DAT DNA
Thứ Bảy, Tháng Tư 18, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Bảy

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

                                                    1 Tháng 7

CỦA CẢI NGƯƠI Ở ĐÂU?

                Jerome được ghi nhớ là một trong những nhà dịch thuật Kinh Thánh rất lỗi lạc của lịch sử. Ông là một Cơ đốc nhân có tài trong thế kỷ thứ tư, là người đã chuyển dịch Kinh Thánh từ bản 70 sang bản Latinh, đây là bản Kinh Thánh đã được sử dụng hơn 1000 năm ở thế giới Tây phương.

Jerome đã chào đời ở vùng đông bắc nuớc Ý trong một gia đình có bố mẹ là Cơ đốc nhân rất trung tín, họ đã nhìn thấy ông là đứa bé rất khôn ngoan, vì vậy họ đã gửi ông đến học tại Rome lúc được 12 tuổi. Ông đã qua tuổi niên thiếu tại đó, vui hưởng mọi thú vui tội lỗi của thành thị cũng như trong các học đường của thành phố ấy. Và ở đó ông đã chịu phép báptem lúc được 19 tuổi sau khi đã viếng qua các hầm rượu.

Jerome đã sử dụng hai mươi năm đầu đời trong sự ẩn dật, nghiên cứu nền văn chương của người ngoại giáo. Kế đó, với lòng mong muốn có được một kinh nghiệm sâu sắc hơn với Đức Chúa Trời, ông bắt đầu hướng về đất hứa. Cái chết của hai người bạn và một loạt những điều không may khác đưa ông trở lại với những kinh điển Hy lạp và Latinh; ông tìm phương tránh né mọi nan đề bằng cách lao mình vào nghiên cứu.

Trong cơn bịnh ngặt nghèo, Jerome gặp một giấc chiêm bao làm thay đổi hẳn đời sống, về sau ông đã thuật lại cho học trò mình là Eustochium nghe: “Thứ ánh sáng chói lọi từ những người đứng bên cạnh, tôi không dám ngước mắt nhìn lên khi đang quỳ úp mặt xuống đất. Khi người ta hỏi tôi làm nghề gì, tôi đáp: “Tôi là một Cơ đốc nhân”. Đấng ấy nói: “Ngươi nói láo, ngươi không phải là Cơ đốc nhân; của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó”.

Thình lình Jerome nhận ra ông phải quên đi các thứ kinh điển tà giáo và dâng chính mình cho Lời của Đức Chúa Trời. Thế là ông đến định cư tại Bếtlêhem gần Hội thánh Nativity, lao mình vào công việc nghiên cứu rồi chuyển Kinh Thánh sang tiếng phổ thông. Ông không bỏ đi tật xấu của mình, tuy nhiên ông đã trở thành một vị anh hùng cho đến các thế hệ hầu đến. Không một ai thường được mô tả sinh động trong nghệ thuật Medieval hay Renaissance hơn ông, khi thì vào vẽ trong sa mạc, khi thì nghiên cứu, khi thì tĩnh nguyện, khi thì làm nhân sự trong Hội thánh, và thường là ở bên cạnh một con sư tử.

 

                “Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó” (Mathiơ 6.21)

 

                                                                     2 Tháng 7

THOÁT RA KHỎI SAIGON

                Năm 1975, Đài phát thanh Cận Đông (viết tắt là FEBC) ở Việt nam bị kéo vào cơn ác mộng Saigon sụp đổ. Cơ quan tình báo của Nam Việt nam đã bắt được một danh sách những nhân vật sẽ bị người Cộng sản Bắc Việt mưu định sát hại, và một nhân viên của FEBC lọt vào những cái tên hàng đầu danh sách ấy vì mọi nổ lực truyền giáo của họ.

Robert Bowman – Chủ tịch của FEBC theo ý kiến ban tham mưu của mình đã mau bay qua Việt nam, và họ yêu cầu ông trao đổi với các nhân viên khi họ hối hả, sợ hãi trong phần hành phát thanh của họ. Cảm thấy không yên tâm đủ, Bob đã chọn lọc từ sách Mathiơ 6.25-27: “Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống mình…”

Bob trở lại Hongkong khi ông cùng với ban tham mưu lo tiếp xúc từng quan chức Mỹ nào chịu trao đổi với họ. Sự sụp đổ của Saigon dường như sắp xảy đến nơi rồi, và các tuyến di trú bình thường không còn có hiệu lực nữa. Sau cùng, những người tị nạn đã cố thực hiện một kế hoạch trong tuyệt vọng – ra đi trên một tàu tị nạn ngay từ cảng Saigon, với hy vọng tránh thoát được những chiếc tàu chiến trên vùng Mekong Delta và được cứu vớt trong vùng biển rộng bao la kia. Thế nhưng máy móc của họ có vấn đề, và họ hủy bỏ chuyến đi.

Một trong những người tị nạn phát biểu rất vắn tắt: “Đi như thế nầy chẳng có gì là đường hoàng hết, Đức Chúa Trời sẽ đưa chúng ta ra khỏi đây”. (Khi chiếc tàu được đẩy xuống nước, nó liền bị bắt trên sông Mekong, mọi người trên tàu thảy đều bị bắt cả).

Trở lại nơi ẩn náu của họ, cả nhóm đều hy vọng ngược lại với hy vọng bung ra từ Sứ quán Mỹ là những người tị nạn đều sẽ được sơ tán bằng trực thăng ngay trên mái nhà của Sứ quán. Sau cùng, cả nhóm tách ra chờ đêm xuống. Ngay khi họ rải ra chỗ nầy chỗ kia qua thành phố đang rơi vào cảnh hoang mang, một tin khẩn lan ra từ Sứ quán: “Hãy tới ngay! Ra đi ngay lập tức”.

Giống như một phép lạ ngắn gọn đã lôi kéo ngay tất cả ban điều hành rời khỏi mấy đường phố lạnh lẽo của Saigon. Họ nhào vào mấy căn phòng của sứ quán và chạy tới chạy lui qua các chốt kiểm soát của quân đội Mỹ rồi sau cùng họ được sơ tán sang Phi luật Tân. Ngày nay một số trong các nhân sự trung tín nầy vẫn rạng rỡ tươi cười cả ngày lẫn đêm đưa Tin lành trở lại với quê hương của họ.

Khi Chúa “lo” cho chúng ta, chúng ta không có lý do gì để lo nữa hết.

 

                “Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống; cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc” (Mathiơ 6.25)

 

                                                                     3 Tháng 7

LÊNH ĐÊNH

                Đại úy Eddie Rickenbacker cùng 7 người trong toán của ông đã bị rơi máy bay xuống biển Thái Bình Dương vào ngày 21 tháng 10 năm 1942, và họ trôi nổi trên ba chiếc bè không có nước uống, chỉ có trong tay bốn quả cam mà thôi. Cột mấy chiếc bè lại với nhau, họ đã lênh đênh hết ngày này qua ngày khác không có đồ ăn và cũng không có nước; đôi khi mê sảng, khổ sở lắm do mặt trời gắt gao nắng, và thường bị nhiều vi cá mập hình tam giác vây lấy.

Còn việc nối theo sau là một trong những câu chuyện kỳ lạ nhất trong thời đại của chúng ta. Rickenbacker về sau cho biết: “Nếu thực sự không có 7 nhân chứng kia, tôi không dám thuật lại câu chuyện nầy vì dường như nó hoang đường quá”.

Mấy người ấy đều gán sự sống còn lạ lùng của họ cho quyển sách trong túi của Binh nhì Johnny Bartek – ấy là quyển Tân ước: loại bỏ túi, bọc vải kaki, có dây kéo để sách không bị thấm nước. Ngay từ đầu, Bartek – một học viên Kinh Thánh rất tin kính cứ giữ việc đọc Kinh Thánh vào buổi sáng và buổi tối. Hết thảy mọi người đều hiệp đọc cùng với ông. Khởi sự từ sách Tin lành Mathiơ, không bao lâu sau đó họ đọc đến 6.31-34. Việc đọc Kinh Thánh đó đã biến thành niềm hy vọng, sự khích lệ, và sự cầu nguyện: “Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? – Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi”.

Khi hết ngày nầy sang ngày khác họ đọc những câu nầy, các sự tiếp trợ đều đến thật đúng lúc và theo những cách thức cũng thật là kỳ lạ. Thí dụ, ngay khi họ gần đói, có một con chim đến đáp đậu trên đầu của Rickenbacker, rồi họ cứ bắt lấy nó mà chẳng người nào có cớ giải thích được hết, họ xé thịt con chim đó để ăn, và dùng bộ lông của nó để làm mồi bắt cá. Rồi ngay lúc họ sắp chết do bị khát, có một đám mây kéo tới và trút lên bè của họ đầy những nước.

Về sau, một người trong bọn họ là Trung uý James Whittaker đã viết một quyển sách bán rất chạy có đề tựa là: “Chúng tôi nghĩ đã nghe được nhiều thiên sứ cất tiếng hát”, trong quyển sách ấy ông mô tả việc gặp Chúa ròng rã 21 ngày không thể quên được trong đời, ông nói: “Tôi không nghĩ có ai đó trong chúng tôi không cảm tạ Chúa vì cớ quyển sách bỏ túi bọc vải kaki ấy. Quyển sách đó dẫn chúng tôi vào sự cầu nguyện và sự cầu nguyện dẫn chúng tôi đến nơi an toàn”.

 

                “Ấy vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? Uống gì? Mặc gì? Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi” (Mathiơ 6.32)

 

                                                                     4 Tháng 7

SUY GẪM CÁC LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

                Có người sắp ngược câu nầy từ sách Mathiơ rồi đọc, thật là khó nghe về mặt thuộc linh: “Hãy thêm mọi điều ấy vào đời sống của bạn, và nếu bạn có rãnh thì giờ, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài”.

Nhưng phước cho người nào đọc câu Kinh Thánh đó theo như Chúa Jêsus đã phán ra.

Cửa hàng Wanamaker Derpartment ở vùng Đông Bắc do thương gia John Wanamaker vào thế  kỷ 19 khai trương, ông rất năng động trong mọi ý tưởng Cơ đốc. Ông đã phục vụ trong vai trò Hiệu trưởng lớp Trường Chúa nhật lớn nhất thế giới, nói thẳng ra, một số các nhà lãnh đạo trong công cuộc truyền giáo đều được ông tư vấn cho, như D. L. Moody chẳng hạn. Người ta đã bầu ông là Bộ Trưởng Ngành Bưu Điện của nước Mỹ. Có người đến hỏi ông làm sao ông có thể nắm được nhiều chức vụ như thế trong một lúc, ông đáp: “Ngay từ đầu đời tôi đã đọc: ‘Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa’. Lớp trường Chúa nhật là công việc của tôi, và những việc khác là ‘mọi điều ấy nữa’”.

Một vị giáo sĩ đã nói: “Nếu bạn chăm lo những việc có tầm quan trọng đối với Đức Chúa Trời, Ngài sẽ lo toan mọi việc gì có tầm quan trọng đối với bạn”.

Richard Greene ở Cary, Bắc California đã học được bài nầy từ khi còn ngồi ghế nhà trường. Anh rất bực bội một ngày kia trước các tấm hoá đơn, và đang tìm cách cân đối tài khoản của mình. Anh suy nghĩ lung lắm và bật hoảng: “Rồi tiền ở đâu ra đây?” thế là anh lớn tiếng cầu xin: “Lạy Chúa, xin làm ơn giúp con trả mấy cái hoá đơn nầy”.

Khi anh đã cân đối xong sổ chi phiếu của mình, anh để ý thấy mấy con số sau cùng trên máy tính bỏ túi – 6.33. Anh còn 6 đôla và 33 xu. Thình lình anh nhớ lại một câu Kinh Thánh mà anh mới vừa khám phá ra: Mathiơ 6.33. Anh bật cười, rồi nhận lấy câu Kinh Thánh như một sứ điệp đến từ nơi Chúa.

                Một thời gian ngắn sau đó, anh nhận được một học bổng thật bất ngờ. Có một người bạn đến trao tờ chi phiếu trả tiền thuê nhà cho anh. Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho mọi nhu cần của anh suốt những năm học, và ngày nay Richard là Giám đốc liên lạc cho Trans World Radio phát đi sứ điệp của Kinh Thánh (kể cả Mathiơ 6.33) trên khắp thế giới.

 

                “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Mathiơ 6.33).

 

                                                                     5 Tháng 7

NHÂN VIÊN MAI TÁNG

                Trong quyển sách nhỏ nói về “Chuyến thăm viếng của một vị Mục sư”, Mục sư Walter Wilson thuật lại việc người ta yêu cầu ông phụ giúp chôn cất một mệnh phụ kia. Một cơn mưa lạnh lẽo, dồn dập ụp xuống trong ngày động quan, và con đường nghĩa trang trở nên lầy lội. Thay vì lái chiếc xe riêng của mình, Wilson đã ngồi chung xe với anh nhân viên lo mai táng. Khi họ cho xe đi ngang qua vũng bùn, Wilson hỏi: “Khi Kinh Thánh nói: ‘Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết’ anh nghĩ sao?”

Anh nhân viên mai táng kia đáp ngay: “Chẳng có một câu nào như thế trong Kinh Thánh cả”.

“Sao, có đấy chứ!”.

“Thế à, chắc có lẽ là dịch sai đấy thôi, vì câu ấy chẳng có ý nghĩa chi hết. Làm thế nào kẻ chết đi chôn người chết cho được chớ!?!”

Wilson đáp: “Không, không phải là dịch sai. Câu nầy đã được chính mình Chúa Jêsus nói ra đó”.

Anh nhân viên mai táng liền quẳng điếu thuốc qua cửa sổ rồi nói: “Ông Mục sư ơi, ông có biết gì về tôi không? Có ai kể cho ông nghe về cuộc đời tôi chưa? Tôi đã từng chôn cất nhiều người rồi, và việc đó đã làm cho tôi phải suy nghĩ tới phiên của mình. Tối hôm qua sau khi ăn cơm xong, tôi lấy quyển Kinh Thánh ra rồi đọc liền tù tì cho tới hai giờ sáng, tôi đang tìm hiểu làm cách nào để trở thành một Cơ đốc nhân. Xin hãy tỏ cho tôi biết, Chúa Jêsus khi thốt ra những lời nầy, Ngài muốn nói gì vậy?”

Wilson đáp: “Anh là một nhân viên mai táng đang chết mất, anh đang lái xe vào nghĩa trang để chôn người chết kia đang nằm sau xe tang nầy. Người kia đang chết đối với gia đình của bà ấy, và anh sắp phải chết đối với Đức Chúa Trời. Bà kia chẳng ừ hử gì với mọi sự quan tâm, kêu gào, nhắc nhở của gia đình bà ta; còn anh cũng chẳng đáp gì lại với sự kêu gọi và tình yêu thương của Đức Chúa Trời”.

Wilson tiếp tục giải thích Đấng Christ đã hiện đến để ban cho chúng ta sự sống dư dật. Ông viết: “Chúng ta đã đến tại nghĩa trang với một nhân viên mai táng còn đang sống, mặc dù chúng ta đã bắt đầu hành trình với một người chết. Người nào đã chết trong quá phạm và lầm lỗi mình thì giờ đây đang sống động trong Đấng Christ, biết tin cậy Ngài là Đấng ban sự sống Ngài để người ấy được cứu rỗi”.

 

                “Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy theo ta, để kẻ chết chôn kẻ chết” (Mathiơ 8.22)

 

                                                                     6 Tháng 7

TỪ GIÀU CÓ ĐẾN CÔNG BÌNH

                Có nhiều truyền thuyết bao quanh câu chuyện nói về Thánh Francis đến nỗi khó mà biết được đâu là giả đâu là thật. Tuy nhiên, đây là điều chắc chắn: Ông là một người tin kính, tình cảm và sự rời rộng của ông trong danh Đấng Christ đã cảm thúc nhiều Cơ đốc nhân trong gần cả ngàn năm.

Francis lớn lên trong một gia đình giàu có ở Assisi, nước Ý. Cha của ông là một thương buôn về ngành vải ở đó. Khi còn là một thanh niên, Francis đã sống luông tuồng và vô tích sự; thế nhưng khi chiến tranh bộc phát, ông đã gia nhập quân đội, bị bắt làm tù binh, và đã chịu khổ cho tới lúc cha ông đến chuộc ra. Tình trạng tù đày dường như đã làm cho ông phải thay đổi; rồi sau khi được phóng thích, ông ghé qua Rome, ông bật xúc động vì sự nghèo nàn của thành phố. Thậm chí ông đã đổi y phục với một gã ăn xin để cảm nhận cho biết sự nghèo khổ ấy là ngần nào.

Mối quan tâm ngày càng tăng của chàng thanh niên đối với hạng người bị ruồng bỏ đã làm cho cha ông nổi giận, và cả hai đã có một cuộc tranh cãi dữ dội. Khi cãi nhau như vậy, Francis đã cởi từng phần y phục tốt đẹp của mình mà gửi trả lại cho cha ông. Vị linh mục sở tại cho ông mượn chiếc áo dài thùng thình, và Francis đã bỏ ra nhiều năm tháng săn sóc cho người phung và tu sửa lại các nhà thờ.

Đến ngày 24 tháng 2 năm 1208, khi Francis đang thờ lạy trong nhà thờ Portiuncula, vị linh mục đọc Mathiơ 10.7-19, Đấng Christ đã uỷ thác sứ mệnh cho các môn đồ trong phân đoạn Kinh Thánh ấy. Đặc biệt, Francis bị các câu 9-10 cảm động: “Đừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng các ngươi; cũng đừng đem cái bao đi đường, hoặc hai áo, hoặc giày, hoặc gậy; vì người làm việc đáng được đồ ăn”.

Rồi kể từ đó Francis quyết định trở thành một nhân sự lưu động chuyên lo việc xã hội và truyền đạo. Ông khoác lấy sự nghèo khổ và dành phần còn lại đi đây đi đó qua các làng mạc, rao giảng tin lành và giúp đỡ người nghèo thiếu. Rất nhiều người đi theo hiệp tác với ông, nhơn đó khai mào Dòng tu Francis (ngày nay là dòng tu lớn nhất trong giáo hội Công giáo La mã).

Chức vụ và cung cách sống của ông đã gióng lên một tiếng chuông, rồi Francis bị mù, bệnh tật, và còm cõi. Có lẽ ông đã qua đời do bệnh phong lao ở giữa tuổi tứ tuần; nhưng tấm gương của ông đã sống động thật mạnh mẽ.

 

                “Đừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng các ngươi, cũng đừng đem cái bao đi đường, hoặc hai áo, hoặc giày, hoặc gậy; vì người làm việc đáng được đồ ăn” (Mathiơ 10.9-10)

 

                                                                     7 Tháng 7                                                                                                       

TỔ CHIM

                Ngày nọ có một cơn bão đánh mạnh vào chiếc tổ chim trên mái nhà của người bạn và bốn con chim nhỏ mới nở rơi xuống qua ngã máng xối. Mấy đứa con gái của Doug tìm thấy rồi làm cho chúng một ngôi nhà nhỏ bằng chiếc hộp giày, và cho chúng ăn lúc nào cũng no nê hết. Nhưng sau đó mấy ngày, Andrey bước tới bên cạnh bàn nói: “Con nghĩ là mấy con chim sẻ còn sống sáng nay. Đêm hôm qua trời lạnh lắm”.

Nó biến vào trong phòng ngủ, rồi ngay lập tức Doug bèn đến để kiểm tra lại lời nói của nó. Nó đừng đàng kia, trên tay là một con chim nhỏ, và nó đang tìm cách sưởi ấm con chim bằng hơi nóng của bóng đèn bàn học. Mắt nó rơi lệ, nó nói: “Bố ơi, lỗi ở con. Con đã để cho chúng ngoài trời lạnh tối hôm qua”.

Sáng hôm đó Doug đã lái xe đến thư viện nghiên cứu các thói quen của loài chim. Ông mới biết được rằng chim mẹ không những lo cho mấy chim con của mình ăn, nó nuốt chửng côn trùng, sâu bọ, tiêu hoá phần nào các thứ ấy, kế đó mớm chúng vào miệng của chim con. Loài chim khác thì giữ đồ ăn trong miệng đang khi bay về tổ, miệng tiết ra một thứ chất lỏng ướp thức ăn đó rồi cho con chúng ăn. Một số chim mẹ không những mớm thức ăn vào trong miệng con trẻ của chúng. Chúng còn thọc cả chiếc mỏ dài của mình vào tận bao tử của mấy con chim nhỏ nữa. Việc cho ăn như thế nầy không ngừng nghỉ, với cặp chim bố mẹ cứ bay đi liệng lại hàng trăm lần trong ngày. Và bộ lông cùng hơi ấm của chim mẹ rất cần thiết lúc đêm xuống, vì chim con không thể điều tiết hơi ấm của thân thể được.

Được trang bị mọi sự hiểu biết đó và nhiều nữa, Doug đã ngồi xuống trao đổi với con gái mình. Trong quá trình đó, Mathiơ 10.31 hiện đến trong lý trí của ông. Chúa Jêsus rõ ràng đã yêu thương chúng ta nhiều đến nỗi Ngài đã giáng trần qua chiếc máng xối lịch sử. Ngài bị đặt vào trong một cái máng đầy những cỏ khô rơm rạ dùng để cho súc vật ăn, và Ngài đã chịu chết giống như loài chim câu bị hiến trên bàn thờ trong đền thờ ở Jerusalem. Giờ đây Ngài nhóm chúng ta lại cách dịu dàng dưới bóng cánh an ninh của Ngài, Ngài phán: “Vậy, đừng sợ chi hết, vì các ngươi quý trọng hơn nhiều con chim sẻ”. Đây là cái nhìn của ân điển không thể quên được qua ánh mắt của một con chim sẻ.

 

                “Vậy, đừng sợ chi hết, vì các ngươi quý trọng hơn nhiều con chim sẻ” (Mathiơ 10.31)

 

                                                                     8 Tháng 7

LÝ TƯỞNG ĐÒI PHẢI NHƯ VẬY

                Otis Robinson Bacheler là một y sĩ được đào tạo tại Đại học đường Havard, ông đã dong buồm sang Ấn độ trong vai trò giáo sĩ bác sĩ vào năm 1840 cho Hội thánh Báptít Tự Do. Ông mang nhiều gánh nặng bổn phận trong gia đình – là cha của 10 đứa con cả thảy – và vợ ông lâm bệnh ngay khi công việc của ông ở Ấn độ bắt đầu có kết quả. Ông đã miễn cưỡng tập trung bầy con của mình lại rồi trở về Mỹ. Trên đường đi, đứa con gái bốn tuổi tên là Katie ngã chết và được chôn cất ở Luân đôn. Gia đình Bacheler về tới Mỹ chẳng còn một đồng xu dính túi.

Mười năm sau, suốt khoảng thời gian nầy tấm lòng của Bacheler luôn ở tại Ấn độ. Sức khoẻ của vợ ông rồi cũng hồi phục, và cả nhà lại lập chương trình quay trở lại với công trường truyền giáo. Nhưng nguồn ngân quỹ của hội truyền giáo còn rất ít không đủ chi cho việc tái định cư của một gia đình lớn như thế. Khi ông nghiên cứu Mathiơ 10.37-39, Bacheler nhận ra Chúa phán với ông rằng một mình ông hãy trở lại với Ấn độ nếu thấy là cần thiết. Đây là một sự hy sinh rất lớn, nhưng vào ngày 12 tháng 7 năm 1862, bác sĩ Bacheler đã tự nguyện bước lên tàu. Khi bờ biển của nước Mỹ mờ dần đi, ông đã ghi lại trong một bức thư: “Lòng có thể thắc mắc: ‘Sao phải ra đi như vầy?’ Lý tưởng đòi phải như vậy đấy. Tôi ra đi một mình vì cơ nghiệp gia đình, dù một phần nhỏ trong đó cũng không thể đi cùng với tôi được. Chúng tôi đã chịu sự chỉ định phải quay trở lại trong gần ba năm trời, và chờ đợi được cung ứng cho các phương tiện, song nào có thấy chi đâu. Tôi chấp nhận cơ hội với lòng nhìn biết rằng, nếu phương tiện được cung ứng cho, thì cả gia đình sẽ qua sau.

                Cách xử lý thích đáng nầy chắc có một số người sẽ thắc mắc, song tôi đã tìm thấy thẩm quyền trong Mathiơ 10.37-39.

                Và bây giờ hãy cho phép tôi nói, dù những tư tưởng thật là buồn rầu đã trải qua tôi lúc tôi nghĩ tới các người thân mà tôi đã kể lại, tôi đã tiến tới trước bắt tay vào việc với tấm lòng vui mừng rộn rã, kể đấy là một đặc ân được hầu việc Chúa trong vùng đất tăm tối chuyên thờ lạy hình tượng.

Kết quả: có hàng trăm người chạy đến với Đấng Christ trong suốt 53 năm ông phục vụ trong vai trò giáo sĩ. Một người con trai và một con gái đã noi theo dấu chân ông, họ đã trở thành bác sĩ phục vụ cho người cùng khổ ở Ấn độ trong danh của Đấng Christ.

 

                “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta; ai không vác thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta” (Mathiơ 10.37-38)

                                                                     9 Tháng 7

VÙNG ĐẤT CƠ HỘI

                “Mọi người ở Mỹ đều giàu có! Tôi nghe nói có vàng trên đường phố cho người ta lượm lấy”. Mấy lời nầy đã thuyết phục Weir Seir đang sinh sống ở khu ổ chuột thuộc xứ Liberia đã đi lậu vé tàu chạy bằng hơi nước sang Mỹ. Thế nhưng mọi thứ anh gặp gỡ trên các đường phố của nước Mỹ thật là phức tạp; anh đã bị bắt sau một loạt vụ trộm và bị gửi đi nhốt ở trại cải tạo của bang Kansas.

Ba năm đầu bị nhốt tù quả là một thời gian nặng nhọc. Anh bị nhốt trong chuồng giống như một con vật vậy, bị lính gác cùng với tù phạm ngược đãi, và phủ lút với hối tiếc và xấu hổ.

Một sáng Chúa nhật trời đổ mưa, anh đến “chỗ ngồi của Nergo” trong giảng đường của nhà tù. Mục sư Walter Wilson lên bục giảng, mở Kinh Thánh ra ở Mathiơ 11.28. Wilson nói rằng cuộc sống không có Đấng Christ quả là rất nhọc nhằn, chúng ta thấy mình yếu đuối và gánh nặng. Nhưng Chúa Jêsus ban cho sự yên nghỉ và bình an ở bên trong cho hết thảy những ai chịu đến với Ngài. Wilson nhấn mạnh từ ngữ: “Hết thảy” – Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta”…

Có rất ít tù phạm chịu lắng nghe, và Mục sư Wilson cảm thấy nản lòng. Song mấy ngày sau, ông nhận được một bức thư do Weir Seir gửi tới. Sau khi trở về xà lim, người Liberia kia đã đọc đi đọc lại Mathiơ 11.28. rồi anh lớn tiếng thưa với Đấng Christ: “Ngài bảo con đến, và con đến ngay giờ nầy đây”.

Sự thay đổi nơi thái độ của Seir là ngay tức thì, và không bao lâu các tù phạm khác đều gọi anh là: “Mục sư”.

Một thời gian ngắn sau đó, Seir đủ tư cách làm cam kết để được tha, song anh bỏ tờ cam kết xuống, rồi nói anh muốn đưa mấy người bạn tù của mình đến với Đấng Christ – và anh đã làm điều đó.

Sau cùng, khi được tha, anh được trao cho một bộ đồ mới cùng một vé trở về lại xứ Liberia. Weir Seir đã về lại với xứ sở của mình và trở thành một nhà truyền đạo tin lành.

Anh không tìm thấy vàng trên các đường phố của nước Mỹ, nhưng anh đã tìm được Đức Chúa Trời trong các nhà tù của quốc gia ấy.

 

                “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Mathiơ 11.28)

 

                                                                   10 Tháng 7

MỘT ĐÁM BỤI ĐỜI

                Robert Taikes được xem là nhà sáng lập Trường Chúa nhật, nhưng Hannah Ball là người còn trội hơn ông trong công tác nầy. Bà ra đời vào ngày 13 tháng 3 năm 1733, là một trong 12 người con sống trong ngôi nhà giản dị nhất. Những năm tháng đầu đời của bà rất là nhọc nhằn, và sự nhọc nhằn ấy không còn nữa cho tới năm 1762, trong một cơn bão thịnh nộ, bà đã khởi sự suy nghĩ về các vụ việc thuộc linh. Trong ba năm sau đó, bà đã đọc Kinh Thánh và nghiên cứu các bài giảng của các nhà truyền đạo khác nhau. Rồi đến ngày 8 tháng 1 năm 1765, bà đã nghe John Wesley khi ấy đã 63 tuổi rao giảng từ Mathiơ 15.28: “Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn”. Bà cảm động bởi bài giảng của ông đến nỗi bà đã sống “dưới sự thuyết phục về tội lỗi” trong 5 tháng trời trước khi gặp được “bình an và sự giải cứu” vào ngày 3 tháng 6 năm 1765.

Năm 1769 (14 năm trước khi Raikes mở lớp). Hannah bắt đầu dạy Kinh Thánh cho thiếu nhi vào những ngày Chúa nhật và thứ Hai: “Chúng là một đám trẻ bụi đời, song dường như rất dễ dạy. Tôi đã làm việc giữa vòng chúng, lòng mong mỏi khích lệ chúng biết ham thích Đấng Christ”.

Hannah bắt đầu viết thư cho John Wesley biết về công việc của bà, và ông luôn khẳng định với bà trong khi bà ngã lòng. Qua năm 1771, ông viết: “Theo ý muốn của Ngài, có khi Ngài để cho chúng ta gieo thật nhiều trước khi có kết quả. Nhưng thường thì nhiều hội giống lớn lên thật bất ngờ, vào thời điểm và tư thế mà chúng ta rất ít khi ngờ tới”.

Wesley tìm cách nhân rộng các lớp Trường Chúa nhật của bà giữa vòng những tín đồ theo hệ phái Trưởng Lão. Ông viết: “Tôi rất thích các lớp Trường Chúa nhật. Tôi nghĩ các lớp học nầy là một trong những khuôn mẫu từ thiện hay nhất đã được đề ra ở Anh quốc kể từ thời Nhà chinh phục William”.

Cùng lúc ấy, các lớp Trường Chúa nhật được khởi sự bởi nhà báo Raikes đã bị đóng cửa, và ông có cơ hội dấn thân vào phương tiện truyền thông đại chúng. Các phong trào của Ball và Raikes kết hợp lại tạo thành một trong những thế lực mạnh nhất trong lịch sử Cơ đốc hiện đại. Ông đã kiếm được nhiều danh vọng, song Hannah Ball chính là người lót đường.

Và vì Chúa đã phán với bà vào ngày 8 tháng 1 năm 1765 rằng: “Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn”.

 

                “Ngài bèn phán rằng: Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn!” (Mathiơ 15.28)

 

                                                                   11 Tháng 7

NHỮNG SẮC DÂN CHƯA CÓ KINH THÁNH

                Lực lượng giáo sĩ hùng hậu nhất của thế giới – Hội Dịch Thuật Kinh Thánh Wycliffe đã khởi sự do một thắc mắc được đưa ra vào năm 1918 cho giáo sĩ Cameron Townsen. Townsen đã đến tại Guatemala để bán Kinh Thánh viết theo tiếng Tây Ban Nha là thứ tiếng mà nhiều bộ tộc của xứ nầy không thể đọc được. Khi Townsen tìm cách phân phối hàng hoá của mình giữa vòng ¼ triệu người nói theo tiếng Calchiquel, có người đến hỏi ông một câu rất khó quên: “Nếu Đức Chúa Trời vĩ đại như thế, sao Ngài nói thứ tiếng của tôi không được chứ?”

Townsen bị thách thức đến nỗi ông đến định cư giữa vòng bộ tộc Calchiquel, học theo ngôn ngữ của họ, rồi bắt đầu phiên dịch Kinh Thánh. Một lãnh đạo tôn giáo địa phương gọi đây là: “công việc của ma quỷ”, nhưng khi đọc một ít, người nầy ăn nuốt quyển Kinh Thánh Calchiquel và đã chịu trở lại đạo. Ông ta đem những hình tượng giả dối của mình ra đốt bỏ, rồi nói: “Tôi đã phục vụ chúng suốt cả cuộc đời tôi. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng phải phục vụ tôi, vì vậy tôi đã chẻ chúng ra mà nấu đậu”. Thế là Hội thánh Calchiquel đã ra đời.

Townsen khi ấy hãy còn thắc mắc: “Nếu Đức Chúa Trời vĩ đại như thế, sao Ngài không thể nói các thứ tiếng của Brazil, Mễ tây Cơ, Châu Phi và Á Châu?” Di chuyển qua Chicago, ông đã chia sẻ khải tượng nầy với các nhà lãnh đạo công cuộc truyền giáo, song họ đã khuyên ông nên dâng đời sống ông cho sắc tộc Calchiquel.

Townsen trở về sầu muộn lắm, cứ bất an luôn, không dám chắc về tương lai. Trong nỗi thất vọng, ông đã cầu xin Đức Chúa Trời dẫn dắt ông, rồi mở Kinh Thánh ra rồi chỉ ngón tay vào đấy. Đó là Mathiơ 18.12: “Các ngươi tưởng thế nào? Nếu người nào có một trăm con chiên, một con bị lạc mất đi, thì há chẳng để chín mươi chín con lại trên núi, mà đi kiếm con đã lạc mất sao?”

Đó là câu trả lời của Townsen. Ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, phải. Con sẽ để 250.000 người Calchiquel lại rồi ra đi vì nhiều sắc tộc chưa có Kinh Thánh”.

Công tác khắp thế giới của Wycliffe đã bắt đầu tại tấm lòng của “Chú Cam” Townsen kể từ dạo đó. Ít nhất có hơn 2000 nhóm tiếng nói đã có Kinh Thánh theo ngôn ngữ của họ, và gần 6000 nhà dịch thuật hiện đang làm việc trong hơn 50 thế kỷ.

 

                “Các ngươi tưởng thế nào? Nến người nào có một trăm con chiên, một con bị lạc mất đi, thì há chẳng để chín mươi chín con lại trên núi, mà đi kiếm con đã lạc mất sao?” (Mathiơ 18.12)

 

                                                                   12 Tháng 7

ANH YÊU DẤU CỦA TÔI

                Hơn 100 năm qua, trong quyển Chức Vụ Chữa Lành, A. J. Gordon đã kể lại về Ann Mather – một thiếu phụ “bị đày ải với tật què nơi chân, không còn sử dụng được tứ chi của mình nữa”. Gordon đã dẫn chứng bức thư sau đây từ tạp chí của bố Ann – một vị lãnh đạo của Hệ Phái Trưởng Lão, ông tên là Joseph Benson.

“Ann yêu dấu của tôi không còn sử dụng được tứ chi và quả thực chẳng còn có chút cảm giác nào nơi chúng nữa, hay khả năng để bước đi một bước. Dù vậy, chúng tôi đã cầu nguyện không thôi, rằng xin Chúa đẹp lòng, vì cớ ba đứa con nhỏ của nó mà chữa lành cho nó.

                Ngày hôm nay cả nhà tôi cùng với một số thân hữu có lòng tin kính Chúa đến dùng trà tại nhà của Ann; Ông Mather bồng nó xuống phòng khách. Sau khi uống trà xong tôi nói về sự Đức Chúa Trời chắc sẽ lắng nghe dân sự có lòng trung tín của Ngài, và tôi đã lặp lại nhiều lời hứa của Ngài. Tôi cũng chắc tới sự Đấng Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi.

                Kế đó chúng tôi cùng quỳ gối xuống, và Ann ẳm lấy đứa con còn nhỏ của nó trên ngực, hầu cho nó sẽ không kêu khóc khi chúng tôi hiệp nhau trong sự cầu nguyện. Tôi cầu nguyện trước hết, kế đó là ông McDonald; hết thảy đều hiệp với nhau rất thành khẩn. Chúng tôi đã nài xin các lời hứa của Chúa, và đặc biệt là bất cứ lúc nào có hai hay ba người hiệp ý với nhau mà cầu xin, thì điều đó sẽ được làm ra cho họ (Mathiơ 18.19). Ngay lập tức sau khi đứng dậy, Ann bảo người vú dến ẳm lấy em bé, và chỗi dậy nói: ‘Con có thể đi được, con cảm thấy con có thể đi được’ rồi khởi đi qua đi lại trong phòng. Khi chồng nó sợ nó té, bèn bước tới bên cạnh nói: ‘Ann yêu dấu của anh, em sao thế?’

                Nó ngăn chồng lại rồi đáp: ‘Em không cần anh, em có thể đi một mình được mà’, và rồi bước đi trong phòng qua lại ba lần; sau đó đi tới góc nhà, nó quỳ gối xuống cầu nguyện: ‘Ôi Chúa, chúng con cảm tạ Ngài!’

                Quả đây là một cảnh tượng gây xúc động nhất mà tôi đã từng chứng kiến trong cả đời mình. Sau đó, không có ai trợ giúp, Ann bước lên cầu thang vào trong phòng ngủ của mình, và với chồng nó quỳ bên cạnh, hiệp ý với nhau mà ngợi khen và cầu nguyện”.

 

                “Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ” (Mathiơ 18.19)

 

                                                                   13 Tháng 7

VÀ PHƯỜNG ĐĨ ĐIẾM

                Eva J. Alexander sinh ra trong một gia đình tin kính ở Chennai, Ấn độ và được tái sanh ở tuổi 12 trong một buổi nhóm của Billy Graham. Năm 1963, bà lấy R. D. Alexander làm chồng và cả hai nắm giữ nhiều chức vụ với nhà cầm quyền Ấn độ. Công việc của Eva khiến cho bà nhìn thấy cảnh ngộ khó khăn của giới phụ nữ trong xứ, và bà cứ miệt mài lo hoạt động xã hội đến nỗi đời sống thuộc linh của bà phải lâm cảnh khốn khổ. Chính trị trở nên quan trọng hơn tôn giáo.

Thế nhưng Chúa đã gửi tới một căn bệnh trầm trọng khiến cho bà phải quỳ gối xuống. Bà cầu nguyện, cuộc sống lơ lửng gần chết trong bệnh viện: “Lạy Chúa, nếu Ngài thực sống động, xin đừng để con phải chết. Con sẽ hầu việc Ngài”. Trở về nhà, Eva bắt đầu đọc Kinh Thánh lại và bốn từ trong Mathiơ 21.31 khiến cho tâm trí bà phải cô đọng lại – và phường đĩ điếm. Chúa Jêsus muốn đưa phường đĩ điếm vào trong Nước của Ngài.

Tuần lễ sau đó, vị Mục sư gần nhà đến nói cho bà biết về một cô gái điếm đã trốn ra khỏi nhà thổ, và ông xin Eva giúp cho cô ta một phòng để trú ngụ. Eva nói: “Tôi không thể. Ông nên giúp cho cô ấy”. Eva có chồng và bốn đứa con ở trong nhà, kể cả hai đứa con trai ở độ tuổi thanh thiếu niên. Nhưng Chúa một lần nữa đưa Mathiơ 21.31 và tâm trí và Eva đã dịu lại.

Gia đình của bà đã thất kinh: “Chuyện gì vậy? Mẹ tính biến ngôi nhà của chúng ta ra nhà thổ sao?” Không bao lâu sau đó thái độ của họ liền thay đổi, và họ đã nhận lãnh chức vụ nầy như đã đến từ Đức Chúa Trời vậy. Nhiều cô gái khác bắt đầu tới đến, và ngôi nhà của Alexander trở thành một trung tâm phục hồi. Các viên chức cảnh sát và nhà tù đã chuyển nhiều phụ nữ có hoàn cảnh rắc rối đến cho Eva, và ngày nay lúc nào cũng có 15 phụ nữ sống trong ngôi nhà của Alexander. Gia đình Alexander đã cung ứng sự điều trị về y học, dạy nghề và một sự làm chứng mạnh mẽ về Tin lành. Eva đã cất một ngôi nhà cho bầy con của các cô gái điếm, ở đó 60 trẻ từ 12 tháng tuổi đến 13 tuổi tìm được chốn nương thân.

Chồng và các con của bà đều hiệp tác với công việc nầy, và được Mathiơ 21.31 khích lệ luôn, họ đã đưa nhiều cô gái điếm vào trong Nuớc Trời.

 

                “Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi” (Mathiơ 21.31)

 

                                                                   14 Tháng 7

KHÔNG ĐẾM XỈA ĐẾN ĐẤNG CHRIST

                Mặc dù sức khoẻ yếu kém, Richard Baxter đã có mặt giữa vòng những người sáng tác nhiều nhất vào thế kỷ thứ 17. Lúc ông qua đời năm 1691, ông đã viết 160 quyển sách, ngày nay người ta vẫn còn ưa chuộng một số sách của ông. Ông đã để ra 18 tháng trên Tháp Luân đôn để có được những quan điểm về Thanh Giáo của mình, ông đã giảng nhiều bài giảng hơn bất kỳ một Mục sư nào trong thời của ông. Một trong những sứ điệp có sức thuyết phục mạnh mẽ đã dựa theo Mathiơ 22.5 về việc không đếm xỉa chi đến Đấng Christ.

“Quả là điều lạ lùng trong thế gian, vì khi Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã sai đến Con của Ngài, mà hầu hết thế gian đều chẳng đếm xỉa đến. Đức Chúa Trời không thích thú gì nơi sự chết của hạng tội nhân, mà đúng hơn Ngài lấy làm thích khi họ xây trở lại và sống động. Nhưng con người lại vốn ham thích sống trong tội lỗi đến độ họ sẽ ngã chết trước khi họ quay trở lại. Chúa Jêsus bằng lòng làm Y sĩ của họ, và đã cung ứng thứ bột thạch cao bao phủ bên ngoài bằng chính huyết của Ngài; nhưng nếu con người không đếm xỉa gì đến lớp thạch cao ấy, và không chịu nhận lãnh nó, có ngạc nhiên không một khi họ đều hư mất cả?

                Là tội nhân, quý vị còn xấu xí hơn con cóc kia nữa là; thế mà Đấng Christ đếm xỉa đến quý vị từ đàng xa đến nỗi Ngài đã giáng trần trong loài xác thịt và đã sống một đời sống khốn khổ. Làm sao quý vị có được sự bình tịnh trong tâm trí! Làm sao quý vị ăn, uống, hay yên nghỉ cho tới chừng quý vị có được cái nền của sự yên ủi đời đời!?!

                Thời giờ đã gần khi Đấng Christ và sự cứu rỗi sẽ được quan tâm tới. Khi Đức Chúa Trời lay động những linh hồn bất an kia ra khỏi thân thể của họ, và quý vị phải trả lời về mọi tội lỗi của mình, khi đó quý vị dâng gì cho Cứu Chúa đây!

                Quý vị không thể không đếm xỉa đến căn bệnh hay một nhu cầu nhỏ, hoặc về cái chết tự nhiên, không, không thể không đếm xỉa đến một cái răng đau, nhưng đừng than vản nếu quý vị chẳng chịu làm chi hết; sẽ thể nào nếu quý vị không đếm xỉa tới cơn thạnh nộ của Chúa, cơn giận ấy sẽ thiêu đốt mọi kẻ khinh khi ân sủng của Ngài! Hãy toan liệu trước khi quý vị suy nghĩ tới những điều nầy”.

 

                “Nhưng họ không đếm xỉa đến” (Mathiơ 22.5)

 

                                                                   15 Tháng 7

ĐƯỢC CỨU BỞI CHÍNH BÀI GIẢNG CỦA MÌNH

                Kỳ cục, lập dị, quái gỡ, khác thường – những từ nầy mô tả một công nhân mỏ than có năng lực tên là Billy Bray, xứ Cornwell, nước Anh. Trước khi ông trở lại đạo vào tháng 11 năm 1832, Billy đã sống một đời sống rất ô uế. Sau khi gặp được Đấng Christ, ông đã trở thành một nhà truyền đạo rất chói sáng.

Trên một ngọn núi gần ngôi nhà của ông là một khóm những gia đình không tin Chúa. Billy sau giờ làm việc dưới hầm mỏ suốt cả ngày, ông ra khỏi khu mỏ rồi hướng về ngọn núi, ông đến thăm viếng gõ cửa từng nhà, rồi truyền đạo cho các gia đình. Không bao lâu sau đó từng người một đã trở lại đạo, và một Hội thánh tư gia đã được dựng lên.

Hội thánh Anh quốc đã gửi Mục sư W. Haslam đến chăn giữ các gia đình, nhưng khi Billy nghe vị Mục sư mới đến giảng, ông bị chao đảo. Haslam dường như không biết chi tới tin lành hết. Billy cảm thấy bản thân vị Mục sư không phải là một Cơ đốc nhân thật, và ông liền trao đổi với vị Mục sư đó.

Haslam bàng hoàng ngay. Chúa nhật sau, khi đứng lên giảng, ông công bố câu gốc ở Mathiơ 22.42: “Về Đấng Christ, các ngươi nghĩ thế nào?” Khi ông bắt đầu phân phát sứ điệp của mình, ông cảm thấy mình đang tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa. Ông đã được biến đổi đang khi rao giảng chính bài giảng của mình.

Billy có nghe bài giảng đó rồi đã đến trong một chuyến thăm viếng. Khi Haslam ra tới cửa, Billy hỏi: “Đã được biến đổi rồi, phải không thưa ông?” Vị Mục sư kia đáp: “Dạ phải, cảm ơn Chúa, tôi đã được biến đổi”. Billy lấy làm sung sướng, ông ôm chầm lấy vị Mục sư kia, nhấc bỗng ông ta lên, rồi đi quanh căn phòng, miệng cứ hô lớn tiếng: “Vinh hiển thay, vinh hiển thay, vị Mục sư đã được biến đổi! Vinh hiển thay là Đức Chúa Trời”.

Bà Haslam khi nghe la lớn tiếng liền bước vào phòng, và Billy kêu lên: “Bà xã đã được biến đổi chưa?” Bà liền đáp: “Dạ rồi, cảm ơn Chúa”. Billy khởi sự xây về phía bà, nhưng thay vì nhấc bà lên, ông chỉ bật cười thật vui rồi nói: “Ôi tôi sung sướng làm sao! Tôi vui lắm. Vinh hiển thay! Vinh hiển thay là Đức Chúa Trời!”.

 

                “về Đấng Christ, các ngươi nghĩ thể nào?” (Mathiơ 22.42)

 

                                                                   16 Tháng 7

KÍCH ĐỘNG

                Chỉ có loại máy tính của thiên đàng mới có thể thống kê con số những Cơ đốc nhân nào đến định cư trong cõi đời đời do chức vụ của A. B Simpson. Chào đời ở các tỉnh thuộc vùng biển Canada vào năm 1843, Simpson đã trở  thành một nhà truyền giáo đầy năng quyền, đã đem nhiều linh hồn về cho Chúa. Ông là một Mục sư, nhà xuất bản tờ Alliance Weekly, và tác giả của hơn 70 quyển sách, cùng nhiều ca vịnh. Nhưng Simpson chủ yếu được người ta ghi nhớ là nhà sáng lập hai cộng đồng truyền giáo kết hợp lại vào năm 1897 là Hội Phước Âm Liên Hiệp (viết tắt là CMA); cùng việc lập nên một truờng Kinh Thánh và đào tạo giáo sĩ ở Nyack, Nữu ước hãy còn năng động cho tới ngày nay.

Mathiơ 24.14 đã kích động năng lực của Simpson.

Trong những ngày đầu sớm sủa của Hội Phước Âm Liên Hiệp, một phóng viên từ tờ Nữu Ước Thời Báo đã gọi điện đến xin phỏng vấn Simpson. Họ đã bàn luận về hàng trăm giáo sĩ của CMA đang phục vụ ở khắp nơi trên địa cầu, và hàng trăm ngàn đôla được chi ra tiếp trợ cho họ. Khi ấy phóng viên nhà báo ngưng lại hỏi: “Ông có biết Chúa sắp tái lâm không?”

Simpson đáp: “Biết chứ! Và tôi sẽ nói cho ông biết, nếu ông hứa sẽ cho đăng những điều tôi nói, phần địa chỉ tham khảo và tất cả”.

Vị phóng viên kia gật đầu và chuẩn bị bút chì của mình.

Simpson nói: “Hãy xem đây. Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” – Mathiơ 24.14. Ông có ghi phần địa chỉ tham khảo không?”

                “Thưa có, còn thêm chi khác nữa không?”

                “Thôi đủ rồi”

                “Ông có ý nói rằng, ông tin, khi Tin lành được rao giảng cho các nước, thì Chúa Jêsus sẽ tái lâm chăng?”

                Simpson đáp: “Đúng như thế đó”.

Vị phóng viên nói: “Tôi nghĩ tôi bắt đầu nhìn thấy tia sáng ban ngày rồi”

                “Ông nghĩ ông nhìn thấy cái gì chứ?”

                “Tôi đang nhìn thấy động lực cho phong trào nầy”

                Mục sư Simpson nói: “Ông đang nhìn thấy còn nhiều hơn một số Tiến sĩ Thần học nhìn thấy nữa đó!”.

 

                “Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” (Mathiơ 24.14)

 

                                                                   17 Tháng 7

MẶT TRĂNG TỐI TĂM

                Khi nhà dịch thuật Kinh Thánh Jim Walton lần đầu tiên bước vào khu rừng nguyên sinh ở La Sabana tại Colombia, Nam Mỹ, ông nghĩ chẳng có một người nào sống tại đó từng nghe giảng về Tin Lành.

Thế rồi ông đã gặp Andres.

Andres là con trai cả của Tù Trưởng Fernando thuộc bộ tộc Muinane, là công nhân cạo mũ cao su. Anh đến đây ba ngày từ La Sabana, rồi anh được giao chăm sóc khoảng 200 cây cao su trên diện tích 100 cao rừng. Andres tự hỏi lòng mình nhiều câu hỏi về sự sống – chúng ta từ đâu đến, điều chi xảy ra sau sự chết – nhưng lại chẳng tìm được một câu trả lời nào có thể làm cho thoả lòng.

Một đêm kia trong lúc buồn chán, Andres bắt đầu giải khuây với chiếc máy radio transitor mà người chủ đồn điền cao su đã cho anh. Thình lình anh mở đúng tín hiệu rất rõ ràng của Đài Trans World ở Bonaire. Xướng ngôn viên đang đọc mấy lời nầy: “Mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời…”.

Thật ngẫu nhiên kỳ lạ, ánh trăng đêm hôm ấy không soi toả ánh sáng của nó. Mặc dù Andres chưa hiểu câu Kinh Thánh đó lúc bấy giờ, một vành trăng khuyết đã bao phủ toàn bộ khu rừng với sự tối đen. Chàng trai người Colombia bị khuấy động thật sâu sắc.

Andres liền quay trở về nhà, và ngày hôm sau Jim Walton bất ngờ đến, và mở quyển Tân ước của ông ra ngay trước nhà khách của Tù Trưởng Fernando, bắt đầu đọc. Andres nghe thật là say mê.

“Khi tôi thấy ông đọc quyển sách đó, tôi biết đó là một quyển sách từ chiếc máy radio, quyển sách đó có chứa lẽ thật. Và khi ông giảng đấy là Lời của Đức Chúa Trời, và ông cần đổi sách ấy ra theo ngôn ngữ của tôi. Tôi quyết định đến giúp ông”.

Andres đã phụ giúp. Trong 18 năm kế đó, anh đã phụ giúp Jim trong vai trò người thông dịch, giúp hoàn tất bản thảo Tân ước đầu tiên cùng các phân đoạn Cựu ước.

 

                “Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động” (Mathiơ 24.29)

 

                                                                   18 Tháng 7

ĐƯỢC LẮM

                Trong một ngày tháng Giêng lạnh lẽo vào năm 1875, Mục sư Richard S. Storrs ở Brooklyn đã làm cho tâm trí của các chủng sinh của Thần học viện Union được ấm áp hẳn lên khi nghiên cứu đề tài: “Giảng không cần chú thích”. Storrs lúc đầu đã chuẩn bị vào ngành luật. Anh đã nhìn thấy nhiều vị luật sư lỗi lạc của nước Mỹ tác động bồi thẩm đoàn cùng các quan toà bằng cách nhìn chăm họ bằng ánh mắt và thao thao bất tuyệt nói mà chẳng cần chú thích chi hết.

“Vì cớ đó, tôi không thể nhìn thấy, tại sao một vị Mục sư không thể giảng trước hội chúng của mình giống như các vị luật sư bào chữa suốt thì giờ ở trước toà; và khi các chương trình của đời sống tôi thay đổi dưới sức thúc đẩy của Thánh Linh Đức Chúa Trời và tôi đã dâng mình vào chức vụ, tôi quyết định rao giảng mà chẳng có tư liệu”.

Trong ba tuần lễ, Storrs khuyến khích các chủng sinh, ông dạy cho họ biết cách phải rao giảng mà chẳng cần phải chú thích chi hết; rồi đến ngày 27 tháng Giêng năm 1875, ông kết thúc phần thuyết trình của mình, ông nói:

                “Sự thành công của quý vị không đến ngay thời điểm mà quý vị mong đợi lâu, hoặc theo phương thức mà quý vị mong muốn. Sự thành công ấy không thể đến theo cách quý vị muốn nhìn thấy ở trên đất nầy. Dường như Chúa có sự thành công rất nhỏ thôi: 12 sứ đồ, và một trong số họ là kẻ phản bội. Phaolô – nhà truyền đạo đại tài tỏ ra chẳng đạt được thành công gì cho lắm: một vài hội chúng tản lạc, sai lầm và bất đồng chia rẽ. Nhưng thành công là chắc chắn vào lúc cuối cùng. Những kết quả tốt lành ra từ công việc rao giảng – to lớn song không thấy được bằng mắt thường. Trong cả đời sống của quý vị, hãy ghi nhớ điều nầy! Hãy trông mong thời điểm khi Con Người, không còn thấy được bằng mắt thường, sẽ được tỏ ra; và bởi Ngài mọi sự tỏ ra để quý vị thấy rằng các từng trời sẽ rộng mở và Ngài sẽ phán cùng chúng ta: ‘Trên đất, các ngươi là những nhà cai trị một đôi điều, một vài khả năng, một số tri thức, một chút cơ hội; Nầy, ta sẽ lập các ngươi làm kẻ cai trị nhiều việc, trong vương quốc nầy của Cha ta’”.

 

                “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi” (Mathiơ 25.21)

 

 

 

                                                                   19 Tháng 7

CÂU CHUYỆN CỦA TOLSTOY

                Ở tuổi 50, tiểu thuyết gia người Nga Leo Tolstoy đã có lòng quan tâm đến những việc thuộc linh và bắt đầu nghiên cứu Tin lành với thái độ sốt sắng nhất. Không may, ông đã chối bỏ hơn là tiếp nhận, ông không chịu tin vào các phép lạ, thần tính của Đấng Christ, nhân tánh của Đức Chúa Trời, và chương trình cứu rỗi. Tolstoy đã làm cho Cơ đốc giáo ra yếu kém hơn những việc lành và từ thiện.

Tuy vậy ông đã viết về Tin lành với tính cách thật là đẹp đẽ, và chẳng có điều chi tóm tắt triết lý của ông cho bằng câu chuyện nầy, là câu chuyện Tolstoy đã dựa vào một trong các phân đoạn Kinh Thánh mà ông vốn ưa thích nhất, đó là Mathiơ 25.31-40:

“Một tối kia, Martin Avdeitch – người thợ đóng giày khiêm tốn, ngủ gà ngủ gật trên quyển Kinh Thánh đang mở ra trên tay, thình lình ông nghe có tiếng nói: ‘Martin! Ngày mai ngươi hãy xuống dưới phố, vì ta sẽ đến thăm ngươi’. Tin chắc Chúa Jêsus sẽ đến thăm mình, Martin thức dậy sáng hôm sau với tinh thần sảng khoái lắm. Song chẳng có ai tới trong ngày đó, chỉ có một tốp người đáng thương, họ chẳng có xu teng nào cả: một cựu chiến binh già, một người mẹ run bây bẩy cùng đứa trẻ mới sinh, một bà cụ bán hàng rong cùng một đứa trẻ mặt mày dáo dác sắp sửa chôm quả táo trong giỏ của bà cụ kia.

                Với tấm lòng tử tế, Martin đến chăm sóc cho từng người; nhưng khi trời tối rồi, ông vẫn thấy thất vọng khi Chúa Jêsus không đến thăm mình trong ngày đó. Đeo cặp mắt kính vào, ông mở quyển Kinh Thánh ra với tiếng thở dài, và Kinh Thánh mở ra ở Mathiơ 25, Martin đọc: ‘Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta’.

                Lạy Chúa, khi nào chúng tôi mới làm những điều nầy?

                Nhìn xuống cuối trang, Martin đọc tiếp: ‘Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy’.

                Thế là Avdeitch hiểu ra, phần khải thị đã biến thành sự thật rồi, và thực sự Cứu Chúa đã đến viếng ông trong ngày đó, và ông đã tiếp nhận Ngài.

 

                “Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy” (Mathiơ 25.40)

 

                                                                   20 Tháng 7

NGÀY SABÁT KHÔNG BAO GIỜ TỚI

                Vào ngày 8 tháng 8 năm 1871, D. L. Moody đến giảng tại sảnh đường Farwell ở Chicago. Ông nói: Số phận đời đời của chúng ta nương vào câu chúng ta trả lời cho câu hỏi của Philát: “Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào?” Ở phần kết luận bài giảng của mình, Moody nói: “Tôi muốn quý vị đem câu Kinh Thánh nầy về nhà rồi suy nghĩ trong trí mình suốt tuần lễ, và ngày Sabát tới chúng ta sẽ quyết định phải xử thế nào với Jêsus người Naxarét”.

Thế nhưng chẳng có một ngày Sabát nào tới nữa hết. Khi Ira Sankey, ca sĩ chuyên hát đơn ca kết thúc bài hát của buổi nhóm: “Ngày nay Chúa đang kêu gọi”, giọng hát của ông thình lình bị nhiều tiếng kêu la hớt hãi lấn át. Trận hoả hoạn Chicago đã khởi sự và quét khắp sảnh đường. Tối hôm ấy, cả thành phố và nhiều người của thành phố đó đã bị hư mất.

Hai mươi hai năm sau, khi tưởng niệm trận hoả hoạn, Moody một lần nữa đến giảng tại Chicago từ Mathiơ 27.22, ông nói: “Đúng là một lỗi lầm! Tôi nhớ ông Sankey đang hát, và giọng hát của ông sang sảng: ‘Ngày nay Chúa đang kêu gọi, hãy chạy bay đến mà nương náu mình! Cơn bão công bình ụp xuống và sự chết đang tới gần!’.

                Tôi không còn nhìn thấy hội chúng đó nữa. Tôi đã chịu khó làm việc để ngăn giữ nhiều nước mắt hôm nay. Hai mươi hai năm đã trôi qua, và tôi không còn nhìn thấy hội chúng ấy nữa, và tôi không hề gặp lại dân sự đó cho tới lúc mà tôi sẽ gặp lại họ ở một thế giới khác. Nhưng tôi muốn nói cho quý vị biết một bài học mà tôi đã tiếp thu được trong đêm đó, bài học mà tôi không bao giờ quên, ấy là khi tôi giảng, tôi muốn ấn mạnh Đấng Christ vào hội chúng lúc bấy giờ, và tìm cách đưa họ đến với một quyết định ngay tại chỗ.

                Quý vị sẽ nhận ra Philát đã ở vào đúng tâm trạng của khán thính giả của tôi trong đêm đó, đúng tâm trạng mà quý vị đang có hôm nay – ông ta đã quyết định phải xử như thế nào với Chúa Jêsus. Và chính việc ấy đã đổ lại trên ông ta cách thình lình.

                Tôi đã nhiều lần xin Đức Chúa Trời tha tội cho tôi vì đã bảo hội chúng tối hôm ấy nên dành cả tuần lễ để suy gẫm câu nói của Philát. Tôi không dám dành cho một thính giả nào cả tuần lễ để suy nghĩ về sự cứu rỗi của họ từ dạo ấy”.

 

                “Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào?” (Mathiơ 27.22)

 

                                                                   21 Tháng 7

LÀM ẤM LÒNG BẰNG CÁCH NÀO!?!

Tôi có nghe kể lại về một người sống ở Dundee, Scotland, ông nầy nằm liệt giường trong 40 năm, bị gãy cổ khi bị té lúc 15 tuổi. Song tâm linh ông cứ nguyên vẹn không bị gãy đổ, khí sắc và lòng can đảm của ông đã cổ vũ nhiều người, đến nỗi lúc nào ông cũng phải lo tiếp khách cả. Ngày nọ, có một vị khách đến hỏi thăm ông: “Bộ Satan không cám dỗ ông phải nghi ngờ Đức Chúa Trời sao?”

Ông nầy đáp: “Ồ có chứ. Hắn đang cám dỗ tôi đây. Tôi nằm ở đây và nhìn thấy mấy người bạn học cũ lái xe qua lại và Satan thì thầm: ‘Nếu Đức Chúa Trời quả là tốt lành, sao Ngài cứ để cho ngươi nằm ở đây suốt những năm tháng nầy?’”

Người khách kia bèn hỏi: “Ông nghĩ sao khi Satan thì thầm mấy lời đó?” Kẻ tàn tật kia đáp: “À, tôi đưa hắn tới đồi Gôgôtha, chỉ cho hắn thấy Đấng Christ, rồi chỉ cho hắn thấy mấy vết thương rồi nói: ‘Ngươi thấy đấy, Ngài rất mực yêu thương tôi’. Và Satan không sao trả lời được. Mỗi lần như thế, thì hắn lẳng lặng bỏ đi”.

Câu chuyện đó nhắc cho tôi nhớ tới một câu chuyện khác, và câu chuyện nầy có liên quan tới Mục sư Eric Frykenberg – cựu giáo sĩ ở Ấn độ. Frykenberg là một nhân vật có nhiều câu chuyện hay, và ông dễ dàng mô tả các bối cảnh cũng như những biến cố từ hơn 15 năm ông ở Á châu. Ngày nọ có người đến hỏi ông: “Thưa Mục sư Frykenberg, nan đề nào là khó khăn nhất mà ông đã từng gặp phải?”.

Ông đáp không hề lưỡng lự: “Đó là lúc khi tấm lòng tôi trở nguội lạnh truớc mặt Đức Chúa Trời. Khi tình trạng ấy xảy ra, tôi biết tôi đã sống quá bận rộn. Tôi cũng biết đấy là lúc phải thức tỉnh. Vì vậy tôi đem theo cuốn Kinh Thánh một mình lên trên núi. Đoạn, tôi mở Kinh Thánh ra ở Mathiơ 27, câu chuyện nói về sự Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự, và tôi vòng tay ôm lấy thập tự giá đó”.

Frykenberg nói tiếp: “Khi ấy tôi đã sẵn sàng trở lại với công việc”.

 

                “Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự” (Mathiơ 27.35)

 

                                                                   22 Tháng 7

VỚI NHỮNG LỜI ĐÓ TÔI…

                Khi David Livingstone – nhà thám hiểm và là vị giáo sĩ lỗi lạc, hành trình xuống dòng sông Zambezi, tìm kiếm lối vào miền Trung Phi châu từ Bờ biển phía Đông, ông là người có con mắt rộng mở. Xứ nầy có rất nhiều voi, trâu, và các loại động vật hoang dã khác. Cả ngàn mối nguy hiểm đang chờ đợi ông, từ loài rắn, cơn sốt rét, cho tới người dã man. Dần dần ông bỏ lại sau lưng các khu vực quen thuộc rồi tiến sâu vào các khu vực chưa có ai thám hiểm đầy dẫy các bộ tộc thù nghịch. Những kẻ dẫn đường cho ông luôn sống trong cảnh căng thẳng thần kinh, họ di động rất nhanh. Các bản tường trình đưa về cho thấy nhiều kẻ săn đầu người đang tìm cách chống nghịch họ, sẵn sàng tàn sát hết cả nhóm của ông.

Livingstone rút quyển Kinh Thánh của ông ra khỏi túi xách, rồi chỉ ngón tay rà khắp phân đoạn Kinh Thánh mà ông rất ưa thích, đó là Mathiơ 28.20, và lòng can đảm của ông bừng dậy giống như mặt trời mọc vào lúc ban mai vậy. Trong hành trình ông ra đi buổi chiều hôm ấy, ngày 14 tháng Giêng năm 1856, ông viết: “Lòng như tơ vò khi cứ dấn thân sâu vào khu vực nầy và sắc tộc đông đảo trong đó cứ săn đuổi theo hoài. Nhưng tôi đọc câu Chúa Jêsus phán: ‘và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế’. Đây là lời lẽ của một nhân vật đáng kính trọng nhất, có một cứu cánh trong câu nói đó. Tôi cảm thấy hoàn toàn bình tịnh ngay khi ấy, cảm tạ Chúa!”.

Sáng hôm sau, ông cứ tiến bước. “Không một điều gì ở đời nầy làm cho tôi phải thất vọng mà chùng bước cả. Tôi tự khích lệ lòng mình trong Chúa là Đức Chúa Trời tôi, và cứ thẳng tiến”.

Về sau, lúc đã trở lại xứ Tô cách Lan và Anh quốc để nghỉ phép, Livingstone được mọi người xem là vị anh hùng dân tộc. Khi Trường Đại học Glasgow lo chuẩn bị một buổi lễ đông đảo quần chúng để tôn cao ông. Livingstone tuyên bố quyết định trở lại Phi châu không lâu sau đó: “Tôi trở lại mà chẳng có lòng lo và với niềm vui sướng hết sức. Vì quý vị có muốn tôi nói cho quý vị biết điều chi đã thúc đẩy tôi qua những năm tháng rày đây mai đó giữa vòng sắc dân mà ngôn ngữ của họ tôi không thể hiểu được, và thái độ của họ đối với tôi thường là thù nghịch không? Đó là điều nầy đây: ‘Nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế’. Với những lời đó, tôi lao vào công việc, và lời ấy không bao giờ thất bại”.

 

                “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báptem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Mathiơ 28.19-20)

 

                                                                   23 Tháng 7

MỘT BÀI GIẢNG, 20.000 NGƯỜI TRỞ LẠI ĐẠO

                Trong 50 năm A. B. Earle đã truyền đạo cho châu Mỹ, ông đã đi 325.000 dặm, giảng 19.780 lần, và làm chứng cho 150.000 người trở lại đạo. Ông ra đi từ thành nầy đến thành khác, kết hợp với các Hội thánh địa phương tổ chức các buổi truyền giảng tin lành rất có quyền năng.

Việc đáng ngạc nhiên: đó là Earle không phải là một truyền đạo lỗi lạc. Tài năng của ông chỉ ở độ trung bình mà thôi; giọng nói của ông rất đơn sơ; sắc mặt ông diễn đạt chẳng có gì lôi cuốn hết; các bài giảng của ông đều cũ kỹ. Ông không có tình cảm cao độ, và văn phạm cũng như ngôn từ của ông đều mắc lỗi ít nhiều.

Nhưng khán thính giả của ông đều bị bắt lấy bởi sự hiện diện và năng quyền của Đức Chúa Trời. Thực tại Đức Thánh Linh dường như mới giáng lâm, và người ta thường nghe thấy lời cầu nguyện lúc nửa đêm trên các đường phố và trong mấy ngôi nhà đã có mặt tham dự những buổi thờ phượng của ông.

Bí quyết của ông ư? Earle đã khởi sự giảng đạo từ năm 1830 lúc ông được 18 tuổi, nhưng mãi đến năm 1860: “Tôi mới bắt đầu cảm nhận được một sự khát khao khó tả về sự đầy dẫy của Đấng Christ. Tôi yêu chức vụ, song cảm thấy bất an ở trong lòng. Nối theo sau những thời kỳ vui mừng là sự nghi ngờ. Trong tình trạng nầy tôi phải đương đầu với những lần tấn công của kẻ thù rất kịch liệt”.

Đến tháng 11 năm 1863, Earle đã làm mới lại sự đầu phục của mình đối với Đấng Christ trong suốt thời kỳ cầu nguyện khẩn thiết “và ngay lập tức một sự bình an thiên thượng đã lấp đầy khoảng trống, không còn thấy bất an. Trong lần đầu tiên của cuộc đời, tôi đã gặp được sự yên nghỉ còn hơn cả sự bình an nữa. Chúa Jêsus là mọi sự của tôi kể từ dạo ấy. Và sự thành công của tôi trong việc dẫn đưa nhiều linh hồn đến với Chúa Jêsus ngày càng lớn lao hơn”.

Về sự thành công đó, Earle nói: “Tôi đã nhìn thấy những mối đe doạ nghiệt ngã nhất của luật pháp Đức Chúa Trời, luật pháp ấy có một vị trí cao khi dẫn đưa người ta đến với Đấng Christ. Họ phải nhìn thấy bản thân họ BỊ HƯ MẤT trước khi họ kêu xin sự thương xót. Họ sẽ không tránh thoát được hiểm nguy cho tới chừng nào họ nhìn thấy mối nguy hiểm đó. Tôi có lý do để tin theo một bài giảng mà tôi rất thường giảng luôn: ‘Tôi không bao giờ được tha’ (Mác 3.29) đã trở thành phương tiện cho hơn 20.000 người trở lại đạo. Tôi biết rõ có nhiều người đã chịu dâng mình cho Đấng Christ lúc bài giảng nầy nhiều lần được rao giảng. Kẻ dữ sẽ không bao giờ tránh khỏi cơn thạnh nộ hầu đến cho tới chừng nào họ biết đáp ứng đầy đủ với cơn thạnh nộ hiển nhiên ấy”.

 

                “nhưng ai sẽ nói phạm đến Đức Thánh Linh thì chẳng hề được tha, phải mắc tội đời đời” (Mác 3.29)

 

                                                                   24 Tháng 7

CHIẾC TÀU KHÔNG THỂ CHÌM

                Một trong những bối cảnh đẹp đẽ nhất trong Kinh Thánh nói về Chúa Jêsus mệt mỏi lắm đã nằm ngủ ở phía sau lái của một chiếc thuyền trong khi các môn đồ Ngài đang đánh trận với gió bão. Hình ảnh ấy cứ thoát hiện trong lý trí của tôi và cứ tuôn tràn ra từ trên toà giảng.

Mặc dù tôi không thể khẳng định câu chuyện ấy, có lần tôi đã đọc thấy câu gốc nầy đã được sử dụng tại Belfast vào sáng Chúa nhật sau khi chiếc tàu Titanic bị chìm. Con tàu đồ sộ nầy đã được đóng tại Belfast, và một số lượng lớn lòng tự hào địa phương đã chìm lĩm cùng với chiếc tàu – cùng với 16 người thợ cơ khí có tài, tất cả các thuộc viên của Hội thánh địa phương. Ngay cả những người lực lưỡng nhóm lại trên mọi con đường của thành phố, hai bàn tay nắm chặt lại, nước mắt họ tuôn trào, rồi lặng lẽ không nói nên lời.

Ngày Chúa nhật ấy, vị Mục sư đã đọc câu chuyện nầy và nói với hội chúng đang buồn rười rượi rằng một chiếc tàu duy nhất trong cõi lịch sử thực sự không thể bị đánh chìm: ấy là chiếc tàu mong manh trên đó có Đấng Christ đang nằm ngủ. Và, ông nói thêm những tấm lòng duy nhất có thể khắc phục được giông bão là những tấm lòng mà Chúa đang ngự trị ở trong.

Charles Fuller cũng đã sử dụng câu gốc nầy để mở đầu cho chức vụ của mình trên đài phát thanh. Vào tháng Hai năm 1929, Fuller đã giảng luận trong 10 ngày tại Cadle Tabernacle ở Indianapolis. Ngày nọ không một lời cảnh báo nào hết, người ta yêu cầu ông đến giảng thay cho một diễn giả trên chương trình phát thanh tin lành của địa phương. Đài phát thanh là một phát minh rất mới lạ, và đối với Fuller đây là một kinh nghiệm mới. Ông mau chóng chọn Mác 4.35-41, sử dụng bốn điểm sau dây: một mối nguy hiểm lớn; một lời cầu xin; một sự bình an; và một nhân vật quan trọng.

Một tổng đài điện thoại được mở ra, và nhiều thư từ gửi đến; rồi khi Fuller lên xe lửa về lại Nam California, công việc phát thanh đè nặng trên ông. Trong một tối kia, trằn trọc mãi trên giường ngủ của xe lửa, Fuller thưa với Chúa ông sẽ tiếp tục phát thanh đều đặn một khi cánh cửa nầy mở ra cho ông.

Cánh cửa ấy đã mở ra, Fuller không lâu sau đó đã giảng cho 20 triệu khán thính giả mỗi tuần trong giờ Phục hưng của ông từ Đài Long Beach, và chức vụ của ông đã dựng lên lịch sử công cuộc truyền giáo bằng đài phát thanh.

 

                “Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ” (Mác 4.39)

 

                                                                   25 Tháng 7

HÃY ĐI TẺ RA

                Chúa Jêsus đã phán mấy lời nầy trong phần đọc Kinh Thánh ngày hôm nay, không những Ngài suy nghĩ đến các môn đồ, mà Ngài còn nghĩ tới đoàn quân đông đảo của Ngài, là những người sẽ choán lấy lịch sử Cơ đốc về sau nầy. Hết thảy chúng ta đều cần tới “những ngày Sabát” ngay bây giờ và nhiều nữa để giữ chúng ta được mạnh khoẻ. Vance Havner từng nói: “Nếu chúng ta không đi tẻ ra, chúng ta sẽ lao đao lắm”.

Có nhiều người học theo đường lối khó nhọc nầy. Thí dụ, Ashael Nettleton là một nhà truyền đạo rất năng nổ trong thập niên 1800, chức vụ của ông đã bị cắt ngang bởi một cuộc tấn công của cơn sốt rét lây nhiễm và bị kiệt lực.

Nettleton đã trở lại đạo trong cơn phấn hưng vào năm 1800, và, sau khi tốt nghiệp từ Đại học Yale, ông đã trở thành một nhân vật gây phấn hưng. Từ các bài giảng đầu tiên của ông, Nettleton bắt đầu chinh phục nhiều đoàn dân đông cho Đấng Christ; và ông đã có mặt xuyên suốt Connecticut, Massachusetts, và Nữu ước. Song kế hoạch truyền giáo của ông đã đưa ông đến gần hai cánh cổng sự chết vào năm 1822, và trong hai năm ông đã bị gạt ra ngoài chức vụ. Ông không bao giờ phục hồi được trọn vẹn sức khoẻ của mình. Mặc dù ông đã giảng đạo lại bình thường vào năm 1824, ông không thể kiếm lại được trọn sức khoẻ có cần đó.

Trong khi nghỉ ngơi tại Catskills, ông đã viết thư cho một sinh viên thần học biết về mọi lợi ích thuộc thể và thuộc linh của sự nghỉ ngơi: “Từng nhà truyền đạo lưu hành, đặc biệt nếu ông ta bận bịu vào cuộc phấn hưng tôn giáo, phải cảm nhận được nhu cần của đường lối nầy: ‘Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút’, hoặc phải chịu khổ nhiều nếu ông ta chễnh mãng quá lâu đối với sự yên nghỉ nầy. Tôi không khuyên ai đó sẽ được dùng vào cơn phấn hưng đầy năng quyền hơn 3 tháng, mà chẳng nghỉ ngơi ở nơi vắng vẻ trong một thời gian ngắn, để ôn lại quá khứ, và để chăm lo cho chính tấm lòng của mình. Ông ta sẽ thấy có nhiều điều phải suy tư, nhiều việc phải chỉnh đốn; và bởi sự suy gẫm sâu sắc và nghiêm chỉnh đối với quá khứ, và bởi sự suy gẫm nầy, ông ta sẽ tiếp thu được cái hay cái dở của kinh nghiệm trong quá khứ”.

Khi sức khoẻ khả quan hơn, Nettleton vẫn có một số năm tháng còn lại, và trước khi ông qua đời vào đầu thập niên 60, ông đã dẫn đưa số đông nhiều người đến với Chúa. Phần lớn sự thành công vào cuối đời của ông từ việc đi từng bước một, là do “làm ít mà được nhiều”.

 

                “Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút” (Mác 6.31)

 

                                                                   26 Tháng 7

HOÀN TẤT CHƯƠNG CỦA MÌNH

Đôi khi phải tốn một ít thời gian để lớp người trẻ định vị đường lối của mình.

Hãy xem Thomas. Ở tuổi 16, anh muốn trở thành một vị giáo sư, song không lâu sau đó đã thay đổi ý nghĩ của mình. Lúc ấy anh quyết định tìm kiếm may rủi trong vùng Tây Ấn, song lại huỷ bỏ chương trình ngay trước khi lên boong tàu. Lúc đó anh cố gắng làm hết việc nầy sang việc khác, nhưng không sao tìm được một việc nào thích đáng cả. Di chuyển qua hướng Luân đôn, anh đã đi vòng thành phố để tìm việc làm song chẳng tìm được chi hết. Bố thí đồng tiền sau cùng cho kẻ ăn mày, anh thấy mình lúc đó trở thành một con người cùng khổ.

Song Thomas Nelson là một Cơ đốc nhân, sanh ra cho bố mẹ ông là hai người Tô cách Lan rất chuyên tâm cầu nguyện, và Chúa đem tin tức đến tận hai lỗ tai ông về một công việc tập sự cho nhà in ở Paternoster. Nelson kiểm tra lại sự việc, rồi ở đó anh đã tìm được sự kêu gọi của mình. Anh luôn luôn yêu mến loại sách báo Cơ đốc, và bây giờ anh khám phá ra nỗi thích thú khi in ấn loại sách báo nầy. Anh đã mở ra các câu lạc bộ học Kinh Thánh hàng tuần tại Luân đôn, nhờ đó chia sẻ tin lành bằng cách in ấn và rao giảng. Anh đã phát đạt và không bao lâu đã tiết kiệm đủ tiền trở về Edinburgh mở ra một tiệm bán sách báo phổ thông. Không bao lâu anh đã có khả năng cho in ấn các tài liệu của riêng mình, phổ biến các tư liệu đó cho nhiều đoàn dân đông, tìm cách cung ứng sách báo Cơ đốc hữu hiệu cho một thị trường đang mở rộng và háo hức.

Hiển nhiên là mấy người con của ông bấy giờ đang ở độ tuổi thanh thiếu niên đã bắt tay vào tham gia công việc, rồi gần năm 1853 Thomas Nelson và các con trai đã trở thành nhà in lớn nhất trong xứ Tô cách Lan. Qua năm sau, Thomas còn dong buồm sang Nữu ước mở văn phòng tại đó, thiết lập Nelson thành nhà in người Anh đầu tiên lập chi nhánh tại Mỹ.

Ngày hôm nay, hơn 200 năm sau, Thomas Nelson là nhà in Kinh Thánh và sách báo Cơ đốc lớn nhất trên thế giới. Chẳng có gì khó khăn cho một thiếu niên, là người đã gặp phải rắc rối khi đi tìm phương thức sống cho mình. Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi ông hay được rằng vào năm 1861 ông sẽ qua đời. Nelson rất bình tĩnh, ông nói: “Tôi nghĩ thế. Những năm sống của tôi đang nằm trong tay của Đức Chúa Trời, Ngài làm mọi sự đều ra tốt lành. Ý Cha được nên”. Rồi khi đặt quyển Kinh Thánh bên cạnh giường ngủ của mình, ông nói: “Giờ đây tôi đã viết xong chương của mình”.

 

                “Chúng lại lấy làm lạ quá đỗi mà rằng: Ngài làm mọi việc được tốt lành: khiến  kẻ điếc nghe, kẻ câm nói vậy!” (Mác 7.37)

 

                                                                   27 Tháng 7

TƯỚNG JACHSON LÀ AI?

                Chuyện thuật lại rằng Charlemagne đã trối muốn được chôn theo cung cách vương giả của một vì vua đang ngồi trên ngai vàng, với các sách Tin lành mở ra trên hai đầu gối, thanh gươm ở bên hông, và mão triều đội trên đầu mình.

Khi về sau người ta khai quật ngôi mộ của ông, thì ông hãy còn ở đó. Mão triều vẫn ở trên hộp sọ, và ngón tay xương xẩu chỉ ngay vào hàng chữ nầy: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?”

Nhà truyền đạo người Mỹ Peter Cartwight đã giảng cũng chính câu Kinh Thánh nầy vào năm 1818 tại một Hội thánh Prebyterian ở Nashville. Chiều tháng Mười hôm ấy trời thật đẹp, và Hội thánh đầy ắp người. Ngay khi tiếng của Cartwight vang lên: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?”, câu Kinh Thánh nầy liền nhập tâm Tướng Andrew Jackson đang ngồi ở gần đó.

Jackson (chưa hề đến với Đấng Christ cho tới lúc già nua) là một vị anh hùng tánh nóng nảy, thường say sưa, thích đua ngựa, và ham trận mạc. Ngay lập tức một loạt tiếng bàn thảo dữ dội lắm quét ngang qua hội chúng và nhiều cái đầu xây lại. Vị Mục sư Chủ toạ – Tấn sĩ Mac vói tay kéo áo choàng của Cartwight rồi nói nhỏ: “Tướng Jackson đã đến rồi dấy!”

Cartwight xoay người lại: “Tướng Jackson là ai đâu? Ai là Tướng Jackson?” Khi ấy ông tuyên bố rằng nếu Vị Tướng không quay trở lại tin nhận Chúa, Đức Chúa Trời sẽ bỏ ông ta vào địa ngục giống như người dã man ngoại giáo vậy.

Tấn sĩ Mac lấy làm kinh khủng và sáng hôm sau dậy thật sớm lúc bình minh vừa hé rạng đến xin lỗi Vị Tướng Lãnh. Song đến cuối ngày hôm ấy, Cartwight và Jackson đã gặp nhau ngoài đường phố. Khi bắt tay chào nhau, Jackson nói: “Cartwight, ông là một người vừa lòng tôi. Tôi lấy làm lạ nơi ông Mac, khi ông ấy nghĩ là tôi buồn lòng ông. Không, thưa ông; tôi đã nói cho ông ấy biết là tôi khen ngợi tính không thiên vị ai của ông; rằng một vị Mục sư của Đức Chúa Jêsus Christ cần phải yêu thương mọi người và không sợ hãi bất kỳ một người hay chết nào khác. Tôi đã nói cho ông Mac biết là nếu tôi có được một vài ngàn người có đức tính không phụ thuộc ai như vậy, các sĩ quan không biết sợ sệt như ông đây, và một đội quân có kỹ luật chặt chẽ, tôi đã chiếm lấy nước Anh lâu rồi”.

 

                “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?” (Mác 8.36)

 

                                                                   28 Tháng 7

TỪ TRỜI

                David Marks ra đời năm 1805, rất ham muốn được đi học đến nỗi khi 13 tuổi, ông đã đi bộ 368 dặm đường để ghi danh vào trường học ở Providence, Đảo Rhode, rồi bị trả về nhà chỉ vì không có đủ tiền bạc mà thôi. Dù vậy, Marks tìm được niềm yên ủi giữa vòng những người Báptít Ý Chí Tự Do ở New England, họ đã tiếp nhận ông như “một thiếu niên truyền đạo” và sai ông ra đi trong vai trò truyền đạo lưu động cho thanh thiếu niên. Rời khỏi gia đình là một kinh nghiệm rất chua cay.

“Bố mẹ tôi đi theo tôi ra đến góc sân nhà. Cha tôi bật khóc khi ông nắm lấy bàn tay tôi, và bằng một giọng nói ấp úng, ông nói: ‘Khi nào con muốn quay về nhà, nhà của ta sẽ là nhà của con. Xin Đức Chúa Trời ban phước cho con, con trai ta. Chào tạm biệt’. Mẹ tôi khi ấy có trao cho tôi một đô la, bà nắm lấy tay tôi, và ấn mạnh đồng tiền vào đó với bộ điệu thật tình cảm. Khi nhìn lại vóc dáng của bà, tôi thấy mặt hai người như bật khóc; những giọt nước mắt lăn dài xuống hai gò má của họ. Cằm của bà run lên, đôi mắt bà mấp máy, bà nói: ‘Vĩnh biệt con, vĩnh biệt! Nguyện Chúa đi cùng con’. Lòng tôi chết ngất trong tôi.

                Ra đến chỗ gò cao kia, tôi quay nhìn lại ngôi nhà, những người thân yêu, và đấy là lần trông thấy họ sau cùng.

                Song khi nỗi buồn day dứt cứ nung nấu trong lòng tôi, thì lời hứa ngọt ngào của Đấng Christ có trong Mác 10.29-30, như từ trời giáng xuống nhập vào linh hồn tôi: ‘Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đang bây giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau’. Nỗi đau buồn trong tôi giờ đây đổi thành vui mừng, và những giọt nước mắt tôi đổi thành các bài ca khen ngợi”.

Marks tiếp tục công việc truyền giáo ở các vùng sâu rộng ở New England và chàng thanh niên Miền Trung Tây nước Mỹ đã qua đời vào năm 1845 do kiệt lực ở tuổi 40.

 

                “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đương bây giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau” (Mác 10.29-30)

 

                                                                   29 Tháng 7

ĐẤNG CHỮA LÀNH

                Trong quyển Healing for Damaged Emotions, Mục sư David Seamands thuật lại việc tư vấn cho một phụ nữ có tên là Betty và chồng của bà. Hai vợ chồng rất mực tin kính Chúa. Thậm chí họ còn đang chuẩn bị để hầu việc Chúa nữa. Họ rất yêu thương nhau, và mối hôn nhân của họ rất vững bền.

Thế nhưng mới đây họ cảm thấy giữa họ có một khoảng cách thật là xa, Betty rơi vào chỗ ngã lòng và muốn thối lui. Trước sự kinh ngạc của bà, khi họ gặp gỡ Seamands, bà đã bật khóc không sao kềm chế nổi.

Trong buổi nhóm kế đó, bà đã chia sẻ lại câu chuyện của mình. Bà ra đời trong khi bố mẹ lại chưa muốn có con, bố mẹ bà đã lấy nhau chỉ vì bà là đứa con của sự “tình cờ”. Ba năm sau, khi họ sắp sửa có đứa con khác, bố của Betty đã dính dáng vào một vụ ngoại tình. Kết quả là cuộc ly dị, nó ăn sâu vào tiềm thức của Betty. “Bà luôn nhớ tới ngày cuối cùng khi bố của bà bước chân ra khỏi ngạch cửa và rời khỏi gia đình. Bà cứ nhớ mãi hình ảnh ấy khi còn nằm trên chiếc nôi; bà lắng nghe cuộc tranh cãi dữ dội và giây phút đáng sợ đó khi ông bỏ ra đi. Sự việc đã để lại trong bà một nỗi đau sâu sắc ở trong lòng”.

Khi Seamands giúp đỡ Betty lần hồi lấy lại cảm xúc của mình, ông lên tiếng hỏi: “Nếu bà có thể nói ra điều chi với bố của mình lúc nằm trên chiếc nôi đó – bà sẽ nói cái gì?”.

Với tiếng thở dài, Betty nói: “Thưa cha, xin đừng rời bỏ con!”

“Về sau, khi chúng tôi cầu nguyện với nhau, sự thể cho tôi thấy rằng nếu chúng ta dịch tiếng kêu của Đấng Christ trên thập tự giá (‘Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?’) thành một câu nói dành cho một đứa trẻ, chúng ta không thể không dùng tới câu nói của Betty. Thình lình tôi nhận ra rằng vì cớ mọi điều Chúa Jêsus đã kinh nghiệm trên thập tự giá đó, Ngài hiểu rõ tiếng kêu xin mà thường ngày chúng ta hay nghe thấy trong thời buổi của chúng ta, tiếng kêu xin của hàng triệu đứa trẻ nhỏ. ‘Bố ơi’ hay ‘Mẹ ơi, xin đừng rời bỏ con!’. Nhưng họ lại bỏ rơi. Và Đấng Chữa Lành từng bị thương tích kia vốn hiểu rõ những tiếng kêu la đó và mọi cảm xúc của con trẻ đã chạm đến Ngài”.

 

                “Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng rằng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? Nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Jêsus tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mác 15.34).

 

                                                                   30 Tháng 7

HENRY VÀ HIRAM

                Họ nhìn thấy chàng thanh niên 17 tuổi đang than khóc trên các bậc thang của Đại học Yale ở New Haven. Anh ta đến từ Hawaii, và ba năm trước đó anh đã chứng kiến bố mẹ ruột bị giết ngay trước mắt mình. Rời khỏi quần đảo bằng cách làm việc trên các chuyến tàu, từ từ anh tìm được đường đến Yale, rồi bị từ chối vì không có đủ tiền nhập học.

Nhưng một số sinh viên thần học tìm gặp Henry Obookiah ở các bậc thang, họ thấy mến anh, và đưa anh đến với Đấng Christ. Một trong các sinh viên ấy có tên là Hiram Bingham, thế là Henry và Hiram trở thành đôi bạn rất thân. Khi họ cùng nhau học Kinh Thánh, họ có ấn tượng rất sâu sắc với Đại Mạng Lệnh được ghi ở Mác 16.15: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người”. Henry Obookiah qua đời một thời gian ngắn sau đó, và Hiram buồn rầu kia cảm thấy anh phải dong buồm đến quê hương của Henry trong vai trò của một giáo sĩ. Anh viết: “Chúng tôi đã được lệnh: ‘Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người’”.

Khi tới Hawaii, Hiram cùng với các nhân sự bắt đầu phiên dịch Tân ước, lập trường học, và lo chăm sóc cho người ốm đau bệnh tật. Khi anh giảng tin lành, anh thường sử dụng câu gốc mà anh rất ưa thích, Mác 16.15. Một tiết mục trên tờ báo địa phương đăng: “Tôi đã rao giảng Đại Mạng Lệnh do Đấng Christ ban ra cho các môn đồ của Ngài để công bố tin lành ra khắp thế giới”.

Anh đã làm phép báptêm cho người tin Chúa đầu tiên của mình vào mùa hè năm 1823, Keopuolani – mẹ của một vị tù trưởng. Trong vòng 5 năm, hơn 12.000 người đến tham dự đều đặn các buổi thờ phượng ngày Chúa nhật ở vài địa điểm, và 26.000 sinh viên đã nhập học các trường thần học. Đến năm 1838, các đảo ốc đều ở trong cuộc phấn hưng với hàng ngàn người chạy đến với Đấng Christ. Hơn 1705 người đã chịu phép báptêm chỉ vào một ngày thôi, đó là ngày 1 tháng 7 năm 1838.

Hiram Bingham đã trở về lại quê nhà, sức khoẻ không còn nữa vào năm 1841; nhưng ông vốn là một nhân sự rất năng động ở một trong các nổ lực truyền giáo lớn lao nhất trong lịch sử Cơ đốc giáo.

 

                “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 16.15)

 

31 Tháng 7

CON RẮN XƯA ĐÓ

                Nổ lực truyền giáo lớn lao đầu tiên giữa vòng những người theo đạo Tin lành diễn ra khi người Moravia ở miền Trung Âu châu đã đi đó đi đây khắp mặt địa cầu với sứ điệp của Đấng Christ. Một người trong số họ, Louis Daehne đến định cư dọc theo bờ biển phía Bắc của Nam Mỹ, giữa vòng bộ tộc da đỏ Arawak trong xứ Dutch Guiana (Surinam). Ở đó họ gặp đủ thứ nguy hiểm cho cuộc sống.

Daehne thường thức giấc lúc ban đêm bởi tiếng gầm của loài báo đốm lảng vảng rình mồi quanh căn lều của ông. Ông thường bị loài kiến độc màu đen tấn công, mỗi con dài tới 3 phân, mang đầy nọc độc, chúng chích ông cho tới khi ông ngã sóng soài trên mặt đất bất tỉnh. Trong một trường hợp khác, căn lều của ông bị những người da đỏ khát máu bao vây, họ muốn giết chết ông. Bước ra chào hỏi họ, ông bắt đầu thuật cho họ biết về Chúa Jêsus, và những kẻ săn đầu người đã bị tin lành làm cho nguôi ngoai đi một cách hoàn toàn.

Nhưng kinh nghiệm lý thú nhất của ông là có một con rắn bò vào căn lều của ông rồi nằm khoanh mình trên chiếc kệ đặt ngay chỗ mắc chiếc võng ông hay nằm. Khi Daehne vô ý ném mình lên chiếc võng nằm nghỉ ngơi, con rắn mới bò ra khỏi chỗ và trườn qua đầu ông, thân thể nó nhanh như gió quấn chặt lấy mặt, nó cắn ông nơi cổ rồi truyền nọc độc của nó qua người ông.

Daehne nắm chặt lấy con rắn đang quằn quại, nhưng trong lúc vật lộn đó nó đã cắn thêm ông vài phát nữa, cứ bám vòng quanh đầu và quấn chặt lấy cổ ông. Vị giáo sĩ chiến đấu thật mãnh liệt, song con rắn là một con vật rất mạnh. Sau cùng, Daehne chịu thua, ông lấy một cục phấn rồi viết lên bàn gần chiếc võng: “Một con rắn đã giết tôi”.

Nhưng ngay lúc ông viết xong mấy lời nầy, Mác 16.18 hiện lên trong trí ông: “bắt rắn trong tay… cũng chẳng hại gì”. Thu hồi hết sức lực, Daehne lại nắm thật chặt con rắn, cố nới lỏng nó ra, rồi vứt nó ra khỏi căn lều.

Sau khi khỏi cơn sốc rồi, Louis Daehne chẳng mắc một bệnh tật nào hết.

 

                “bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành” (Mác 16.18)

 

***

 

Tags: #ThuVienOnline#TuCauKinhThanhNay
Previous Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Sáu

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Tám

Admin

Admin

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Tám

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In