudolstadt ở Đức. Bức thư nầy do con út của nhà cải chánh là Tấn sĩ Paul Luther viết:
“Vào năm 1544, người cha thân yêu của tôi, trước sự hiện diện của hết thảy chúng tôi đã thuật lại toàn bộ câu chuyện chuyến hành trình của ông sang Rome. Ông đã vui vẻ công nhận rằng, ở thành phố đó, nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus Christ, ông đã đạt được sự hiểu biết chân lý của tin lành đời đời. Sự việc xảy ra theo cách nầy. Khi ông cứ lặp đi lặp lại những lời ông cầu nguyện tại chân cầu thang nhà thờ, lời lẽ của tiên tri Habacúc thoạt hiện đến trong trí ông: ‘Người công bình sẽ sống bởi đức tin mình’. Khi nghĩ tới câu ấy, ông thôi không cầu nguyện nữa, bèn trở về lại Wittenburg, rồi lấy câu nầy làm nền tảng chính cho mọi lý thuyết của mình”.
Trong lời tựa cho các sách vở chọn lọc theo tiếng Latinh của mình, Martin Luther đã mô tả một sự cố đã xảy ra sau khi trở về Wittenburg, khi ông còn ở trong “toilet” – là tiếng lóng của tu viện nói tới “hoả ngục”. Khi ông suy gẫm lời lẽ của Habacúc được trưng dẫn trong Roma 1.17: “Tôi bắt đầu hiểu ra. Ngay lập tức câu nầy khiến tôi cảm thấy như mình mới được sanh lại, và chừng dường như tôi đã bước vào hai cánh cổng rộng mở của thiên đàng. Từ giây phút ấy, tôi đã nhìn thấy toàn bộ bề mặt của Kinh Thánh theo một ánh sáng mới”.
Thế giới Cơ đốc chưa hề có lại cái nhìn đó.
“Nầy, lòng người kiêu ngạo, không có sự ngay thẳng trong nó; song người công bình thì sống bởi đức tin mình” (Habacúc 2.4).
18 Tháng 6
DẦU VẬY, TÔI SẼ VUI MỪNG
Thời niên thiếu của John là một thời cô độc khó mà mang nổi. Mẹ ông qua đời khi ông mới lên 7, và cha ông là một thuyền trưởng rất ít khi có mặt ở nhà. Lên 8, John được gửi vào một trường làng, ở đấy phần giáo dục chủ yếu cho ông chỉ là đòn vọt. Lên 11, ông được đi biển với Bố, rồi ở đó, lúc bắt đầu thời trai trẻ, ông đã tiếp thu lối sống của những thuỷ thủ.
Ngày kia, khi đang đợi tàu cập bến, John đến thăm gia đình Catlett, là những người chăm sóc cho mẹ ông khi bà lâm trọng bệnh. Ở đó ông gặp Mary mới có 14 tuổi, cô đang giúp mẹ mình dọn bữa ăn. John tìm thấy nơi nàng tình cảm mà ông luôn luôn cần có, nên đã nấn ná và trễ chuyến tàu mình.
Bố ông đã sắp đặt chuyến đi khác, song ông lại trễ nữa vì cớ Mary. Lần nầy ông bị bắt rồi bị đưa lên phục vụ tàu chiến Harwich. Ông lại xuống tàu trốn đến thăm Mary, nhưng lúc bấy giờ bố mẹ nàng đã nổi giận nói cho ông biết họ không cho ông quan hệ nữa. John bèn trở lại chiếc Harwich, quẫn trí đến độ ông đã nhảy xuống khỏi tàu quay lại năn nỉ. Ông bị bắt, bị đánh đòn, bị hạ tầng công tác, rồi bị đưa lên một chiếc tàu chở nô lệ.
Câu chuyện càng tệ hại hơn trước khi khấm khá hơn, nhưng kết cuộc John Newton đã tìm gặp được Đức Chúa Jêsus Christ, và ông viết bài thánh ca Amazing Grace [Thánh ca 307] như bài làm chứng của mình. Ông đã cưới Mary, và cả hai đã dâng mình bước vào chức vụ.
Tình yêu của họ càng sâu nặng khi năm tháng trôi qua. Nhưng ngày kia bác sĩ đã tìm thấy Mary bị mắc chứng ung thư. Khi nàng suy sụp, John đã viết nhiều bức thư tình để kêu gọi nàng: “Em yêu dấu, ngọt ngào, quý giá, xinh đẹp và đáng yêu nhất của anh”. Nỗi đau tình cảm của ông thật khó mà mang nổi, song ông đã tìm được sức lực ở Habacúc 3.17-18.
Rồi trong tang lễ của Mary, John chầm chậm bước lên toà giảng của ngôi nhà thờ nhỏ ở Luân đôn và giảng từ câu gốc ấy, câu Kinh Thánh mà ông đã xem là kiểu mẫu mà Cơ đốc nhân nên nắm lấy khi buồn đau: “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn… Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi”.
“Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giêhôva, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi” (Habacúc 3.18).
19 Tháng 6
ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC ĐẮC THẮNG
Vì lý do đắc thắng, bố mẹ ông đã đặt cho ông cái tên không hay ho cho lắm, Handley Carr Glyn Moule. Tuy nhiên, bạn bè ông lại gọi ông là “Bishop” [Giám mục], vì ông đã trở thành một trong những người đáng kính nhất ở nước Anh.
Sự ông trở lại với Đấng Christ đã diễn ra vào lúc ông được 25 tuổi, trong mùa lễ Giáng sinh năm 1866. Viết thư cho cha mình, ông nói: “Mùa lễ Giáng sinh nầy, sau nhiều khốn khổ về mặt lý trí, con đã tìm gặp và tiếp nhận ơn tha thứ cùng sự bình an qua sự hy sinh của Đấng Cứu Chuộc, là những điều trước đây con chưa bao giờ gặp”.
Tuy nhiên, mấy năm sau đó khi ông bước vào chức vụ, ông đã cảm thấy không thích nghi về mặt thuộc linh. Lại viết thư cho cha mình, ông nói: “Con buồn lắm, còn cần đến ân điển gấp mười lần hơn trước khi con mong trở thành một Cơ đốc nhân phước hạnh, hay – một Mục sư của Đức Chúa Jêsus Christ – một người hữu dụng nhất”.
Ông bước vào chức vụ, song cảm xúc về sự vô quyền lại tăng thêm. Mẹ ông đã viết cho ông lời thơ chan chứa Thánh Linh, và ông đáp lại: “Ôi, ước gì con cảm xúc được việc rờ đụng Đức Chúa Jêsus Christ, dù một chút ít thôi”.
Đến năm 1882, D. L. Moody và Isa Sankey đến tại Cambrige với quyền năng bừng bừng cùng những sứ điệp đắc thắng của họ đã làm rung động tấm lòng ông. Một năm sau, một số diễn giả Keswick đã đến rao giảng về sự đắc thắng trong Đấng Christ. Handley đã đến dự buổi nhóm được tổ chức ở một nhà kho lớn. Một thương gia Cơ đốc – William Sloan đã giảng từ Aghê 1.6: “Các ngươi… ăn mà không no”. Sloan giảng rằng khi “Bản Ngã” cai trị tấm lòng chúng ta thay vì Đấng Christ, linh hồn chúng ta đang gầy còm. Chỉ có đời sống phó thác trọn vẹn cho Đấng Christ mới là đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh và đắc thắng mà thôi.
Buổi tối đó Moule đã đầu phục mà chẳng có sự dè dặt để trở thành nô lệ của Chúa, và ông đã tin cậy Đấng Christ làm đầy dẫy mình với quyền phép sống vui tươi, và hầu việc kết quả. Một sự bình an đầy dẫy ông giống như biển cả vậy, và từ ngày đó trở đi cho tới khi ông qua đời vào năm 1920, Handley Carr Glyn Moule đã làm chứng về Đấng Christ cho hết thảy những ai gặp gỡ ông.
“Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít; ăn mà không no; uống mà không đủ; mặc mà không ấm; và kẻ làm thuê, đựng tiền công mình trong túi lủng” (Aghê 1.6).
20 Tháng 6
CON NGƯƠI CỦA MẮT TA
John Hyde (1865-1912) là một giáo sĩ cho Ấn độ, ông rất nổi tiếng vì sự cầu nguyện có quyền năng và hiệu quả đến nỗi ai cũng biết ông là “Hyde cầu nguyện” trong lịch sử. Có lần ông giảng về bài học “hay nhất” mà Chúa đã dạy ông về sự cầu nguyện. Sự việc xảy ra khi ông đang cầu thay cho một Mục sư bản xứ ở Ấn độ là người có cả hai thứ – gặp phải và gây ra – nhiều vấn đề.
Hyde bắt đầu lời cầu thay của ông: “Ôi Chúa, Ngài biết rõ người anh em nầy, làm thể nào…”. Ông sắp nói: “nguội lạnh”, đột nhiên ông phát giật mình. Một giọng nói dường như thì thầm bên tai ông: “Người nào đụng đến ông ta, người ấy đụng đến con ngươi mắt ta”. Một nỗi khủng khiếp quét qua Hyde, và ông cảm thấy mình phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời: “đang tố cáo người anh em”.
Quỳ gối xuống, Hyde đang xưng tội mình, và ông nhớ tới lời nói của Phaolô rằng chúng ta nên nghĩ tới những việc đáng phải nghĩ tới. Hyde kêu lên: “Lạy Cha, xin chỉ cho con thấy những việc nào đáng phải nghĩ tới trong đời sống của người anh em con”.
Như một tia chớp, Hyde nhớ tới nhiều sự hy sinh mà vị Mục sư nầy đã làm ra cho Chúa, thể nào ông ấy đã dâng hết thảy mọi sự cho Đấng Christ, thể nào ông đã chịu khổ rất nặng nề cho Đấng Christ. Ông đã nghĩ tới nhiều năm tháng lao động nhọc nhằn mà con người nầy đã đầu tư vào Nước Chúa, và với sự khôn ngoan Chúa cho, ông ấy đã giải quyết được cuộc xung đột trong hội chúng. Hyde nhớ tới lòng yêu thương của Mục sư nầy đối với vợ và gia đình mình, và thể nào ông đã nêu ra một tấm gương làm một người chồng tin kính trước Hội thánh.
John Hyde đã dành thì giờ cầu nguyện của mình trong ngày đó ngợi khen Chúa vì sự trung tín của người anh em nầy.
Sau đó một thời gian ngắn, Hyde hành trình qua vùng đồng bằng để gặp vị Mục sư nầy, và ông hay rằng Mục sư ấy vừa mới nhận lãnh một chức vụ thuộc linh cao hơn, sự phục hưng cá nhân nầy đã làm cho tấm lòng ông tươi mới trở lại như một cơn gió nhẹ mùa xuân tạo ra vậy.
Trong khi Hyde dâng lời ngợi khen, Đức Chúa Trời đã chúc phước cho.
“Vì Đức Giêhôva vạn quân phán rằng: Sau sự vinh hiển, rồi Ngài sai ta đến cùng các nước cướp bóc các ngươi; vì ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi mắt Ngài” (Xachari 2.8).
21 Tháng 6
KÉO RA TỪ LỬA
John Wesley lớn lên ở thị trấn Epworth nhỏ rất náo nhiệt tại Anh quốc, ở đây cha ông là Samuel là một vị Mục sư chẳng được ưa chuộng và rất nghèo nàn, các bài giảng của ông chẳng có gì lôi cuốn và không tế nhị. Kết quả là Samuel thỉnh thoảng trở thành nạn nhân của những tên vô lại. Mùa màng của ông bị đốt phá, bầy gia súc của ông bị thương tật, và một hai lần nhà ông suýt bị đốt.
Nổ lực thứ ba đã thành công. Khoảng nửa đêm ngày 9 tháng Hai năm 1709, Susanna Wesley tỉnh giấc bởi những tia lửa rơi từ mái nhà xuống giường ngủ của bé Hetty. Samuel bật dậy với một sự hốt hoảng và ông kêu lên: “Lửa! Lửa!”. Mở cánh cửa ra, ông thấy cả ngôi nhà đầy những khói và lửa. Đó là ngôi nhà đóng bằng gỗ vách đất có ba tầng. Mái nhà lợp bằng tranh đã cháy tiêu trong đống lửa, và ngọn lửa đã lan rộng giống như một tấm thảm ánh sáng vậy. Bố mẹ chạy bay vào để cứu lấy bầy con của họ, hầu hết đã mắc kẹt trong toà nhà đang bốc cháy, song cuối cùng họ đã xoay sở thoát ra ngõ cửa sổ và cánh cửa lớn ngoài vườn.
Nhưng rồi khi họ kiểm sơ lại thì thấy thiếu một đứa. Quay nhanh lại, họ nhìn thấy gương mặt khủng hoảng của John đang ấn vào khung cửa sổ trên lầu. Lúc bấy giờ John chỉ mới có 5 tuổi. Ngay lập tức, một cái thang người được hình thành; và người ta đã leo lên bồng John ra ngoài an toàn. Ông không bao giờ quên cảnh thoát thân ấy: “Tôi nhớ mọi cảnh tượng như mới vừa xảy ra hôm qua thôi. Khi nhìn thấy căn phòng rất sáng, tôi thò đầu ra xem và thấy các đường sọc lửa trên trần nhà. Tôi bật dậy chạy ra cửa, nhưng không thể đi xa hơn, nền nhà đang phát hoả. Tôi leo lên một cái rương dựng gần cửa sổ. Có người đứng trong sân đã nom thấy tôi…”.
Samuel nhóm gia đình mình lại quanh ông rồi dâng lời cảm tạ vì chẳng có ai chết mất. Susanna khi ấy mới đưa ra lời hứa sẽ ở lại với John trọn đời sống ông: “Há đây không phải là một đóm kéo ra từ lửa sao?”. Trong nhiều năm sau đó, ông đã khắc câu nói nầy dưới các bức ảnh của ông.
Sau trận hoả hoạn, Susanna đã dâng mình sửa soạn cho John bước vào chức vụ, bà tin rằng Đức Chúa Trời chắc chắn đã có một công việc đặc biệt dành cho ông để làm.
“Đức Giêhôva phán cùng Satan rằng: Hỡi Satan, nguyền Đức Giêhôva quở trách ngươi; nguyền Đức Giêhôva là Đấng đã kén chọn Giêrusalem quở trách ngươi. Chớ thì mầy há chẳng phải là cái đóm đã kéo ra từ lửa sao?” (Xachari 3.2).
22 Tháng 6
NGĂN CẤM KẺ CẮN NUỐT
Trong quyển Proving God của ông, Al Taylor thuật lại câu chuyện nói tới Arlie Rogers ở Selma, California, ai cũng biết ông ta là “Vua Khoai Tây Ngọt Ngào” vì hoạt động nông trang rất rộng lớn của ông trong đồng bằng San Joaquin. Arlie cùng em mình lần đầu tiên đến California với một ít tiền bạc mà thôi. Bằng cách tiết kiệm và góp nhặt, sau cùng họ đã đủ sức mua cả một nông trại. Lúc bấy giờ, có được tiền do thu hoạch vụ bông, hai anh em mới đầu tư từng xu mà họ kiếm được vào việc trồng bông vải.
Khi những cây bông vừa được trồng trên mặt đất, một trận bão cát lớn đã thổi qua đồng bằng, huỷ diệt mùa vụ của mọi người. Gia đình Rogers rất chán nản thất vọng.
Arlie kêu gọi Hội thánh và xin Mục sư của họ đến tham quan. Lúc Mục sư Burnham đi ngang qua các cánh đồng đã bị tàn phá, hai anh em mới dốc đổ ra các rắc rối của họ. “Mọi sự chúng tôi có là mùa vụ nầy đây. Chúng tôi không còn đồng bạc hay tài khoản nào để tái sản xuất cả. Chúng tôi bị huỷ phá hoàn toàn rồi. Giờ đây chúng tôi sẽ mất hết”.
Mục sư Burnham vốn biết rõ hai anh em nầy là những Cơ đốc nhân rất năng nổ, và trung tín trong việc dâng phần mười của họ cho Chúa. Ông vừa đáp vừa nhìn thẳng vào họ: “Nầy anh em ơi, chuyện nầy có thực sự là xấu đâu. Đức Chúa Trời mà chúng ta hầu việc đã khiến cho Con Ngài sống lại từ kẻ chết sau ba ngày. Tôi biết Ngài có quyền làm cho cây bông sống lại mà”.
Với lời nói đó, vị Mục sư quỳ gối xuống đất dâng lên Chúa một lời cầu nguyện ngắn. Ông nói: “Lạy Cha, hai người nầy là những người chuyên dâng 1/10. Ngài đã phán Ngài sẽ ngăn cấm kẻ cắn nuốt cho người dâng hiến 1/10. Con nài xin Cha bày tỏ ra quyền phép của Lời Ngài và làm ứng nghiệm lời hứa đó ngay tại đây trong cánh đồng trồng bông nầy. Hãy đem cây bông nầy trở lại và ban cho hai người nầy một vụ mùa thật trúng trong danh của Chúa Jêsus. Amen!”. Ông đứng lên, phủi bụi đất dính nơi hai đầu gối mình, rồi đáp: “Giờ đây, hãy để cho Ngài làm điều đó”. Thực thế, mấy ngày sau hai anh em Rogers đến mời ông trở lại. Ở đấy trước mắt họ một vụ mùa thật trúng đang mọc lên từ đất. Đức Chúa Trời đã ngăn cấm kẻ cắn nuốt.
“Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho… Ta sẽ vì các ngươi ngăn cấm kẻ cắn nuốt, nó sẽ không phá hoại bông trái của đất các ngươi; và những cây nho các ngươi trong đồng ruộng cũng sẽ không rụng trái trước khi đến mùa, Đức Giêhôva phán vậy” (Xachari 3.10-11)
23 Tháng 6
MỚI CÓ 14 NGƯỜI
Giáo sĩ Christine Tinling từng đến thăm trại cùi ở Foochow, Trung quốc, ở đó bà có nghe kể về một cụ già ngày kia ông xuất hiện xin một căn phòng để chết trong đó. Ông chỉ quấn chiếc bao bố quanh người rồi cột bằng mấy sợi dây mà thôi. Ông không có thân nhân nào hết, nhưng mấy Cơ đốc nhân đã đưa ông vào đây và yêu mến ông như người thân của họ.
Ngày kia vị Mục sư người Trung quốc đến thăm cụ già nầy rồi bắt đầu chia sẻ tin lành, song khi Mục sư hỏi xem ông có muốn trở thành Cơ đốc nhân hay không, ông đáp: “Không, Chúa Jêsus đã phó chính mình Ngài vì tôi, nhưng tôi không có gì để dâng cho Ngài để đổi lại một đặc ân giống như thế đâu”.
Mục sư đáp: “Nhưng Ngài chẳng muốn chi khác ngoài ông”. Cần phải mất mấy phút đồng hồ cho cụ già hiểu được điều này. Ông cụ cứ thắc mắc: “Làm thể nào Ngài lại muốn một lão già cùi hủi, hôi thối như tôi chứ? Nhưng sau cùng, một ngày nọ cụ đã tin và nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa.
Cụ già mau mắn học biết yêu mến Lời của Đức Chúa Trời và cụ bắt đầu chia sẻ Đấng Christ với mấy người cùi bạn hữu của cụ, cụ đi hết phòng nầy sang phòng khác, mãi cho tới lúc bệnh tật khiến cho mắt cụ rơi ra ngoài, và chân cụ rớt rụng ra.
Khi cụ nằm chờ chết, cụ tiếc rằng cụ đã làm quá ít cho Chúa. Cụ đã học biết tin lành quá trễ, khi cụ không còn cử động được gì nữa. Ngước nhìn lên vị Mục sư, cụ hỏi câu nầy: “Khi tôi về với nhà Cha của tôi, liệu Chúa Jêsus có trách tôi sao không tìm thêm người nữa, hay liệu Ngài sẽ nhớ đến tôi chỉ là một lão già cùi hủi đáng ghét chăng?”. Rồi cụ nói thêm: “Tôi chỉ mới đưa về cho Chúa có 14 người thôi”.
Mười bốn linh hồn, cụ đã đưa họ về cho Đức Chúa Jêsus Christ.
Christine Tinling nói khi kể lại câu chuyện: “Đến ngày sống lại, từ mồ mả ngoài thành Foochow, người con của Đức Chúa Trời nầy sẽ sống lại, trong lúc còn trong xác thịt, cụ là một người cùi và là người bị xã hội ruồng bỏ. Cụ sẽ có chỗ riêng của mình trong đoàn người phước hạnh, Kinh Thánh chép về họ rằng: ‘Đức Giêhôva vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm’”.
“Đức Giêhôva vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm” (Xachari 3.17).
24 Tháng 6
TẤM LÒNG HÒA NHỊP VỚI
Gã thanh niên 17 tuổi cười hể hả khi anh ta rót ly rượu khác cho mụ thầy bói. Anh ta cùng với mấy người bạn thân thoải mái bên chai rượu, cười đùa khi mụ thầy bói tinh quái đang tìm cách nói ra tương lai của họ qua dáng vẻ mù mờ say khước của bà ta. Thế nhưng anh ta không cười nữa khi bà ta chỉ ngón tay run run thẳng vào anh ta rồi nói: “Nầy anh kia, anh sẽ sống để nhìn thấy con cháu của anh”. Có cái gì đó trong câu nói nầy đã làm cho chàng trai Robert Robinson phải lúng túng, và thái độ anh liền thay đổi. Anh ta nói với bạn bè mình: “Đi nào. Mụ ta say đến nỗi không biết mình đã nói gì. Hãy để cho mụ ta yên”. Nhưng lời lẽ của bà ta đã làm cho Robert bối rối, vì anh nghĩ: “Nếu tôi còn sống để nhìn thấy con cháu mình, tôi sẽ phải thay đổi mọi đường lối của tôi. Tôi không thể sống giống như hiện nay được”. Buổi tối hôm ấy, Robert thình lình đề nghị với bạn bè của anh họ sẽ đến tham dự buổi nhóm truyền giảng do George Whitefield nổi tiếng trên thế giới tổ chức. Họ đáp: “Được thôi, chắc có lẽ chúng ta sẽ phá hôi buổi nhóm đó thôi”.
Nhưng buổi tối đó Whitefield rao gảng từ Mathiơ 3.7, ông giảng thật sấm sét câu: “Hãy tránh khỏi cơn giận ngày sau”. Những ý đồ say sưa của Robert hết ngày này sang ngày khác biến mất, và anh chợt tỉnh ngay lập tức. Anh cảm thấy Whitefield đã giảng trực tiếp cho mình, và câu Kinh Thánh đến với anh luôn trong hai năm bảy tháng. Thế rồi, tới ngày 10 tháng Chạp năm 1755, anh đã dâng lòng mình cho Đấng Christ. Robert Robinson đến nhóm với những người thuộc hệ phái Methodist và được John Wesley chỉ định làm Mục sư ở Norfolk, Anh quốc. Ba năm sau, anh đã viết bài thơ cho một trong các bài giảng của mình, rồi không lâu sau đó bài thơ nầy được phổ thành một bài thánh ca. Từ đó bài hát nầy được Hội thánh rất ưa chuộng:
Hãy đến, hỡi Ngài, nguồn của mỗi phước hạnh
Xin làm cho lòng con biết ca tụng ân điển Ngài
Hỡi dòng sông thương xót,
không bao giờ ngừng chảy
Hãy cất tiếng hát lên những bài hát ngợi khen
Xin dạy con bài hát dịu dàng du dương
Từng được hát lên bởi hàng ngàn lưỡi trên cao
Hãy ngợi khen ngọn núi – con sẽ đứng trên núi ấy
Hòn núi tình yêu cứu chuộc của Ngài.
“Bởi Giăng thấy nhiều người dòng Pharisi và Sađusê đến chịu phép báptem mình, thì bảo họ rằng: Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn giận ngày sau?” (Mathiơ 3.7)
25 Tháng 6
ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ NHÀ TÙ
Khi George Vins qua đời vào ngày 11 tháng Giêng năm 1998, ông đã để lại sau lưng di sản của một vị anh hùng. Nhiều năm trời trước đó, vào năm 1966, Vins đã tạo ra một thế đứng dũng cảm cho Chúa ở thành phố Moscow. Năm trăm đại biểu của Hội thánh Tin lành Báptít đã kéo tới đặng phản kháng sự nhà cầm quyền Cộng sản đối đãi với hàng tín đồ. Họ đã đứng suốt cả ngày trước Trung ương Đảng Cộng Sản Liên Xô, cầm trong tay họ là một đơn thỉnh cầu đệ trình cho Tổng Bí Thư Leonid Brezhnev. Rồi suốt cả đêm 500 người cứ đứng trong mưa khi nhiều chiếc xe lái ngang qua đó, hất tung bùn đất lên người họ. Các nhà cầm quyền đã đề nghị một cuộc gặp với một số chức sắc, song các nhà lãnh đạo đã từ chối, họ chỉ muốn gặp một mình Brezhnev mà thôi.
Lúc 1 giờ 45 sáng, 28 chiếc xe bus quân sự nổ máy ầm lên. Các tín hữu kết thành một vòng tròn, tay trong tay rồi hát vang lên những bài thánh ca. Cảnh sát bắt đầu đánh đập họ, cả già và trẻ. Có người bị tách ra, bị nắm tóc kéo đi, rồi bị quăng lên mấy chiếc xe bus rồi chở vào tù, các trại tập trung, và nhốt vào phòng biệt giam.
George Vins không có mặt trong số những người bị bắt đó, nhưng ông nhớ lại chức vụ giảng đạo của Chúa Jêsus đã bắt đầu ngay lúc Giăng Báptít bị bắt. Đi thẳng vào Trung ương Đảng Cộng Sản tại Moscow, ông đã đứng trên đường phố công bố chính lời lẽ mà Chúa Jêsus đã phán trong cơ hội đó: “Hãy ăn năn, vì Nước Thiên đàng đã đến gần”.
Ông bị bắt liền tức khắc. Những nơi ông ở đều bị giấu kín không cho bạn bè và gia đình ông biết, song sau đó mọi người hay được ông bị chuyển tới nhà tù Leftorovskaia. George Vins ở đó 9 năm trời ròng rã trong nhà tù Sô viết vì cớ đức tin mình. sau cùng ông được thả ra vào năm 1979 qua một sự đổi chác do Tổng Thống Jimmy Carter sắp xếp.
Vins đã dâng phần đời còn lại của mình làm cho lý tưởng của Hội thánh cứ thăng tiến ở đàng sau Bức Màn Sắt, và Đức Chúa Trời đã cho phép ông nhìn thấy sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản mà ông đã từng chịu khổ cách hào hiệp trong đó.
“Từ lúc đó, Đức Chúa Jêsus khởi giảng dạy rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần” (Mathiơ 4.17).
26 Tháng 6
GIẢI PHÁP CƠ BẢN
Khi chàng thanh niên George Whitefield bắt đầu lôi cuốn nhiều doàn dân đông ở Anh quốc, giới tăng lữ người Anh đã kiện cáo anh từ nhà thờ của họ. Anh là người tin lành và rất hỗn xược, họ đã xem anh là một mối đe dọa. Ở Bristol, Anh quốc, khi George còn vật vã với tình trạng tiến thoái lưỡng nan của mình, thì có giải pháp cơ bản đến với anh – giảng tin lành mà chẳng cần thánh đường, toà giảng, hàng ghế, hay đàn dương cầm. Đứng trên bục đóng bằng gỗ và giảng trong bầu không khí rộng mở. Chưa ai nghe nói tới chuyện nầy, và thậm chí Wesley gọi đó là “ý tưởng rồ dại”.
Thế nhưng đến ngày 17 tháng 2 năm 1739, Whitefield cùng ba người bạn mạo hiểm đến công trường than bên ngoài Bristol để thử nghiệm. Những công nhân khai thác mỏ đều có mặt giữa vòng hạng người bị miệt khinh nhất – thất học, bẩn thỉu, nghèo khổ, sống trong những túp lều tối thui. Người ta coi họ là: “ma quỷ, hạng người chuyên đánh đập vợ con, và những kẻ đồng tính luyến ái”. Họ biết rất ít về Đức Chúa Trời, và chẳng có vị Mục sư nào đến phục vụ cho họ hết.
Whitefield đã đến ngay lúc những thợ mỏ đang ra khỏi mỏ. Đứng trên chỗ đất cao ráo, anh đã bật cười với chút âu lo và nói khẽ rằng Chúa Jêsus cũng đã sử dụng: “một hòn núi làm toà giảng và các từng trời làm loa phóng thanh của Ngài”. Kế đó, cất cao giọng sang sảng của mình, anh gào lên với những người thợ mỏ đang đứng cách đó hàng trăm thước tây: “Mathiơ chương 5 câu 1 đến câu 3”.
Một số người dừng lại và quan sát. Họ chẳng biết Mathiơ là ai và chương 5 có nghĩa gì, song khoảng 200 người trong số họ kéo đến gần hơn. Whitefield tiếp tục nói: “Đức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!”.
George bèn thuật lại một câu chuyện khiến cho những thợ mỏ phải bật cười; và khi ba người bạn của anh thành khẩn cầu nguyện, anh mới bước vào bài giảng của mình, lời lẽ của anh tuôn tràn ra thật mạnh mẽ. Khi ấy anh để ý thấy những đường sọc trắng trên gương mặt đầy bụi bám của người thợ mỏ, lúc hai hàng nước mắt bắt đầu lăn dài qua lớp bụi đất. Trong vòng nhiều ngày đoàn dân đông kia đã tăng lên đến 10.000 người.
Đây là phần khởi đầu rất tốt cho nhà truyền đạo chỉ mới 24 tuổi.
“Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” (Mathiơ 5.3)
27 Tháng 6
TỰ CAO TỰ ĐẠI?
Mấy câu Kinh Thánh từ sách Mathiơ đã làm cho Cơ đốc nhân bị bắt bớ được vững vàng thêm, như John Hus – nhà cải chánh người Bô-hem. Ngay trước lúc ông tuận đạo ở Constance, ông đã viết cho bạn mình: “Tôi được an ủi rất nhiều bởi câu nói của Chúa: ‘Phước cho các ngươi khi người ta thù ghét các ngươi…”.
Mặc dù Charles Spurgeon không bị thiêu giống như Hus, ông đã chịu đựng một cơn bão lửa chỉ trích khi bắt đầu chức vụ ở Luân đôn. Một số bài báo viết chỉ trích bài giảng của ông, và nhiều cuốn sách nhỏ xuất hiện từ chối các phương pháp, động lực, hình thức để tóc dài, và các sứ điệp của ông. Ông bị nói xấu trong các phim hoạt hình và tranh biếm hoạ. Một vài nhà văn đã thắc mắc không biết ông đã được biến đổi hay chưa!?!
Lúc đầu, cơn bão chỉ trích và trách móc nầy gây tổn thương Spurgeon rất nặng, ông đã tự mô tả mình đang: “tan vỡ trong nỗi thống khổ”. Nhưng vợ ông đã sửa soạn một tấm bảng ghi Mathiơ 5.11-12 treo trên bức tường căn phòng của họ, nơi Charles sẽ nhìn thấy tấm bảng ấy là vật đầu tiên mỗi ngày: “Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm”.
Câu Kinh Thánh nầy đã làm công việc của nó, và ngay lúc Spurgeon học biết nắm lấy sự chỉ trích để tiến bộ hơn. Không lâu trước khi ông qua đời mấy năm sau đó, một người bạn đến gặp ông rồi nói: “Spurgeon, anh biết không có người nghĩ anh là tự cao tự đại đấy”.
Nhà truyền đạo lỗi lạc kia bèn dừng lại trong một phút, rồi ông mỉm cười đáp với đôi mắt nháy nháy: “Anh có nhìn thấy mấy kệ sách kia không? Chúng chứa hàng trăm, hàng ngàn bài giảng của tôi đã dịch sang từng ngôn ngữ duới trời nầy. Ngay bây giờ hãy thêm vào đó, từ khi tôi 20 tuổi chưa hề xây một nơi rộng đủ để chứa số người muốn nghe tôi giảng, và với tiếng tăm của tôi, khi tôi nghĩ tới nó, tôi ngạc niên lắm không biết mình có tự cao tự đại hay không nữa”.
“Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thuởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm” (Mathiơ 5.11-12).
28 Tháng 6
DƠI RA TỪ ĐỊA NGỤC
Mitsuo Fuchida – Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Không Quân Nhật Bản đã hướng dẫn phi đoàn 860 chiếc máy bay tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng Chạp năm 1941. Nhà đánh bom người Mỹ Jacob DeShazer muốn đánh trả lại, và ngày 18 tháng Tư sau đó, ông đã lái chiếc máy bay đánh bom B-25, mệnh danh là “Dơi Ra Từ Địa Ngục” [Bat Out of Hell], trong cuộc đột kích nguy hiểm vào Nhật Bản. Sau khi rải các quả bom xuống Nayoga, DeShazer mất hướng bay trong sương mù và phi cơ của ông không còn đủ nhiên liệu bay nữa. Ông bị bắt làm tù binh, bị người Nhật hành hạ, và bị đe doạ với cái chết thật tàn nhẫn. Trong gần hai năm, DeShazer đã gánh chịu đói khát, lạnh lẽo và bệnh lỵ. Đến tháng 5 năm 1944, người ta trao cho ông quyển Kinh Thánh. Tên lính gác nói: “Mày có thể giữ nó trong ba tuần lễ”. DeShazer chụp lấy quyển sách, áp chặt nó vào lồng ngực mình, rồi khởi sự đọc sách Sáng thế ký. Hầu như không ngủ, ông đã đọc Kinh Thánh qua vài lần, thuộc lòng nhiều phân đoạn chính. Đến ngày 8 tháng 6, đọc đến Rôma 10.9, Jacob đã cầu nguyện tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa mình.
Ngay lập tức Mathiơ 5.44 trở thành câu Kinh Thánh rất khó chịu đối với DeShazer khi ông quyết định đối xử với những tên lính canh người Nhật nầy theo cách khác. Thái độ thù nghịch của ông đối với họ tan biến đi, và mỗi buổi sáng ông chào hỏi họ thật nồng ấm. Ông đã cầu thay cho họ rồi tìm cách làm chứng cho họ nữa. Ông cũng chú ý thấy thái độ của họ đối với ông cũng thay đổi, và họ thường đút lén cho ông đồ ăn hay các khoản tiếp trợ. Sau chiến tranh, DeShazer đã trở lại Nhật bản trong vai trò một giáo sĩ. Những quyển sách chứng đạo của ông: “Tôi là một tù binh của người Nhật” đã tràn ngập cả xứ, và hàng ngàn người mong muốn nhìn thấy nhân vật có lòng yêu thương và tha thứ cho kẻ thù của mình. DeShazer đến trú ngụ và thành lập Hội thánh ở Natoga, thành phố mà ông đã đánh bom.
Một người cảm động sâu sắc bởi sự làm chứng của DeShazer được Glenn Wagner thuộc Hội Pocket New Testament League đưa đến với Đấng Christ. Một thời gian ngắn sau đó, người nầy đến thăm DeShazer tại nhà của ông, và hai người trở thành anh em bạn rất thân. Đó là Mitsuo Fuchida – người đã lãnh đạo cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Khi DeShazer hầu việc Chúa trong vai trò giáo sĩ ở Nhật, Fuchida đã trở thành một nhà truyền giáo rất có tài, ông rao giảng khắp nước Nhật và trên khắp thế giới.
“Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Mathiơ 5.44-45).
29 Tháng 6
DANH CHA ĐƯỢC THÁNH
Trong sự trị vì của Mary I ở nước Anh – Mary khát máu – Tấn sĩ John Hooper bị bắt bỏ tù vì cớ đức tin của ông rồi bị kết án tử hình. Khoảng 9 giờ sáng ngày 9 tháng 2 năm 1555, ông bị đưa đến trung tâm thành phố Gloucester. Khoảng 7.000 người có mặt, hôm ấy là ngày họp chợ. Hooper gật đầu chào mấy người bạn; rồi đến tại hiện trường, ông cởi áo ngoài ra trong khi mấy bao thuốc súng bị cột chặt vào hai bên nách và giữa hai chân của ông.
Khi đám đông yên lặng liếc nhìn với vẻ mặt thật khủng khiếp. Hopper cất tiếng lên yêu cầu họ hiệp với ông trong lời cầu nguyện của Chúa. Bầu trời mùa đông vang lên với giọng nói của 7.000 người: “Lạy Cha chúng con ở trên trời. Danh Cha được thánh. Nước Cha được đến. Ý Cha được nên. Ở đất như ở trời…”.
Tiếng “Amen” sau cùng đã được thốt ra, và đoàn dân đông đứng nhìn qua hai hàng nước mắt lúc chiếc vòng bằng kim loại được đặt quanh lồng ngực của Hooper để giữ ông dính chặt vào cột. Ngọn lửa đã được nhóm lên, và ngọn gió thổi rất mạnh. Ngọn lửa đó đã tạo ra một cuộc hành hình chầm chậm, với mái tóc của Hooper bị cháy từ từ rồi da của ông phồng lên từ hơi nóng, nhưng không có một ngọn lửa nào gây chết người cả.
Sau cùng phần thấp nhất của cơ thể ông bắt đầu bốc khói khi những kẻ hành hình chăm lên ngọn lửa hừng. Trong lúc gương mặt và môi miệng ông cháy đen rồi, người ta có thể trông thấy ông đang cầu nguyện cho tới lúc chúng bị cháy tiêu đi. John Foxe đã viết trong Quyển sách viết về những người tuận đạo: Hooper bị đánh nơi ngực cho tới chừng hai cánh tay ông rụng xuống, và rồi cứ tiếp tục bị đánh vào ngực với bàn tay kia màu mỡ trắng, nước và huyết chảy ròng ròng xuống mấy ngón tay ông. Hooper đã ở trong ngọn lửa khoảng 45 phút đến một giờ. Trông ông giống như một con chiên vậy. Giờ đây ông đang trị vì như một người tuận đạo phước hạnh trong mọi niềm vui trên thiên đàng được sửa soạn cho người trung tín trong Đấng Christ trước mặt mọi nền của thế gian”.
“Vậy, các ngươi hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh” (Mathiơ 6.9)
30 Tháng 6
CỦA CẢI Ở TRÊN TRỜI
Mục sư W. A. Criswell thường giảng luận từ sách Giô-ên, ông hay kết thúc bài giảng với câu chuyện nầy: “John Rascus đặt 300$ US vào chiếc đĩa khi người ta đưa nó tới, rồi ông nói khẽ: ‘Ta sẽ gặp lại ngươi trên thiên đàng’. Mấy người ngồi xung quanh ông nói: ‘Cụ John chắc là lẫn quá, cụ nói cụ sẽ nhìn thấy 300$ US đó trên thiên đàng. Cụ sẽ gặp lại Đấng Tạo Hoá của cụ ở đó, song chắc chắn cụ sẽ không nhìn thấy lại số tiền đó đâu’.
Bấy giờ viên thủ quỹ Hội thánh sử dụng một khoản trong 300$ US đó để chi trả cho tiền điện. Ông nầy chi một số cho nhà truyền đạo để mua dầu. Một số chi cho các chủng sinh thực tập, và một số cho công trường truyền giáo.
Sáng sớm kia, John Rascus qua đời lúc đang nằm ngủ. Vào buổi sáng ngày đầu tiên vinh hiển của Chúa, John đi dạo trên những con đường bằng vàng, và một thanh niên đến gặp ông nói: ‘Cảm ơn, anh John. Tôi bị cảm lạnh, cô đơn và hôm ấy trời thật tối. Tôi trông thấy mấy ngọn đèn của nhà thờ. Thế là tôi ra khỏi bóng tối, tôi bước vào. Ở đó, bóng tối ra khỏi linh hồn tôi và tôi đã gặp Chúa Jêsus’.
Một người khác bước tới gặp ông nói: ‘Nhà truyền đạo đến tại trạm đổ xăng. Khi tôi bơm đầy bình xăng, ông ấy kể cho tôi nghe về Chúa Jêsus và tôi đã dâng lòng tôi cho Chúa’.
Kế đó John gặp một đám đông người, họ nói: ‘Tôi muốn cảm ơn ông vì những sinh viên kia mà ông đã giúp. Họ đã giảng tin lành cho gia đình tôi, và chúng tôi đã gặp Chúa’.
Kế đó ông lại gặp một số người nói tiếng nước ngoài, họ nói: ‘Cảm ơn anh, vì đã gửi tin lành cho chúng tôi ở hải ngoại’. Sau cùng cụ John đến tại Quảng Trường Hallelujah, khi quay sang một thiên sứ, cụ nói: ‘Tôi lấy làm tiếc cho mấy ông đấy thiên sứ ạ. Quý vị không bao giờ biết được cứu bởi huyết của Chúa Jêsus, Chúa của tôi là thể nào đâu!’.
John Rascus đăm chiêu một chút, rồi nói thêm: ‘Và quý vị không biết làm thể nào để chuyển của cải từ dưới đất thành của cải ở trên trời đâu!’
Thiên sứ đáp: ‘Thưa cụ, mọi sự chúng tôi làm chỉ là nhìn thấy việc ấy từ những con đường vinh hiển mà thôi!’”.
“Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy; nhưng phải chứa của cải ở trên trời…”.
***

