DAT DNA
Thứ Bảy, Tháng Tư 18, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Tám

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

                                                                     1 Tháng 8

TÔI TỚ CHÚA

                Ann Hasseltine chào đời vào năm 1789 ở Massachusetts, lớn lên trong một gia đình rất đặc biệt. Bà là người rất khôn ngoan và tế nhị. Khi còn là thiếu niên, Ann đã biết dâng mình cho Chúa, cầu nguyện: “Xin đưa con vào trong sự hầu việc Ngài, và con không xin điều chi khác nữa. Con không chọn lấy việc làm, hay nơi làm việc đâu. Chỉ xin cho con biết ý muốn của Ngài, và con sẽ sẵn sàng tuân theo”.

Bà là một giáo viên 21 tuổi khi bà gặp ông Adodiram Judson, ông là người muốn trở thành một giáo sĩ; và khi Adodiram sau đó đã viết thư cho bố của Ann hỏi cưới bà, ông nói: “Giờ đây tôi muốn hỏi xin ông có bằng lòng để cho con gái ông tách ra khỏi gia đình vào đầu mùa xuân tới đây và không còn gặp cô ấy nữa trên thế gian nầy hay không!?! Ông có bằng lòng để cho cô ấy ra đi đến một đất ngoại bang, và cho phép cô ấy chịu sống khó nhọc trong một cuộc đời truyền giáo hay không!?! Ông có bằng lòng để cho cô ấy sống với từng thứ thiếu thốn, căng thẳng, sỉ nhục, bắt bớ, và có lẽ cả chết chóc hay không!?!

Đồng thời, Ann cũng đang suy gẫm cùng những câu hỏi đó. Trong nhật ký của bà, bà viết: “Đức Chúa Trời có quyền làm điều chi là tốt lành cho tôi theo mắt của Ngài. Tôi vui sướng vì tôi đang ở trong tay Ngài – Ngài đang hiện diện khắp mọi nơi và có thể bảo hộ tôi ở chỗ nầy hay ở chỗ kia. Khi tôi được kêu gọi phải đối mặt với nguy hiểm, phải nếm trải những cảnh kinh khủng và căng thẳng, Ngài thúc giục tôi biết dũng cảm chịu đựng, và khiến cho tôi biết tin cậy Ngài. Dù tôi sống ở Ấn độ hay nước Mỹ, tôi muốn dành những ngày tháng ấy cho sự hầu việc Đức Chúa Trời, và bước vào cõi đời đời trong sự hiện diện của Ngài. Tôi hoàn toàn bằng lòng rời bỏ mọi tiện nghi tạm thời và sống một cuộc sống khó nhọc và đầy thử thách, nếu đấy là ý chỉ của Đức Chúa Trời. “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” (Luca 1.38).

Và thế là Adodiram và Ann Judson đã trở thành giáo sĩ hải ngoại đầu tiên đã được sai đi từ bờ biển của nước Mỹ.

 

                “Ma-ri thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri” (Luca 1.38)

 

                                                                     2 Tháng 8

KÍP ĐẾN TÔN THỜ

                Khi những Cơ đốc nhân người Moravia ở Âu châu dấn thân vào công cuộc truyền giảng Tin lành, họ phải trả giá nhiều khi lao vào công cuộc ấy. Phần nhiều trong vòng họ phải để con cái mình lại phía sau trong các trường học thô sơ để băng qua nước Anh và đại lục.

Cũng một thể ấy, gia đình Montgomery đã ngần ngại đặt James mới lên 6 tuổi vào một ngôi trường như vậy khi họ dong buồm đến miền Tây Ấn trong vai trò giáo sĩ hải ngoại. Lúc họ bỏ mạng sau khi ra đi, James ở lại không có gì hết, đã trải qua thời thơ ấu của mình trôi giạt gõ hết cửa nhà nầy đến cửa nhà khác, viết thơ, rồi bắt tay mình làm lụng đủ mọi thứ công việc.

Trong hai mươi năm đầu đời của mình, ông bắt đầu làm việc cho một tờ báo của người Anh, tờ Sheffield Iris, và ông tìm được chỗ dựa lưng cho mình ở đó. Khi các bài xã luận của ông không mấy thích hợp với các quan chức địa phương, ông đã bị bỏ tù và nộp phạt 24 bảng Anh. Nhưng ông đã nổi danh từ trong nhà tù, và ông đã sử dụng tiếng tăm mới mẻ của mình để đề xướng những vấn đề mà ông ưa thích.

Giữa các vấn đề đó là Tin lành. Mặc dù có sự mất mát bố mẹ và mọi công lao khó nhọc của mình, James Montgomery giờ đây đã biết dâng mình cho Đấng Christ và Kinh Thánh.

Khi năm tháng trôi qua, ông đã trở thành lãnh tụ đáng kính trọng nhất ở Sheffield, và các tác phẩm của ông đều được công dân của thành phố ấy sốt sắng tìm đọc. Vào Lễ Giáng Sinh năm 1816, James 45 tuổi mở Kinh Thánh ra ở Luca 2 và rất có ấn tượng ở câu 13. Khi suy gẫm truyện tích nói tới các thiên sứ đến báo tin, ông lấy bút ra rồi khởi sự viết. Đến cuối ngày hôm ấy, bài thơ Giáng sinh mới sáng tác của ông đã được đưa vào nước Anh trên các trang tạp chí của ông. Sau đó bài thơ đã được phổ nhạc và được hát lên lần đầu tiên vào ngày Lễ Giáng Sinh, năm 1821 trong một nhà thờ của người Moravian ở nước Anh.

Bố mẹ ông chắc là tự hào về ông lắm!

Thiên thần xuống kìa ánh sáng huy hoàng

Lướt khắp trên hải, giang, sơn, hà

Xưa ngợi danh Tạo Hoá Đấng hiển vang

Bữa nay rao danh Jêsus sanh hạ

Kíp đến tôn thờ, cúi xuống tôn thờ

Kính chúc Christ nay sanh làm Vua

 

                “Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Đức Chúa Trời” (Luca 2.13)

 

                                                                     3 Tháng 8

SỰ PHÂN RẼ

                Jean-Baptiste Massillon là George Whitefield của nước Pháp, là bậc thầy trên toà giảng, là vua trong giới truyền đạo, ai cũng biết ông là người có suy nghĩ rất sâu sắc, giọng nói thì đầy quyền lực, còn tình cảm thì chan chứa. Vua Louis XIV có lần đã nói với ông: “Thưa Cha, tôi đã nghe nhiều diễn giả lỗi lạc tại giảng đường nầy rồi, và rất ưng ý với họ, song bất cứ lúc nào tôi nghe ông giảng, tôi thấy không hài lòng với chính bản thân mình, vì tôi nhìn thấy được bản chất của chính mình”.

Một trong các bài giảng hay nhất của Massillon dựa theo Luca 4.27:

“Số người phung rất lớn trong thời của Êli; và chỉ có Naaman được chữa lành mà thôi. Trong mọi thời đại số người được cứu thì không có bao nhiêu. Chỉ có gia đình của Nôê là được cứu ra khỏi Nạn Đại Hồng Thuỷ; Ápraham đã được chọn từ giữa những người sống trong cả kho giao ước với Đức Chúa Trời; Giôsuê và Calép là hai người duy nhất trong 600.000 người Hêbơrơ đã nhìn thấy Đất Hứa. Gióp con người ngay thẳng duy nhất trong đất Uxơ. Lót trong xứ Sôđôm. [Có] hai con đường – con đường hẹp, gồ ghề và ít người đi đường ấy; còn đường kia rộng rãi hơn, trải đầy hoa, và có nhiều người đi đường đó.

                Bây giờ tôi muốn hỏi quý vị, tôi hỏi câu nầy với nỗi sợ hãi – nếu Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra tại nơi nhóm nầy để xét đoán chúng ta, để làm ra sự phân biệt giữa chiên và dê, quý vị có tin rằng hầu hết chúng ta sẽ được đặt ở bên hữu của Ngài không? Quý vị có tin con số giữa chúng ta sẽ tương đương với nhau không? Quý  vị có  tin rằng người ta sẽ tìm thấy có 10 tôi tớ ngay lành của Chúa không? Tôi muốn hỏi quý vị như thế đấy!

                Nầy anh em tôi ơi, sự tàn diệt của chúng ta là chắc chắn rồi! Thế mà chúng ta chẳng nghĩ gì đến việc ấy nữa!

                Sống ở giữa thế gian, quý vị cần phải sống cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và đừng hùa theo đám đông. Ấy chính Ngài, ôi Chúa! Là Đấng mà chúng tôi phải tôn thờ. Nếu quý vị thuộc về số ít người kia, hãy nhũ thầm rằng: ‘Chỉ có một mình Ngài thôi. Ôi Chúa tôi! Là Đấng mà chúng tôi đáng phải tôn thờ. Tôi không chịu một thứ luật lệ nào khác hơn luật lệ của Ngài. Ngài chính là Đức Chúa Trời của tôi ở giữa xứ Babylôn, một ngày kia Ngài sẽ ngự trên Jerusalem”.

 

                “Trong đời đấng tiên tri Ê-li-sê, dân Ysơraên cũng có nhiều kẻ mắc tật phung; song không có ai lành sạch được, chỉ Na-a-man, người xứ Sy-ri mà thôi” (Luca 4.27)

 

                                                                     4 Tháng 8

CHỈ CÒN ĐỒ LÓT

                Giải thích câu nầy từ sách Luca là một nan đề, song có một người quyết định vâng theo câu ấy từng chữ một. Ông ta là Henry Richards – giáo sĩ cho Phi châu với Hội Truyền Giáo Livingstone. Ông đã quyết định bắt đầu chức vụ của mình tại ngôi làng Banza Mateke bằng cách dịch sách Tin lành Luca sang ngôn ngữ của địa phương. Ông dịch một số câu nhất định trong từng ngày, và giảng đều đặn cho bộ tộc từ những câu mà ông đã dịch ra rồi.

Mọi sự đều diễn tiến thật tốt đẹp cho tới khi ông đến tại Luca 6.30. Ông ngạc nhiên lắm, không biết phải diễn đạt câu nầy thể nào cho dân sự, ông phải giải thích câu nầy như thế nào đây? Ngôi làng thì đầy những người xin ăn; và thực ra, chuyện nầy rất cũ rích đối với người dân làng khi tới hỏi xin ông mọi thứ ông đang có. Ông sợ rằng nếu ông bố thí hết tài sản mong manh truyền giáo ông đang có cho mọi người đến hỏi xin, không bao lâu nữa thì ông chỉ còn có cái quần lót mà thôi.

Richards quay trở lại với chương một rồi khởi sự giảng qua sách Luca một lần nữa, hầu củng cố lại sứ điệp Tin lành – và để biệt riêng nhiều thì giờ suy gẫm lại vấn đề mà Luca 6.30 đang phán dạy. Ngay khi ấy, ông tin chắc rằng mình đã hiểu rõ ràng ý nghĩa thực của câu nói, ông mở câu Kinh Thánh ấy ra, ông đọc lại câu Kinh Thánh thật là đơn sơ đó.

Ngay tức thì dân làng Banza Mateke bắt đầu hỏi xin ông bất cứ điều chi thuộc về ông. Ông bắt đầu phân phối mọi thứ mình có khi người ta đến hỏi xin, và không bao lâu sau đó, dân làng thình lình quay trở lại với mọi thứ ông vừa bố thí cho, và trước khi từng thứ trở về lại chỗ cũ của nó. Vị giáo sĩ bèn lên tiếng hỏi: “Sao, có chuyện gì  thế?”

Khi dân làng trao đổi với nhau xong, họ kết luận rằng một con người vô kỷ như vậy quả thực phải là người của Đức Chúa Trời, và sứ  điệp của ông phải là sứ điệp của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời: “yêu thương thế gian đến nỗi đã ban…”. Giờ đây, dân làng Banza Mateke đã sẵn lòng lắng nghe Henry Richards rao giảng, và một thời kỳ phấn hưng cùng sự tỉnh thức lan rộng đã làm biến đổi cả ngôi làng.

 

                “Hễ ai xin, hãy cho, và nếu có ai đoạt lấy của các ngươi, thì đừng đòi lại” (Luca 6.30)

 

                                                                     5 Tháng 8

TỘI LỖI KHÔNG CÒN NỮA

                Trời rất lạnh ở phía Bắc Trung Hoa vào tháng 2 năm 1932 khi các giáo sĩ cùng với những Cơ đốc nhân người Trung Hoa đứng thờ phượng quanh lò sưởi ở chủng viện Hwanghsien. Nửa chừng buổi thờ phượng có một phụ nữ ngắt ngang diễn giả. Bà là vợ của một nhà truyền đạo bản xứ, và bà đến xưng tội hay rầy la chồng mình chẳng chút thương xót, buộc ông phải đi kiếm tiền thêm, vì thế đã làm cho ông phải tốn thì giờ bôn ba ngoài đường phố.

Có nhiều người khác cũng đến xưng tội sau đó, và suốt cả ngày lẫn đêm ai nấy đều chứng kiến một tinh thần phục hưng đã diễn ra. Số người đến nhóm lại lên đến 200. Nhà truyền đạo không giảng một bài nào khác, vì Đức Thánh Linh dường như đang tể trị các buổi nhóm lại đó.

Khi dân sự còn đang cầu nguyện, giáo sĩ Wiley Glass đột nhiên nhìn thấy gương mặt của một người, ông liền nghĩ ra: “Ta nghĩ sao khi nhìn thấy người ấy trên thiên đàng?” Người nầy đã từng lăng nhục Eunice vợ của Wiley, và Wiley đã nổi giận đủ để giết chết ông ta. “Tôi giao phó hắn ta cho Đức Chúa Trời; nhưng giả định [tất nhiên] rằng Đức Chúa Trời sẽ bỏ hắn vào địa ngục. Giờ đây tôi nhìn biết rằng sự cay đắng đã in vết trong tôi nhiều năm qua. Tôi bị sốc ngay. Trong khi tôi giảng cho người khác: ‘Hãy yêu kẻ thù nghịch mình’, tôi cứ để cho sự thù hận bám mãi trong lòng tôi. Tôi chưa hề cầu nguyện cho người đó được cứu bao giờ. Sức mạnh của sự thuyết phục rất là mạnh mẽ. Khi Đức Thánh Linh bắt đầu chỉ ra tội lỗi của tôi, tôi bật gào lên mà khóc. Ngày hôm sau vẫn còn tình trạng bẽ mặt, sau khi yêu cầu Charlie Culpepper cầu thay cho tôi, tôi rời chỗ nhóm mà trở về nhà. Khi sự ăn năn tẩy sạch tội lỗi kia đi và sự bình an buông tha đầy dẫy hồn tôi, tôi biết rõ trạng thái vui mừng ngây ngất khôn tả đó. Mặc dù tôi đã gần 58 tuổi, tôi đã chạy cả dặm đường băng qua những cánh đồng từ Nanlo đến nhà của Charlie, nhảy qua chiếc hàng rào giống như một thiếu niên vậy. Ôm chầm lấy ông, tôi hô lớn tiếng: ‘Tội lỗi không còn nữa, tội lỗi không còn nữa’”.

 

                “Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ” (Luca 6.35)

 

                                                                     6 Tháng 8

CẢ TRĂM CÂN

                Lorenzo Dow là một người thuộc phái Trưởng Lão rất lập dị với mái tóc để dài, mặc bộ quần áo thật khác thường, và cung cách kỳ cục đến nỗi người ta gọi ông là: “Dow điên”. Nhưng khi ông đi cả ngàn dặm, vừa bằng chân vừa bằng ngựa, ông đã đưa nhiều người đến với Đấng Christ.

Khi còn là một thiếu niên, Dow lấy làm bối rối về thuyết thiên mệnh, rồi đến một ngày kia ông tin chắc ông có mặt giữa vòng số người bị xét đoán đến nỗi ông muốn cất mạng sống của mình bằng khẩu súng lục. Thế nhưng, ngay lúc ấy, nhà truyền đạo phái Trưởng Lão Hope Hull vừa đến tại Connecticut, và sứ điệp của ông đâm thấu tim chàng thanh niên kia. Lorenzo bị thuyết phục nhiều đến nỗi ông đã ôm chặt lấy người em của mình để không té ngã ra khỏi ghế. Hết thảy những người ngồi quanh ông đều trở lại đạo, và Lorenzo lúc nào cũng mong mỏi muốn làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Trên đường trở về nhà, ông phủ phục xuống mặt đường mấy lần và không biết mình đang ở đâu. Sau cùng khi về tới nhà, ông đã cầu nguyện cho đến kiệt lực, rồi chìm vào giấc ngủ, trong giấc ngủ ấy ông mơ thấy mình đang ở trong địa ngục. Ông tỉnh giấc trong nỗi khủng khiếp, “và, ồ, sung sướng làm sao khi tôi thấy đấy chỉ là một giấc chiêm bao”.

Ông bắt đầu dâng lên những lời cầu nguyện khẩn thiết: “Lạy Chúa! Con xin thua; con đầu hàng; con chịu phục rồi; nếu có sự thương xót dành cho con trên thiên đàng, xin cho con biết sự thương xót đó; và nếu không, xin đẩy con vào địa ngục để nếm trải án phạt tồi tệ của con”. Khi mấy lời nầy tuôn đổ ra từ tấm lòng của tôi, tôi thấy Đấng Trung Bảo bước vào, đúng như vậy, Ngài đứng giữa toà án của Đức Chúa Cha và linh hồn của tôi, và mấy lời nầy ban cho lý trí tôi một sức mạnh rất lớn: “Nầy con, tội lỗi con rất nhiều nay đã được tha hết rồi; đức tin con đã cứu con; hãy đi bình an”.

Gánh nặng của tội lỗi và nỗi sợ hãi về địa ngục tan biến đi khỏi lý trí tôi có thể cảm nhận được giống như cả trăm cân mới vừa rơi khỏi vai của một người vậy. Linh hồn tôi sung sướng đến nỗi tôi khó có thể bắt tay làm việc ngay được; và tôi đã dành phần còn lại trong ngày đó để đi từ nhà nầy sang nhà khác qua vùng phụ cận để nói cho người ta biết mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho tôi”.

 

                “Vậy nên ta nói cùng các ngươi, tội lỗi đờn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít” (Luca 7.47)

 

                                                                     7 Tháng 8                                                                                                       

CÁI CHẾT CỦA MỘT CON CHÓ

                Ngày nọ, khi Dick Hills đến giảng đạo trong một ngôi làng của người Trung Hoa, bài giảng của ông thình lình bị cắt ngang bởi một tiếng kêu the thé. Ai nấy chạy ùa đến chỗ đó, và cộng sự của Dick – ông Kong nói khẽ rằng có tà linh đã ám vào một người. Dick nói: “Ôi, mê tín dị đoan đấy thôi”, ông chưa từng gặp cảnh bị quỷ ám trước đây.

Có một phụ nữ chạy ùa qua đám đông hướng thẳng về họ. Bà ta kêu lên: “Tôi xin các ông, hãy cứu tôi. Một lần nữa, tà linh đã ám vào cha của mấy đứa con tôi và đang tìm cách giết ông”.

Kong bước ngang qua con chó già bẩn thỉu đang nằm ngay cửa ra vào, rồi đối mặt với kẻ cuồng dại kia. Căn phòng nặng nề với ý thức về ma quỷ. Kong nói với những người có mặt ở đó: “Tà linh đã ám vào Nông dân Ho. Ôi Đức Chúa Trời của chúng con, Đấng không việc gì không thể làm được có quyền năng hơn bất kỳ linh nào, và Ngài có quyền giải cứu người nầy. Trước tiên, quý vị phải hứa rằng quý vị sẽ thiêu đốt hình tượng và đem lòng tin cậy nơi Chúa Jêsus, là Con của Đấng Chí Cao”.

Ai nấy đều gật đầu. Kong yêu cầu Dick bắt đầu hát bài thánh ca: “Quyền Trong Huyết Giêxu”. Với chút ngần ngừ, Dick bắt đầu hát: “Tâm linh ai kia đương mong thoát gánh ác căn?…”.

Kong nói tiếp: “Bây giờ, trong danh của Chúa Jêsus chúng ta truyền cho tà linh phải ra khỏi người nầy”. Kong bắt đầu khẩn thiết cầu nguyện. Đột nhiên, con chó già đang nằm nơi cửa nhảy cẩng lên không, rít lên, kêu ăng ẳng, quay vòng tròn táp vào mang tai của nó. Kong cứ tiếp tục cầu nguyện, và con chó đột nhiên gục xuống gần chết.

Dick nhớ ngay đến Luca 8, ma quỷ ở xứ Galilê đã ám vào bầy heo mà mắt thường không sao nhìn thấy được. Khi Kong cầu nguyện xong, Nông dân Ho dường như tỉnh hẳn lại và không còn thấy căng thẳng nữa, rồi không lâu sau đó ông ta lấy sức lại, mạnh mẽ đủ để thiêu đốt các hình tượng của mình. Khi ông chịu phép báptêm một thời gian ngắn sau đó, ông đã làm chứng lại: “Tôi đã bị ma quỷ ám, nó khoe đã giết chết năm người rồi và sẽ giết chết tôi. Thế nhưng Đức Chúa Trời đã sai ông Kong đến kịp lúc, và trong Chúa Jêsus tôi đã được tự do”.

 

                “Vậy, các quỉ ra khỏi người đó, nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao đâm đầu xuống hồ và chết chìm” (Luca 8.33)

 

                                                                     8 Tháng 8

BA NGƯỜI BẠN

                Họ là ba người bạn thân thiết lắm: Alanson Work với mái tóc hung hung đỏ đã có gia đình và là cha của bốn đứa con; George Thompson còn trẻ và độc thân, mái tóc màu đen và thân hình dong dỏng cao; Người thứ ba – James Burr cao khoảng 1m8. nhưng họ hiệp nhất với nhau bởi sự tin kính đối với Đấng Christ và có thái độ thù ghét tình trạng nô lệ.

Năm 1814, bị bắt vì tìm cách lén đưa nhiều nô lệ ra khỏi Missouri, họ bị xích lại với nhau và bị giam không cho bảo lãnh. Ở bên ngoài, một nhóm dân ca hát vì cái chết của họ, trong khi ở bên trong ba người đang quỳ gối cầu nguyện. Về sau Thompson viết: “Việc chúng tôi thoả lòng ca hát trong nhà tù đã quấy rối không ít lương tâm dân chúng [của thành phố]’. Họ đã giảng đạo cho nhiều đoàn dân đông trước và trong khi họ chịu thử thách. Thế rồi họ phải lãnh án 12 năm lao động khổ sai trong trại cải tạo của tiểu bang.

Khi vào trong nhà tù, đầu của mấy người nầy bị cạo trọc hết, người ta cho họ mặc những miếng giẻ rách ở trong tù, đe doạ họ hết 40 roi này đến 40 roi khác. Đồ ăn của họ gồm có bánh ngô, thịt heo thiêu, cà thối và “ruột  của nhiều thú vật”. Trong những mùa đông lạnh giá, họ gần như lạnh cóng cho tới chừng họ được phép ngủ chung với nhau. “Chúng tôi đổi chỗ với nhau liền liền. Nếu người nằm ngoài lạnh cóng, người đó chỉ cần kêu lên, thì người nằm giữa đổi chỗ ngay”.

Hết đêm này qua đêm khác, ba người ấy cùng đọc với nhau từ Kinh Thánh rồi hiệp nhau ca ngợi và cầu nguyện. Không bao lâu họ đã giảng đạo và dạy dỗ cho nhiều tù phạm khác. Vào ngày Chúa nhật 14 tháng 5 năm 1843, bài giảng của George Thompson từ Luca 9.23 đã đem lại cơn phấn hưng cho nhà tù.

“Quả là một ngày vinh hiển mà tôi đã từng chứng kiến! Quyền phép của Đức Chúa Trời tỏ ra thật là kỳ diệu. Trong khi nhóm lại cầu nguyện, có bốn người quay trở lại đạo; xà lim đông người đến dự; số người trở lại đạo ngày càng đông lên; trong khi sự khắc nghiệt cứ kéo dài ra giống như Bênxátsa vậy. Trong xà lim của tôi, tôi đã giảng cho 12 tân tín hữu từ Luca 9.23. Đến gữa trưa, một bài giảng đầy năng quyền – 6 tân tín hữu tiến lên phía trước. Tôi đã trao đổi và cầu nguyện với họ, không một ai bị cấm đoán hết. Vinh hiển thay là Đức Chúa Trời”.

Work được tha vào năm 1845. Burr và Thompson được tha vào năm sau, Thompson về sau trở thành giáo sĩ cho châu Phi.

 

                “Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta” (Luca 9.23)

 

                                                                     9 Tháng 8

BẤT CHẤP LUCIFER CŨNG NHƯ SẤM SÉT

                Hai giáo sĩ thuộc Hội dịch thuật Kinh Thánh Wycliffe là Doug và Beth Wright đến sống giữa vòng sắc tộc Logo ở xứ Zaire, ở đó họ phiên dịch Kinh Thánh ra tiếng Logoti. Ngày thứ Bảy kia, họ về đến nhà sau khi trời đã tối thì thấy mọi mạch điện đã bị cháy hết. Không bao lâu sau đó họ mới hay có một tia sét rất mạnh đã đánh vào bụi tre lớn mọc gần căn nhà của họ. Bị sức hút của các ống dẫn nước ngầm dưới đất, điện tích chuyền đi qua nền xi măng dày 5 feet đến tận đầu kia của ngôi nhà, ở đó luồng điện thiêu cháy các khóm hoa và giết đi một con dê. Hai đứa trẻ người Zaire đang ở góc nhà đã bị sét đánh khi chúng hứng nước từ mấy cái thùng tràn ra.

Những người lân cận sau khi nghe thấy tia chớp tụ họp lại ở ngôi nhà và thấy đứa bé gái đang nằm ở gốc tre cách mấy thùng nước khoảng 30 feet. Nó còn tỉnh, song điếng người và không thể tự mình đứng dậy được. Đứa bé trai thì đứng dậy được, nhưng nói năng lung tung hết. Cả hai về sau đã hồi phục.

Khi Doug và Beth đã xem xét thiệt hại rồi, họ thấy rằng sóng điện từ đã ăn luồng qua tất cả thiết bị có cắm điện ở trong nhà, huỷ diệt hầu hết các máy vi tính và thiết bị chứa dự án Logoti. Một góc bàn làm việc của Doug và một số thiết bị đã hoá thành than. Đúng là một sự mất mát rất lớn đối với họ. Song thình lình họ nhớ lại rằng vào ngày thứ Sáu trước khi bị sét đánh họ đã dịch tới Luca 10.17 – “Bảy mươi môn đồ trở về cách vui vẻ, thưa rằng: Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỉ cũng phục chúng tôi. Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp”.

Gia đình Wright vốn biết rõ ràng trong công tác phiên dịch Lời Đức Chúa Trời sang tiếng sắc tộc Logo, họ đang tự đặt mình vào ngay tuyến đầu của chiến trận thuộc linh. Nhưng họ không nản lòng. Thu thập lại những phần ghi chú và xin mọi người cầu thay cho, họ trở lại với công tác, bất chấp Lucifer cũng như sấm sét.

 

                “Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Satan từ trời sa xuống như chớp” (Luca 10.18)

 

                                                                   10 Tháng 8                                                                                                       

CÒN NHIỀU NỮA

Là một thanh niên, Osward Chambers nổi tiếng về đề tài “My Utmost for his Highest” đã vật lộn với ý thức về sự khô hạn trong đời sống Cơ đốc. Sau cùng anh viết: “Tôi lấy làm thất vọng. Tôi biết chẳng ai có cái mà tôi cần cả; thực ra tôi không biết mình muốn gì nữa. Song tôi biết rõ rằng nếu những gì tôi có là những gì Cơ đốc giáo có thì chẳng có gì hay ho cả.

                Thế rồi tôi đọc tới Luca 11.13

                Ở một buổi nhóm tại Dunnon, một phu nhân nổi tiếng được người ta mời dự buổi nhóm lần tới. Bà ấy không giảng luận, mà chỉ đưa chúng tôi vào sự cầu nguyện, rồi cất tiếng hát: ‘Lạy Chúa, xin chạm đến con một lần nữa’. Tôi chẳng cảm nhận được gì hết, nhưng tôi biết rõ thì giờ của tôi đã đến. Ngay tại chỗ ấy tôi đòi hỏi ân tứ của Đức Thánh Linh theo lời hứa trong Luca 11.13

                Tôi chẳng có một sự khải thị nào về thiên đàng hay về các thiên sứ, tôi chẳng thấy chi hết. Tôi đã sống rất khô hạn và trống rỗng, chẳng có quyền năng hay nhìn biết Đức Thánh Linh chi cả, không có sự làm chứng của Đức Thánh Linh. Rồi tôi được người ta mời tới giảng tại một buổi nhóm, và có tới bốn mươi linh hồn đã tiến tới hàng ghế phía trước. Tôi đạt tới chỗ nhìn biết Đức Chúa Trời đã sử dụng tôi, sau khi đã cầu nguyện, chỉ cần nhận lãnh cách đơn sơ chức vụ ấy bởi đức tin, thì quyền phép sẽ hiện hữu ở đấy. Tôi đã nhìn thấy quyền phép đó chỉ khi nhìn lại sau, nhưng tôi dám kể rằng Đức Chúa Trời đã ở với tôi, đó là sự thật”.

Từ lúc ấy trở đi, Osward Chambers đã phục vụ với năng lực khác thường. Lời lẽ và các tác phẩm của anh đã chạm đến nhiều người trên khắp thế giới, đặc biệt là khi anh rao giảng như anh vẫn thường giảng luận, từ câu Kinh Thánh mà anh rất ưa thích: đó là Luca 11.13. Và khi Osward ngã chết vào độ tuổi rất sớm ở Ai cập trong Đệ I Thế Chiến, một chiến binh già người Úc mà anh đã dẫn dắt đến với Đấng Christ đã chạm khắc một quyển Kinh Thánh lên trên tấm bia mộ của anh. Những trang Kinh Thánh được lật ra từ Luca 11.13.

 

                “Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!” (Luca 11.13)

 

                                                                   11 Tháng 8

THIÊN SỨ ĐỨNG BÊN VAI NÀNG

                Đảo quốc Đài Loan (trước kia là Formosa) đã trở thành quê hương của giáo sĩ Lillian Dickson, bà đã hầu việc Chúa ở đó cùng với chồng của mình. Bà đã mơ tới việc thiết lập một công việc ngay giữa hòn đảo, trong thị trấn miền núi Po-li. Bà đã mường tượng đến một bệnh viện y khoa, một xưởng may, một thư viện, và một trung tâm hội nghị cho Hội thánh. Thế nhưng vào giữa thập niên 1950, tình trạng bất ổn tình hình ở Đài Loan đã ngăn trở các nguồn quỹ cho một dự án như vậy.

Lillian cứ bền chí tiến hành, tìm cách thiết lập công việc từ các tài nguyên giới hạn của mình. “Chúng tôi tiếp tục xây dựng cho dù chúng tôi không có đủ tiền để hoàn tất, thậm chí việc mua thuốc men và duy trì nhân viên làm việc trong bệnh viện là một gánh rất nặng. Nhu cần…”.

Bob Pierce của Hội Toàn Cầu Khải Tượng nối tiếp dự án, và sau cùng bệnh viện khai trương vào ngày 16 tháng Giêng năm 1956. Bầu trời hôm ấy thật là xinh đẹp. Trên cao kia, tuyết phủ đầy những ngọn núi; dưới đồng bằng, hoa anh đào đỏ đang nở rộ. Bệnh viện đầy ắp người, và đa số các trường hợp đều là lao phổi. Người ta đông đến nổi 15 bệnh nhân phải vào nằm trong kho dụng cụ ngay trong đêm đầu tiên. Đền gần sáng, kho dụng cụ nhỏ bé kia chứa tới 70 người, đông đến nổi không có chỗ để mà ngồi nữa.

Lillian lo âu lắm. Làm sao bà có thể đứng đảm đương trước một nhu cầu quá lớn lao như thế chứ? “Lo lắng cho Po-li và đọc Kinh Thánh để tìm một câu trả lời cho mọi sự nầy, tôi đến với một lời hứa thật kỳ diệu, có một thiên sứ đứng bên vai tôi đã chỉ ra cho tôi thấy. ‘Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài sao?’ Các gánh nặng như rơi ra khỏi bờ vai tôi khi tôi cầu xin Đức Chúa Cha một lần nữa ban cho Thánh Linh Ngài và biết rõ Ngài sẽ trả lời. Thế là ở Po-li, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng tôi chương trình của Ngài, không lầm lẫn chi nữa hết…”

Và khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt bà, Lillian Dickson đã dựng lên một công việc đáng nhớ ở Po-li vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

 

                “Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài sao!” (Luca 11.13)

 

                                                                   12 Tháng 8

KHÔNG CÒN DẠI NỮA

                Lần đầu tiên tôi đến viếng Chicago, tôi tới tham quan Hội Truyền Giáo Old Pacific Garden và yêu cầu một nhân sự chỉ bao quát cho tôi xem. Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông ta nắm lấy tay tôi rồi đẩy ra cửa theo sau ông. Ông ta nhét vào tay tôi nhiều quyển Tân ước rồi nói: “Nè, ông sẽ quan sát Hội sau”. Trong cao điểm của cuộc chiến tranh Việt Nam, và nhiều binh lính trẻ đã được đưa tới Chicago bằng đường biển. Tôi dành thời gian còn lại của buổi tối ở trạm xe lửa, phân phát chứng đạo đơn, giảng đạo cho các binh lính, rồi mời họ đến với Hội Truyền Giáo Old Pacific Garden – bậc đàn anh của các hội truyền giáo trong thành phố.

Hội Truyền Giáo Old Pacific Garden rất hãnh diện về hàng ngàn câu chuyện nói tới nhiều người nam và nữ “không hề lay chuyển” khi nghe sứ điệp của Hội. Thí dụ, một cụ già tên Harris có bí danh là “Ánh Mặt Trời” cả cuộc đời ông ta chỉ sống trên các đường phố Chicago, sống với rượu ôi và những mẫu thuốc lá tàn. Ông ta lang thang bên trong và ngoài Hội Truyền Giáo, và một ngày kia có người đã biếu cho ông một quyển Tân ước mới.

Khi ông ta lật từng trang của quyển Kinh Thánh đó, mắt ông chợt bắt gặp Luca 12.20 – “Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại…”. “Ánh Mặt Trời”  liền nổi xung thiên gấp quyển sách lại, thế nhưng trong lòng muốn đọc lại câu ấy một lần nữa. Khi không tìm được câu đó, ông nổi giận dữ lên. Không hài lòng với tình thế chẳng đặng đừng nầy, ông ta mới khởi sự từ Mathiơ 1.1, với bản gia phổ của Đấng Christ, rời cứ đọc cho tới khi gặp được Luca 12.20

Đọc lại thí dụ nầy, ông thấy rằng câu Kinh Thánh đó đã được phán ra cho một người giàu có, và “Ánh Mặt Trời” mới nhận ra mình là người nghèo hèn. Song đấy chưa phải là vấn đề. Câu chuyện kể lại về ông, rồi buổi tối hôm ấy, khi lời kêu mời tới Hội Truyền Giáo được đưa ra, ông đã giơ tay lên và một phụ nữ đã hướng dẫn ông đến với Đấng Christ.

Năm ấy là năm 1899, và “Ánh Mặt Trời” đã được 71 tuổi. Ông sử dụng phần đời còn lại của mình, hết đêm nầy đến đêm khác, cộng tác với Hội Truyền Giáo Old Pacific Garden và làm chứng cho bất cứ ai chịu lắng nghe thể nào Đấng Christ đã làm thay đổi đời sống ông.

 

                “Song Đức Chúa Trời phán cùng người rằng: Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai?” (Luca 12.20)

 

                                                                   13 Tháng 8

JOHN POUNDS

                Cú ngã thật là khủng khiếp, và nó làm cho người nào trông thấy nó cũng phải ngã bệnh. John Pounds – một thanh niên công nhân vạm vỡ, cao lớn làm việc ở bến tàu Portmouth, nước Anh bị trượt chơn và rơi xuống từ đỉnh cột buồm của chiếc tàu, rơi thẳng vào lòng tàu. Khi những công nhân khác đến gần anh, anh chỉ còn là một đống xương gãy vụn mà thôi. Trong hai năm anh nằm bên giường chờ mấy cái xương được lành lặn. Nỗi đau đớn của anh cứ kéo dài không dứt. Để tránh sự khó chịu, anh đã bắt đầu đọc Kinh Thánh.

Cuối hết, John lê lết ra khỏi giường, hy vọng tìm việc gì đó anh có thể làm để giúp vợ mình. Một người thợ đóng giày thuê anh làm, hết ngày này sang ngày khác, John đã ngồi ì nơi băng ghế chữa giày, quyển Kinh Thánh mở ra trên đùi của mình. Không bao lâu sau đó anh đã được lại sanh.

John thu thập đủ tiền bạc để mua lấy cho mình một cửa hàng đóng giày nhỏ, rồi một ngày kia anh đã đóng một đôi giày cho đứa cháu anh đem về nuôi bị tật là Johnny. Không lâu sau đó John đã đóng nhiều đôi giày cho những đứa trẻ khác và cửa hàng giày nhỏ bé của anh đã trở thành một bệnh viện nhi khoa thu nhỏ.

Khi gánh nặng của John đối với trẻ em ngày càng lớn thêm, anh bắt đầu tiếp nhận những kẻ không nhà, cho họ ăn uống, dạy họ đọc, rồi làm chứng với họ về Chúa. Cửa hiệu của anh ai cũng biết là “Trường Lá Cải”, và John lê bước quanh khu bến tàu hầu tìm gặp thêm trẻ em để phục vụ.

Trong cả đời mình, John Pounds đã giải cứu 500 đứa trẻ ra khỏi thất vọng và dẫn đưa từng đứa một trong số chúng đến với Đấng Christ. Hơn thế nữa, công việc của anh đã nổi tiếng đến nỗi một “Phong trào Trường Lá Cải” quét khắp nước Anh, và một loạt các điều luật được thông qua để thiết lập trường học cho trẻ em nghèo hầu tỏ lòng tôn kính John. Nhà ở cho nam sinh, nhà ở cho nữ sinh, trường phổ thông ban ngày, và trường phổ cập ban đêm đã được khai trương, cùng với các lớp học Kinh Thánh, trong đó hàng ngàn người đã được nghe giảng Tin lành.

Khi John suy sụp và qua đời vào ngày đầu năm 1839, trong khi phục vụ cho đôi chân bị loét của một cậu bé, ông được chôn cất trong sân nhà thờ ở đường High. Cả nước Anh đã bật khóc, và một tấm bia được dựng lên trên mộ của ông, ghi là: “Ông sẽ được phước, vì chúng không thể báo đáp chi cho ông”.

 

                “thì ngươi sẽ được phước, vì họ không có thể trả lại cho ngươi; đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được trả” (Luca 14.14)

 

                                                                   14 Tháng 8

BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG CỦA MOODY

                Nhà truyền đạo D. L. Moody đã làm việc quá sức và quá tải, ông gặp rắc rối khi giữ tốc độ kinh người mà ông đề ra cho chính mình. Ông đã viết thư cho người bạn hay rằng sổ ông đã ghi đầy những ngày ông được mời giảng rồi, không còn có chỗ ghi nữa.

Ngày 12 tháng 11 năm 1899, ông bắt đầu mở một chiến dịch ở thành phố Kansas, chịu nhiều nổi đau ở ngực (“Tôi không cho gia đình tôi biết, vì họ sẽ không để cho tôi tới đây đâu”). Vào ngày 16 tháng 11 ông đã giảng về đề tài “Những lần xin kiếu” từ Luca 14.16-24. Ông không thể đi bộ đến buổi nhóm, song khi lên bục giảng, ông không tỏ ra một dấu hiệu nào về sự kiệt sức cả.

“Giả sử chúng ta ghi ra lần kiếu nầy cho tối nay, thì nghe làm sao được? Đối với Vua của Thiên Đàng: Trong khi ngồi ở Sảnh đường Convention, thành phố Kansas. Mo… ngày 16 tháng 11 năm 1899, ông đã nhận lời mời gọi thôi thúc phải có mặt ở tiệc cưới của con một của Ngài. Tôi thưa với Ngài tôi xin kiếu”.

“Nầy chàng thanh niên kia, anh có chịu như vậy không? Còn người mẹ kia, thì sao? Tôi e nếu có một người ở đây chịu nhận sự kiếu ấy. Há quý vị chẳng để ý gì tới lời mời gọi của Đức Chúa Trời chăng? Tôi nài xin quý vị, đừng xem nhẹ lời mời đó nhé! Hãy đùa với sấm chớp hình chữ chi kia, cứ xem nhẹ dịch lệ và tật bệnh đi, song với Đức Chúa Trời đừng coi thường đấy”.

“Có người nào ở đây nói: ‘Bởi ơn của Đức Chúa Trời tôi nhận lãnh lời mời ngay bây giờ’. Nguyện Đức Chúa Trời đưa bạn đến với một quyết định. Nếu bạn muốn nhìn thấy nước của Đức Chúa Trời, bạn phải quyết định thế nầy hay thế kia về câu hỏi nầy. Tôi đưa câu hỏi ấy tới quý vị trong danh của Chúa tôi”.

Hàng trăm người đã trở lại đạo trong đêm ấy, nhưng đó là bài giảng sau cùng của Moody. Sau khi đi lảo đảo về phòng của mình, ông ngã sụp xuống giường trong khi bạn hữu của ông lo phục dịch ông. Những buổi thờ phượng còn lại đều bị huỷ hết, và Moody đã đánh điện cho gia đình ông: “Bác sĩ nghĩ tôi cần phải nghỉ ngơi. Tôi đang trên đường vè nhà đây”. Ông trở về nhà ở Massachusetts vào ngày Chúa nhật rồi đi lên lầu sửa soạn bữa ăn, nhưng khi bước lên các bậc thang khiến cho tim ông đập nhiều quá và ông không còn trở xuống nữa.

 

                “Song họ đồng tình xin kiếu hết” (Luca 14.18)

 

 

                                                                   15 Tháng 8

THĂM MỘT CÔ GÁI ĐIẾM

                Có một người đến gõ cửa khăng khăng kêu Tấn sĩ P. W. Philpott ở Hamilton, Canada phải thức dậy. Lúc ấy là 3 giờ sáng. Người khách lạ đứng nơi cửa hỏi: “Ông có chịu đi với tôi đến nhà của cô gái điếm kia không? Cô gái đang hấp hối chỉ đòi gặp ông thôi”. Philpott đi theo người khách lạ đó đến một khu phố tồi tệ và trong ánh sáng lập loè của một ngọn đèn cũ, ông nhìn thấy một thiếu nữ rất đáng thương.

Cô gái nói: “Tôi biết ông sẽ đến và cầu nguyện cho tôi, vì tôi sắp chết rồi. Các cô gái ở đây không tin tôi sẽ chết, song tôi biết tôi sẽ chết đấy!”

                Tôi đang lo không biết làm cách nào để đưa cô ta đến với Đấng Christ thì cô vào đề bằng cách hỏi trong Kinh Thánh có câu chuyện nào nói đến một bầy chiên đi lạc xa chuồng và Đấng Chăn Giữ đang đi tìm bầy chiên ấy!?! Cô gái hỏi: “Ông có biết câu chuyện đó hay không?”

                Tôi đọc cho cô ấy nghe câu chuyện, rồi chuyển qua câu Kinh Thánh nói về Đấng Chăn Chiên phó mạng sống mình cho bầy chiên. Khi tôi quỳ gối cạnh cô gái đang hấp hối để cầu nguyện, các cô gái khác cũng quỳ xuống nữa, thổn thức bên giường của người bạn mình. Chỉ có một thính giả thôi! Khi tôi ngước mắt nhìn lên, tôi không thể quên được ấn tượng trên gương mặt của cô gái ấy. Cô ta kêu lên: “Ôi kỳ diệu thay! Đấng Chăn Chiên đã tìm được tôi và Ngài đang giữ lấy tôi bên tấm lòng Ngài”. Cô ta cứ nhắc đi nhắc lại câu nói đó.

                Khi tôi trở lại vào lúc sáng sớm, một trong các cô gái bước ra ngoài để gặp tôi. “Chúng tôi mong ông có mặt ở đây khi Mary ra đi. Cô ấy rất sung sướng. Cô ấy cứ mãi nói: “Đấng Chăn Chiên đã tìm được tôi, và Ngài đang giữ tôi cạnh tấm lòng Ngài”.

Nhiều năm về sau, ở một thành phố khác, có một phụ nữ đến gặp tôi sau giờ thờ phượng rồi hỏi: ‘Ông không nhớ tôi sao? Tôi là cô gái ra nói cho ông biết việc ra đi của Mary và buổi sáng hôm ấy đó. Nhưng có một việc khác tôi muốn nói cho ông biết. Buổi sáng hôm ấy khi Đấng Chăn Chiên vác lấy Mary ở một bên vai, tôi được bồng ẵm ở bờ vai kia’.

 

                “Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất” (Luca 15.6)

 

                                                                   16 Tháng 8

MỘT VIỆC HỐC BÚA

                Khi Samuel Huddleston mới 13 tuổi bỏ nhà ra đi rồi gia nhập vào một băng du đãng, người cha đau khổ của ông phải quỳ gối suốt. Ông nói: “Sammy, Ba rất buồn cho con. Con đã dính vào một việc rất hốc búa, trừ phi con chịu dầu phục Chúa Jêsus ngay bây giờ”. Song Samuel nổi giận không muốn nghe, và cha của ông không thể làm chi khác hơn là cầu nguyện.

Samuel đã làm bố mà không có kết hôn vào tuổi 16, và không lâu sau đó đã bắt tay vào việc bán buôn ma tuý. Một đêm kia, vào năm 1971, say khướt và lạnh cóng, ông cùng với người em của mình vào cuớp một cửa hàng bán rượu và giết chết người chủ tiệm.

Cha ông đến thăm ông vào ngày đầu tiên ở trong tù. Cụ già nói: “Sammy, chúng ta gặp rắc rối rồi, và bố biết chúng ta sẽ phải làm gì. Chúng ta phải làm điều đó thôi. Chúng ta cầu xin Chúa Jêsus sẽ làm điều chi tốt nhất cho con”. Một thời gian ngắn sau đó, Samuel 17 tuổi bị kết án phải vào trại cải tạo những năm năm ròng. Việc ông bị cải tạo ở trong tù là một cơn ác mộng, song cha của ông thường đến thăm viếng, luôn luôn làm chứng cho ông biết về Đấng Christ. Hai năm sau, Samuel bắt đầu đọc quyển Kinh Thánh của mình và cầu nguyện, và một ngày nọ ông đã mời Đấng Christ ngự vào tấm lòng ông. Cha của Samuel, sau khi hay tin đã bật khóc. Ông nói: “Mười chín năm, mười chín năm kể từ ngày con chào đời, bố đã cầu thay cho con”.

Samuel xem trọng niềm tin mới mẻ của mình và tấn tới mau chóng trong Đấng Christ. Một năm sau ông được mời tới giảng ở một nhà thờ gần đó. Trước sự ngạc nhiên của ông, giới chức có thẩm quyền của nhà tù đã ưng thuận cho phép. Hội thánh đầy ắp người đến nhóm. Cha của Samuel ngồi ở phần dãy ghế phía sau, một nụ cười thoả mãn hiện trên gương mặt ông. Samuel mở ra ở Luca 15, rồi đọc câu chuyện nói về người con trai hoang đàng, ông nói rằng cho dù nhà tù có những chấn song, ông vẫn tìm được sự tự do của mình trong Đấng Christ vì cả Cha trên trời và cha dưới đất, chẳng người nào bỏ rơi ông cả.

Samuel đã được tha có điều kiện, song ông xin ở lại nhà tù trong vai trò truyền đạo và là nhà cải cách, việc làm của ông đã được Tổng Thống Mỹ xem trọng.

Người cha của Samuel luôn có nụ cuời rạng rỡ, ông không thể quên được điều đó: “vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được”.

 

                “vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được” (Luca 15.24)

                                                                                       

                                                                   17 Tháng 8

TRUNG TÍN TRONG VIỆC LỚN

                Khi Eric Liddell – vị anh hùng Olympic đổi thành giáo sĩ, ý thức được nhu cầu cần có một Mục sư ở khu vực nông thôn Siaochang ở Trung quốc, ông đã tình nguyện với lòng biết rõ nhận lời như thế sẽ kéo dài sự chia cách đối với vợ con của ông. Ông bắt đầu công việc của mình tại đó vào năm 1937, ngay lúc Nhật bản đến bao vây Trung quốc.

Mặc dù tỉnh lỵ của Eric có tới 10.000 dặm vuông, ông trung tín dùng xe đạp hay đi bộ hết tỉnh để thăm viếng, giảng đạo, và truyền giáo trong mọi tình huống. Thế nhưng cuộc chiến tranh cứ lấn tới mãi khiến cho công việc của ông rất khó khăn, và đạn bay trên đầu rất thường nhật. Các đám cưới, lễ báptêm, cùng những bài giảng đã diễn ra đối diện với họng súng.

Trong một lần xâm nhập, ông nghe kể về một người bị quân Nhật làm cho bị thương và bỏ lại chịu chết trong một ngôi chùa cách đó 20 dặm đường. Không một ai muốn cứu ông ta vì sợ trả thù, vì vậy Eric đi vòng lại chỗ đó, tìm gặp rồi cõng người ấy ra chiếc xe bò mượn, quyết định đưa người kia đến bệnh viện. Song trong đêm đó, Eric ngủ thiếp đi một chút. Ông lấy làm lo về mối nguy hiểm mà ông tự đặt mình vào. Nếu quân Nhật bắt được ông, chắc chắn ông sẽ bị giết ngay tại chỗ. Sau cùng Eric thức giấc, quấn quanh người ông là chiếc áo choàng bằng da chiên cũ, và vói tay lấy quyển Kinh Thánh tiếng Trung quốc. Khi ông mở quyển sách ra, đôi mắt ông đập vào Luca 16.10: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn”.

Lời lẽ dường như đến trực tiếp từ nơi Chúa, và Eric quay trở lại giường và ngủ một giấc ngon lành.

Sáng hôm sau các toán lính Nhật có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng vì lý do gì đó họ không truy tìm chiếc xe bò của Eric, và ông thoát ra khỏi nơi kinh khiếp đó. Dọc theo đường đi, ông đã cứu một nạn nhân khác, cổ người nầy bị lính Nhật chém theo kiểu hành quyết của họ. Sau cùng thì họ cũng về tới bệnh viện. Người thứ nhất đã chết, nhưng người thứ hai được phục hồi và hiển nhiên đã trở thành một nghệ sĩ Cơ đốc người Hoa rất giỏi.

 

                “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc rất lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc rất lớn” (Luca 16.10)

 

                                                                   18 Tháng 8

XIN THƯƠNG XÓT CON

                Hội Phước Âm Liên Hiệp ở Atlanta đã gây ấn tượng sâu đậm trên sinh viên Mabel Willey. Lòng nhiệt thành trong công tác truyền giáo của Hội đã ngấm vào lòng nàng, nhưng… “Tôi ý thức được có một sự thiếu thốn trong tôi. Sâu lắng bên trong, tôi biết rõ Đức Chúa Trời muốn tôi phải làm gì. Nhưng tôi cũng biết trong đời sống tôi chẳng có quyền phép chi hết. Tôi không có quyền tự do để làm chứng như tôi mong muốn. Một Chúa nhật kia, tôi đến dự một buổi thờ phượng với một nhà truyền giáo. ‘Có ai trong hàng thính giả cảm thấy đời sống mình trống vắng không? Quý vị muốn phục vụ, song lại chẳng có quyền phép, sức lực của Đức Thánh Linh chăng?’ Khi ca đoàn cất tiếng hát, tôi nhìn lên phía bàn thờ. ‘Lạy Chúa, con đây. Con chẳng có gì để dâng trừ ra bản thân mình. Đấy là mọi sự con có, song con muốn có quyền phép nầy để hầu việc Ngài’”.

Mabel đã ghi danh vào Thần học viện Toccoa Falls để được đào tạo thành giáo sĩ, song với nhiều bài học cần phải tiếp thu.

“Xin thương xót con! Con luôn luôn phải làm đủ thứ hết”, tôi đã than van với Chúa vào buổi sáng kia. Tôi là lớp trưởng của lớp thực tập sinh. Khi cả lớp phải lo làm một cánh cổng cho lối vào Trường, tôi chịu trách nhiệm về nhiều chi tiết, song cho dù tôi chịu khó làm việc, không một người nào khác chịu để ý tới hết. Tất cả các sinh viên đều bận bịu với chuyện riêng của họ.

                Sáng hôm ấy tôi thức dậy sớm rồi đi ra thác. Khi chọn một hòn đá lớn để ngồi, tôi lặng lẽ ngắm thấy cái thác đó, cao hơn thác Niagara, và than vãn với Chúa. ‘Không ai muốn giúp con hết, lạy Chúa. Xin ban cho con một câu đúng với hoàn cảnh của con ngay bây giờ’. Tôi mở quyển Kinh Thánh ra mong thấy được một câu Kinh Thánh thật giàu ơn, đầy tình yêu thương và có ích cho tôi tớ đáng thương của Ngài, nó đang ngã lòng. Thay vì thế, mấy dòng chữ nầy hiện ra trước mắt tôi trên bìa một bức thư: ‘Sau khi bạn làm hết mọi việc rồi, hãy nói mình là một đầy tớ không xứng đáng’.

Tôi đi trở lại phía cửa với một thái độ đã thay đổi. Như một kết quả, mọi việc bắt đầu rơi đúng chỗ và dự án cứ tiến hành cho tới lúc hoàn tất”.

Đó là bài học mà Mabel đã nhớ lại rất nhiều lần trong vai trò làm giáo sĩ cho xứ Cuba.

 

                “Các ngươi cũng vậy, khi làm xong việc truyền phải làm, thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm” (Luca 17.10)

                                                                   19 Tháng 8

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA MỘT CẬU THIẾU NIÊN

                Vào năm 1898 trong quyển “Giáo sĩ Yates”, Matthew Yates đã mô tả thể nào Chúa đã sử dụng ánh sáng và tia chớp để đưa ông đến với Đấng Christ khi còn là thiếu niên. Sự sáng do giáo sĩ có tên là John Purefoy cung ứng cho, ông thường đến ngụ trong nhà của Yates.

“Tôi nhớ rất rõ Cha Purefoy đặt tay ông lên đầu tôi rồi nói: ‘Nguyện Chúa khiến nó trở thành một nhà truyền đạo!’. Lời chúc phước nầy đã gây ấn tượng trên tấm lòng còn non nớt của tôi, vì tư thế ăn nói của ông rất lịch sự và giọng nói ông rất nghiêm trang.

                Sau đó ông hỏi tôi có biết cầu nguyện hay chưa!?! Tôi đáp tôi không biết phải cầu nguyện như thế nào! Ông từ tốn nhìn tôi khi tôi giữ con ngựa để cho ông leo lên, rồi nói: ‘Ta sẽ nói cho con biết: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy con, vì con là kẻ có tội!’. Đây là lần gợi ý đầu tiên tôi từng nghe thấy khi tôi còn là một tội nhân.

                Trong cuộc trò chuyện sau đó, Purefoy hỏi tôi khi chẳng có ai khác ở đó, không biết tôi có cầu nguyện y như ông chỉ biểu hay không!?! Tôi đáp tôi không biết phải cầu nguyện ở chỗ nào!?! Ông đáp: ‘Hãy đi vào rừng, ở chỗ chẳng có ai nghe thấy con, trừ ra Đức Chúa Trời’.

                Ngôi nhà tôi đến học nằm ở dưới cây sồi màu trắng rất lớn. Trong giờ nghỉ giải lao, khi chúng tôi chơi đùa dưới táng cây rộng lớn của nó, nó bị sét đánh hai lần trong nhiều giây đồng hồ. Chúng tôi phải nằm sát xuống đất như thể bị một gánh nặng rất lớn đè lên vậy, và từng thiếu niên đều có một vết đỏ khá sâu trong phần cơ thể do điện xẹt trúng. Bầu trời thật u ám trong ngày đó, song chẳng có mưa cũng không có sấm sét chi hết.

                Sự cố nầy, thật là bất ngờ và chẳng ai mong đợi đã làm cho tôi cảm thấy mình là một tội nhân và phải cầu nguyện. Tôi bèn đi vào khu rừng rậm rồi tìm một cây sồi lớn có độ nghiêng hướng về phương Nam. Ở đó dựng lên một bàn thờ cầu nguyện, và ở đó tôi cầu rằng: ‘Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy con, vì con là kẻ có tội!’”.

 

                “Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!” (Luca 18.13)

 

                                                                   20 Tháng 8

TRÊN BỨC TƯỜNG BÁ LINH

                Năm 1963, Rudiger Knechtel – một lính biên phòng 21 tuổi đứng gác trên Bức Tường Bá Linh mới vừa xây lên, có nhiều đồng đội của anh thường đi tới đi lui và nói tục tỉu. Họ cười hô hố lên khi có người tìm cách trốn tránh bị bắn chết. Rudiger đưa ra một lời thề thầm lặng, hứa rằng sẽ chẳng bắn vào những người vượt tường biên giới, và anh bình tĩnh thuyết phục các lính gác khác cũng làm y theo như vậy. Thế rồi lời khuyên nầy đã tới tai các giới chức có thẩm quyền, Rudiger bị bắt và bị kết án lao động khổ sai trong một nhà tù quân sự. Ngay khi đó vợ anh lại rơi vào tình yêu với một người khác, và Rudiger trở về nhà với một cuộc sống tan vỡ.

Lúc bấy giờ anh đã khám phá ra Đấng Christ là Cứu Chúa rồi khởi sự làm việc trong vai trò phục hồi những kẻ nghiện ngập. Là một kế sinh nhai, Rudiger bắt đầu tuyển chọn, buôn bán đồ cổ và tác phẩm nghệ thuật, hiển nhiên là góp nhặt một bộ sưu tập cho chính mình nữa. Chính quyền vẫn theo dõi anh, sai người dò la tin tức, và các thám tử đến để gài bẫy anh.

Trong những giờ đầu tiên của ngày 28 tháng 7 năm 1982, có 7 người xuất hiện ngay thềm cửa, họ bắt anh, và thu giữ các bức tranh có giá trị nhất. Ở giữa chồng hồ sơ chống nghịch lại anh, anh bị tố cáo không nộp thuế cho các tác phẩm của mình. Lời tố cáo ấy là thật, vì Rudiger đã lèo lái một số thuế đặc biệt cho công việc nghệ thuật của anh. Ủy viên công tố mắng nhiếc: “Anh đã không nộp thuế, thế mà dám xưng là Cơ đốc nhân. Anh là loại Cơ đốc nhân gì vậy?”.

Câu hỏi làm tổn thương Rudiger vì anh biết rõ Luca 20.25. Anh phải nộp lại cho Sêsa những gì thuộc về Sêsa, thậm chí dù chế độ có sụp đổ đi nữa. Anh nhớ lại: “Đây quả là một cảm giác rất kinh khủng. Rõ ràng là tôi đã sống xa cách với đức tin chân thật rồi”.

Rudiger Knechtel nổi bật lên từ lần ở tù thứ nhì, anh đã quyết định sống trong sự vâng phục mới mẻ về phần đạo đức đối với Đức Chúa Trời – và điều nầy đã làm cho anh ra nguy hiểm hơn đối với nhà cầm quyền. Đến năm 1989, anh đã phụ giúp lãnh đạo phong trào đánh bại người Cộng sản trong quốc gia của anh; và ngày nay anh hãy còn đang hoạt động, chăm sóc cho kẻ tật bệnh và người đang hấp hối.

 

                “Ngài bèn phán rằng: Vậy thì của Sêsa hãy trả lại cho Sêsa, của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời” (Luca 20.25)

 

                                                                   21 Tháng 8

TIẾNG GÀ GÁY

                Tôi thường nghĩ về Phierơ khi để ý thấy người ta bật khóc thật là dễ dàng trong văn phòng của tôi. Trong kinh nghiệm của tôi, nam giới dễ tan vỡ hơn là nữ giới trong những lần gặp gỡ tư vấn, và thường là vì cớ tội lỗi. Người chồng nào đã huỷ phá hôn nhân. Người cha nào có tánh đuổi xô con cái. Kẻ nghiện rượu nào đã tái phạm lại.

Khi ánh mắt của Chúa Jêsus làm đau lòng một người, khi người ấy nghe tiếng gà gáy rồi khóc lóc cay đắng, bèn quyết định thay đổi, sau cùng người đó còn hơn cả tiếc hối, hơn cả ân hận, đến một cấp độ buồn rầu được gọi là ăn năn. Hai nhân vật trong Kinh Thánh, tôi thấy họ đã đưa ra lời khuyên rất hay cho nam giới trong những lúc như vậy.

Phierơ dạy Đức Chúa Trời tha tội. Mặc dù Phierơ đã chối bỏ Chúa Jêsus ba lần, Chúa đã hiện ra cùng ông theo cách riêng sau khi sống lại (I Côrinhtô 15.5), và ý định muốn phục hồi ông (Luca 22.32). Chúng ta không có bản tường trình chi tiết về buổi gặp gỡ ấy, thế nhưng Phierơ đã tuyên xưng tội lỗi mình với thái độ tự xem khinh và ăn năn hoàn toàn; và ở đó ông đã tiếp thu được quyền phép của “huyết quý báu của Đấng Christ” (I Phierơ 1.19). Sau đó bên bờ biển, Chúa Jêsus đã nhận được ba lần khẳng định về tình yêu thương xuất phát từ người môn đồ đáng thương của Ngài (Giăng 21.15-19), và sự phục hồi thuộc linh càng sâu sắc hơn.

Nhưng có một sự chữa lành khác rất cần thiết, vì được Đức Chúa Trời tha thứ thường dễ dàng hơn là tự tha thứ mình. Ở đây, vị anh hùng Cựu ước là Giôsép đang giúp đỡ chúng ta. Cũng như Chúa Jêsus đã bị Phierơ phản bội, Giôsép đã bị các anh mình bội phản, họ đã bán ông đi làm nô lệ. Song nhiều năm sau đó, ông đã nói với họ: “Bây giờ, đừng sầu não, và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh” (Sáng thế ký 45.5). Nói cách khác: “Em đã tha thứ cho các anh. Bây giờ đừng tự hành hạ mình nữa. Đừng tiếc chi về chuyện ấy nữa. Hãy bỏ nó ra sau lưng đi, vì Đức Chúa Trời là Đấng tể trị mọi sự đã sử dụng tội lỗi để làm ích cho đấy thôi”.

Tội lỗi và thất bại của chúng ta là những vấn đề đáng nguyền rủa, nhưng khi chúng ta quỳ gối xuống trước mặt Đấng Christ phục sinh, xưng nhận mọi tội lỗi mình, huyết của Ngài tha thứ chúng ta hoàn toàn; và chúng ta chỗi dậy từ hai đầu gối để tự tha thứ mình rồi bắt tay vào công việc của Chúa.

 

                “Chúa xây một lại ngó Phierơ. Phierơ nhớ lại lời Chúa đã phán cùng mình rằng: Hôm nay trước khi gà chưa gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần; rồi đi ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Luca 22.61-62)

 

                                                                   22 Tháng 8

SỰ BIẾN ĐỔI

                Những lời lẽ nầy từ Chúa chúng ta đáp ứng lại câu nói của tên cướp đáng chết kia: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Barađi”.

Khi nhà thiên văn học Nicholas Copernicus hấp hối, ông đã kêu cầu câu nói sau đây phải được khắc trên bia mộ của ông: “Lạy Chúa, con không xin sự tử tế mà Ngài đã tỏ ra cùng Phierơ. Con không dám xin ân điển mà Ngài đã tỏ ra cho Phaolô; song, Chúa ôi, sự thương xót Ngài tỏ ra cho tên cướp đáng chết kia, xin tỏ sự ấy ra cho con. Con thành khẩn xin sự thương xót đó”.

Vào thế kỷ 16 ở Cambrige, William Perkins – một tay nghiện rượu đã trở lại với Đấng Christ rồi trở thành một vị Mục sư. Lòng thương xót của ông dành cho hạng tội phạm và tay du đãng là không có giới hạn. Tìm cách lấy lòng những viên cai ngục, Perkins đã tận dụng cơ hội để phục vụ cho các tù phạm.

Ngày nọ ông cùng đi với một thanh niên đến chỗ có giá treo cổ. Khi treo cổ là những sự cố diễn ra công khai, một đoàn dân đông tụ tập lại để xem cuộc hành hình, và theo thông lệ bản án được đọc cho cả đám đông nghe. Nhưng chàng thanh niên kia đã trèo lên chiếc thang, cúi đầu xuống, mặt mày xám xịt và khủng khiếp. William hỏi khi nhìn thẳng vào mặt anh ta: “Có phải anh sợ chết không?”

Chàng trai nhẹ nhàng đáp: “Không, chỉ thấy tệ hại đôi chút thôi”

                “Hãy bước xuống đi, rồi nhìn xem những gì ân sủng của Đức Chúa Trời sẽ làm”.

Chàng thanh niên leo xuống chiếc thang, và Perkins dành thì giờ giải thích cho anh ta biết sự tha thứ mà Đức Chúa Trời hiến cho qua Đức Chúa Jêsus Christ. Chàng trai bật khóc nức nở và cầu nguyện khẩn thiết. Thế rồi chàng trai bật khóc nữa, lần nầy vì sự vui mừng khi Perkins chia sẻ những câu Kinh Thánh nói về sự bảo đảm đời đời. Sau đó chàng tù phạm lại leo lên chiếc thang, lần nầy với sự nhanh nhẩu hơn, và anh ta bước vào sự chết của mình như nhìn thấy thiên đàng đã mở cửa ra vậy. Những người đến xem trở về nhà với nỗi ngạc nhiên, họ cho rằng họ đã không xem một cuộc treo cổ mà là nhìn thấy một sự hoá hình.

William Cowper có lần viết:

Tên cướp sắp chết kia vui mừng khi nhìn thấy

Dòng suối ấy trong thời của hắn ta

Và dù tôi có bẩn thỉu giống như anh ta

Ở đó tôi sẽ được tẩy sạch hết mọi tội lỗi mình.

 

                “Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (Luca 23.42)

 

                                                                   23 Tháng 8

BÀI CA TRÊN DÒNG SÔNG

                Felix Manz (1498-1527) từng là lãnh đạo của những người Anabaptists Thuỵ Sĩ – một nhóm tin lành đầu tiên, họ cho rằng chịu phép báptêm lúc còn thơ ấu là phi Kinh Thánh. Mặc dù bị xét đoán bởi nhà Cải chánh Ulrich Zwingli và Hội đồng thành phố Zurich, Manz cứ khăng khăng trong những điều mình tin tưởng. Vào một đêm lạnh giá mùa đông năm 1525, có tới cả tá người nhóm lại ở nhà ông tại Zurich để chịu phép báptêm căn cứ theo lời tuyên xưng cá nhân họ nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa. Trong phần phản ứng, Hội đồng thành phố Zurich đã ra lệnh rằng bất kỳ ai “chịu báptêm lại” sẽ bị dìm chết dưới sông.

Rồi Felix bị bắt và bị tống giam. Ông đã bỏ trốn, rồi bị bắt lại, và được thả ra. Nhưng vào ngày 12 tháng 10 năm 1526, ông lại bị bắt nữa, và đến ngày 5 tháng Giêng sau đó, bị kết án tử hình. “… vì đi ngược lại thông lệ Cơ đốc do dính dáng với lý thuyết của Anabaptists”. Lệnh tử hình ấy buộc Manz: “nộp mình cho người thi hành án, người ấy sẽ trói hai tay của ông lại, đặt ông vào một chiếc thuyền, hai bàn tay bị trói ôm chặt lấy hai đầu gối, họ lòn một khúc củi vào giữa hai đầu gối và hai cánh tay ông, rồi đẩy ông xuống nước và ông sẽ chết trong đó, bằng cách ấy ông sẽ được chuộc tội đối với luật pháp và sự công bình”.

Felix bị trói thúc ké từ nhà tù Wellenberg giải ngang qua khu chợ cá rồi được đặt lên một chiếc thuyền bỏ neo trên dòng sông Limmat chảy ngang qua Zurich. Khi mái chèo của chiếc thuyền vẫy tung trên mặt nước, giọng nói của mẹ ông vang dội từ trên bờ sông, cứ nài xin ông giữ lòng thành thật với Đấng Christ. Những người có nhiệm vụ mãi lo giữ chặt tay chân của ông, trong khi đó Felix cứ hát vang dội: “In manus tuas, Domine, commedno spiritum menum” (Lạy Chúa, con xin giao linh hồn lại trong tay Ngài).

Với lời hát đó trên môi mệng, ông bị họ lăn ra khỏi chiếc thuyền, và dòng nước lạnh giá của con sông Limmat ngay miệng hồ Zurich đã phủ lút hết đầu ông.

 

                “Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi” (Luca 23.46)

 

                                                                   24 Tháng 8

LỜI LẼ BÊN CẠNH MỘ ĐỊA

                Mấy người bạn nầy của Chúa Jêsus, tấm lòng họ thật là nặng nề. Họ cần có thời gian buồn rầu bênh cạnh ngôi mộ của Ngài, song sau khi đến lúc sáng sớm, họ thấy ngôi mộ trống trơn. Có nhiều chuyện quá không thể cưu mang nổi – người bạn yêu dấu của họ đã bị hành quyết đến chết ở trước mắt họ, sự chôn cất thật là vội vã, và giờ đây ngôi mộ của Ngài lại bị cướp phá. Họ đã có mặt vào một thời điểm tan nát cõi lòng.

Tuy nhiên họ không biết lúc ấy là thời điểm rực rỡ nhất của lịch sử, ấy là Đức Chúa Jêsus Christ đã sống lại từ kẻ chết. Nhưng các thiên sứ đã thông tin cho họ bằng những lời lẽ đơn sơ nầy: “Sao các ngươi tìm người sống giữa vòng kẻ chết?”

Chính câu hỏi ấy bất ngờ đến với Mục sư Stephen Brown sau khi em của ông và người bạn thân nhất là Ron đã chết đột ngột vì đột biến tim. Ron hãy còn trẻ – ở tuổi 40 – và là một đầy tớ rất được lòng người ta, là một trạng sư rất xuất sắc, là một người cha rất tốt. Cái chết của ông đã tàn phá Stephen, ông không có cơ hội để nói lời từ giã.

Vài tuần lễ sau cái chết của Ron, Stephen quyết định đến thăm mộ của em mình. Trời hôm ấy cuối đông, mây nhiều, lại lạnh nữa, và Stephen bước ra khỏi xe hơi đi trong cơn mưa phùn. Ngôi mộ của Ron lúc đó chưa đánh dấu, và Stephen không thể tìm ra được. Khi ông mò mẫm trong bùn, nỗi buồn phủ lút ông. Đứng trong cơn mưa, Stephen bắt đầu thổn thức: “Lạy Chúa, đây là tháng tệ hại nhất trong đời con, và bây giờ con không thể tìm được mộ của em mình”.

Thình lình Stephen ý thức được một sự hiện diện ở gần ông, giống như Đức Chúa Jêsus Christ đã bước tới gần để giúp đỡ cho vậy. Những lời nầy thoáng qua lý trí giống như một tia chớp, y như chính mình Chúa Jêsus phán với họ: “Sao các ngươi tìm người sống giữa vòng kẻ chết?”

Stephen về sau ghi lại: “Câu nói đó đã yên ủi tôi, và tôi không trở lại nghĩa trang kể từ hôm ấy. Tôi không cần phải trở lại nữa. Đấng đã yêu thương Ron và biết rõ cậu ấy. Ngài đã đến với tôi trong khi tôi buồn khổ. Ngài hứa không hề rời bỏ, và lời hứa ấy đã tạo ra mọi sự khác biệt trong thế gian”.

 

                “Họ đương thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết?” (Luca 24.5)

 

                                                                   25 Tháng 8

BÀI GIẢNG CUỐI CÙNG CỦA JOHN BUNYAN

                John Bunyan – tác giả quyển Thiên Lộ Lịch Trình, là thợ sửa dụng cụ bếp núc, sau khi trở lại đạo, ông trở thành người chuyên sửa đổi linh hồn. Vào năm 1660 ông bị bắt ở tù tại Bedford, nước Anh, vì các ý tưởng Thanh giáo của mình, và xà lim nhốt ông đã biến thành nơi nghiên cứu, toà giảng, phòng cầu nguyện, trung tâm tư vấn, và phòng viết văn của ông. Sau khi được thả ra, Bunyan phục vụ Chúa ở Hội thánh Báptít tại Bedford (Hội thánh nầy đã bầu ông làm Mục sư Chủ Toạ đang khi ông còn ở trong ngục).

Đến tháng 8 năm 1688, Bunyan đã 60 tuổi bị ướt đẫm trong cơn giông bão khi đi tới Luân đôn; nhưng, sau khi tới thành phố, ông tiến hành giảng ngay vào sáng Chúa nhật tại một nhà thờ ở Whitechapel. Ông đã chọn câu gốc ở Giăng 1.13, và ông kết thúc sứ điệp bằng câu nói: “Ồ đừng lấy làm vui vì có phần gia tài giữa vòng con cái, trừ phi quý vị sống giống như con cái. Khi chúng ta thấy hoàng tử con của một vì vua chơi đùa với một tên ăn mày, điều nầy không thích nghi; cho nên nếu quý vị là con cái của nhà vua, hãy sống giống như con cái của nhà vua; nếu quý vị đồng sống lại với Đấng Christ, hay hướng tình cảm mình vào những việc ở trên cao kia, chớ đừng nhắm vào những việc ở dưới thấp; khi quý vị nhóm lại với nhau, hãy nói về mọi điều mà Cha đã hứa cho quý vị; quý vị hết thảy nên yêu mến ý chỉ của Đức Chúa Cha, phải thoả lòng và vui vẻ với những bài học mà quý vị gặp gỡ trong thế gian. Nếu quý vị là con cái của Đức Chúa Trời, hãy sống với nhau bằng tình yêu thương; nếu thế gian sinh sự với quý vị, thì chẳng có gì phải lo ngại hết; nếu điều nầy xảy ra giữa vòng quý vị, đó là một dấu hiệu bệnh tật đang phát sinh; việc ấy không theo các luật lệ mà quý vị có trong Lời của Đức Chúa Trời. Quý vị có thấy linh hồn nào có hình ảnh Đức Chúa Trời trong người ấy chưa? Hãy yêu mến người, hãy yêu mến người; hãy nói: ‘Người ấy và tôi phải vào trong thiên đàng một ngày kia; hãy hầu việc nhau, hãy làm lành cho nhau, nếu có ai làm buồn lòng quý vị, hãy cầu nguyện xin Đức Chúa Trời sửa đổi quý vị, và hãy yêu mến anh em mình”.

Hai ngày sau, Bunyan bị hành hại bởi một cơn sốt cao và phải nằm liệt giường tại nhà nghỉ của mình. Ông qua đời mười hai ngày sau khi giảng bài giảng cuối cùng đó.

 

                “là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy” (Giăng 1.13)

 

                                                                   26 Tháng 8

NẦY! CHIÊN CON

                George Cutting – nhà văn và là người chinh phục linh hồn, ngày kia đã đi xe đạp qua một ngôi làng ở nước Anh, khi ấy ông cảm thấy phải rao giảng những lời nầy: “Nầy Chiên Con của Đức Chúa Trời! Là Đấng cất tội lỗi thế gian đi!” Không lâu sau đó, ông lại giảng câu gốc này khi đột nhiên ông cảm thấy mình phải nhắc lại câu Kinh Thánh đó.

Nửa năm trời trôi qua, và Cutting trở lại truyền đạo cho từng nhà trong khu vực ấy. Khi một người đờn bà ra đến cửa mái nhà tranh kia, Cutting hỏi không biết bà ta được cứu hay chưa!?! Bà nầy đáp: “Ồ đã được cứu rồi. Cách đây 6 tháng tôi buồn khổ lắm về sự cứu rỗi của linh hồn tôi. Tôi nài xin Đức Chúa Trời cứu giúp. Thế rồi có một giọng nói vang lên: ‘Nầy, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi’. Tôi cầu xin Chúa lặp lại câu mà Ngài đã phán, và cất tiếng nói ấy lại đến một lần nữa”.

Một sự cố tương tự, có nhiều người biết đã xảy ra trong chức vụ của Charles H. Spurgeon. Người ta mời ông đến giảng tại Crystal Palace ở Luân đôn vào ngày “Quốc Gia Hạ Mình”. Buổi nhóm đã được mô tả “lớn nhất từng được một truyền đạo tin lành ở Âu châu hay thế giới đến giảng”. Vài ngày trước buổi thờ phượng, Spurgeon đến tại Crystal Palace đi một vòng sảnh đường, mắt nhìn vào những hàng ghế trống, rồi thử âm thanh. Ông bước lên bục giảng, cất cao giọng rồi hô to lên: “Nầy, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi”.

Ông chẳng hay biết lời nói của mình xoáy lên trên mái sảnh đường, ở đó có một công nhân đang bận rộn với các ảnh trang trí bên trên đã nghe được câu nói ấy như đã phán xuống từ trời. Ngay lập tức ông ta có ấn tượng mạnh mẽ với sự thuyết phục về tội lỗi rồi đặt dụng cụ xuống, trở về nhà, và tìm kiếm Đấng Christ cho tới khi ông ta gặp được Ngài.

 

                “Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1.29)

 

                                                                   27 Tháng 8

CHIẾN DỊCH ALICE

                Cụ Alice quái gỡ là một nỗi kinh hoàng cho trẻ em vùng lân cận, cho những con chó sống lang thang và cho mấy thiếu niên đi giao hàng. Gương mặt của bà đầy những nét gắt gỏng và dễ mất cảm tình. Bà hay quơ mấy cái xẻng làm vườn và loại kéo xén rào dậu giống như loại vũ khí trước mặt khách đến tham quan.

Khi Jim và Jean Mader bước sang cửa nhà bên cạnh, họ tập trung lòng can đảm của mình để làm chứng cho Alice nghe về Chúa, thế nhưng bà ngắt ngang lời họ. Bà nói: “Ta là thuộc viên của nhà thờ cả đời ta rồi. Ta không cần Kinh Thánh nói cho ta biết những gì phải làm nữa!”

Hai vợ chồng Mader tìm cách để gần gũi với Alice, và từ từ mối quan hệ cởi mở hơn lên. Alice vẫn không muốn có quan hệ chi với Tin lành.

Trong một chiến dịch truyền giảng Tin lành cho cộng đồng, hai vợ chồng Mader dự phần vào một chương trình gọi là: ”Chiến dịch Andrew”, dựa theo Giăng 1.42, về việc Anh-rê giới thiệu anh mình là Simôn với Đấng Christ. Họ kể ra 10 người để cầu thay cho và mời đến dự các buổi nhóm. Tên của Alice nằm ngay đầu danh sách, nhưng bà ta từ chối lời mời của họ. Họ cứ cầu nguyện, và tìm kiếm cơ hội để làm chứng.

Mùa hè kia, sau khi trở về từ kỳ nghỉ, gia đình Mader thấy ngôi nhà của Alice trống trơn. Bà đã vào viện dưỡng lão, sau khi bị đột quỵ. Họ đến thăm bà ta, mang theo hoa và tin tức từ vùng lân cận nữa. Alice không thể nói chuyện được. Họ trở lại thường xuyên hơn với hình ảnh gia đình và những bữa ăn nhanh nhiều hương vị. Ngày nọ cách vài tháng sau, khi Jim yêu cầu cho phép ông được đọc Thi thiên 23, bà đã gật đầu.

Jim và Jean thường hay đến, luôn luôn chia sẻ một phân đoạn Kinh Thánh. Họ để ý thấy Alice bắt đầu có nét thay đổi trên gương mặt khi ông đọc thay vì nhìn trừng trừng như bà vẫn hay nhìn trước đây. Sau cùng, Jim thấy đã đến thời điểm chín mùi nên hỏi: “Alice, bà có muốn Chúa Jêsus tha tội và ban cho bà sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời không?” Alice ra dấu cho biết bà bằng lòng, bà cúi đầu xuống thầm nguyện theo lời Jim hướng dẫn. Khi bà ngước đầu lên, đôi mắt bà đã đẫm với nước mắt.

Phải tốn mất những mười hai năm.

 

                “Anh-rê, …trước hết người gặp anh mình là Si-môn, thì nói rằng: Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ). Người bèn dẫn Si-môn đến cùng Đức Chúa Jêsus” (Giăng 1.40-42)

 

                                                                   28 Tháng 8

BÀI GIẢNG CỦA LEMUEL

                Lemuel Haynes ra đời vào mùa hè năm 1753 ở Connecticut, là đứa con bất hợp pháp của người chồng da đen và vợ người da trắng. Bị bỏ rơi lúc mới sinh ra, ông trở thành người làm công hợp đồng khi còn nhỏ cho ông bà David Rose ở Granville, Massachusetts, họ đem ông về, gửi vào trường học, tiếp trợ cho mọi nhu cần, dạy dỗ ông về Chúa Jêsus, và biến ông thành một người thuộc riêng về họ.

“Tôi nhớ tôi thường hay lo sợ về việc phải đi xuống địa ngục. Buổi tối kia, tôi hoảng hốt bởi Aurora Borealis hay Northen Lights. Chính trong ngày đó tôi có linh cảm là một ngày phán xét vậy. Tôi không thể tỏ ra nỗi khủng khiếp mà lý trí tôi cảm thấy được. Buổi tối khác, dưới cây táo, tôi khóc than về hoàn cảnh hẩm hiu của mình, và tôi đã tìm được Đấng Cứu Thế. Tôi luôn luôn thăm viếng chỗ ấy khi tôi đến tại Granville, và khi tôi có thể, tôi hái vài trái táo rồi đem về nhà; tôi nếm thật là ngọt ngào”.

Lemual tham gia đánh trận trong Cuộc Nội Chiến, là dân quân của Washington, rồi trở lại nhà của Rose trở thành người ủng hộ cho việc huỷ bỏ chế độ nô lệ.

Một tối kia trong lúc gia đình lễ bái, Lemuel đọc một bài giảng dựa theo Giăng 3.3. Sau đó, ông Rose rất có ấn tượng nên phát biểu: “Lemuel, có phải ông đang đọc bài viết của ông không? Có phải đó là bài giảng của Davies, hay Watts hoặc Whitefield?”

Hơi bẽn lẽn, ông đáp: “Đó là bài giảng của Lemuel”. Ông đã chỉ ra chính bản thân mình trong Giăng 3.3, và đó chính là bài giảng đầu tiên của ông. Được khích lệ bởi gia đình Rose, Lemuel bắt đầu chuẩn bị cho chức vụ truyền đạo, và hiển nhiên đã tiếp nhận một Hội thánh ở Rutland, Vermont. Trong 30 năm ở tại đây, ông đã giảng 5.000 bài giảng, tổ chức 400 tang lễ, đã kinh nghiệm hai kỳ phục hưng lớn lao, và đã nhìn thấy hàng trăm người được sanh lại.

Đến năm 1833, Haynes bây giờ đã già rồi, trở về thăm lại Granville, ở đây ông viếng lại cây táo già kia – vẫn còn đứng hiên ngang ở đấy – lần cuối cùng. Ông đã qua đời một thời gian ngắn sau đó. Tấm bia ghi trên mộ ông ghi hàng chữ: “Ở đây đặt bụi đất của một tội nhân chỉ đáng ở địa ngục, chỉ biết đặt lòng tin cậy trọn vẹn vào công trạng của Đấng Christ để được cứu rỗi”.

 

                “Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3.3)

 

 

 

                                                                   29 Tháng 8

MỘT NGƯỜI BẢO VỆ MỚI

                Bạn của tôi – giáo sĩ Rick Amato kể lại khi còn là một thiếu niên loạn nghịch, ông đi tìm ý nghĩa của cuộc đời vào giữa thập niên 1970. Ông tham dự vào cuộc trao đổi có liên quan tới ma tuý và hỏi một loạt nhiều câu về mục đích của cuộc sống. Băng nhóm của ông trong các con hẽm da đen ở Detroit đã dẫn ông càng lún sâu vào tật xấu, và Rick dường như đang ở cuối con đường.

Rồi có một người bạn đến mời ông đi nhà thờ, và chống lại mọi cuộc xung đột. Rick đã chấp nhận. Khi hội chúng cất tiếng hát bài: “Tôi Nguyện Đến Liền”, ông đứng dậy tiến tới phía trước rồi xin Đấng Christ trở làm Chúa và Cứu Chúa của ông. Các thói quen dùng ma tuý, tật xấu hay huỷ diệt của ông bắt đầu thay đổi, và ông khởi sự đọc Kinh Thánh. Ông cũng khởi sự làm chứng nữa.

Ở buổi thực tập bóng đá, mỗi lần vị huấn luyện viên bắt đầu tuyên hứa, khi ông nói: “Đức Chúa Jêsus Christ”. Rick sẽ đáp: “là Chúa”.

“’Bài giảng’đầu tiên của tôi đã được giảng cho đội hợp xướng của Trường trung học. Tất cả học sinh đều nhóm lại trong phòng của đội chờ nghe bài diễn văn của Ca trưởng. Và tôi là Ca trưởng. Tôi đứng dậy nói: ‘Bài diễn văn của Ca trưởng được thấy có trong Giăng 3.7. Chúa Jêsus phán: ‘Các ngươi phải sanh lại’’.

                Một học sinh hét lên: ‘Nầy, bạn kia. Đây là trường công lập. Bạn không được giảng Kinh Thánh trong trường công đấy nhé!’

                Tôi đáp: ‘Im mồm đi! Tôi là Ca trưởng, và đây là bài diễn văn của Ca trưởng. Tôi không thể làm điều chi tôi muốn’. Và tôi đã làm. Tôi bảo đảm chúng khi tôi tiếp nhận Đấng Christ, mọi tội lỗi tôi đã được tha hết. Tôi nói cho chúng biết sự tha thứ ấy kỳ diệu lắm. Khi ấy chuông reng lên, và tôi không còn hội chúng nữa”.

Trong trường học Norman là lực sĩ to con nhất, mạnh khoẻ nhất. Chần chừ ở lại một lúc, Norman hỏi: “Bạn có thực tin rằng nếu một người cầu xin Đức Chúa Jêsus Christ ngự vào đời sống mình thì Ngài sẽ tha thứ mọi sự mà người ấy đã phạm không? Bạn có quyết rằng Ngài sẽ cứu tôi chứ?” Rick không dám chắc cách nào để dẫn dắt Norman đến với Đấng Christ, song hai đứa quỳ gối xuống và cầu nguyện khẩn thiết nhất như chúng có thể.

Ngày ấy, có một người khác đã tìm gặp những điều mình truy tìm. Ngôi trường đã có một tân vận động viên, và Rick Amato có một người bảo vệ mới.

 

                “Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói cùng ngươi: Các ngươi phải sanh lại” (Giăng 3.7)

 

                                                                   30 Tháng 8

TIN LÀNH THU GỌN

                Giăng 3.16 có lẽ là câu Kinh Thánh đáng yêu nhất của thế gian, nhưng chẳng có ai yêu mến câu nói đó hơn nhà truyền đạo người Anh vào thế kỷ 19 có tên là Henry Moorehouse. Henry bắt đầu rao giảng một thời gian ngắn sau khi ông trở lại đạo từ một đời sống gian ác xấu xa, và mỗi lần ông đứng giảng ông đều đưa Giăng 3.16 làm câu gốc của mình.

Các bài giảng của ông đều khác nhau, song câu gốc luôn luôn là một.

Có lần kia khi Moorehouse quyết định du hành rao giảng trên khắp nước Mỹ, ông đã gửi cho D. L. Moody một bức thư đề nghị giảng thay cho Moody. Moody chẳng hồi âm, nhưng không lâu sau đó ông lại nhận được một bức thư khác. Thế rồi lá thư thứ ba. Moody nhớ lại: “Phải làm gì với ông ấy đây. Tôi nghĩ là ông ta không thể giảng dạy được”.

Moody ra đi trong một chuyến du hành ngay lúc Henry đến tại Chicago. Moody nói với các cấp lãnh đạo Hội thánh của mình: “Tôi nghĩ ông ấy không thể giảng dạy chi được, song cứ để ông ấy thử xem”. Khi Moody trở về, Hội thánh rất xôn xao. Bà Moody nói: “Ông ấy giảng một ít khác biệt đối với những gì anh đã giảng. Ông ấy nói cho tội nhân biết Đức Chúa Trời yêu thương họ”.

Moody đáp: “Vậy là ông ấy sai rồi”.

Vợ ông nói: “Em nghĩ anh sẽ đồng ý với ông ấy khi anh nghe ông ấy giảng đấy, vì ông ấy đánh cuộc mọi sự ông ấy đã nói là với Lời của Đức Chúa Trời”.

Moody ngần ngại lê bước tới nhà thờ trong đêm hôm ấy và Moorehouse tuyên bố câu gốc của mình – Giăng 3.16. Về sau Moody nói: “Ông ấy đã giảng một bài giảng thật phi thường từ câu gốc ấy. Tôi chưa hề biết Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta nhiều đến thế cho tới lúc đó. Tấm lòng tôi bắt đầu cởi mở hơn, và tôi không thể cầm được hai hàng nước mắt”.

Moorehouse đã giảng trong 7 đêm, luôn luôn là Giăng 3.16, và sứ điệp của ông đã làm cho D. L. Moody rung động đến mọi nỗi sâu thẳm của lòng. Từ tuần lễ đó trở đi, chức vụ lớn lao của Moody có một tinh thần nhẹ nhàng hơn, sâu sắc hơn.

Vài năm trời trôi qua và Henry Moorehouse phải nằm trên giường chờ chết ở tuổi 40. Lời nói sau cùng của ông là: “Nếu ý chỉ của Đức Chúa Trời cho tôi mạnh khoẻ trở lại, tôi thích giảng từ câu gốc Giăng 3.16. Ngợi khen Chúa”.

 

                “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nnỗi đã ban Con một của mình, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3.16)

 

                                                                   31 Tháng 8

VÀNG SẴN CHO MÙA GẶT

Hàng triệu đôla đã đổ ra cho những cuộc truyền giáo ở hải ngoại dưới ngọn cờ của Lottie Moon, thuộc Hội thánh Báptít Nam Phương, tên của bà cũng được sử dụng để khích lệ việc dâng hiến cho cuộc cuộc truyền giáo hàng năm của hệ phái.

Lottie (hình thức rút gọn của Charlotte) ra đời trong năm 1840 và lớn lên trong một gia đình cổ kính Virginia. Nhìn xuống từ dãy núi Blue là Viewmont, ngôi nhà trong đồn điền của thân sinh bà. Mẹ của bà – một Cơ đốc nhân trung tín rất hay đọc Kinh Thánh cho bà nghe, và là một thiếu nữ Lottie đã phát triển một tình cảm dành cho Kinh Thánh và cho lịch sử truyền giáo. Từ lúc không có một nhà thờ nào ở gần, bà Moon đã tự mình tổ chức những buổi thờ phượng mỗi Chúa nhật cho gia đình, cho những người lân cận, và cho hàng tôi tớ nữa.

Lottie rất xuất sắc ở trường và trở thành một trong những phụ nữ đầu tiên ở miền Nam có được bằng Thạc sĩ, mọi điều phải suy nghĩ là Lottie sẽ làm gì với đời sống của mình. Vào mùa xuân năm 1873, sau khi một bài giảng từ Giăng 4.35. Khi nhà truyền đạo nói tới những đồng ruộng “đã vàng sẵn cho mùa gặt”, Lottie nắm rõ ngay trong trí và đã trở thành một giáo sĩ cho Trung hoa, rồi mùa thu năm ấy Lottie lên đường sang Trung quốc. Khi chiếc tàu bị kéo vào một cơn bão khủng khiếp và sắp bị chìm, bà viết: “Khi tôi thấy cơn sóng dữ của biển, tiếng gào thét như thể muốn nhận chìm chúng tôi, tôi nghĩ tôi sẽ ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy Chúa bước đi giữa chúng, vì vậy tôi lắng nghe từ nơi sâu thẳm linh hồn tôi câu nói đầy sự yên ủi nầy: ‘Ta đây, đừng sợ hãi’”.

Trong bốn mươi năm, Lottie Moon đã hầu việc Chúa không hề sợ hãi ở miền Bắc Trung hoa, phục vụ rất trung tín giữa những cơn bão chiến tranh, bệnh tật, nghèo khổ và dịch lệ. Khi vừa được 70 tuổi, một nạn đói khủng khiếp qua Trung quốc, bà đã bố thí thức ăn cùng đồng đôla cuối cùng để cứu đói. Bà ngã bệnh vì suy dinh dưỡng, bác sĩ ra lệnh cho bà phải trở về quê nhà. Bà qua đời vào đúng lễ Giáng Sinh năm 1912.

Bà nói: “Tôi muốn nếu tôi có cả ngàn cuộc đời, tôi sẽ dâng hết cho giới phụ nữ ở Trung hoa”.

Bà đã dâng một đời sống của chính mình, và đời sống ấy đã nhân lên gấp hàng ngàn lần như vậy.

 

                “Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt” (Giăng 4.35)

 

***

 

Tags: #ThuVienOnline#TuCauKinhThanhNay
Previous Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Bảy

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Chín

Admin

Admin

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Chín

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In