“BÀI CA TẠ ƠN!”
I Sử ký 16:7-36
Phân đoạn Kinh thánh: I Sử ký 16:7-12; 34-36
Phần giới thiệu: Phải tạ ơn, nói như thế có nghĩa gì nào? Tự điển Webster định nghĩa tạ ơn là: “có ấn tượng với cảm xúc nhận được sự tử tế, và sẵn sàng công nhận điều đó”. Vấn đề dường như là chúng ta chẳng cảm tạ như đáng phải có vì những ơn phước mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta! Phaolô nói trong I Têsalônica 5:18: “phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy”. Dường như có nhiều lần chúng ta sẵn lòng lãnh lấy sự dư dật của Đức Chúa Trời, tuy nhiên lại chưa sẵn sàng để cảm tạ Ngài vì mọi sự mà Ngài đã ban cho chúng ta! Chúng ta phải luôn luôn nhớ đến phước hạnh của Ngài giáng trên mỗi một người chúng ta!
Hòm giao ước của Đức Chúa Trời, làm biểu tượng cho Israel về sự hiện diện và quyền phép của Đức Chúa Trời ở giữa vòng họ, đã bị dân Philitin đem đi như một thứ chiến lợi phẩm. Tuy nhiên, trong tay của dân Philitin, chiếc hòm ấy đã gây ra nhiều sự tàn phá đến nỗi họ phải gửi trả hòm ấy về lại cho dân Israel.
Hòm giao ước tìm được nơi ngụ tạm thời trong nhà của một người Lêvi là Abinađáp, con trai của ông được ơn trở thành người canh giữ hòm giao ước cho tới khi David cho đòi chiếc hòm ấy. Khi mọi sự sửa soạn đã đâu vào đấy rồi, David truyền lịnh hòm giao ước phải được đưa vào thành Jerusalem, trung tâm của sự thờ phượng cho cả xứ. Hòm giao ước được đặt vào “trại của Đa-vít đã dựng lên cho nó” và nhiều của lễ đã được dâng lên cho Đức Chúa Trời, và David đã nhơn danh Đức Giêhôva mà chúc phước cho dân sự (các câu 1-3).
Sự cảm tạ chắc chắn phải đến khi Đức Chúa Trời có chỗ phải lẽ của Ngài trong đời sống chúng ta! David truyền cho một ca đoàn phải hát lên bài hát ngợi khen và cảm tạ đối với Đức Chúa Trời (các câu 4-6)! Chúng ta hãy nhìn vào “Bài Ca Cảm Tạ” nầy và xem xét mọi điều mà bài hát ấy dạy dỗ chúng ta.
BÀI CA NẦY DẠY DỖ CHÚNG TA:
(1) ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI TÌM KIẾM
I Sử ký 16:11: “Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, phải tìm mặt Ngài luôn luôn“.
- TÌM KIẾM CHÚA ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI (câu 11a). Tội nhân phải đến với Ngài để được cứu. Êsai 55:6-7 cho chúng ta biết: “Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được; hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần! Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào“. Chỉ ở trong Ngài họ mới tìm được sự bình an, vui mừng và thỏa lòng! Sẽ chẳng có một sự cảm tạ chơn thật nào trong tấm lòng của một người cho tới chừng nào Chúa Jêsus là một phần trong đời sống của người ấy!
Khi một người không nhìn biết Chúa, không cứ cách nào đó người ấy nghĩ mình xứng đáng với công trạng về mọi điều mình có và những việc mà họ đã đạt được. Thi thiên 10:4 cho chúng ta biết: “Kẻ ác bộ mặt kiêu ngạo mà rằng: Ngài sẽ không hề hạch hỏi. Chẳng có Đức Chúa Trời: kìa là tư tưởng của hắn“. Nhưng khi một người có Chúa là Cứu Chúa của mình, người ấy nhận ra mọi sự mình có, sở hữu, mua sắm, đều đến từ ân điển của Đức Chúa Trời Toàn Năng!
- TÌM KIẾM SỨC LỰC NGÀI ĐỂ PHỤC VỤ (câu 11b). Chúng ta phải nhìn nhận rằng tẻ tách khỏi Ngài, chúng ta không thể tận hưởng sự phục vụ thật kết quả và chúng ta sẽ thấy yếu đuối trong công việc! Chúa Jêsus nói cho chúng ta biết ở Giăng 15:5: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được“. Kinh thánh cho chúng ta biết ở Êsai 40:31: “Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi“. Khi chúng ta tìm kiếm sức lực của Chúa, Ngài ban cho chúng ta những gì chúng ta cần để thắng hơn vì chúng ta “nhờ Ngài là Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần“ (Rôma 8:37). “Chúa không hứa ban cho chúng ta điều chi quá sức chịu đựng của chúng ta. Ngài hứa với chúng ta về chính mình Ngài. Chỉ bấy nhiêu thôi. Và bấy nhiêu là đủ rồi” — Charles R. Swindoll (1934- ) (Edythe Draper, Draper’s Book of Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #10758).
MINH HỌA: Tờ Guideposts (9/95) cho in một câu chuyện nói tới Jim Stovall, anh hoàn toàn bị mù ở tuổi 29. Trong khi anh còn nhìn thấy một phần, anh đã tình nguyện đến trường dạy người mù. Anh được phân công giúp cho một cậu bé 4 tuổi, bị mù và khuyết tật khó khăn lắm. Stovall để thì giờ ra tìm cách thuyết phục cậu bé để cậu ta có thể cột dây giày hay leo lên cầu thang bất chấp mọi hạn chế của mình.
Cậu bé khăng khăng: “Không, em không thể!” Stovall đáp: “Đúng, em có thể mà”. “Không, em không thể!” Cuộc đấu khẩu cứ tiếp tục như thế.
Đồng thời, Stovall đã đánh trận với những hạn chế của chính mình. Vì cớ thị lực càng suy giảm, anh quyết định phải từ bỏ các khóa học ở trường. Trên đường rút lui ra khỏi trường, anh quyết định từ bỏ luôn chỗ tình nguyện của mình nữa.
Anh giải thích: “Việc ấy quá khó. Tôi không thể làm được”.
Một giọng nói nhỏ nhẹ bên cạnh anh: “Đúng, anh làm được mà!” Đó là đứa trẻ 4 tuổi, là kẻ đã từ chối không chịu cột dây giày mình.
“Không, tôi không thể!” Stovall đã nói với sự tin quyết.
“Phải, anh có thể!” Stovall nhận ra nếu anh không tiếp tục, đứa trẻ cũng sẽ nhượng bộ thôi. Vì vậy, Stovall đã ở lại trường và đã tốt nghiệp ba năm rưỡi sau đó. Chính tuần lễ anh tốt nghiệp, cậu bạn nhỏ bé của anh đã cột dây giày mình rồi leo một trận lên thang lầu.
Những người thành Philíp nói cho chúng ta biết chúng ta “có thể làm mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” — David Chotka in Fresh Illustrations for Preaching & Teaching (Baker), from the editors of Leadership.
- TÌM KIẾM MẶT NGÀI LUÔN ĐỂ CÓ MỐI TƯƠNG GIAO (câu 11c). Nếu chúng ta muốn sống phước hạnh và bằng lòng luôn luôn dâng lên lời ngợi khen, chúng ta phải liên tục đồng đi với Ngài! I Giăng 1:7 cho chúng ta biết: “nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta“. Quí bạn ơi, “tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn” có nghĩa là tận hưởng mối tương giao với Ngài một cách liên tục. Sự ấy có nghĩa là phải tự hạ mình xuống trước mặt Ngài, lắng nghe tiếng phán của Ngài, và ấp ủ Lời của Ngài.
(2) ĐIỀU CHÚNG TA NÊN CA HÁT
I Sử ký 16:9: “Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài!…”
*Chúng ta nên dâng lên:
- NHỮNG LỜI NGỢI KHEN VÌ CHÚNG TA ĐƯỢC CHUỘC. Hãy nhìn vào mọi điều câu 23 nói: “khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va; Ngày ngày hãy tỏ ra sự chửng cứu của Ngài!“ Nếu “mọi người khắp thế gian” sẽ hát ngợi khen Chúa (câu 23), thì những người đã được Con Ngài chuộc phải ca hát ngợi khen Ngài càng hơn, có phải không? Hãy suy nghĩ trong một phút về mọi điều mà ơn cứu rỗi đã làm xem. Quí bạn ơi, mỗi một chúng ta hôm nay đều đã được cứu, được chuộc vì cớ ân điển và ơn thương xót của Đức Chúa Trời! (Êphêsô 2:4-10). David đã nói Thi thiên 40:2-3: “Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, và làm cho bước tôi vững bền. Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va“.
- NGỢI KHEN VÌ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TA. Chúng ta đọc ở câu 9: “Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài!…” Thi thiên là gì chứ? Thi thiên là một bài hát thiêng liêng hay là bài thánh ca. “Hãy ca hát cho Ngài” nghĩa là “tưởng nhớ trong bài ca và âm nhạc, dâng lên lời ngợi khen, và hát lên những lời chúc tụng”. Nó ám chỉ rằng chúng ta đang thờ lạy Ngài với bài ca vì cớ ân điển và sự vinh hiển của Ngài. Matthew Henry nói: “Khi Đức Chúa Trời trong sự tể trị của Ngài, Ngài đang luyện tập chúng ta với một hỗn hợp thương xót và xét đoán, cho nên bổn phận của chúng ta là ca hát…cho dù hoàn cảnh bên ngoài của chúng ta có như thế nào đi nữa, dù vui hay buồn, chúng ta vẫn phải dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, và ca hát ngợi khen Ngài; dù là vui cười trong sự thịnh vượng hay đang đổ nước mắt vì buồn rầu, mọi sự ấy không khiến cho chúng ta phải thôi không thốt ra những giai điệu của những bài ca thánh”. (Matthew Henry. The Quotable Matthew Henry. pp. 291-292). Chúng ta có nhiều Thi thiên đã ca hát cho Ngài: thi thiên nói tới ơn giải cứu, thi thiên nói tới ơn tha thứ, thi thiên nói tới sự bình an, thi thiên khác nói tới hy vọng, thi thiên khác nữa nói tới sự vui mừng, và ngọt ngào nhất trong mọi thi thiên, ấy là thi thiên nói tới sự hiện diện của Ngài!
Thi thiên 149:1 chép: “Ha-lê-lu-gia! Hãy hát xướng cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới! Hãy hát ngợi khen Ngài trong hội các thánh Ngài“. Tôi muốn bạn lưu ý loại bài hát mà tác giả Thi thiên đã nói chúng ta nên hát cho Đức Giêhôva — “một bài ca mới”. Những gì David nói, ấy là Đức Chúa Trời đã đặt trong miệng ông khi Ngài đem ông ra khỏi hầm gớm ghê, ra khỏi vũng bùn lấm bẩn thỉu? MỘT BÀI CA MỚI! Quí bạn ơi, vì cớ MỐI QUAN HỆ MỚI với Đức Chúa Trời của người tin Chúa, chúng ta được ban cho một BÀI CA MỚI! Tác giả thánh ca Edwin O. Excell đã viết:
Lòng tôi ưa thích trổi khúc hoan ca,
Từ lúc thoát ly đường tối,
Ngợi Vua yêu tôi huyết báu lưu ta,
Bởi ơn Jêsus chuộc tôi.
Điệp khúc:
Từ lúc chính tôi được cứu,
Từ khi Jêsus buông tha,
Lòng ưa tôn cao danh Jêsus;
Từ lúc chính tôi được cứu,
Trọn đời quyết sẽ giảng ra danh Jêsus.
(Edwin O. Excell. “Từ Lúc Chính Tôi Được Cứu”. Thánh Ca 214).
Và bài hát được thốt ra từ tấm lòng sẽ được vui nhận bởi Đức Chúa Trời vì Ngài lấy làm vui trong sự ca hát của chúng ta!
(3) ĐIỀU CHÚNG TA NÊN DÂNG LÊN
I Sử ký 16:8a: “Đáng ngợi khen Đức Giêhôva”.
*Có ba điều được nhắc tới:
- DÂNG SỰ CẢM TẠ CHO NGÀI (câu 8). Cách tốt nhứt để dâng lời cảm tạ cho Đức Giêhôva là sống một đời sống tin cậy biết ơn Ngài mỗi ngày! (Châm ngôn 3:5-6).
Hãy luôn ghi nhớ rằng mỗi ngày Ngài đang vận hành trong đời sống của tôi để hoàn thành ý chỉ trọn vẹn của Ngài. Hãy luôn nhìn nhận rằng bất luận điều chi Ngài cho phép tôi đối diện với trong cuộc đời sẽ là sự tốt lành hoàn toàn của tôi cho đến cuối cùng. Quí bạn ơi, sự thực của vấn đề là: “Chúng ta càng nương cậy vào Đức Chúa Trời, chúng ta càng thấy Ngài là đáng tin” – Cliff Richards (1940) (Edythe Draper, Draper’s Book of Quotations for the
Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #11481).
- HÃY TÔN NGÀI VINH HIỂN VÀ QUYỀN NĂNG (câu 28). Muốn làm việc nầy, chúng ta phải hành động giống như những người nào tin theo sự vinh hiển của Ngài và nương cậy vào năng lực Ngài! Êphêsô 1:12 cho chúng ta biết rằng trong vai trò người tin Chúa “chúng ta ngợi khen sự vinh hiển của Ngài, là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất”. Câu nầy có ý nói rằng đời sống của chúng ta sẽ đem lại vinh hiển cho danh của Ngài. Chúng ta sẽ trở thành phương tiện chỉ ra nét oai nghi hay sự xuất sắc thiêng liêng của Ngài đáng được ngợi khen. (Chú giải sách Êphêsô. Electronic Edition STEP Files Copyright © 2003, QuickVerse, a division of Findex.com, Inc). Muốn làm vinh hiển cho Ngài, chúng ta phải:
ĂN Ở XỨNG ĐÁNG. I Têsalônica 2:12 khích lệ chúng ta: “ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến nước Ngài và sự vinh hiển Ngài“. Sống “xứng đáng với Đức Chúa Trời” nghĩa là sống bền đỗ với mọi điều răn và bổn tánh của Ngài. (Life Application Bible Commentary: 1 & 2 Thessalonians. Copyright © 1999 by The Livingstone Corporation. All rights reserved. Tyndale House Publishers, Inc. Wheaton, Illinois. Life Application is a registered trademark of Tyndale House Publishers, Inc. Electronic Edition STEP Files Copyright © 2002, Parsons Church Group, a division of FindEx.com, Inc).
NÓI NĂNG XỨNG ĐÁNG (I Phierơ 3:15). Điều nầy bao gồm:
+ Trung tín làm chứng (Thi thiên 107:2).
+ Lời lành (Êphêsô 4:29).
- DÂNG VINH HIỂN XỨNG ĐÁNG DANH NGÀI (câu 29). Chúng ta không thể dâng “vinh hiển xứng đáng danh Ngài” bằng cách chỉ nói suông thôi, mà bằng cách để cho sự vinh hiển ấy đầy dẫy chúng ta đến nỗi danh của Ngài sẽ được vinh hiển nơi chúng ta! Muốn như thế thì chúng ta phải:
+ TỎ RA ÂN ĐIỂN NGÀI. Hằng ngày đời sống của chúng ta phải tỏ ra cho thế giới nầy biết mọi sự mà ân điển của Đức Chúa Trời đã làm ra! Côlôse 1:10 khuyên nhũ chúng ta phải: “ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời“.
+ PHẢN ẢNH SỰ VINH HIỂN CỦA NGÀI. Chúng ta phải để cho sự sáng của mình chiếu sáng vào thế giới tăm tối nầy! Thực vậy, khi chúng ta để cho sự sáng của chúng ta chiếu ra rực rỡ vào thế giới ấy, nó đem lại sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời và ngợi khen danh Ngài (Mathiơ 5:16).
BÀI CA CẢM TẠ nầy dạy chúng ta: ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI TÌM KIẾM, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN CA HÁT, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN DÂNG LÊN và.
(4) ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI NHỚ
I Sử ký 16:13: “Hãy nhớ lại công việc mầu của Ngài đã làm, những phép lạ Ngài, và lời xét đoán của miệng Ngài“.
- NHỚ LẠI CÔNG VIỆC NGÀI (câu 12). Dân Israel, họ không bao giờ quên cái hố mà Đức Chúa Trời đã đem họ ra khỏi đó, cũng như tư thế mà họ đã được đem ra! Chúng ta đừng bao giờ quên những gì ân điển Ngài đã làm cho chúng ta!
Ân điển cứu chúng ta, nâng đỡ chúng ta, và một ngày kia sẽ đưa chúng ta vào trong sự hiện diện của Ngài! Chúng ta chỉ có thể cùng nói với Phaolô: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sự ban cho của Ngài không xiết kể!“ (II Côrinhtô 9:15).
MINH HỌA: John Newton, ông đã viết bài thánh ca “Amazing Grace”, không bao giờ xem nhẹ sự kiện ông trở lại đạo. Ông nói: “Người ta nhìn trừng trừng vào tôi. Quả thực, tôi là một sự lạ lùng cho nhiều người, và một sự lạ lùng cho chính bản thân tôi. Đặc biệt, tôi lấy làm lạ khi thấy mình chẳng còn phiêu bạt nữa”. Giống như Newton, chúng ta đừng bao giờ xem ơn cứu rỗi của chúng ta là chuyện đương nhiên. — Robert C. Shannon, 1000 Windows, (Cincinnati, Ohio: Standard Publishing Company, 1997).
Quí bạn ơi, chúng ta đừng bao giờ quên những gì ân điển đã làm cũng như đừng quên chỗ mà chúng ta sẽ bị tẻ tách ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời!
- NHỚ NHỮNG LỜI XÉT ĐOÁN CỦA MIỆNG NGÀI (câu 12b). Hãy ghi nhớ lời của Ngài. Công việc và lời của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của chúng ta được ràng rịt chặt chẽ với nhau! Chúa Jêsus phán ở Giăng 6:63: “Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống“. Ấy là nhờ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI mà ngày nay chúng ta có đức tin nơi Đức Chúa Trời (Rôma 10:17). Chính nhờ vào Ngôi Lời mà chúng ta đang tẩy rửa tội lỗi và có sức lực mà hầu việc Chúa (Thi thiên 119:9, 11). Ấy là nhờ Ngôi Lời mà chúng ta có phương hướng và sự dẫn dắt (Thi thiên 119:105). Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời vì Lời của Ngài hôm nay! Có người đã nói: “Người nào sử dụng Kinh thanh làm kim chỉ nam của mình, người ấy không hề bị mất phương hướng” (Edythe Draper, Draper’s Book of
Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #688). - NHỚ LẠI SỰ THÀNH TÍN CỦA NGÀI (câu 15). Chúa phán về chính mình Ngài ở Malachi 3:6: “Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi“. Ngài là Đấng hôm qua, ngày nay và đời đời không hề thay đổi. Chúng ta cần phải nhớ những gì Ngài đã hứa, vì Ngài sẽ giữ mọi lời hứa của Ngài! Chúng ta phải nhớ:
MỌI ĐIỀU ƠN CỨU RỖI CỦA NGÀI CHU CẦP:
+ Sự sống đời đời (Giăng 3:16).
+ Tình yêu đời đời (Giêrêmi 31:3).
+ Mối tương giao đời đời (Giăng 14: 1-3).
SỨC LỰC CỦA CHÚNG TA ĐỀN TỪ ĐÂU!:
+ Đây là ƠN MÀ CHÚNG TA KHÔNG ĐÁNG ĐƯỢC (Thi thiên 29:11).
+ Đây là QUYỀN PHÉP KHÔNG THỂ CHỐI CÃI ĐƯỢC (Êphêsô 6:10).
TẠI SAO CHÚNG TA PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI:
+ Vì Ngài đã yêu chúng ta TRƯỚC (I Giăng 4:19).
+ Vì chúng ta NHIỆT THÀNH yêu mến Ngài (Giăng 14:15, 21, 23).
BÀI CA CẢM TẠ nầy dạy chúng ta: ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI TÌM KIẾM, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN CA HÁT, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN DÂNG LÊN, ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI NHỚ, và sau cùng:
(5) ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI NÓI
I Sử ký 16:8-10, 24: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va cầu khẩn danh Ngài, và đồn công việc Ngài ra giữa các dân tộc! Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công việc mầu của Ngài. Hãy lấy danh thánh Ngài làm vinh; Phàm ai tìm cầu Đức Giê-hô-va, khá vui lòng!… Trong các nước hãy thuật sự vinh hiển của Ngài; Tại muôn dân khá kể những công việc mầu của Ngài“
*Thật lấy làm tốt phải ghi nhớ mọi công việc của Đức Chúa Trời làm cho chúng ta và Lời Ngài phán cùng chúng ta, song với môi miệng chúng ta PHẢI NGỢI KHEN ĐỨC CHÚA TRỜI! (Thi thiên 34:1-3). Chúng ta cần phải nói tới:
- MỌI CÔNG VIỆC VINH HIỂN CỦA NGÀI (các câu 8-10). Chúng ta đọc ở Êphêsô 5:19-20, chúng ta cần phải khích lệ nhau trong cách ăn ở với Đức Chúa Trời bằng cách “lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa. Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta“. Những lần trò chuyện của dân sự Đức Chúa Trời có những lúc làm buồn lòng Đức Chúa Trời! Lời cầu nguyện của tác giả Thi thiên đáng phải là lời cầu nguyện hàng ngày của chúng ta: “Hỡi Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, và là Đấng cứu chuộc tôi, nguyện lời nói của miệng tôi, Sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!“ (Thi thiên 19:14). Philíp 1:27a cho chúng ta biết: “Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ“.
Khi lời lẽ cùng các việc làm của Chúa là kỳ diệu trong mắt chúng ta, chúng ta sẽ có khuynh hướng nói về chúng! Phierơ và Giăng đã nói ở Công Vụ các Sứ Đồ 4:20: “Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe“.
MINH HỌA: Sẽ ra sao nếu, khi bị đe dọa bởi Tòa công luận, các môn đồ đột ngột thay đổi câu chuyện của họ rồi giảm bớt phần làm chứng của họ? Làm sao Tin Lành còn đáng tin cậy nữa sau đó? Sự thực cho thấy họ đã trụ mạnh mẽ ngay bề mặt của sự bắt bớ nghiêm trọng, điều nầy càng làm cho sứ điệp của họ ra đáng tin nhiều hơn. Tương tự, khi chúng ta đưa ra quyết định phải lẽ mỗi ngày làm theo điều chi là đúng đắn, khi chúng ta dạn dĩ đứng cho Đấng Christ nghịch lại một đám đông thù nghịch, người ta bèn chú ý ngay. Họ nhìn kỷ hơn nữa vào đời sống của chúng ta rồi cẩn thận lắng nghe sứ điệp của chúng ta. (Life Application Bible Commentary: Acts. Copyright © 1999 by The Livingstone Corporation. All rights reserved. Tyndale House Publishers, Inc. Wheaton, Illinois. Life Application is a registered trademark of Tyndale House Publishers, Inc. Electronic Edition STEP Files Copyright © 2002, Parsons Church Group, a division of FindEx.com, Inc).
- ƠN CỨU RỖI VINH HIỂN CỦA NGÀI (câu 24). Hội thánh đã được ban cho một sứ mệnh ở Mathiơ 28:19-20 bởi Đầu của Hội thánh là Đức Chúa Jêsus Christ: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Amen! Sứ mệnh nầy được ban cho từng tín hữu! Chính trách nhiệm của người tin Chúa phải chia sẻ Đấng Christ với kẻ bị hư mất khi họ đã được lại sanh.
Chúng ta, là hạng người được chuộc bởi huyết của Ngài, phải nổ lực rao truyền rộng khắp ơn cứu rỗi diệu kỳ của Ngài! “Hội thánh có nhiều công việc lắm, nhưng chỉ có một sứ mệnh mà thôi” — Arthur Preston (Edythe Draper, Draper’s Book of Quotations for the Christian World (Wheaton: Tyndale House Publishers, Inc., 1992). Entry #3328).
Phần kết luận:
BÀI CA CẢM TẠ nầy dạy chúng ta: ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI TÌM KIẾM, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN CA HÁT, ĐIỀU CHÚNG TA NÊN DÂNG LÊN, ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI NHỚ và ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI NÓI
Quí bạn ơi, thắc mắc cho hôm nay là: “Có phải bạn biết ơn hay vô ơn hôm nay?” Đức Chúa Trời ban cho mỗi một người chúng ta 86.400 giây đồng hồ mỗi ngày, chúng ta có sử dụng từng giây để nói: “Cảm Tạ Ngài” không?
Bánh Sống Mỗi Ngày
– Mathiơ 6:11
“Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” Mathiơ 6:11
Trước khi chúng ta bắt đầu: Hãy đưa ra ba việc mà bạn cầu nguyện thường xuyên nhất. Tại sao Đức Chúa Trời muốn chúng ta cầu xin Ngài tiếp trợ cho bánh ăn “đủ ngày”?
Với kiến nghị nầy, chúng ta xây góc linh trình của chúng ta sang Bài Cầu Nguyện Của Chúa. Ba lời cầu xin đầu tiên hướng sự chú ý của chúng ta vào Đức Chúa Cha. Chúng ta được truyền cho phải . . .
Cầu nguyện với Đức Chúa Cha về Danh của Ngài – Danh Cha được thánh.
Cầu nguyện với Đức Chúa Cha về Vương quốc của Ngài – Nước Cha được đến.
Cầu nguyện với Đức Chúa Cha về Ý Chỉ của Ngài – Ý Cha được nên.
Phần thứ hai của Bài Cầu Nguyện Của Chúa dạy chúng ta phải cầu xin cho bản thân mình và cho tha nhân. Chúng ta cần phải . . .
Cầu nguyện xin sự tiếp trợ – Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày.
Cầu nguyện xin được tha thứ – Xin tha nợ cho chúng tôi.
Cầu nguyện xin sự bảo hộ – Chớ dẫn chúng tôi vào sự cám dỗ.
Một cái nhìn tóm tắt vào Bài Cầu Nguyện Của Chúa cho thấy rằng có một từ đánh dấu phân nửa đầu tiên của lời cầu nguyện và một từ khác đánh dấu phân nửa thứ hai của lời cầu nguyện. Từ ngữ cho phân nửa đầu tiên là “Cha” – Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha. Từ ngữ cho phần nửa thứ nhì của lời cầu nguyện là “chúng tôi” – Xin ban cho chúng tôi, tha tội chúng tôi, dẫn dắt chúng tôi. Bằng cách sắp đặt mọi việc theo cách nầy, Chúa Jêsus đang dạy cho chúng ta thấy rằng chúng ta cần phải bắt đầu với những sự Đức Chúa Trời quan tâm. Chúng ta cần phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời về những việc mà Ngài quan tâm đến nhiều nhất. Khi chúng ta đã thấy rõ như thế, chúng ta cần phải cầu nguyện xin những điều mà chúng ta quan tâm – Bánh ăn hàng ngày, sự tha thứ, và sự bảo hộ của chúng ta trong giờ cám dỗ. Chúng ta khởi sự ở trên trời và rồi trở xuống đến tận đất, đây là khuôn mẫu của mọi khải thị thiêng liêng.
Chúng ta khởi sự ở trên trời và rồi trở xuống tận đất, đây là khuôn mẫu của mọi khải thị thiêng liêng.
Đức Chúa Trời và các nan đề của bạn
Trong nửa phần thứ nhì của lời cầu nguyện nầy, Đức Chúa Trời được đưa thẳng vào chính các chi tiết nhỏ nhất đời sống hàng ngày của chúng ta. Nếu phân nửa thứ nhứt của lời cầu nguyện dường như quá riêng tư, nếu phân nửa thứ nhứt dường như quá lý thuyết, nếu dường như nó quá thần học – không phải như thế đâu – nhưng nếu vì một lý do nào đó nó là như thế, nhất định bạn sẽ hiểu rõ và kéo đến gần phân nửa thứ nhì bài cầu nguyện của Chúa vì nó rất quan trọng đối với bạn và các nan đề bạn đang đối diện với trong đời sống hàng ngày của bạn.
Chúng ta hãy nhìn vào phân nửa thứ nhì của lời cầu nguyện rồi phân tích chỗ đó một chút. Nó chứa ba lời cầu xin – “đồ ăn đủ ngày”, “tha nợ chúng tôi”, và “chớ dẫn chúng tôi vào sự cám dỗ”. Phân nửa lời cầu xin đó bao phủ sự tiếp trợ, sự tha thứ và sự bảo hộ. Nếu bạn suy nghĩ về ba việc nầy, chúng nhắm vào mọi nhu cần trong cuộc sống:
Phần tiếp trợ nhắm vào hiện tại của bạn.
Tha thứ nhắm vào quá khứ của bạn.
Sự bảo hộ nhắm vào tương lai của bạn.
Không những thế, nó còn nhắm vào từng chi tiết của bạn theo cách riêng. Sự tiếp trợ nhắm vào thân thể của bạn. Tha thứ nhắm vào linh hồn bạn. Sự bảo hộ nhắm vào tâm linh của bạn. Mọi sự có thể được đưa hợp pháp vào sự cầu nguyện trong Bài Cầu Nguyện Của Chúa. Đấy là lý do tại sao bỏ qua Bài Cầu Nguyện Của Chúa là một sự sai lầm tai hại hay nghĩ rằng bài cầu nguyện đó chỉ là một nghi thức của sáng Chúa nhật. Bài cầu nguyện ấy còn hơn cả khuôn mẫu dành cho sự cầu nguyện. Nếu bạn hiểu bài cầu nguyện ấy theo bề rộng của nó, mọi sự mà bạn có thể cầu xin một cách hợp pháp đều được chứa: một là trong phần nửa thứ nhứt hay phân nửa thứ hai của lời cầu nguyện long trọng nầy.
Bánh Nóng Đến Từ Trời
Giờ đây, chúng ta sẵn sàng để nhìn vào nửa phần thứ hai của bài cầu nguyện. Phần nầy bắt đầu với lời cầu xin sự tiếp trợ: “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Có hai từ chúng ta cần phải suy nghĩ đến trước khi chúng ta xem xét ý nghĩa sâu sắc hơn của lời cầu xin nầy. Thứ nhứt, đây là lời cầu nguyện xin cho có bánh [cơm] ăn, chớ không phải xin bánh ngọt. “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn [cơm] đủ ngày”. Từ Hylạp nói tới “bánh” đề cập đến thứ thức ăn phổ thông, thường nhật. Nó không có ý nói tới thứ thức ăn nhất thời. Nó muốn nói tới thứ thức ăn bình thường, hàng ngày. Chúa Jêsus đang nói cho chúng ta biết rằng khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta cần phải cầu xin cho có bánh ăn [cơm] bình thường, mỗi ngày.
Chúa Jêsus đang nói cho chúng ta biết rằng khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta cần phải cầu xin cho có bánh ăn [cơm] bình thường, mỗi ngày.
Ở trọng tâm của nó, đây là lời cầu nguyện xin cho có thức ăn. Đây là lời cầu nguyện cần phải được thốt ra trước khi bạn ngồi xuống và ăn. Khi nào là lần sau cùng bạn thực sự cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Chúa, làm ơn ban cho con một bữa ăn?” Hầu hết chúng ta đều cần phải cầu xin ngược lại: “Ôi lạy Chúa, xin ngăn con đừng ăn bữa ăn khác, con đã ăn quá nhiều rồi”. Lời cầu xin nầy nghe như đấy là lời cầu nguyện cần phải được thốt ra bởi ai đó đang sống ở Haiti hay Bangladesh. Việc nầy đáng buồn đấy, song lại là sự thực. Chúng ta có rất nhiều đồ ăn mà chúng ta nhận lãnh khi lời cầu xin nầy được nhậm, tuy nhiên chính lời cầu xin nầy, từ đó đã hình thành một lời cầu nguyện quen thuộc của trẻ thơ – “Đức Chúa Trời là cao cả. Đức Chúa Trời là thiện. Nguyện chúng ta hãy cảm tạ Ngài vì đồ ăn của chúng ta. Hết thảy chúng ta đều được trưởng dưỡng bởi hai bàn tay của Ngài. Lạy Chúa, xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”.
Nhưng bánh trong Kinh thánh còn hơn thứ bánh theo nghĩa đen nữa; nó cũng là biểu tượng nói tới mọi thứ nhu cần vật chất trong cuộc sống. Bánh trong Bài Cầu Nguyện Của Chúa không những chỉ ra loại bánh mà bạn cắt ra rồi ăn đâu. Mà nó còn chỉ ra mọi nhu cần thuộc thể và vật chất trong cuộc sống của bạn nữa.
Martin Luther nói về “bánh đủ ngày”
Năm 1529, Martin Luther đã viết quyển “Giáo Lý Nhỏ” nổi tiếng của ông, trong đó ông giải thích ý nghĩa của từng phần trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, 10 Điều Răn, và Bài Cầu Nguyện Của Chúa. Đây là những gì ông nói về việc “xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”:
Câu nầy muốn nói tới điều gì? Quả thực, Đức Chúa Trời ban cho bánh ăn hàng ngày cho hạng người gian ác, thậm chí họ chẳng có lời cầu xin như chúng ta có nữa. Nhưng chúng ta dâng lên lời cầu xin nầy, thì Ngài sẽ giúp chúng ta nhận ra điều nầy và nhận lãnh bánh ăn hàng ngày của mình với sự cảm tạ.
“Bánh ăn đủ ngày” có ý nói tới việc gì đây? Mọi thứ trưởng dưỡng thân thể chúng ta và làm thỏa mọi nhu cần của nó, tỉ như: đồ ăn, thức uống, quần áo, giày dép, nhà cửa, sân chơi, đồng ruộng, trâu bò, tiền bạc, của cải, một người phối ngẫu tin kính, con cái tin kính, người giúp việc tin kính, bậc cầm quyền tin kính và trung tín, nhà cầm quyền thật giỏi, thời tiết tốt, bình an, khỏe mạnh, kỷ luật, cao trọng, bạn bè tốt, láng giềng vui vẻ và nhiều việc khác giống như vậy.
Cụm từ “và giống như vậy” có ý nói tới bất cứ điều chi Ngài đưa vào bảng danh sách đó. Nó có ý nói mọi thứ thuộc thể hay vật chất được chứa trong từ ngữ “bánh”. Không những bạn đang cầu xin để có bánh thuộc thể; bạn còn đang cầu xin về mọi thứ nhu cần thuộc thể và vật chất trong cuộc sống.
Nếu bạn chưa ăn trong ba ngày, có một thứ bạn mong muốn hơn bất cứ thứ chi khác, ấy là đồ ăn đủ ngày.
Trong lịch sử phiên dịch, một số người đã bị sốc vì một bài cầu nguyện đáng được tôn cao như Bài Cầu Nguyện Của Chúa lại chứa một lời cầu xin thiệt là trần tục như bánh ăn đủ ngày. Trải qua nhiều thế kỷ, một số nhà giải kinh đã cho rằng bánh ăn hàng ngày tiêu biểu cho cái gì đó thật thuộc linh hay thánh khiết giống như Tiệc Thánh vậy. Họ bị phật lòng vì một thứ rất thế gian như bánh ăn hàng ngày và các nhu cần của cuộc sống lại có mặt trong một bài cầu nguyện long trọng như vầy. Dường như nó không cần thiết và thậm chí chẳng có chút gì thuộc linh ở đó hết. Hãy thử nói câu ấy với một người hay đói khát xem. Nếu bạn chưa ăn trong ba ngày, việc duy nhứt bạn có cần chẳng có gì khác hơn là bánh ăn hàng ngày. Lời cầu xin nầy là lời mời gọi của chúng ta khẫn thiết cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mọi nhu cần và những điều cấp thiết trong cuộc sống.
Bánh hàng ngày cho mọi nhu cần hàng ngày
Cụm từ “đủ ngày” cũng đáng để cho chúng ta chú ý: “Xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Một nhà giải kinh gọi đấy là một từ rắc rối duy nhứt trong toàn bộ bài cầu nguyện của Chúa. Từ ngữ Hylạp rất là khó vì nó chỉ xuất hiện có hai lần trong Tân Ước – trong hai chỗ chứa Bài Cầu Nguyện Của Chúa. Và chẳng có nhiều trường hợp của từ ngữ nầy ở bên ngoài Tân Ước. Vì vậy, giáo phụ Hội thánh đầu tiên là Origen cho rằng có lẽ Mathiơ và Luca đã chuyển từ ngữ hiếm hoi nầy từ nguyên gốc Aram vì chẳng có tiếng Hylạp tương đương. Song cách đây mấy năm, những nhà nghiên cứu tìm thấy từ ngữ nầy trong một mảng văn xuất hiện trong danh mục mua bán của một người phụ nữ. Bà ta viết ra những thứ mà mình sẽ mua khi bà ta vào trong cửa hàng rồi kế đến là những khoản nhất định, bà ta viết ra từ Hylạp được dịch là “đủ ngày”. Trong văn mạch ấy, từ ngữ có ý nói, một là “mua thức ăn đủ ngày”, hoặc “mua thức ăn cho hôm nay thôi”. Từ ngữ đó làm sáng tỏ ý nghĩa của từ ngữ nầy trong Bài Cầu Nguyện Của Chúa. Nó có ý nói: “cho chính ngày nầy” hay “cho ngày sắp tới”. Nếu bạn dâng lên lời cầu nguyện nầy vào buổi sáng, bạn đang nói: “Lạy Chúa, nguyện Ngài ban cho chúng con hôm nay những thứ vật chất mà chúng con có cần cho hôm nay”. Nếu bạn dâng lên lời cầu nguyện nầy vào buổi tối, bạn đang nói: “Lạy Chúa, nguyện Ngài ban cho chúng con ngày mai những thứ mà chúng con có cần cho ngày mai”.
Chúng ta có thể rút ra hai kết luận từ hai luận điểm khơi mào nầy. Thứ nhứt, sự thực Chúa Jêsus nhắc tới bánh dạy cho chúng ta biết rằng các thứ vật chất không nằm ngoài lãnh vực của sự cầu nguyện. Đôi khi hạng người có ý thức đã nghĩ rằng không cứ cách nào đó cầu xin các thứ vật chất là chẳng có thuộc linh gì hết. Nói như thể không đúng đâu. Không những bạn là một linh hồn hay một linh, mà bạn còn là một con người thực sự đang sống trong một thân thể thực sự con người. Nếu thức ăn là thứ bạn có cần, lời cầu nguyện nầy dạy cho bạn phải cầu xin cho có đồ ăn. Nếu tiền bạc là thứ bạn có cần, lời cầu nguyện nầy dạy cho bạn phải cầu xin cho có tiền bạc. Nếu công ăn việc làm là thứ bạn có cần, lời cầu nguyện nầy dạy cho bạn phải cầu xin để có một việc làm. Nếu sức khỏe là thứ bạn có có cần, lời cầu nguyện nầy dạy cho bạn phải cầu xin cho có sức khỏe. Nếu bất kỳ thứ thuộc thể nào là thứ bạn có cần, nếu đó là thứ hợp lẽ, chúng ta có sự bảo đảm ở đây phải đem điều đó đến trước mặt Đức Chúa Trời. Những thứ vật chất không bị loại trừ ra khỏi lãnh vực cầu nguyện.
Thứ hai, Chúa Jêsus đang dạy cho chúng ta biết tầm quan trọng của từng phút một, 100% nương cậy vào Đức Chúa Trời cho những thứ mà chúng ta có cần. Ngài đang dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta cần phải học biết nương cậy vào Đức Chúa Trời trên cơ sở từng ngày một. Như Mục sư Matthew Henry nói, điều nầy thực sự có ý nói rằng các môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ đều cần phải “sống lần hồi, kiếm ngày nào ăn ngày đó”.
Bốn bước đến với việc sống với bánh ăn đủ ngày
Với cái nền đó, đây là lý thuyết của tôi cho sứ điệp nầy. Lời cầu xin quan trọng nầy “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” còn hơn là một lời cầu xin nữa. Hiểu một cách thích ứng, nó đang mô tả một cách nhìn toàn bộ vào cuộc sống. Lời cầu xin nầy đề nghị một việc quan trọng về cung cách sống thực sự Cơ đốc. Bạn có thể gọi đấy là Cuộc Sống Với Bánh Đủ Ngày. Cần phải nói như thế, nếu bạn dâng lời cầu nguyện sáng nay với sự hiểu biết nầy, điều đó sẽ dẫn tới một thái độ nhất định, một phương thức sống nhất định. Nếu lời cầu nguyện nầy từng trở thành thực tại, trước tiên nó phải tác động cung cách mà bạn đang sống. Vì lẽ đó, tôi muốn đề nghị bốn bước cho Cuộc Sống Với Bánh Đủ Ngày. Mỗi bước đến từ chính lời lẽ trong câu gốc. Bốn bước nầy cho cuộc sống với bánh đủ ngày thực sự là bốn đức tính cần phải có trong đời sống của bạn nếu lời cầu nguyện nầy từng trở thành một thực tại.
- Bước thứ nhứt cho cuộc sống với bánh đủ ngày là thái độ biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì mọi phước hạnh của Ngài.
Bước thứ nhứt đến từ chữ thứ nhứt. “Xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Lời cầu xin nầy dạy cho chúng ta biết rằng mọi sự chúng ta có đều đến từ Đức Chúa Trời. Mọi sự. Quần áo, đồ ăn, tình bạn, học vấn, lý trí chúng ta sử dụng, lời lẽ chúng ta nói, mọi sự đều đến từ Đức Chúa Trời. Chúng ta bị đặt vào vị thế của những người đang cầu nguyện: “Lạy Cha thiên thượng, xin ban cho chúng con những gì chúng con có cần”. Chắc chắn đây phải là sự dạy trọng tâm – thái độ biết ơn đối với Đức Chúa Trời cần phải đánh dấu đời sống của chúng ta và chúng ta cần phải biết ơn đối với Đức Chúa Trời về mọi sự mà Ngài đã làm.
Cuộc sống quá ngắn ngủi
không cần phải có một ngày xấu.
Hãy xem xét lời lẽ của Môise trong Phục truyền luật lệ ký 8:10: “Vậy, ngươi sẽ ăn no nê, và ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì cớ xứ tốt tươi mà Ngài đã ban cho“. Trong I Sử ký 29:14, David nói: “Nhưng tôi là ai, và dân sự tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa”. Ở Thi thiên 145:16, một lần nữa David tuyên bố: “Chúa sè tay ra, làm cho thỏa nguyện mọi loài sống“. Bạn có từng dừng lại để suy nghĩ về sự rực rỡ của công cuộc sáng tạo chưa? Đức Chúa Trời đã ấn định rằng chúng ta chẳng ăn thứ gì khác hơn là bùn. Bùn cho bữa điểm tâm, bùn cho bữa trưa, bùn cho bữa ăn tối. Ngài có thể làm cho mọi sự biến thành màu xám. Song Ngài chẳng làm như thế. Ngài đã dựng nên cả thế giới cho chúng ta và Ngài tô vẽ nó bằng đủ thứ màu sắc. Ngài phán: “Nầy, hãy ăn và uống và nên mạnh mẽ. Mọi sự ta đã dựng nên, ta đặt ở đây cho ngươi”. Cả thế gian đều thuộc về ngươi để thưởng thức. Hãy ra ngoài đồng trống rồi ngước lên nhìn vào những đám mây bồng bềnh kia. Hãy để cho mọng nước nhỏ giọt xuống gò má khi bạn ăn một trái đào ngon xem. Hãy nín thở khi bạn nhảy ùa vào dòng nước lạnh như băng kia. Hãy trông chừng mấy đứa cháu của bạn đang chơi đùa bên chơn của mình. Hãy trèo lên đỉnh Horn ở Colorado. Hãy lắng nghe lúc hoàng hôn xuống với biến tấu “Goldberg”. Hết thảy mọi sự ấy đều là các ân tứ đến từ Đức Chúa Trời Toàn Năng.
Nguyên tắc tạo hiệu ứng của cuộc sống Cơ đốc là thái độ biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì mọi ơn phước của Ngài. Mọi thứ có giá trị bạn đang có đều đến từ cách nầy hay cách khác từ bàn tay của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Mọi sự bạn đang có ngay giờ phút nầy, kể cả chính hơi thở mà bạn đang thở, đều được ban xuống như một sự ban cho từ Cha sáng láng trên cao. Lẽ thật nầy cần phải khiến cho chúng ta càng biết ơn hơn nữa vì chính ân tứ sự sống. Cách đây mấy năm, tôi có dự một cuộc phỏng vấn chừng mấy phút với Hamilton Jordan, Trưởng Ban Nhân Sự dưới thời của Tổng thống Jimmy Carter. Jordan đã viết một quyển sách với đề tựa rất hay: Không Có Một Việc Gì Là Một Ngày Xấu Cả. Đấy là chính câu chuyện của ông về việc bị chẫn đoán với chứng ung thư trong ba trường hợp phân biệt ở độ tuổi 50. “Đề tựa ấy đến từ đâu?” phỏng vấn viên hỏi. Hamilton Jordan nói, ông đã gọi điện cho một người bạn với chứng ung thư, ông ấy cũng là một người cha với mấy đứa con còn nhỏ. Sau khi họ trao đổi trong một lúc, Ông Jordan đã hỏi lại: “Có phải anh có một ngày tồi tệ?” Người kia đáp: “Khi các y bác sĩ cho ông hay rằng ông chỉ còn có ba tháng nữa để sống, chẳng có một việc gì là một ngày xấu cả”.
Đúng là một thế giới chơn thật đang nằm trong lời lẽ đơn sơ đó. Nếu bạn biết mình còn sống trong mấy tuần nữa, mỗi ngày trở nên quí báu và bạn không có thì giờ để có một “ngày xấu”. Bạn thức dậy mỗi sáng, ngửi mấy đóa hoa hồng, và uống thứ thần dược gọi là sự sống. Thậm chí những khoảnh khắc buồn rầu cần phải được thưởng thức và ghi nhớ vì những khoảnh khắc ấy rất chóng qua. Tôi suy nghĩ về quan điểm của ông Jordan, ấy là trong phương thức lạ lùng nào đó, những gì đã xảy đến với người cha trẻ kia là một sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời. Không phải phần chết chóc vì phải nát lòng khi suy nghĩ đến nó. Nhưng phần khác kia, phần nhìn biết rằng một khi bạn sẽ chẳng còn ở đây lâu nữa, bạn sẽ chẳng có thì giờ để trụ lại trên chỗ tiêu cực. Bạn nhìn thấy cát trượt xuống từ chiếc đồng hồ cát và bạn chọn và lựa một lần nữa để biến từng khoảnh khắc ra đáng kể.
Chúng ta cần phải cầu nguyện và xin Đức Chúa Trời về mọi thứ chúng ta có cần, không phải cho từng mong muốn hoang dại thoạt đến với lý trí của chúng ta.
Điều nầy quả là khác biệt dường bao so với cách thức mà hầu hết chúng ta đang sinh sống. Chúng ta có khả năng gặp những “ngày xấu” vì chúng ta đang hoạch định sinh sống một thời gian lâu dài. Một “ngày xấu” là một ngày huy hoàng chúng ta tạo cho bản thân mình vì chúng ta hình dung ra với nhiều năm sống, chúng ta có thể bĩu môi hay phải đau khổ hoặc có một bữa tiệc đáng tiếc hay cảm thấy buồn đau cho bản thân mình hôm nay. Người chết chẳng có một sự huy hoàng nào như thế. Chỉ có người sống mới dám bước vào trong góc nhà mà hờn dỗi. Cách đây nhiều năm, tôi có nghe ai đó nói rằng hạnh phúc là một sự lựa chọn. Mọi tính tốt và mọi tật xấu đều là những sự lựa chọn mà chúng ta đưa ra. Hạnh phúc là một sự lựa chọn. Như vậy, thì cứ giận dữ. Rồi biết ơn. Tử tế. Uể oải. Kiên nhẫn. Rồi nghi ngờ. Và đức tin. Chúng ta cứ sống theo cách chúng ta sống vì chúng ta chọn sống theo cách ấy. Và chúng ta cứ trụ lại trên đường vì chúng ta chọn không thay đổi.
“Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi”, tác giả Thi thiên nói: “hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi thiên 90:12). Thực làm sao! Cuộc sống quá ngắn ngủi không nên có một ngày xấu xa.
Nó chỉ nhảy tới ăn mà thôi
Trong một bài giảng của ông, Mục sư Harry Ironside thuật là một trường hợp, khi còn là thanh niên, ông bước vào quán kia để dùng bữa. Mấy cái bàn đều đông người ngồi và ông tìm được chỉ có một chỗ để ngồi xuống đối ngang với người kia. Vì vậy ông ngồi xuống rồi như theo thói quen, Mục sư Ironside cúi đầu xuống rồi dâng lời cảm tạ. Người kia nhìn trừng trừng đang khi ông làm vậy và khi Mục sư Ironside làm xong, người nầy mới nhìn vào ông rồi hỏi: “Có chuyện gì với ông vậy? Có gì sai trái với thức ăn chăng?” Ông nhìn xuống thức ăn rồi nói: “Không, trông nó ngon đối với tôi”. Người kia nói: “Có gì đó trong mắt ông vậy? Ông có bị đau đầu không đấy?” Mục sư Ironside đáp: “Không, tôi thấy khỏe mà”. Người kia hỏi: “Vậy thì sao ông làm vậy? Sao ông cúi đầu xuống?” Mục sư Ironside đáp: “À, tôi mới vừa cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ thức ăn mà tôi sắp dùng đây”. Người kia nhìn ông rồi nói: “Ông tin thứ đó à, có phải không? Thật là điên rồ”. Mục sư Ironside nói: “Thưa ông, ông không dâng lời cảm tạ vì thức ăn của mình sao?” Người kia nói: “Tôi không hề dâng lời cảm tạ. Tôi chỉ nhảy vào ăn mà thôi”. Mục sư Ironside nhìn vào ông rồi nói: “Được thôi, ông rất giống với con chó của tôi đấy. Nó cũng không dâng lời cảm tạ. Nó cứ nhảy tới ăn mà thôi”.
Bài học không nói tới việc cầu nguyện trước bữa ăn. Bài học đang nói tới việc thực sự biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì mọi ơn phước của Ngài. Về mặt cơ bản, có hai cách bạn có thể sống đời sống của bạn. Bạn có thể sống đời sống của bạn với với chữ M [MAN] in và chữ g [god] thường hay một chữ G in [GOD] với chữ m [man] thường. Bước thứ nhứt cho cuộc sống với bánh đủ ngày là bước đi với chữ G in và chữ m thường. Đấy là sự biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì mọi ơn phước của Ngài.
- Bước thứ hai cho cuộc sống với bánh đủ ngày là hài lòng với những gì Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho rồi.
Chìa khóa cho bước thứ hai nằm ở từ sau cùng: “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Chúng ta được kêu gọi hãy cầu xin bánh [cơm], chớ không phải bánh ngọt. Chúng ta cần phải cầu nguyện “xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” chớ không phải “món tráng miệng đủ ngày”. Chúa Jêsus khích lệ chúng ta nên cầu xin Đức Chúa Trời vì mọi nhu cần của chúng ta, chớ không phải tính tham ăn của chúng ta. Thực ra, cách gã ăn mày cầu xin với lời cầu nguyện nầy sẽ rất khác biệt với cách một vương tử sẽ cầu xin với lời cầu nguyện nầy. Nhưng nguyên tắc thì như nhau. Chúng ta cần phải cầu nguyện và xin Đức Chúa Trời về những gì chúng ta thực sự có cần, chớ không phải cho từng ao ước hoang dã thoạt đến trong lý trí của chúng ta. Lời cầu nguyện nầy không phải là một lời mời cầu xin cho có sự giàu có lớn lao về vật chất để chúng ta có thể thêm vào dòng cuối của chúng ta. Đây cũng không phải là lời mời gọi nên cầu xin cho có mọi sự trong danh mục lễ Giáng sinh sắp tới đâu. Những thứ ấy bản thân chúng chẳng có gì sai.
Thế nhưng câu gốc chép: “bánh” [cơm], chớ không phải “bánh kem sôcôla”. Chúng ta cần phải tin cậy Đức Chúa Trời về mọi sự chúng ta thực sự có cần.
Khi Chúa Jêsus bắt tay vào nấu nướng
Bạn có bao giờ nghiên cứu cách Chúa Jêsus ăn uống chưa? Những gì bạn tìm thấy thì rất là hay đấy. Trước tiên, Chúa Jêsus thưởng thức đồ ăn ngon. Chúa Jêsus hay đến với các lễ hội, tiệc tùng, cùng những buổi chiêu đãi thịnh soạn và xa hoa. Ngài đến thường xuyên đến nỗi người Pharisi gọi Ngài là kẻ ham ăn mê uống.
Chúa chúng ta thưởng thức đồ ăn ngon. Ngài cảm thấy như đang ở nhà giữa vòng sự giàu có của thế gian. Nhưng bất cứ khi nào Chúa Jêsus thực hiện việc nấu nướng, mọi việc sẽ rất là khác biệt. Về mặt cơ bản, có một món trên bảng thực đơn – cá nướng và bánh mì. Chúa Jêsus có thể thưởng thức như một món quà những thứ tốt đẹp của thế gian, nhưng khi chính mình Ngài thực hiện việc nấu nướng, thì sẽ rất đơn sơ và bổ dưỡng. Chúa Jêsus chúng ta thực sự dễ chịu với người có quyền tước và giàu có và Ngài không ngại dùng thức ăn của họ, nhưng khi Ngài thực hiện sự nấu nướng, bảng thực đơn liền thay đổi.
“Lạy Chúa, đừng khiến con giàu quá hay nghèo quá. Lạy Đức Chúa Trời, xin ban cho con bất cứ điều chi Ngài nghĩ là đủ và con sẽ hài lòng”.
Vào đầu thập niên 1990, tôi du lịch qua Nga sô không lâu sau khi có sự sụp đổ của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Trên đường trở về Mỹ, có nhiều người muốn biết thức ăn gồm có những gì. Tôi chưa bao giờ ăn quá nhiều trong cuộc đời tôi. Nghe như chúng ta có ba hay bốn bữa ăn mỗi ngày vậy. Bất cứ nơi nào chúng tôi đến, chúng tôi thưởng thức sự mến khách của các tín hữu người Nga. Gia đình người Nga trung bình không có nhiều thứ như người Mỹ có về mọi thứ trên đời nầy, và tuy nhiên khi bạn đến đó, họ mở hết tủ ra rồi họ bày ra thứ họ có. Trong cuộc thăm viếng của tôi, tôi được phước bởi một thông lệ đặc biệt có ở từng gia đình. Ở phần đầu bữa ăn, hết thảy chúng tôi đều đứng rồi cúi đầu xuống cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ thức ăn. Tiếp đến, chúng tôi ngồi xuống cùng nhau dùng bữa. Ở cuối bữa ăn, chúng tôi đứng dậy một lần nữa và chúng tôi cầu nguyện, cảm tạ Đức Chúa Trời vì những gì chúng tôi mới vừa nhận lãnh. Mọi việc ấy tạo nên cái chạm đầy năng quyền trên đời sống của tôi. Đấy là điều Chúa Jêsus đang nói tới. Đấy là ý nghĩa của việc nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho bạn đồ ăn đủ ngày – phải thực sự cảm tạ và thực sự hài lòng với những gì Ngài đã tiếp trợ cho.
Phần nhiều người trong chúng ta cần phải suy gẫm lời lẽ của Châm ngôn 30:7-9:
“Tôi có cầu Chúa hai điều; Xin chớ từ chối trước khi tôi thác: Xin dan xa khỏi tôi sự lường gạt và lời dối trá; Chớ cho tôi nghèo khổ, hoặc sự giàu sang; Hãy nuôi tôi đủ vật thực cần dùng, E khi no đủ, tôi từ chối Chúa, Mà rằng: Đức Giê-hô-va là ai? Và lại kẻo e tôi bị nghèo khổ, ăn trộm cắp, và làm ô danh của Đức Chúa Trời tôi chăng”.
Đúng là một triễn vọng tuyệt vời về sự sống. “Lạy Chúa, đừng khiến con giàu quá hay nghèo quá. Lạy Đức Chúa Trời, xin ban cho con bất cứ điều chi Ngài nghĩ là đủ và con sẽ hài lòng”.
- Bước thứ ba cho cuộc sống với bánh ăn đủ ngày là tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thỏa mãn mọi nhu cần của tôi từng ngày một.
Bạn có thể tìm gặp nguyên tắc nầy ở hai chỗ trong câu gốc của chúng ta: “Xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Cuộc sống với bánh ăn đủ ngày ý nói tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ những gì bạn có cần trên cơ sở từng ngày một. Kinh nghiệm của con cái Israel trong đồng vắng Sinai cung ứng một minh họa đầy quyền năng về nguyên tắc nầy. Xuất Êdíptô ký 16 ghi lại câu chuyện. Con cái Israel mới vừa băng qua Biển Đỏ. Sau phép lạ tuyệt vời nầy, họ khởi sự lằm bằm. Giờ đây, họ đang ở giữa sa mạc và họ nói: “Tại sao ông đưa chúng tôi ra đây chứ? Ít nhất chúng tôi còn có ăn trong xứ Aicập. Ai quan tâm đến các phép lạ chứ? Chúng tôi chắc là đói cho tới chết quá”. Vì vậy, Môise đến với Đức Chúa Trời rồi thưa rằng: “Chúa ơi, con gặp rắc rối với dân sự của Ngài”. Đức Chúa Trời bèn phán: “Ngươi nghĩ ngươi gặp phải nhiều nan đề sao? Ta mới là gặp nan đề đây. Hãy bảo chúng phải sẵn sàng vì ta sẽ tiếp trợ thức ăn cho chúng”. Vì vậy, Đức Giêhôva sai mana và chim cút đến với con cái Israel. Chim cút sẽ bay là thật thấp trên mặt đất lúc ban đêm. Sáng hôm sau, người Do thái sẽ thấy sương trên mặt đất và khi sương tan đi, họ sẽ thấy loại bánh nếm như bánh lạt với mật ong vậy. Mana.
Đức Chúa Trời sẽ bằng lòng tiếp trợ cho mọi nhu cần của chúng ta, nhưng chỉ trên cơ sở từng ngày một.
Mọi huấn thị của Đức Chúa Trời rất đặc biệt: “Hãy đi ra rồi lấy đủ cho nhu cần của bản thân mình và gia đình mình. Nhưng đừng lấy quá số cần thiết”. Tại sao chứ? Vì nếu bạn lấy nhiều hơn số mình có cần, nó sẽ bị hỏng đi và sâu bọ sẽ xâm nhập vào chim cút. “Vào ngày trước ngày Sa-bát, ngươi có thể thu thập cho hai ngày, chỉ thế thôi. Bất cứ ai tìm cách nhiều mana sẽ kết thúc với một đống bánh sâu hóa ở trong, sanh mùi hôi thối”. Tôi dám chắc nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ sai mấy đứa con tôi ra ngoài với chiếc xe cút kít trong tuần lễ đầu tiên đó rồi bảo chúng: “Hãy đặt xe dưới giường ngủ. Các con chưa bao giờ biết đâu, điều nầy sẽ không có nữa ở ngày mai”. Tôi nghĩ tôi sẽ nhìn thấy mọi thứ bị sâu hóa trong hai ba tuần khi chỉ tìm cách giữ cho nó được an toàn.
Đức Chúa Trời đang dạy dỗ chúng ta trong Cựu Ước chính sự việc mà Ngài đang dạy dỗ chúng ta trong Tân Ước. Ngài bằng lòng tiếp trợ cho mọi nhu cần của chúng ta, song chỉ trên cơ sở từng ngày một. Chúng ta không thích sống theo kiểu ấy. Hầu hết chúng ta đều có tủ lạnh ở nhà đầy ắp với thức ăn. Có thể chúng ta có một cái sườn bò và một số rau quả. Chúng ta có nhiều thức ăn. Chẳng có gì sai trái với việc ấy, đồng thời, cái tủ lạnh đầy dẫy với thức ăn khiến cho việc dâng lên lời cầu nguyện nầy cách thành thật thành ra khó. Chúng ta lằm bằm những lời cầu nguyện thay vì thốt ra chúng tận đáy lòng vì chúng ta biết chắc rồi là mình sẽ không bị đói.
Chúng ta không thích sống theo cách Chúa Jêsus đang nói tới ở đây. Chúng ta không muốn sống theo kiểu từng ngay một. Thay vì thế, chúng ta có những kế hoạch lương hưu, cổ phiếu, trái phiếu và nhiều sự chọn lựa. Chúng ta muốn có những chính sách bảo hiểm nhân thọ bảo đảm một tương lai thật an toàn. Nếu chúng ta tính như thế, lời cầu nguyện nầy sẽ đọc như sau: “Xin ban cho chúng tôi tuần nầy bánh ăn đủ tuần”. Hay “xin ban cho chúng tôi tháng nầy bánh ăn đủ tháng”. Hoặc tốt hơn nữa: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng tôi năm nay bánh ăn đủ năm. Chỉ cần ban cho chúng tôi như thế ngay tức khắc và chúng tôi sẽ thấy bình an ngay. Khi ấy chúng tôi sẽ tin cậy Ngài”.
Đức Chúa Trời không làm việc theo cách đó. Ngài làm việc bằng cách dạy dỗ dân sự Ngài từng phút một phải nương cậy nơi Ngài.
Sự bất ổn gia tăng
Cuộc sống đang bất ổn. Phần lớn chúng ta không có đủ tiết kiệm để trải qua cho đến tháng sau. Bạn có thể sống tốt đẹp và rồi một ngày kia bác sĩ nói: “Tôi rất tiếc, các thử nghiệm đều xác quyết rõ ràng. Ông đã bị ung thư”. Cuộc sống của bạn phải tái sắp đặt lại ngay trong giây thứ nhì. Chỉ khi ấy bạn nghĩ mình sẽ lãnh hội đủ mọi thứ, một căn bịnh, mất việc làm, sự sụp đổ cả đế quốc mà bạn từng ghép lại, chúng xảy ra thật nhanh chóng. Một lý do Đức Chúa Trời để cho mọi sự nầy xảy ra là đưa chúng ta ra khỏi chỗ tự tín đến chỗ tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Từ chỗ nương cậy vào bản ngã đến chỗ nương cậy vào Đức Chúa Trời. Từ chỗ tin tưởng vào chính khả năng của mình đến chỗ tin tưởng vào chỉ một mình Ngài mà thôi.
Cách đây không lâu, tôi trao đổi với một bà mẹ độc thân, bà nầy làm chủ công việc làm ăn của mình. “Công việc tiến triển thế nào rồi?” Bà mỉm cười rồi nói: “Chúng tôi cứ mãi mê với công việc. Tháng Sáu nầy hơi căng đấy. Nhưng tôi có hai việc làm cho tháng Bảy. Chúng tôi sẽ không sao trong tháng Bảy. Chỉ thế thôi. Chỉ khi nào chúng tôi sắp sửa cạn kiệt, Đức Chúa Trời mới đưa một chút công việc đến”. Sống như thế chẳng phải là dễ, nhưng bà mệnh phụ đó đã khám phá ra một việc mà ai nấy trong chúng ta là những người có nhiều tiền bạc chưa bao giờ khám phá ra được. Bà ấy khám phá ra Đức Chúa Trời sẽ làm thỏa mãn mọi nhu cần của bà ta.
Hết thảy chúng ta sẽ ăn từ chính cái bàn đó.
Điều nầy có ý nói rằng chúng ta sẽ không hoạch định trước sao? Không phải đâu. Bạn nên hoạch định trước. Làm thế là theo Kinh thánh đấy. Bạn nên hoạch định trước, nhưng bạn không nên lo lắng trước. Có một sự khác biệt rất lớn. Bạn nên hoạch định trước. Bạn không nên lo lắng trước. Toàn bộ quan điểm xin bánh ăn đủ ngày là dạy cho chúng ta biết sống từng ngày một. Những người nam người nữ nào đang ở trong chương trình 12 Bước đều biết sống như thế là sao rồi. Chữa lành cho cuộc sống bề trong là một nguyên tắc cơ bản: Bạn có thể thấy khá hơn, nhưng bạn phải tính theo từng ngày một. Bạn không thấy khá hơn từng tuần hay từng tháng một. Bạn thấy khá hơn trên cơ sở từng ngày một. Đấy là một nguyên tắc rất quan trọng. Cuộc sống với bánh ăn đủ ngày có nghĩa là tính sống từng ngày một và tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cho mọi nhu cần của bạn hết ngày nầy qua ngày khác.
- Bước thứ tư cho cuộc sống với bánh ăn đủ ngày là rời rộng đối với người nào kém may mắn hơn.
Nguyên tắc nầy ra từ chữ “chúng tôi” – “Xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”. Câu ấy không nói: “Xin ban cho tôi đồ ăn đủ ngày”. Đấy là một lời cầu nguyện khác biệt hoàn toàn. Bạn không bao giờ được mời cầu nguyện chỉ cho bản thân mình. Mỗi lần bạn dâng lên lời cầu nguyện nầy, bạn được tươi mới, được khích lệ và thậm chí được truyền cho phải cầu xin cùng với anh chị em của mình. Hết thảy chúng ta đều ăn từ cùng một cái bàn đó. Lời cầu xin nầy truyền đạt một sự to lớn, một sự rộng rãi, một sự bao la cho những lời cầu xin của bạn. Nó đưa bạn ra khỏi cái khung hẹp mọi nan đề của bạn rồi nó mở ra cho bạn thấy cả thế giới con người hết thảy ở chung quanh bạn. Tư tưởng nầy chạy ngược lại với khuynh hướng của xã hội hiện đại. Trong thị trường chỉ có kẻ bền bĩ mới tồn tại mà thôi. Chính bạn phải nhìn ra rồi biết chắc rằng không có ai lấn lướt trên bạn. Có một thế giới chó ăn thịt chó ở ngoài kia. Hễ ai lao động khó nhọc nhất kiếm được nhiều nhất. Thế gian nói: “Hãy lên tới đỉnh bất cứ cách nào bạn có thể”. Khác biệt dường bao khi so với lời lẽ của Chúa Jêsus ở Luca 6:38: “Hãy cho, người sẽ cho mình”. Ngoài kia là một khu rừng và thế giới kinh doanh được điều hành bằng luật rừng. Chỉ có kẻ bền bĩ mới tồn tại. Bạn mong tìm được vị trí “số 1”. Đây là một cuộc chiến công khai và bạn phải bằng lòng nhắm vào ai đó nếu đấy là cách để lên tới đỉnh. Điều nầy hoàn toàn ngược lại với những gì Chúa Jêsus đề nghị ở đây.
Nền kinh tế theo Kinh thánh
Đây là bốn nguyên tắc nhấn mạnh sự kêu gọi chia sẻ với những ai kém thiếu hơn bạn:
Những gì bạn có được giao cho bạn để bạn ban nó cho người khác.
Nguyên tắc 1: Mọi sự bạn có đều đến từ Đức Chúa Trời.
Nguyên tắc 2: Mọi sự được ban cho bạn đều được ban cho trong sự tin tưởng đối với bạn.
Nguyên tắc 3: Các ơn phước bạn đang có không được ban cho bạn vì lợi riêng của bạn.
Nguyên tắc 4: Những gì được ban cho bạn với sự tin chắc là bạn sẽ chia sẻ nó với người khác.
Những gì bạn có không chỉ được sử dụng cho bản thân bạn đâu; nó được sử dụng để làm ích cho nhiều người khác nữa. Bạn sẽ gọi điều nầy là Nền Kinh Tế Theo Kinh thánh. Những gì bạn có được giao cho bạn để bạn ban nó cho người khác. Khi nói Bánh Ăn Đủ Ngày cho chúng tôi là nhìn thấy một thế giới con người túng thiếu và tổn thương. Chúng tôi ám chỉ rằng bạn không cầu nguyện một mình. Phải nói là chúng tôi thay vì tôi hay của tôi, truyền đạt một sự phóng khoáng trong lời cầu xin của bạn. Đây là sự phóng khoáng, chớ không phải từ thiện; nhân đức, hay lợi lộc. Hầu hết chúng ta đều có mọi thứ chúng ta cần để ăn hôm nay và ngày mai chúng ta sẽ có đủ thứ chúng ta cần và ngày mốt và ngày kia nữa. Tuy nhiên, thế giới của chúng ta thì đầy dẫy với hạng người đói khát. Khi chúng ta cầu nguyện “Xin ban cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày”, chúng ta có thể không bao giờ cầu xin giống như thể chúng ta là hạng người duy nhứt trên thế gian. Chúng ta cần phải cầu xin với suy nghĩ về người nghèo thiếu ở chung quanh chúng ta. Và nếu chúng ta không suy nghĩ về người nghèo thiếu ở chung quanh chúng ta, chúng ta không cần phải dâng lên lời cầu nguyện nầy mà chi.
Khi người giàu cầu nguyện, ông ta cũng sẽ cầu xin cho Laxarơ khốn khổ kia ngồi nơi cổng. Và nếu lời cầu xin của người giàu là chơn thật, ông ta sẽ biết chắc rằng Laxarơ có nhiều hơn mấy miếng bánh vụn để ăn. Nếu Đức Chúa Trời đã ban cho bạn hai cái bánh và anh em bạn chỉ có một, cái bánh dư kia không phải để đem cất đâu. Nó hiện hữu là để chia sẻ. Đấy là những gì lời cầu nguyện nầy nói tới. Đó là bước thứ tư cho cuộc sống với bánh ăn đủ ngày.
Một chỗ để bắt đầu
Lời cầu xin nầy, giống như bao lời cầu xin khác, mở ra cho chúng ta bước vào một phương thức mới nhìn vào cuộc sống. Nó còn hơn cả một vài từ trên một mãnh giấy nữa. Đây là những gì đời sống Cơ đốc muốn nói tới. Vậy thì, cuộc sống với bánh ăn đủ ngày là gì chứ? Cho phép tôi tóm tắt lại. Cuộc sống với bánh ăn đủ ngày là:
- Biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì mọi ơn phước của Ngài.
- Hài lòng với những gì Đức Chúa Trời đã ban cho bạn.
- Tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thỏa mãn mọi nhu cần của bạn từng ngày một.
- Rời rộng đối với nững ai kém may mắn hơn bạn.
Biết ơn. Thỏa lòng. Tin cậy. Rời rộng. Đấy là những gì Cuộc Sống Với Bánh Ăn Đủ Ngày đang nói tới. Nếu bạn dâng lên lời cầu nguyện nầy đủ, đó là chỗ mà bạn sẽ kết thúc. Đấy không phải là chỗ tồi tệ để kết thúc.
Chuyến đi ra của Bob và Amber
Lời cầu xin nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời rất vui thích muốn nghe lời cầu nguyện của chúng ta, thậm chí khi chúng ta đang cầu xin những thứ dường như là nhỏ nhoi hay trần tục hoặc “chưa quan trọng đủ” để quấy rối Đức Chúa Trời. Đối với hầu hết chúng ta, phần thách thức thực sự là học biết đặt từng chi tiết của cuộc sống ở trước mặt Chúa. Bob và Amber Leland đã dừng lại để gặp tôi lần sau cùng trước khi rời khu vực Chicago để trở lại Irian Jaya đặng dấn thân vào phục vụ công cuộc truyền giáo. Khi chúng tôi gặp nhau, Bob có đôi điều cần phải xác định trong lý trí của ông. Ông đã nhận một số giấy tờ và nói ông muốn kiểm tra lại để trả lời cho một số thỉnh cầu. Ở đó có gần 50 khoản khác nhau bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau về sinh hoạt của hội thánh chúng tôi. Từng điều một đã được ghi ra và ngày tháng được chú thích nữa. Một số được gắn nhãn “còn tiếp” và các thứ khác được dành cho các nhu cần đặc biệt. Chúng tôi lần qua từng thỉnh cầu một. Bob yêu cầu tôi nói cho ông biết không biết có nên trả lời cho từng thỉnh cầu ở đây không!?! Ông sẽ ghi Có, Không, hay Chưa đều nương vào những gì tôi nói. Một số lời thỉnh cầu đều nhắm vào những việc đại loại như phục hưng hội chúng và quyền phép thuộc linh trong sự rao giảng Lời của Đức Chúa Trời. Nhiều lời thỉnh cầu khác rất là đặc biệt, tỉ như thêm nhân sự vào chức vụ thiếu niên của chúng tôi. Cứ thế mà chúng tôi lần qua, cả hội thánh, ban trị sự, và Học viện Cơ đốc Oak Park nữa. Một số lời thỉnh cầu quay trở lại bốn hay năm năm. Tôi lấy làm lạ khi tôi nghĩ đến sự trung tín của hai tôi tớ nầy về công việc của Đấng Christ trong sự cầu nguyện từ bờ biển “Bird’s Head” của Irian Jaya.
Tôi yêu cầu Bob khi ông và Amber khởi sự viết ra những lời thỉnh cầu và ghi chú những câu trả lời. Ông nói cho tôi biết họ đã khởi sự vào năm 1971 vì “chúng tôi đã chán với đời sống cầu nguyện của chúng tôi. Dường như là chúng tôi đã cầu nguyện, cầu nguyện, song chẳng hề nghe thấy bất kỳ câu trả lời nào hết”. Vì vậy, gần 40 năm qua họ đã khởi sự ghi ra những lời thỉnh cầu đặc biệt. Bất cứ khi nào họ nhất trí cầu xin việc gì đó hay ai đó, họ quyết định quay trở lại rồi tìm kiếm cách Đức Chúa Trời trả lời cho sự cầu nguyện của họ. Và đấy là lý do tại sao họ đã đến tại văn phòng tôi cho lần thăm viếng sau cùng. Họ muốn biết Đức Chúa Trời đã làm gì qua những lời cầu nguyện của họ. Bob nói cho tôi biết sau ba thập niên lo làm công việc nầy, họ đã khám phá ra khoảng 89% lời cầu xin của họ đã được trả lời Được, 2% được trả lời Không, và khoảng 9% được trả lời là Chưa. Ông nói với một nụ cười: “Thật là khó bàn bạc về việc nầy quá”. Bob nói đúng. Thật là khó bàn bạc với mọi sự ấy.
Một tấm lòng cảm tạ không thể yếm thế.
Lưu ý: Tôi đã viết hai mẫu tin gần cả chục năm rồi. Tôi đã không gặp Bob trong một thời gian dài cho tới khi tôi giảng ở New Brunswick vào tháng Giêng năm 2009. Ông đến đó vì ông và Amber đã hưu hạ ở miền Bắc bang Maine cách đây mấy năm. Sau khi gặp tôi, ông trao cho tôi một trang giấy những lời cầu nguyện mà ông và Amber đã cầu thay cho chúng tôi – cho tôi và vợ tôi, chức vụ của tôi, mấy đứa con của tôi, và cho những mối quan tâm riêng của chúng tôi nữa. Tôi có thể làm chứng rằng Bob và Amber là hạng người “thật thẳng thắn”. Họ xem trọng sự cầu nguyện, và vì lẽ đó tôi không có gì phải ngạc nhiên khi phần nhiều lời cầu nguyện của họ đều được Chúa nhậm hết.
Hãy theo dõi những câu trả lời của Chúa
Tôi ngần ngại chia sẻ câu chuyện của họ vì nó có thể bị lạm dụng rất dễ dàng. Có người nghĩ rằng cầu nguyện giống như chơi thứ máy đánh bạc vậy. Và nhiều người khác nghĩ đếm các câu trả lời cho những lời cầu xin của bạn thì chẳng có gì là thuộc linh hết. Tôi không nghĩ đến tỉ lệ phần trăm của sự việc, nhưng tôi nghĩ Bob và Amber Leland đã tìm thấy một giải pháp thực tiễn cho nan đề nhàm chán nơi sự cầu nguyện. Họ cứ mãi giữ việc lần theo những câu trả lời của Đức Chúa Trời. Làm thế nhất định là theo Kinh thánh rồi. Tỉ lệ phần trăm sẽ làm cho câu chuyện thêm phần đáng nhớ hơn. Tại sao phần nhiều những lời cầu xin của họ đều được nhậm chứ? Tôi nghĩ sở dĩ như thế là vì Bob và Amber đã dâng mình họ vào việc nhìn biết và làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Khi bản thân họ lấy làm vui thích nơi Chúa, ao ước của Ngài trở thành một phần ước ao của họ nên khi họ cầu nguyện, họ thực sự cầu nguyện theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Tại sao chúng ta lại lấy làm lạ khi Đức Chúa Trời nhậm lời cầu xin của chúng ta khi chúng ta cầu nguyện theo ý muốn của Ngài? Chúng ta không mong giữ theo Lời của Ngài sao? Có lẽ chúng ta hết thảy đều được ích bởi giữ một thành tích những lời cầu xin của chúng ta và những câu trả lời của Đức Chúa Trời. Nhất định điều nầy nằm trong tinh thần của Chúa Jêsus là Đấng đã phán: “Hãy xin, sẽ được” (Mathiơ 7:7).
Nhà buôn nô lệ trở lại đạo là John Newton đã bày tỏ lẽ thật nầy bằng lời lẽ của một bài thánh ca như sau: “Bạn nên đến với một vì Vua, bạn mang theo những lời thỉnh cầu; vì ân điển và quyền phép của Ngài thể ấy, chẳng có gì là quá nhiều khi cầu xin”.
Nhượng bộ, chịu thua, hay dâng lên lời cảm tạ
Mục sư A. W. Tozer từng lưu ý rằng “một tấm lòng cảm tạ không thể yếm thế”. Tôi đã dừng lại khi tôi đọc thấy rằng vì chúng ta nhất định đang sinh sống trong một kỷ nguyên yếm thế. Người yếm thế là một người, đã nhìn thấy thường xuyên về mặt xấu của bản chất con người, nó khó mà có giá trị gì ở bề mặt. Mặt khác, một người thể ấy có thể là thực tế hơn so với một gã chuyên mộng mơ chẳng hề thắc mắc bất cứ điều gì. Phương châm nổi tiếng của phóng viên báo chí thoạt đến trong trí: “Nếu mẹ bạn nói bà ấy yêu thương bạn, hãy coi lại xem”. Phải đấy, thật lấy làm tốt khi kiểm tra lại mọi việc và có một liều hoài nghi đúng mức khi tiếng nói trong điện thoại hiến cho bạn một chuyến đi Hawaii “miễn phí” nếu bạn chỉ lắng nghe rao hàng trong một giờ đồng hồ – tất nhiên là chẳng có áp lực nào hết.
Song đấy chẳng phải là toàn bộ câu chuyện đâu. Một ít yếm thế có thể là tích cực, song giống như bất kỳ đức tính nào, có có thể mau chóng trở thành một tật xấu. Tấm lòng biết ơn đến từ việc nhận biết chỉ có Đức Chúa Trời mới là nguồn của mọi ơn phước của chúng ta. Mọi sự khác đều từ đó mà ra. Tôi có những gì tôi có vì Đức Chúa Trời đã bằng lòng cho tôi có những thứ đó. Tôi sống nơi tôi sống vì Đức Chúa Trời đã bằng lòng cho tôi sống ở đó. Tôi chào đời trong một gia đình đặc biệt vì Đức Chúa Trời đã bằng lòng như thế. Tôi ra đời ở Tennessee, lớn lên ở Alabama, gặp vợ tôi ở Chattanooga, vào thần học viện ở Dallas, làm Mục sư quản nhiệm ở California, Texas và Illinois, rồi giờ đây đang sinh sống ở Tupelo, Mississippi vì Đức Chúa Trời đã bằng lòng như thế. Chúng tôi có ba con trai và hai con dâu tuyệt vời. Thêm nữa, chúng tôi có hai con chó săn xuất sắc. Và thậm chí các nan đề của tôi (không có nhiều lắm đâu) được phân phát cho tôi bởi bàn tay của một Đức Chúa Trời yêu thương.
Đức Chúa Trời không hề nói “Ôi chao”
Cuộc sống là một chuyến hành trình với nhiều đường cong và ngã rẻ và khi tôi lần tới ngày sinh nhật thứ 60 – chỉ còn 3 năm nữa thôi – tôi thấy rằng tôi tin vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời nhiều hơn trước đây bao giờ. Nói như thế là nói chẳng có một việc gì là may mắn, hay số phận hoặc cơ hội cả. Điều nầy bao gồm các chi tiết thường nhật của cuộc sống và những việc thực sự là vấn đề như sống và chết, khỏe mạnh và đau yếu, và những gì tương lai đang nắm giữ cho những người thân của chúng ta. Tôi có nghe một bé gái nói, khi có ai đó hỏi nó học cái gì ở Lớp Trường Chúa Nhật, nó đáp rằng nó học được “Đức Chúa Trời không hề nói “Ôi chao””. Thật là yên ủi khi biết như thế vì chúng ta đang sống trong thế giới “Ôi chao!”, ở đó lầm lỗi bị phạm phải luôn, thường xuyên bởi hạng người có ý thức.
Kẻ hồ nghi yếm thế thực sự cho rằng Đức Chúa Trời nhìn biết hay quan tâm, và vì lẽ đó Ngài nhượng bộ đối với nghi ngờ, giận dữ, và đôi khi thốt ra thất vọng. Nhưng người nào nhìn biết Đức Chúa Trời của họ đều biết Ngài biết rõ dầu khi họ không biết, và thay vì nhượng bộ hay chịu thua, họ dâng lên lời cảm tạ. Chính tinh thần nầy khiến cho chúng ta phải cầu hỏi Đức Chúa Trời về bánh ăn đủ ngày mà chúng ta có cần và khi ấy tin cậy Ngài sẽ đáp lời cầu nguyện mỗi khi, hết ngày nầy sang ngày khác, theo cách riêng của Ngài, theo ý muốn của riêng Ngài.
Lạy Cha giàu ơn, xin dạy chúng con biết tin cậy Ngài ngày càng thêm. Khi chúng con bị cám dỗ tự tín, xin hạ chúng con xuống tới chỗ mà ở đó chúng con phải kêu xin sự cứu giúp của Ngài. Xin tha thứ cho chúng con vì sinh sống giống như thể chúng con là Đức Chúa Trời, còn Ngài thì không phải. Chúng con cảm tạ Ngài vì đã ban cho chúng con chính xác những gì chúng con có cần, khi chúng con cần đến nó, không quá sớm mà cũng không quá trễ. Sau khi nhận lãnh thật nhiều từ nơi Ngài, chúng con cầu xin thêm một điều nữa. Xin ban cho chúng con tấm lòng biết ơn. Amen.
Một lẽ thật cần phải ghi nhớ: Cuộc sống với bánh ăn đủ ngày có nghĩa là tin rằng vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, Ngài sẽ ban cho bạn những gì bạn thực sự có cần khi bạn thực sự có cần điều đó.
Vào sâu hơn
- Khi nào thì bạn thành thực cầu xin Đức Chúa Trời tiếp trợ cho đồ ăn, một khi bạn đã có cái gì đó để ăn?
- Thi thiên 105 là một bài thơ thuật lại ơn giải cứu của Đức Chúa Trời cho người Do thái ra khỏi Aicập. Từ Thi thiên nầy, hãy liệt kê ra những phương thức trong đó Đức Chúa Trời tiếp trợ “bánh ăn đủ ngày” cho dân sự của Ngài.
- “Các môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ cần phải có cuộc sống “lần hồi, kiếm ngày nào ăn ngày ấy””. Câu nói nầy có ý nói gì vậy? Bạn có đồng ý hay không đồng ý? Câu nói nầy có liên quan tới tiền bạc tiết kiệm, việc đầu tư của bạn, và tích lũy sự giàu có riêng không?
- Câu chuyện nói tới sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời về mana và chim cút (Xuất Êdíptô ký 16) dạy dỗ chúng ta điều gì về đường lối Đức Chúa Trời tiếp trợ cho mọi nhu cần của chúng ta?
- Bạn bè của bạn có xem bạn là một người có tấm lòng biết ơn không? Tại sao và tại sao không?
- Tại sao một người yếm thế không có tấm lòng cảm tạ? Và một tấm lòng biết cảm tạ có thể chữa lành một tinh thần yếm thế ra sao?
Một bước hành động
Hầu hết chúng ta giống như đang lập các bảng danh sách vậy. Chúng ta lập các bảng danh sách những việc cần phải làm, gặp gỡ người nào, các dự án phải hoàn tất, và cứ thế. Hãy lấy bảng danh sách cần làm của bạn tuần nầy rồi đổi nó thành một danh sách cầu nguyện. Thay vì sốt vó và bối rối về mọi sự bạn phải lo làm trong mấy ngày tới, hãy đem bảng danh sách cần phải làm đến với Chúa rồi nói: “Lạy Chúa, danh sách nầy vượt quá đầu của con. Vượt quá sức lực, vượt quá sự khôn ngoan, vượt quá năng lực của con. Lạy Chúa, con đem danh sách nầy đến với Ngài và cầu xin Ngài thêm sức cho con và trợ giúp con”. Hãy giữ một cuốn sổ trong suốt tuần lễ tới để biết cách thức Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của bạn.
l
CẢM TẠ CHÚA,
CON KHÔNG PHẢI LÀ GÀ TÂY
Thi thiên 75:1
Chỉ có gà tây mới KHÔNG … biết cảm tạ!
Ngày nay cảm tạ đã trở thành Bóng Đá, Gia đình & Thức Ăn – chớ không phải Đức Chúa Cha.
Mới đây, tôi có nghe nghe người ta đề cập tới Lễ Cảm tạ là “NGÀY GÀ TÂY”.
THEO NGHĨA ĐEN và THEO NGHĨA BÓNG …… Con cảm tạ Đức Chúa Trời con KHÔNG PHẢI là gà tây!!
……..Nhưng tôi muốn nói tới GÀ TÂY sáng nay!
gÀ tÂY [Turkey] LÀ MỘT TRONG VÀI VIỆC….
* một loài gà: Một loài chim ở Bắc Mỹ.
* một vùng đất xa xôi – vừa mới bị động đất đây. Tôi sung sướng vì tôi không phải là một người sống ở Thổ Nhĩ Kỳ [Turkey]!
* một thất bại, đặc biệt về một sản phẩm kịch nghệ
* một bộ gõ tốt 3 cái trống liên tiếp nhau
* một người dại dột
Một số người Thỗ họ ngồi cạnh bàn thay vì ngồi trên bàn!
CẢM TA CHÚA, CON RẤT BIẾT ƠN:
- VÌ TỰ DO TRONG XỨ SỞ CỦA CHÚNG CON
* Ben Franklin đã đề nghị gà tây là loài chim Mỹ chính thức.
Tôi rất vui sướng khi chúng ta có chim phượng hoàng – làm biểu tượng cho Tự Do!
Nhiệt kế của Lễ Cảm Tạ chỉ ra nhiệt độ trong đó chúng ta chuyên lấy cái tôi làm trọng và ích kỷ
Chúng ta thực sự là một vùng đất của loài gà tây nếu chúng ta không biết cảm tạ!
Chúng ta phải dâng cho Đức Chúa Trời SỰ VINH HIỂN & LÒNG BIẾT ƠN vì ÂN ĐIỂN và SỰ NHƠN TỪ của Ngài!
Hãy khởi sự với sự cảm tạ Đức Chúa Trời một khi bạn sinh sống ở Mỹ!
Và tốt hơn nữa, hãy ngợi khen Đức Chúa Trời và Chiên Con cho đến đời đời – bạn đang sống ở miền NAM!
* Nếu bạn không đứng ở đàng sau các binh sĩ của bạn, làm ơn nên đứng ở phía trước họ !!
……bạn là gà tây .… nếu bạn chưa biết cảm tạ vì tự do của xứ sở chúng ta!
CẢM TẠ ĐỨC CHÚA TRỜI, CON RẤT BIẾT ƠN:
- VÌ THỨC ĂN mà con TIÊU THỤ
I Timôthê 4:4-5: “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh”.
* Tôi trông mong làm món Gooble Gooble-ing vào ngày Thứ Năm Lễ Cảm tạ!
Tôi thích món gà nhồi thịt!
Năm ngoái, người Mỹ trung bình ăn 18 cân gà tây …..và tôi sẽ dùng thịt vào ngày thứ Năm!
* Các bác sĩ nói cho chúng ta biết có 7 triệu người béo phì. Tất nhiên, đây chỉ là con số TRÒN mà thôi…
Nếu những người Mỹ đó đứng trước cái tủ lạnh, họ sẽ cân nặng hơn cái tủ lạnh đó!
CẢM TẠ CHÚA vì SỰ TỰ DO, NHÀ NÔNG & TÀI CHÍNH đều thịnh vượng!
……bạn là gà tây .…nếu bạn chưa biết cảm tạ về thức ăn mà chúng ta đang tiêu thụ!
CẢM TẠ ĐỨC CHÚA TRỜI, CON RẤT BIẾT ƠN:
III. VÌ MỐI TƯƠNG GIAO CỦA HỘI THÁNH
Philíp 1:3-5: “Mỗi khi tôi nhớ đến anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi, … anh em đã được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin Lành”
Thi thiên 35:18: “Tôi sẽ cảm tạ Chúa trong hội lớn“
* Ngày Lễ Cảm Tạ đang đến gần, và một gia đình đã nhận được thiệp Cảm Tạ với bức ảnh nói tới một gia đình hành hương đang trên đường đến với nhà thờ.
Bà Nội đưa tấm thiệp cho cháu nội xem, lưu ý: “Mấy đứa trẻ đi hành hương muốn đi nhà thờ với bố mẹ của chúng”.
Đứa cháu nội đáp: “Ồ, vậy hả, thế sao bố của chúng lại mà SÚNG theo chứ?”
* NHÀ THỜ KHÔNG PHẢI LÀ CHỖ ĐỂ ĐÙA GIỠN – HÃY CHỌN ĐI! CƠ HỘI để cảm tạ Đức Chúa Trời đấy!
……bạn là gà tây .…nếu bạn chưa biết cảm tạ về mối tương giao của hội thánh!
CẢM TẠ ĐỨC CHÚA TRỜI, CON RẤT BIẾT ƠN:
- VÌ BẠN CÓ GIA ĐÌNH ĐỂ MÀ VỀ VỚI
* Một cậu bé, vào buổi tối lễ Cảm Tạ, nó cứ ngọ nguậy mãi trong chỗ ngồi lúc ai nấy cầu nguyện – ăn với hai bàn tay và cứ quậy hoài. Sau bữa ăn, nó quay sang mẹ mà hỏi: “Mẹ ơi, mẹ cảm tạ điều gì nhất trong năm nay?” Và mẹ nó đáp: “Con ơi, mẹ dâng lời cảm tạ con không phải là sanh đôi!”
Một đặc điểm chính trong thời kỳ khó khăn vào những ngày sau rốt, ấy là người ta “không cảm tạ” [bội bạc, theo bảng Kinh thánh Việt ngữ].
II Timôthê 3:1-2: “Hãy biết rằng trong ngày sau rốt, sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính”.
Có một câu ngạn ngữ nói rằng: “Ngươi không biết mình nhận được điều gì cho tới chừng nó qua đi!” Điều đó thực sự là dường nào.
Khi nói tới sức khỏe CỦA BẠN và sức khỏe của gia đình bạn …… Ông bà, cô chú, cậu dì, sẽ không có mặt ở đó vào năm tới.
* Cách đây mấy năm, Alexis Carrel đã viết một bài trên quyển “Readers Digest” nói tới sự cầu nguyện. Ông nói: “Tôi vừa mất đứa con trai duy nhứt …. Buồn quá, tôi nổi giận với Đức Chúa Trời. Cảm tạ về điều chi đó dường như là phạm thượng. Đến với người bạn, tôi nói về nổi buồn to lớn khi mất đứa con. Cô ấy bình tỉnh nói: `Tôi chưa hề có con trai.’. `Hãy cảm tạ Chúa vì ông có đứa con trai‘. Giờ đây, tôi thốt ra lời cảm tạ nhiều lần trong một ngày”.
……bạn là gà tây … nếu bạn chưa biết cảm tạ vì có gia đình đỂ về với
CẢM TẠ ĐỨC CHÚA TRỜI, CON RẤT BIẾT ƠN:
- VÌ ƠN THA THỨ CỦA ĐỒI GÔGÔTHA
Thi thiên 86:12-13: “Hỡi Chúa, là Đức Chúa Trời tôi, tôi hết lòng ngợi khen Chúa, tôn vinh danh Chúa đến mãi mãi. Vì sự nhân từ Chúa đối cùng tôi rất lớn, và Chúa đã giải cứu linh hồn tôi khỏi âm phủ sâu hơn hết”.
Côlôse 1:12-14: “Hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, Ngài đã khiến anh em có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng: Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài, trong Con đó chúng ta có sự cứu chuộc, là sự tha tội”.
I Côrinhtô 15:57: “Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
*Tổng Thống President Truman kể lại câu chuyện ông ban ơn tha thứ cho một người vào Lễ Cảm Tạ.
Ơn tha thứ của các vị Tổng thống không thể đem sánh với ơn tha thứ của Chúa!
*Hãy cảm tạ vì cớ đồi Gôgôtha – tôi không còn là người như trước đây nữa – khác hơn nhiều lắm!
Con gà tây nặng nhất từng được nuôi là 86 cân. Đấy là Con Gà Bự! Mặc dù vậy, bạn là con gà bự hơn thế, nếu bạn không biết ơn đối với sự chết của Chúa ở đồi Gôgôtha vì bạn chưa hề tin cậy Ngài làm Cứu Chúa của bạn.
Bạn là con gà bự hơn thế nếu bạn đã tin cậy Đấng Christ để được cứu song không sống cho Ngài.
TÔI CẢM TẠ CHÚA VÌ SỰ TỰ DO CỦA XỨ SỞ, THỨC ĂN CHÚNG TA TIÊU THỤ, MỐI THÔNG CÔNG CỦA HỘI THÁNH – CÓ GIA ĐÌNH ĐỂ CHÚNG TA VỀ VỚI – ƠN THA THỨ CỦA ĐỒI GÔGÔTHA, VÀ TÔI KHÔNG PHẢI LÀ CON GÀ TÂY!
Có Phải Bạn Vui Mừng
Về Tương Lai Của Mình?
– Giăng 8:1-11
Bạn là người lạc quan hay bi quan vậy? Khi bạn nhìn vào ly nước, cái ly ấy đầy phân nửa hay vơi phân nửa? Khi bạn đối diện với thử thách cùng các nan đề trong đời sống, có phải bạn đối mặt chúng với hy vọng hay với thất vọng?
Có một sự khác biệt rất lớn giữa một người lạc quan và một kẻ bi quan. Có người nói như vầy:
Giữa người lạc quan và kẻ bi quan, sự khác biệt rất nực cười. Người lạc quan nhìn thấy cái bánh rán, kẻ lạc quan nhìn thấy cái lỗ hổng.
Cần phải nói rõ rằng người lạc quan là người nhìn thấy một cơ hội trong từng tai họa, trong khi kẻ bi quan nhìn thấy tai họa trong từng cơ hội. Người lạc quan là người tin đây là thế giới tốt đẹp nhất trong mọi thế giới khả thi; kẻ bi quan sợ rằng người lạc quan nói đúng.
Người lạc quan là người xuống xe ở bãi đậu xe và rồi cứ bước đi mà không nhìn lại. Người cũng là người bước vào nhà hàng mà không có đồng nào mong trả cho bữa ăn của mình với hạt ngọc trai người hy vọng tìm gặp trong con hàu mà người gọi món.
Ngược lại, kẻ bi quan là người nhìn dáo dác bốn phía trước khi băng qua con đường một chiều. Người cũng là người, khi đối mặt với hai điều ác, người chọn hết cả hai. Chính Mark Twain là người đã nói: “Chẳng có gì đáng buồn trong cuộc sống hơn là còn trẻ mà lại bi quan”.
Sự thực cho thấy rằng cả hai: người lạc quan và kẻ bi quan đều có chỗ của họ trong cuộc sống. Chính người lạc quan đã phát minh ra phi cơ, còn kẻ bi quan thì chế ra dù nhảy. Cần phải có đủ mọi thứ mới tạo ra thế gian, và chúng ta cần loại người lạc quan để giữ cho chúng ta cứ chuyển động, còn kẻ lạc quan biết chắc rằng chúng ta sẽ đi theo một hướng đúng.
Làm ơn đi, chẳng có cặp kính nào màu hồng đâu!
Cho phép tôi đưa ra câu hỏi một lần nữa. Bạn là người lạc quan hay là kẻ bi quan vậy? Sau khi đã nói rằng cả hai: người lạc quan và kẻ bi quan đều có chỗ của họ, tôi muốn đưa ra trường hợp nói tới việc lạc quan được lập luận theo Kinh thánh. Tôi nhìn biết có một việc như nhìn vào cuộc sống qua cặp kính đầy màu hoa hồng, song đấy chẳng phải là điều mà tôi đang nói tới. Bất kỳ quan điểm nào về cuộc sống nhìn vào mặt tối đã bỏ sót 50% thực tế. Tôi không có ý thuyết phục bạn cứ “huýt sáo trong khi bạn làm việc” hay cứ “mĩm cười một chút rồi làm mặt nghiêm lại”. Tôi vẫn có ý định nộp hồ sơ ngắn gọn cho PMA (Positive Mental Attitude) [Thái độ lý trí tích cực] hay cho Positive Thinking [suy nghĩ tích cực] hoặc Possibility Thinking [cách suy nghĩ khả thi], một khi mọi điều đó đều có ích lợi.
Tên của tôi là Ray Pritchard, chớ không phải Robert Schuller hay Norman Vincent Peale. Học vấn tôi là chuyên về Kinh thánh, chớ không phải chuyên về triết lý. Bất kỳ một đóng góp nào tôi thực hiện đều phải nằm trong lãnh vực của Kinh thánh. Với sự khẳng định ấy trong trí, tôi muốn trình bày luận án của tôi thật rõ ràng: Có một việc được xem là quan điểm sống theo Kinh thánh, và đó là một quan điểm được gọi là lạc quan thực tiễn. Quan điểm theo Kinh thánh là thực tế vì nó được lập nền trên sự thật chúng ta đang sống trong một thế giới sa ngã. Hình thái thực tại theo Kinh thánh công nhận rằng chúng ta đang sống trong một thế giới rất bất toàn, ở đó những việc xấu thường hay xảy ra cho hạng người nhơn đức. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó xe cộ đụng nhau và hạng người nhơn đức ngã chết, ở đó những đứa trẻ sơ sinh bị AIDS và những nhà quản lý học đường đôi khi ngược đãi con cái của chúng ta. Trong thế giới nầy, những nhà làm luật nhận lấy của hối lộ, các vị bác sĩ phạm lỗi lầm, quan tòa hay thiên vị, và những ngôi sao bóng rỗ có khi nói ra những việc ngu dốt. Thường thì hạng người bất tài lại được thăng tiến hơn những người có đủ tài đủ đức, và hạng người nhơn đức mất công ăn việc làm của họ mà chẳng vì một lý do nào hết.
Hình thái thực tế của Kinh thánh bắt đầu với Rôma 3:23: “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”. Vì hết thảy chúng ta đều là tội nhân và vì tội lỗi đã nhiễm vào từng lãnh vực của cuộc sống, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi mọi việc đều chẳng được suông sẻ.
Hai Bàn Tay Cao Cả Hơn
Nhưng hình thái hiện thực đó không phải là sự kiện chung cuộc. Trỗi hơn lẽ thật nói tới sự Sa Ngã là lẽ thật quan trọng hơn: ấy là “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rôma 8:28). Sẽ là một thế giới đầy kinh khiếp lắm nếu lời nói sau cùng là Sự Sa Ngã của con người. Ai dám sống trong một nơi như vậy chứ? Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jêsus Christ đã can thiệp từ trời. Và đối với con cái của Đức Chúa Trời, Hai Bàn Tay Cao Cả Hơn đang hành động vì ích cho chúng ta. Nói như thế có nghĩa là ngay ở giữa những tai họa kinh khủng nhất, Đức Chúa Trời đang vận hành để đem lại điều ích cao tột hơn. Có khi điều “ích” được nhìn thấy cách nhanh chóng; có khi phải tốn nhiều năm mới nhận ra rõ ràng; có khi chúng ta không bao giờ hiểu trọn lý do tại sao có những việc là hiển hiện theo cách chúng hiển hiện.
Nhưng điều nầy rất là rõ ràng: Đức Chúa Trời đang tể trị trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống — tốt và xấu, tích cực hay tiêu cực, sướng và khổ, lúc thăng lúc trầm, khi đau yếu lúc khỏe mạnh, khi sự việc suông sẻ và lúc có những việc không hay, khi chúng ta nhấn jackpot và lúc tiền bạc chúng ta cạn ráo. Ngài luôn luôn có mặt ở đó, kiên trì hành động ở đàng sau bối cảnh vì ích lợi tối hậu cho chúng ta.
Vì đấy là sự thật, có nền tảng vững chắc và chơn thật theo quan điểm của Kinh thánh. Có một việc giống như hy vọng Cơ đốc — một sự hy vọng chiếu theo bổn tánh thương xót của chính mình Đức Chúa Trời. Và hy vọng đến cuối cùng không thất vọng. Nghĩa là, bạn có thể sống để hối tiếc nhiều việc, nhưng có một việc bạn sẽ không bao giờ hối tiếc là đặt lòng tin cậy của bạn nơi một mình Đức Chúa Trời.
Đó là trường hợp về thần học cho hình thức lạc quan thực tế theo Kinh thánh — một cái nhìn tích cực vào cuộc sống trong một thế giới sa ngã. Nó không dựa theo hình thái tự cứu giúp hay tự thôi miên hoặc “Mỗi Ngày Trong Mỗi Ngày Tôi Sẽ Tốt Hơn Và Tốt Hơn” hay thứ thuốc lang băm nào đem ra bán như phương cứu chữa cho tình trạng của con người. Không, hình thái lạc quan theo Kinh thánh chẳng dựa trên con người, mà dựa trên Đức Chúa Trời. Một khi nó dựa trên bổn tánh không thay đổi của Ngài, nó sẽ vững chải theo thử nghiệm của thời gian.
Giải phẫu một căn bịnh
Có phải bạn nhớ đến tn Norman Cousins không? Ông nổi tiếng là một nhà văn và là diễn giả về quyền năng chữa lành của tiếng cười. Ông xuất hiện bằng tiếng tăm đó qua một căn bịnh đe dọa mạng sống tấn công các mô liên kết trong cơ thể của ông. Sau một loạt đầy đủ các xét nghiệm, một nhóm chuyên gia y khoa hàng đầu trao cho ông phần chẫn đoán và cơ bản nói họ chẳng thể làm gì để giúp ông. Căn bịnh mãn tính và phát triễn nhanh và (họ nói) chắc chắn sẽ lấy đi mạng sống của ông.
Ông Cousins (đã qua đời mới cách đây mấy tháng) được nhiều người ghi nhớ vì một quyển sách ông đã viết cách đây hơn 10 năm có đề tựa là Giải Phẫu Một Căn Bịnh. Trong đó, ông thuật lại một câu chuyện rất hay nói tới cách ông quyết định nắm lấy quyền điều trị, sau khi nhận được phần chẫn đoán ảm đạm từ các bác sĩ. Sau khi có kiểm tra của bịnh viện, ông tự biên cho mình một chế độ ăn uống giàu protein bao gồm một lượng lớn Vitamin C. Khi ấy ông đã làm một việc nằm ngoài cung cách của y học. Ông cho lắp một máy chiếu phim và màn hình trong phòng ngủ của ông. Rồi ông thuê từng cuốn phim của hảng Marx Brothers và từng bộ phim hài Three Stooges mà ông có thể tìm được. Khi ông xem phim ảnh trong phòng ngủ của mình, ông đã cười thoải mái. Và khi ông cười, ông thực hiện một khám phá đáng giật mình: 10 phút cười nắc nẻ cung ứng cho ông một giờ không đau đớn. Vì vậy, ông vẫn dùng Vitamin C, xem phim hảng Marx Brothers, cười thoải mái, rồi tránh được đau đớn. Khi cơn đau quay trở lại, ông lắp vào bộ phim hài khác rồi cứ thế mà trải qua.
Theo thời gian, ông đã khám phá ra rằng ông càng cười thật nhiều, ông cảm thấy mình khá hơn. Khi nhiều ngày và nhiều tháng trôi qua, các triệu chứng bệnh tật của ông từ từ suy giảm đi cho tới chừng chúng hoàn toàn thuyên giảm. Nhiều năm sau đó, ông đã viết quyển Giải Phẫu Một Căn Bệnh để chia sẻ phần khai phá của ông với nhiều người khác.
E bạn sẽ nghĩ Ông Cousins là một tạo vật lập dị, thực ra ông là một trong những nhà văn đáng trượng nhất ở Mỹ và trong nhiều năm trời là một giảng viên trợ giảng tại trường Y khoa UCLA. Phần kết luận cơ bản của ông rất là đơn giản: Có một mối quan hệ mật thiết giữa cách bạn nhìn cuộc sống và khuynh hướng bị bệnh và lưu bệnh. Có người chắc chắn “dễ bị ốm đau” vì cớ quan điểm sống tiêu cực, vô vọng và bi quan của họ. Nhiều người khác cứ mạnh khỏe mãi dù sống trong những hoàn cảnh khủng khiếp vì cớ quan điểm sống tích cực, đầy dẫy hy vọng, và lạc quan của họ.
Các y bác sĩ đều đồng ý
Sự việc như thế chẳng phải là một sự kinh ngạc cho bất cứ ai, bởi vì cái nhìn sâu sắc của Ông Cousin là một phần trị liệu y học trong nhiều thế hệ. Các y bác sĩ đã nhận biết trong một thời gian dài là có một mối quan hệ mật thiết giữa hai mặt thuộc thể và thuộc linh trong cuộc sống. Mặc dù mối quan hệ chính xác là khó xác định hay đối với số lượng, từng vị bác sĩ đã nhìn thấy nguyên tắc đang vận hành. Hãy hỏi bất kỳ vị bác sĩ nào thì ông (hay bà) ấy sẽ cung ứng cho bạn hàng tá câu chuyện kể về các bệnh nhân, họ phải chết song không chết và cách giải thích duy nhứt khả thi là quan điểm tích cực, tràn trề hy vọng về cuộc sống. Hãy hỏi chính vị bác sĩ và ông (hay bà) ấy sẽ cung ứng cho bạn hàng tá câu chuyện nói tới những người bước vào sự điều trị với kiểu cách thù nghịch, tiêu cực, hay giận dữ, và họ cứ lưu bệnh còn dài hơn là họ đáng phải chịu nữa. Và mỗi vị bác sĩ đã nhìn thấy nhiều trường hợp mà ở đó có người đã chết thậm chí dù họ lẽ ra đã khá hơn. Trong nhiều trường hợp như thế, bệnh nhân dường như muốn thối lui. Một khi họ thối lui, họ sẽ chết.
Như tôi đã nói, chúng ta đã biết rõ trong nhiều năm trời rằng khi bạn tiếp cận cuộc sống theo cách tích cực và với quan điểm thật lạc quan, bạn sẽ có nhiều hy vọng cứ giữ mãi sức khỏe tốt luôn. Chúng ta cũng đã biết rõ một thái độ tiêu cực dường như đi cặp với thứ sức khỏe nghèo nàn.
Tuần lễ nầy tôi quyết định thực hiện tra cứu riêng trong lãnh vực đó. Như bạn biết đấy, chúng ta có một số y bác sĩ đến nhóm tại đây. Tôi quyết định mời ba người trong số họ đến lo xử lý ở 3 mặt khác nhau. Khi tôi gọi điện mời, tôi nói cho họ biết tôi muốn đưa ra một thắc mắc về y học/thần học. Thắc mắc của tôi rất đơn sơ: “Trong nhiều năm trời chúng ta đã biết có một sự gắn bó giữa cách bạn nhìn vào cuộc sống và khuynh hướng giữ lấy sức khỏe hay lâm bệnh của bạn. Chúng ta cũng được biết rằng quan điểm sống của một bệnh nhân có thể là tích cực hay tiêu cực đều ảnh hưởng trên sự phục hồi riêng tư của họ. Ông (hay bà) có để ý thấy điều gì trong thực tiễn có thể chứng minh quan sát đó không?”
Thật là thú vị khi thấy rằng ba vị y bác sĩ đó đều trả lời theo cùng một cách. Câu trả lời thứ nhứt của họ là lời bình thận trọng về nghiên cứu y học đã được xuất bản trong lãnh vực nầy. Tất cả ba vị bác sĩ đều lưu ý rằng mặc dù không có nhiều dữ liệu để bảo lưu lý thuyết nầy, có một số nghiên cứu ngày càng tăng cho thấy mối quan hệ hiển nhiên giữa cách bạn nhìn xem cuộc sống và khuynh hướng của bạn đối với sức khỏe hay bệnh tật và mau phục hồi hay chậm phục hồi.
Nhưng khi tôi hỏi họ: không biết họ đã quan sát bất cứ việc gì trong lãnh vực nầy theo kinh nghiệm thực tiễn của họ hay không, mọi lưu ý đều biến mất. Ba vị bác sĩ đều mạnh dạn trả lời là “có”. Từng người trong số họ đều có nhiều câu chuyện thuật lại về các bệnh nhân nào đã phục hồi với một tỉ lệ đáng kinh ngạc khi biến số duy nhứt cho thấy bệnh nhân dường như không hề mất hy vọng. Trong các trường hợp nầy, nhiều bệnh nhân đã trở khá hơn (khá lên đáng kể) khi họ lẽ ra càng tệ hại hơn.
Cũng thực như thế đối với mặt kia của đồng tiền. Hết thảy ba vị y bác sĩ nầy đều có một số những trường hợp mà ở đó các bệnh nhân đã không đáp ứng được với phần trị liệu khi biến số duy nhứt là thái độ tiêu cực hay vô vọng. Trong một số trường hợp, các bệnh nhân ngày càng tệ hại hơn khi về mặt y khoa, lẽ ra họ phải khá hơn.
Ba vị y bác sĩ cũng cho biết thêm một điểm quan trọng: Có một sự khác biệt rất lớn nơi các bệnh nhân với đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ và các bệnh nhân không có niềm tin gì hết thảy. Trong khi sự khác biệt rất khó mô tả khi so sánh nó rất thực và có thể quan sát thấy được. “Ông (hay bà) có thể nhìn thấy khác biệt ấy không?” “Ồ có chứ, ông có thể nhìn thấy sự khác biệt đó”.
Trước tiên, Bác sĩ Solomon nói trước
Bạn có thể tự hỏi lòng mình mọi sự nầy có gì phải làm với hình thức lạc quan theo Kinh thánh. Câu trả lời của tôi, ấy là Kinh thánh phán trực tiếp với mục đích trong câu hỏi. Hãy xem xét lời lẽ của Châm ngôn 17:22: “Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay; Còn trí nao sờn làm xương cốt khô héo”. Có lẽ bạn quá quen thuộc với bản Kinh thánh King James đề cập tới phần (a) của câu nầy “Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay”. Không may câu nói ấy đã quen thuộc đến nỗi nó trở thành khẩu hiệu mà chẳng có ý nghĩa gì cả. Chúng ta lướt qua nó rồi dán nó trên tường, nhưng chúng ta quên không suy gẫm sứ điệp của nó.
Một cái nhìn vào bản gốc Hybálai giúp chúng ta đào sâu sứ điệp cho hôm nay. Theo ngôn ngữ Hybálai, có một hình thức động từ gọi là thì hiphil. Thì nầy được sử dụng khi tác giả muốn nhắc tới nguyên nhân — thứ nầy khiến cho thứ kia phải xảy ra. Khi Solomon sáng tác Châm ngôn 17:22, ông đã sử dụng thì hiphil. Cách dịch lẽ ra phải là: “Một tấm lòng phấn khởi tạo ra sự chữa lành thật là hay”.
Giờ đây, câu nói đó đã được 3000 tuổi. Há chẳng tuyệt vời sao, một khi Solomon chịu sự cảm thúc của Đức Thánh Linh để viết ra điều mà y khoa ngày nay mới chỉ khám phá ra. Nghiên cứu của thế kỷ thứ 20 nhất trí với lời lẽ xưa kia của Solomon — Có mối quan hệ gần gũi giữa cách bạn nhìn vào cuộc sống và thân thể của chính bạn sẽ được mạnh giỏi.
Điều nầy dẫn tôi ngược về tới chỗ mà tôi đã khởi sự: Bạn là người lạc quan hay bi quan? Câu trả lời của bạn có thể nói nhiều về cách bạn đang thực hiện theo phần xác hay theo phần thuộc linh.
Điều luật thuộc linh thứ nhứt
Tôi dám chắc phần lớn các bạn đều quen thuộc với Bốn Điều Luật Thuộc Linh. Một số trong các bạn có lẽ đã đến với Đấng Christ vì có ai đó đã chia sẻ chúng với các bạn. Nhiều người khác trong các bạn có lẽ đã sử dụng quyển sách nhỏ đó làm phương tiện chia sẻ Đấng Christ với bạn bè của mình. Bạn còn nhớ Điều Luật Thuộc Linh Thứ Nhứt không? Đại loại thì điều luật ấy nói như vầy: “Đức Chúa Trời yêu thương bạn và cung ứng một chương trình tuyệt vời cho đời sống của bạn”. Hãy suy nghĩ về vế sau của cụm từ đó — “một chương trình tuyệt vời cho đời sống của bạn”. Theo ý của tôi, trong bốn điều luật, điều luật thứ nhứt là điều khó tin nhất. Điều luật thuộc linh khó nhất dành cho chúng ta phải tin theo là điều luật nói rằng Đức Chúa Trời có một chương trình tuyệt vời dành cho đời sống của chúng ta. Đây là một quan niệm rất khó đối với nhiều người.
Chúng ta thấy dễ dàng khi tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương thế gian nói chung, hay Ngài yêu thương dòng giống con người nói chung, hoặc Ngài yêu thương tha nhân. Nhưng tư tưởng cho rằng Ngài yêu thương tôi theo cách riêng, điều đó rất khó nắm bắt được lắm. Có nhiều người phấn đấu với cảm xúc không được yêu và không xứng đáng được yêu trong nhiều năm, nhiều năm và nhiều năm lắm. Họ chưa hề vượt qua được cảm xúc đó vì cớ quá khứ của họ, họ chưa bao giờ lượng được cái điều mà họ sẽ được định phải trở thành. Họ không cảm xúc được mình đáng được yêu, vì thế họ có một thời khó mà tin rằng ai đó sẽ thực sự yêu thương họ.
Bài giảng lúc mặt trời mọc
Câu chuyện được thấy có ở Giăng 8, trong một phân đoạn Kinh thánh gây tranh cãi, có một số người nghĩ thậm chí phân đoạn nầy không nên có trong Kinh thánh. Song tôi nghĩ nó đáng phải có trong Kinh thánh là vì nó phù hợp trọn vẹn với những gì chúng ta biết về Đức Chúa Jêsus Christ.
Ấy là ngày theo sau Lễ Lều Tạm. Thành Jerusalem đầy dẫy với khách hành hương đang sẵn sàng cho chuyến đi trở về lại quê nhà của họ. Trong 8 ngày, họ đã sống trong các túp lều, nhớ lại cuộc trú ngụ trong đồng vắng. Giờ đây, họ sẽ trở về quê nhà và làng mạc của họ rãi khắp xứ Giuđê và xứ Galilê. Nhưng trước khi họ đi, phần nhiều người trong số họ đã đến lúc sáng sớm ghé thăm Đền Thờ một đêm qua.
Sự việc xảy ra lúc sáng sớm không phải là chuyện nhỏ đâu đấy. Bản Hylạp hiển nhiên nói tới “buổi bình minh sâu sắc”, là thời điểm ngay trước khi mặt trời mọc, lúc bầu trời đông phương vừa bắt đầu đổi sang màu xám tro. “Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ” (Giăng 8:2). Phần tham khảo đến hành lang đền thờ có lẽ muốn nói tới hành lang của nữ giới, là nơi nhóm lại thông thường dành cho số người lắng nghe các rabi khác nhau rao giảng. Hành lang của nữ giới hướng mặt về phía Đông. Có một số cổng vây quanh nơi ấy, qua đó mặt trời sẽ chiếu sáng khi nó mọc lên trên rặng núi Ôlive.
Khi Chúa Jêsus dạy dỗ, đám đông nhóm lại ở quanh Ngài. Đến lúc nầy, Ngài hoàn toàn trở thành nhân vật cho mọi người nói tới. Ngài là câu chuyện của thành phố. Nhiều ý kiến phân chia ra về chàng thanh niên nầy xuất thân từ xứ Galilê. Có người tin Ngài là vị tiên tri của Đức Chúa Trời; nhiều người khác nghĩ Ngài là kẻ gây rắc rối. Nhiều người khác nữa thì họ không dám chắc. Không nghi ngờ chi nữa, tiếng tăm của Ngài là lý do cho nhiều người nhóm lại rất sớm vào sáng hôm ấy.
Bị bắt quả tang
Trong khi Ngài đang giảng dạy, một việc kỳ lạ đã xảy ra. Thình lình có tiếng náo động từ bên kia. Một đoàn dân đông vây lấy đám đông. Xô đẩy, chen lấn, la hét, một nhóm người đã làm gián đoạn công việc ở đây. Chúa Jêsus vốn biết rõ ngay tức khắc họ là ai rồi. Họ là các cấp lãnh đạo tôn giáo hàng đầu của thành Jerusalem. Họ bị kích động, khăng khăng, là hạng người duy nhứt nghĩ mình là quan trọng hơn ai hết. Ở giữa những gã đàn ông là một phụ nữ — rung rẩy, tuyệt vọng, rối bời và phần nào bị bắt phục. Nàng từ chối không chịu nhìn tận mặt Chúa Jêsus. Những gã đàn ông kia buộc người nữ nầy đứng trước mặt mọi người.
Người phụ nữ nầy là ai và tại sao nàng có mặt ở đây? Câu trả lời có ngay tức thì: “Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm”. Bạn cần phải biết rằng đây là một điều khoản rất nghiêm trọng. Trong Cựu Ước, tà dâm sẽ bị hình phạt bằng cái chết. Đây là một hành vi của tội trọng. Người nào bị bắt quả tang thường bị ném đá cho tới chết.
Rắc rối gấp đôi
Song đấy chỉ là một phần của câu chuyện. Mấy gã đàn ông kia đem nàng đến với Chúa Jêsus đã có điều chi đó trong trí. Họ đang tìm cách gài bẫy Chúa Jêsus vào một tư thế chẳng đặng đừng. Họ đang tìm cách gài bẫy Ngài giữa sự thông cảm của đám dân đông và mọi đòi hỏi của luật pháp. Ở một mặt, luật pháp buộc rằng những kẻ tà dâm sẽ bị án phạt bằng sự chết. Mặt khác, điều luật nầy hiếm khi được thi hành — vì nhiều lý do khác nhau, một số trong đó có thể xảy ra cho bạn khi bạn suy gẫm về tình trạng yếu đuối của bổn tánh con người. Nhưng lý do chính, ấy là thật là khó bắt quả tang ai đó về tội tà dâm một khi tà dâm không phải là một môn thể thao đáng để xem. Nếu hai người dính dáng không nói được điều gì, thì rất khó chỉ ra minh chứng mà bạn có cần.
Kế hoạch của người Pharisi rất rõ ràng. Họ thực sự không quan tâm lắm đến người đàn bà nầy. Nàng chỉ là con cờ trong tay của họ. Tình trạng tà dâm của nàng ta (là việc thực sự đã xảy ra. Trong câu chuyện chẳng có đề cập đến điều chi khác hơn thế) chẳng có gì nhằm nhò với họ cả. Đặc biệt, đây là phương tiện để gài bẫy Chúa Jêsus thôi. Rốt lại, nếu Ngài nắm chặt lấy luật pháp rồi ra lịnh ném đá người phụ nữ nầy, Ngài sẽ có nguy cơ gánh chịu cơn thạnh nộ của đám dân đông kia. Còn nếu Ngài đứng về phía người phụ nữ nầy, Ngài sẽ có nguy cơ bị tố cáo là không làm theo luật pháp Môise. Đàng nào Ngài cũng bị rơi vào bẫy của họ.
Người đàn ông phạm tội – Người đàn bà bị bắt quả tang
Đồng thời, bản Hylạp nói rất mạnh ở câu 4. Những kẻ tố cáo nàng thực sự đang nói: “Người đàn bà nầy bị bắt quả tang phạm tội tà dâm”. Hãy nhớ, lúc ấy là sáng sớm, ngay trước khi mặt trời mọc. Cái điều đáng tin, ấy là họ đã bắt gặp người phụ nữ nầy với một người đàn ông cách vài giờ đồng hồ trước đó. Nhưng có mấy câu hỏi thoạt đến trong trí khi bạn nghĩ đến chỗ: 1. Nàng đã ở đâu chứ? 2. Làm sao họ bắt được nàng chứ? 3. Còn người đàn ông đâu? Theo xác định, thì tội tà dâm đòi phải có hai người kia. Người đàn ông đâu? Tại sao họ không đưa ông ta đến với Chúa Jêsus? Đừng bảo tôi là hắn đã trốn thoát nhé! Điều đó thật vô lý. Nếu bạn bắt quả tang nàng ta, bạn phải bắt luôn ông ta chứ.
Đây là chuyện được đặt để ra, có phải không? Có phải người Pharisi ra kế hoạch với người đàn ông kia, bảo hắn ta dụ người nữ nầy, dẫn nàng vào tội tà dâm, và rồi “hiển nhiên” bắt nàng quả tang trong khi “hiển nhiên” để cho gã đàn ông trốn thoát? Có thực như thế chăng? Chắc là thế rồi. Đây là một điển hình mà thôi. Người đàn ông đưa người đàn bà vào chỗ rắc rối và chính người đàn bà cần phải trả giá.
Ngón tay của Đức Chúa Trời viết trên đất
Thế là người Pharisi nghĩ họ đã gài bẫy được Chúa Jêsus. Trong khi họ đứng đợi Chúa Jêsus đáp lời, Ngài cúi xuống rồi bắt đầu viết trên đất bằng ngón tay của Ngài (câu 6). Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều nhà giải kinh đã bàn bạc về những gì Chúa Jêsus đã viết ra. Phần lớn đều cho rằng Ngài đã viết ra một câu Kinh thánh không cứ cách nào đó đã xét đoán người Pharisi. Nhiều người khác nghĩ Ngài đã liệt kê ra mọi tội lỗi của họ ở trên đất, nhơn đó tạo ra sự thuyết phục về tội lỗi. Một đề xuất, ấy là Ngài đã viết ra tên tuổi của những người đàn bà mà họ đã ăn nằm với!
Sự thực là, chúng ta không biết những gì Ngài đã viết ra bởi vì Giăng không nói cho chúng ta biết. Điều nầy dẫn tôi đến với một kết luận quan trọng: Có lẽ những điều Ngài đã viết đó là không quan trọng vì nếu sự ấy quan trọng, thì Giăng đã nói cho chúng ta biết. Đây là hành động viết lách và nội dung chẳng có hàm ý gì là quan trọng hết. Hãy dừng ở đó rồi suy nghĩ trong một phút xem.
Chúa Jêsus đã viết ra trên đất và trong khi Ngài đang viết đó, người Pharisi cứ mãi thắc mắc đối với Ngài: “Được thôi, để xem coi ngươi sẽ làm gì đây? Chúng ta sẽ ném đá nàng ta chứ? Người có muốn chúng ta thả nàng ta đi không? Hãy động não đi”.
Vì thế, Chúa Jêsus đã đứng dậy, đối mặt với mẫy gã đó rồi thốt ra lời lẽ đã vang dội qua 20 thế kỷ như tiêu chuẩn căn bản của sự công bằng trong mọi cuộc điều tra về pháp lý: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người” (8:8). Khi ấy, Ngài cúi xuống và một lần nữa dùng ngón tay viết trên đất. Một lần nữa, chúng ta không biết Ngài đã viết ra điều gì.
Những nhắc nhớ về Núi Sinai
Phần kết luận cho thấy đây là một hành động viết lách và nội dung chẳng có gì quan trọng ở đây. Hành động viết lách chỉ ra điều gì chứ? Hãy nhớ, trước hết Chúa Jêsus đang trao đổi với ai ở đây!?! Đây là những người Pharisi, họ vốn chìm đắm trong lịch sử của Cựu Ước. Họ biết rõ phần lịch sử của dân Israel cả về trước và về sau. Giờ đây, hãy tự hỏi mình một câu xem: Có ai khác trong lịch sử Israel đã viết bằng chính ngón tay của mình không? Chỉ có một nhân vật mà thôi. Chính mình Đức Giêhôva đã viết ra 10 Điều Răn trên đá bằng ngón tay của Ngài. Điều nầy đã xảy ra tại Núi Sinai, khi Đức Chúa Trời ban ra luật pháp Môise ở chỗ thứ nhứt.
Khi Chúa Jêsus cúi xuống rồi dùng ngón tay mình viết trên đất, người Pharisi hiểu ngay việc viết lách của Ngài có ý nói gì rồi: Ngài không những là một nhân vật chuyên diễn giải luật pháp. Mà Ngài còn là Đấng ban ra luật pháp — giống như Đức Giêhôva là Đấng ban ra luật pháp ở chỗ thứ nhứt. Khi nhìn xem theo ánh sáng đó, hành động viết lách kia bằng ngón tay của Ngài hiển nhiên là cách xưng ra thần tánh của Ngài. Nếu việc ấy là kỳ lạ đối với chúng ta, sở dĩ như thế là vì chúng ta không suy nghĩ giống như người Pharisi. Ngay lập tức họ đã nắm bắt được biểu tượng đó.
Sứ điệp là đây: Chúa Jêsus là Đấng ban ra luật pháp không những có quyền xét đoán người đàn bà nầy; mà Ngài còn có quyền xét đoán họ nữa. Người Do thái nhớ lại Sinai và họ vốn hiểu chính xác những gì Ngài đang phán. Bằng cách viết trên đất, Ngài đang xưng nhận mọi đặc quyền đều thuộc về một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Ngài đang làm những gì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm.
Ta cũng không xét đoán ngươi
Giăng nói cho chúng ta biết rằng mấy gã đàn ông kia bắt đầu bỏ đi từng người một, những người lớn tuổi đi trước, còn những người trẻ hơn tiếp theo sau. Có lẽ những người lớn tuổi nhận thức được tình trạng tội lỗi của họ và khi đối mặt bởi những cách xưng nhận của Đức Chúa Jêsus Christ, họ không thể đứng trong sự hiện diện của Ngài được nữa. Những người trẻ tuổi hơn cảm thấy tự tin, tự mãn, dám chắc ở trong lòng, song khi các tay đồng minh của họ biến mất, thái độ tự tín của họ cũng tan biến theo luôn.
Cuối cùng, chỉ có Chúa Jêsus và người đàn bà kia còn ở lại — và đám đông đứng quan sát kia. Mọi kẻ tố giác nàng đều đã bỏ đi hết rồi. Ngài sẽ làm gì đây? Chúa Jêsus đứng dậy một lần nữa rồi phán cùng người đàn bà — lần đầu tiên và cũng là lần duy nhứt: “Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?” (8:10). Câu đáp của nàng rất đơn giản: “Lạy Chúa, không ai hết”.
Chúa Jêsus sẽ làm gì với nàng ta? Đây là một người đàn bà chẳng màng chi về tội tà dâm. Nàng ta đã sống một đời sống chung chạ bừa bãi, tìm cách thỏa mãn mau qua trong vòng tay của những gã đàn ông vô danh. Giờ đây, sự thực đáng buồn đó đã bị đưa ra chỗ công khai. Chúa Jêsus sẽ làm gì đây? Liệu chính mình Ngài có xét đoán người đàn bà nầy không? Rốt lại, nếu có ai đủ tư cách ném đá người đàn bà nầy, thì người đó là Chúa Jêsus.
Thế nhưng Ngài không xét đoán nàng ta. Mà ngược lại, Ngài tuyên bố một câu đượm đầy ơn tha thứ: “Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa” (8:11).
Bây giờ, khi người đàn bà nầy sắp sửa rời đi, mặt trời đang bắt đầu hiện lên trên đường chân trời phía Đông. Khi những tia sáng đầu tiên của buổi bình minh rọi vào hành lang của nữ giới, chúng chạm trọn vào gương mặt của nàng. Đúng lúc đó, Chúa Jêsus phán với đám đông đang nhóm lại kia: “Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống” (8:13). Thông điệp chuyển tiếp rất rõ ràng: Người nào đến với Chúa Jêsus đang bước ra khỏi bóng tối tăm đạo đức và bước vào ánh sáng của một đời mới. Người đàn bà nầy — bị bắt quả tang phạm tội tà dâm — là Tang Vật A của lẽ thật quan trọng đó. Tội lỗi của nàng ta đã phạm phải dưới sự bao phủ của bóng tối tăm. Từng được tỏ ra nơi sự sáng, Chúa Jêsus đã xua những kẻ tố cáo nàng ta đi, tha thứ tội lỗi của nàng ta, rồi đặt nàng ta trên một con đường đời mới hướng tới tương lai.
Từ tội nhân đến thánh đồ
Đối với người nào đã sống trong bóng tối tăm tội lỗi, nếu họ chịu đến với Chúa Jêsus, họ sẽ tìm gặp chính một việc mà người đàn bà nầy đã tìm được — ơn tha thứ và đổi mới mục tiêu đạo đức. Người đàn bà nầy — người đàn bà phạm tội tà dâm nầy, người đàn bà tội lỗi nầy, người đàn bà đỏ đen nầy — đã được Đức Chúa Jêsus Christ tha thứ và được ban cho một mục đích mới trong cuộc sống. Nàng ta đã bước vào là một tội nhân và đã bước ra là một thánh đồ. Nàng ta đã bước vào trong ô uế; nàng ta đã bước ra trong sự thanh sạch. Nàng ta đã bước vào trong tội lỗi; nàng đã bước ra trong sự vô tội. Nàng ta đã bước vào trong bóng tối tăm; nàng ta đã bước ra với sự sáng chiếu rọi của Chúa Jêsus đang soi sáng tận đáy linh hồn của nàng.
Đấy là một phép lạ của Tin Lành. Đấy là những gì Đức Chúa Jêsus Christ có thể làm. Ngài có thể bắt lấy một đời sống đang chìm xuống thấp rồi cất nó lên cao. Ngài có thể nắm lấy một đời sống thật tội lỗi rồi Ngài làm cho đời sống ấy được ngay thẳng trở lại. Ngài có thể nắm lấy một đời sống bị tan vỡ rồi Ngài chữa lành cho đời sống đó. Ngài có thể bắt lấy một người đàn bà bị xã hội ruồng bỏ rồi Ngài làm cho nàng ta được tiếp nhận trở lại. Ngài có thể bắt lấy một gã thâu thuế bị người ta ghét bỏ rồi khiến người ấy trở thành một công dân tốt nhứt trong cộng đồng. Ngài có thể bắt lấy một phụ nữ đang sống với một người chồng và Ngài có thể khiến cho nàng trở thành một nhà truyền đạo bốc lửa cho Tin Lành của Ngài. Đấy là những gì Đức Chúa Jêsus Christ có thể làm.
Dây Kéo Mắc Kẹt
Ngài có thể bắt lấy ai đó đang mặc chiếc áo bẩn thỉu của đời sống cũ rồi qua người, họ có thể đổi áo cũ để lấy những chiếc áo mới. Phần nhiều người trong chúng ta cần phải nghe thấy lẽ thật ấy. Chúng ta cần phải đổi những bộ quần áo cũ để lấy những bộ quần áo mới.
Cho phép tôi minh họa. Những đứa trẻ nhỏ thích thử những bộ quần áo mà cha mẹ chúng đang mặc. Chúng thích mặc cái áo sơmi của Bố hay chiếc áo cánh của Mẹ và chúng thích đi xung quanh nhà mang lấy những đôi giày cao gót hay mấy đôi giầy bốt xỏ hết cái chân của chúng vào đó. Thật là vui khi làm như thế vì chúng có thể giả bộ là chúng đã lớn rồi. Mặc lấy “quần áo người lớn” là một phần của việc khám phá xem thực sự bạn là ai. Đây là lối sống trong một vài phút đồng hồ mà chẳng có vướng điều gì lớn lao. Khi bạn còn nhỏ, bạn có thể khoác lấy những bộ quần áo người lớn và rồi lại cởi chúng ra.
Phần nhiều người trong chúng ta đã làm y như vậy về mặt tình cảm đang khi chúng ta đã lớn khôn rồi. Chúng ta thử nhiều nhân cách khác nhau. Ngày nầy chúng ta thử khoác lấy nhãn hiệu “dễ thương và hài hước”. Chúng ta khoác lấy bộ mặc đó trong một lúc, rồi cởi bỏ nó ra. Rồi chúng ta tìm cách mặc lấy nhân cách có nhãn hiệu “đần độn”. Chúng ta khoác lấy bộ mặt ấy trong một lúc, rồi cởi bỏ nó ra. Theo thời gian chúng ta tìm cách khoác lấy thật nhiều nhân cách — Đứa Con Trung Thành, Chú Hề, Kẻ hay Tán Gái, Kẻ Chuyên Ngồi Lê Đôi Mách, Học Trò Ngoan, Đứa Con Ngoan Của Mẹ, Bạn Của Mọi Người, Kẻ Hay Nóng Giận, Nổi Loạn Không Cần Biết Lý Do, Nữ Hoàng Dạo Chơi, v.v…. Phần lớn chúng ta đều khoác lấy 5 hay 6 nhân cách khác nhau khi chúng ta lớn lên. Mỗi một nhân cách thích ứng với chúng ta trong một thời gian ngắn, nhưng rồi chúng ta lột bỏ nó và tìm cách khoác lấy nhân cách khác.
Thế rồi một số người trong chúng ta có được sự khám phá rất khủng một ngày kia. Cái áo choàng nhân cách sẽ không sao cởi ra được. Vì lý do nào đó, dây kéo mắc kẹt và chúng ta không sao cởi nó ra được. Và một số người trong chúng ta đã bị kẹt trong cái áo choàng nhân cách không lành mạnh trong 10, 20, 30 hoặc thậm chí 40 năm. Chúng ta đã tìm cách khoác lấy nó khi còn là thanh thiếu niên và chúng ta bị kẹt với nó kẻ từ đó. Nó thực sự không vừa khít với chúng ta nhưng chúng ta không biết cách thức để rủ bỏ nó. Chúng ta vẫn khoác lấy cái áo choàng có nhãn hiệu: “Kẻ gây rối” hay “Đứa con biết vâng lời” hoặc “Đang tìm kiếm tình yêu” hay “Kẻ Hay Nóng Giận” mặc dù cái áo choàng chẳng còn vừa khít với chúng ta cách đây nhiều năm. Vì vậy, bạn sẽ bị phê phán trọn cả đời mình, hay bị lấn ép cả đời, hoặc lăng nhăng cả đời. Và bạn chẳng biết cách thế để thay đổi cuộc sống ấy.
Chúa Jêsus có thể thay đổi cái tủ quần áo của bạn
Tôi có thể chia sẻ lẽ thật Tin Lành với bạn không? Chúa Jêsus có thể thay đổi cái tủ quần áo của bạn đấy. Sứ điệp của Ngài rất đơn sơ: “Nếu ngươi chịu cất tay mình ra khỏi dây kéo, ta sẽ tháo nó ra”. Có thể bạn nghĩ rằng vì nó bị kẹt cứng trong 30 năm, bạn phải sống theo cách ấy cho đến đời đời. Không! Sứ điệp Tin Lành, ấy là mặc dù bạn bị kẹt với một nhân cách thối tha trong nhiều thập niên, Đức Chúa Jêsus Christ bước đến rồi nói: “Nếu ngươi cho phép ta, ta sẽ lột bỏ bộ y phục đời sống cũ của ngươi rồi ta sẽ đổi chúng lấy bộ y phục mới”. Đến cuối cùng, bạn sẽ xinh tốt hơn bạn từng có trước đây.
Đấy là quyền phép của Đức Chúa Jêsus Christ. Đấy là những gì Tin Lành có thể làm. Ngày lấy những miếng giẻ rách đời sống cũ và thay thế chúng bằng tấm vải mang thương hiệu mới.
Đối với tôi đấy là trọng tâm hình thái lạc quan của Kinh thánh muốn nói tới. Đấy là chỗ mà toàn bộ sứ điệp nầy kết hợp lại. Qua Đức Chúa Jêsus Christ sự thay đổi như thế là khả thi. Qua Đức Chúa Jêsus Christ những thói hư tật xấu của nhiều thập niên sẽ bị thay đổi hết. Qua Đức Chúa Jêsus Christ những lối hành xử có tính cách hủy diệt sẽ bị thay đổi và đời sống của bạn sẽ được biến đổi hoàn toàn.
Qua Đức Chúa Jêsus Christ mặc dù bạn bước vào hôm nay với một đời sống cũ, bạn có thể bước ra với một đời sống mới. Đấy là lời hứa của Tin Lành.
Đấy là lý do tại sao tôi rất vui mừng về tương lai của tôi. Đấy là lý do tại sao bạn cần phải vui vẻ về tương lai của bạn. Sự thay đổi quả là khả thi. Bạn không nên trụ lại ở chỗ mà bạn đang sống trước đây.
Ba câu kết thúc
- Hình thái lạc quan theo Kinh thánh là khả thi vì nó dựa trên Tin Lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ chớ không dựa trên mọi hoàn cảnh của bạn. Đấy là một nguyên tắc cụ thể phải nắm lấy vì bạn có thể đang đối diện với những hoàn cảnh khó khăn ngay lúc nầy, và khuynh hướng của bạn sẽ nói: “Ông không nói về trường hợp của tôi”. Có thể bạn đang nếm trải thời điểm khó nhọc về tài chính và bạn nghĩ: “Chẳng có gì thay đổi đặng điều nầy”. Hay cuộc hôn nhân của bạn có thể đang lâm vào rắc rối và ly dị dường như là phần kết luận sau cùng. Có thể bạn đang đứng ở chỗ mất việc làm. Hay mất sức khỏe. Hoặc mất đi mơ ước bạn đã từng theo đuổi trong nhiều năm trời. Sẽ có rối rắm trong gia đình của bạn hay ở trường hoặc nơi sở làm. Và khi bạn điều nghiên hoàn cảnh, bạn không thể tìm được chỗ nào để thấy có sự khích lệ.
Nhưng thế thì chẳng là vấn đề gì đâu. Sống lạc quan là khả thi vì hình thái lạc quan theo Kinh thánh yên nghỉ trên mọi lời hứa của Tin Lành chớ không đặt trên mọi hoàn cảnh của bạn. Bao lâu Tin Lành còn là sự thực (và hiển nhiên là như vậy), sự thay đổi quan trọng là khả thi, mặc dù đương ở trong những hoàn cảnh rất vô vọng.
- Hình thái lạc quan theo Kinh thánh là khả thi vì công việc của Đức Chúa Trời trong đời sống của bạn là một tiến trình, chớ không phải là một sản phẩm. Điều nầy đưa chúng ta ngược về với Rôma 8:28. Đâu là “ích” mà mọi sự hiệp lại nhắm vào đó chứ? Theo văn mạch, “ích” là việc ngày càng trở nên giống như Đức Chúa Jêsus Christ hơn. Nói như thế là muốn nói bất cứ điều chi xảy ra cho bạn có nghĩa là Đức Chúa Trời muốn góp phần vào mục tiêu tối hậu để bạn một ngày kia càng trở nên giống như Đức Chúa Jêsus Christ hơn — phản chiếu bổn tánh Ngài trong mọi sự bạn nói và làm. Đối với phần lớn chúng ta, đây là một quá trình cả đời không hề kết thúc ở phía bên nầy của mồ mả.
Nhưng triễn vọng ấy làm thay đổi cách thức chúng ta nhìn vào thất vọng và chán nãn. Nếu mục tiêu số #1 của Đức Chúa Trời là khiến tôi ra giống như Đức Chúa Jêsus Christ, thế thì Ngài có nhiều bài học để dạy dỗ tôi. Phần lớn các bài học đó chỉ có thể đến qua chứng đau đầu và khó khăn vì phần lớn chúng ta tiếp thu nhiều qua các thời điểm khó nhọc hơn là chúng ta tiếp thu qua những lúc suông sẻ.
Công tác của Đức Chúa Trời trong đời sống của bạn là một quá trình chẻ thẳng vào những điểm yếu của bạn rồi từ từ phát triển bổn tánh của Đức Chúa Jêsus Christ ở bên trong. Nhưng việc ấy ý nói có cơ sở cho hình thái lạc quan — ngay cả trong những tình huống tệ hại nhất — vì những thời điểm khó nhọc có ý nói rằng Đức Chúa Trời khó hành động ở trong bạn để khiến bạn ra giống nhiều như Con của Ngài.
Không một điều gì là phung phí cả. Không một điều gì xảy ra cho bạn mà có ý đồ hủy diệt bạn đâu. Ngay cả những cuộc công kích và vu khống của kẻ thù đều được phép của Đức Chúa Trời vì một mục đích cao cả hơn trong đời sống của bạn. Mọi sự đều có một mục đích trong đời sống của bạn. Mọi sự. Sự thực cho thấy rằng bạn không luôn luôn nhìn thấy như thế thì chẳng có nghĩa là phủ nhận sự thực đó.
Vậy, hãy vui lên đi. Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị trong đời sống của bạn, đặc biệt là trong những thời điểm khó nhọc.
- Hình thái lạc quan theo Kinh thánh là khả thi vì mọi lời hứa của Đức Chúa Trời trỗi hơn cuộc sống nầy. Đấy là sự khác biệt giữa hình thái lạc quan theo Kinh thánh và lối suy nghĩ tích cực. Lối suy nghĩ tích cực kết thúc tại mồ mả. Còn hình thái lạc quan theo Kinh thánh thì trỗi hơn cuộc sống nầy. Nó dựa trên mọi lời hứa của Đức Chúa Trời, là những điều trỗi hơn đời sống nầy dẫn tới đời sống hầu đến.
Sáng nay, tôi có nhận được những tin tức đáng buồn. Sara Spurny đã qua đời khoảng 4:30 chiều hôm nay. Phần nhiều người trong các bạn chưa biết bà ấy vì bà ấy là một người rất trầm tỉnh. Nhưng bà và ông Spurny cùng cô con gái là Marta đã đến nhóm tại hội thánh nầy mấy năm qua. Họ luôn luôn ngồi ngay hàng ban-công phía tây của nhà thờ. Cách đây hai tháng, các y bác sĩ nói cho Bà Spurny biết rằng bà mắc chứng ung thư không thể giải phẩu được. Họ đã tìm cách sử dụng hóa trị, song mọi việc điều trị không thể làm thay đổi chi được nữa. Cách đây mấy ngày, các y bác sĩ nói cho Marta biết rằng giờ chỉ còn là thời gian thôi.
Cái chết của bà là cú đánh rất khó nhọc cho tôi theo cách riêng vì gia đình Spurny là một trong những gia đình đầu tiên làm bạn với chúng tôi khi chúng tôi dời đến Oak Park cách đây hai năm. Tôi không biết lý do tại sao lại xảy ra như vậy, nhưng không cứ cách nào đó chúng tôi đã trở thành bạn bè tốt với nhau. Mỗi Chúa nhật, Ông và Bà Spurny đều đến, bắt tay tôi, và Bà Spurny luôn mĩm cười với tôi. Họ dạy cho tôi một ít tiếng Czechoslovakian, và mỗi tuần chúng tôi có thể vui đùa với nhau.
Mấy đứa con của tôi, chúng rất quí Marta và Bố Mẹ của bà. Trong hai năm qua, họ đưa chúng tôi ra nhà hàng gần bờ sông để dự tiệc Giáng Sinh vì có những tay đầu bếp xưa đứng nấu. Chúng tôi yêu quí họ và họ rất mến thích chúng tôi.
Những khuôn mặt rạng rỡ
Bây giờ thì Bà Spurny đã qua đời rồi. Khi tôi hay tin, tôi nhớ lại lần sau cùng tôi đã gặp bà. Cách đây mấy tuần, Mục sư Brian Bill và tôi đi đến nhà của bà. Trông bà rất ốm yếu. Chứng ung thư đã làm trọn công việc ghê khiếp của nó. Khi chúng tôi gặp bà, chúng tôi biết sẽ không còn lâu nữa đâu. Nhưng bà rất lịch thiệp hơn bao giờ hết. Khi chúng tôi ngồi ở cái bàn trong nhà bếp, Mục sư Brian đọc Thi thiên 34. Khi ông đọc đến câu 5, ông dừng lại trong một chút: “Chúng ngửa trông Chúa thì được chói-sáng, mặt họ chẳng hề bị hổ thẹn”. Vì một lý do nào đó tôi chưa hề chú ý đến câu Kinh thánh đặc biệt đó. Nhưng khi ông đọc đến câu ấy, tôi nhìn lên Bà Spurny. Gương mặt của bà thật là rạng rỡ. Mặc dù chứng ung thư sắp tước đi sự sống của bà, nó không hủy diệt được tâm linh của bà. Bà nói với chúng tôi: “Tôi không sợ chết đâu. Tôi sẵn sàng đi gặp Chúa đây”.
Có một bộ mặt rạng rỡ mới mẻ trên thiên đàng sáng nay. Bà đã có mặt ở đó trong khoảng 5 giờ đồng hồ.
Đấy là dòng cuối cùng, có phải không? Đối diện ngay cả với sự tệ hại nhất mà cuộc sống cung ứng cho là điều rất khả thi, và đối diện với nó bằng hy vọng và bằng hình thái lạc quan vì mọi lời hứa của Đức Chúa Trời trỗi hơn mồ mả.
Trên thiên đàng chẳng còn có chứng ung thư, chẳng còn có đau ốm, chẳng còn có chứng Alzheimer, chẳng còn có bịnh AIDS nữa. Trên thiên đàng chỉ có sự rạng rỡ và vui mừng khi nhìn thấy Đức Chúa Jêsus Christ mặt đối mặt.
Điều tốt đẹp nhất chưa đến
Có phải bạn vui mừng về tương lai của bạn không? Nếu bạn là một con cái của Đức Chúa Trời, bạn cần phải vui mừng về tương lai của bạn. Đức Chúa Jêsus Christ luôn quan phòng đến quá khứ, hiện tại và tương lai của bạn. Ngài quan phòng đến quá khứ của bạn bằng cách tha tội cho bạn. Ngài quan phòng hiện tại của bạn khi Ngài phán: “Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hêbơrơ 13:5). Ngài quan phòng đến tương lai của bạn khi Ngài phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:1-3)
Nếu bạn là một con cái của Đức Chúa Trời, bạn đang ở trong hai bàn tay nhơn lành. Quá khứ của bạn đã được tha, hiện tại của bạn được bảo đảm, và tương lai của bạn được quyết chắc. Đối với con cái của Đức Chúa Trời, điều tốt đẹp nhất vẫn chưa xảy đến.
Thắc mắc duy nhứt còn chừa lại là đây: Bạn có nhìn biết Ngài chưa? Bạn có nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ chưa? Đâu là hy vọng của bạn về tương lai?
Vào ngày Chúa nhật Cải Chánh nầy, chúng ta cùng đứng với Martin Luther, John Calvin và các nhà cải chánh quan trọng khác trong việc tuyên bố rằng hy vọng của bạn phải đem đặt nơi Đức Chúa Jêsus Christ và chỉ nơi một mình Ngài mà thôi.
Bạn có nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ chưa? Bạn có đặt lòng tin cậy của bạn ở nơi Ngài chưa? Ngài là thiện ở ngày hôm qua, Ngài là thiện cho hôm nay, Ngài là thiện cho tất cả những ngày mai sẽ tới đến. Bất luận điều chi xảy ra cho bạn, bạn sẽ ở trong hai bàn tay nhơn lành nếu bạn đang ở trong hai bàn tay của Ngài vì hai bàn tay của Ngài đang tể trị thế gian. Hãy đặt đời sống của bạn vào hai bàn tay của Ngài, và bạn sẽ không bao giờ thất vọng đâu. “Chúng ngửa trông Chúa thì được chói-sáng, mặt họ chẳng hề bị hổ thẹn”.
Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì mọi lời hứa đời đời kia. Chúng con cảm tạ Ngài vì niềm hy vọng không hề vơi khi thời gian trôi qua. Chúng con cảm tạ Ngài vì ban cho chúng con một tương lai thậm chí ngay cả sự chết cũng không thể hủy diệt được. Chúng con cảm tạ Ngài vì đã thay thế niềm hy vọng hay hư mất của đời nầy bằng niềm hy vọng còn mãi cho đến muôn đời. Nguyện chúng con cứ tin rằng trong Đức Chúa Jêsus Christ, chúng con có những gì chúng con cần — hôm qua, ngày nay, ngày mai và cho đến đời đời. Amen.
Còn Chín Người Kia Ở Đâu?
– Luca 17:11-19
Đúng là một cống hiến cho y khoa hiện đại khi phần lớn chúng ta đều biết rất ít về căn bịnh được gọi là bịnh phung. Hầu hết chúng ta đều chưa hề nhìn thấy một người phung. Chúng ta chỉ biết những gì chúng ta đọc trong Kinh thánh mà thôi.
Nếu chúng ta sống trong thời buổi đó, chúng ta sẽ biết được nhiều hơn. Trong các thời kỳ Kinh thánh, đấy chính là căn bịnh gây lo sợ nhiều nhất trong thế gian. Căn bịnh ấy gây chết chóc, không thể chữa được và vô vọng. Vì vậy, nhiều người thời xưa đã e sợ nó đến nỗi bất kỳ ai bị nghi nhiễm căn bịnh nầy sẽ bị trục xuất ra khỏi xã hội ngay. Trong các tác phẩm của hàng rabi, chúng ta thấy những phương cứu chữa cho nhiều loại căn bịnh khác nhau. Song chẳng có chép gì về bịnh phung. Các rabi nói rằng chữa trị bịnh phung giống như làm cho kẻ chết sống lại vậy.
- Căn bịnh đáng ghê tởm
Ngày nay, bịnh phung được gọi là Bịnh Hansen, sau khi vị Bác sĩ người Na-uy vào năm 1873 đã khám phá ra vi khuẫn gây bệnh. Chắc chắn là có vài loại bịnh phung, và chúng ta ngày nay biết rõ Kinh thánh dịch “phung” chắc chắn bao gồm một loạt bịnh về da, đó là lý do tại sao một số bản dịch hiện đại sử dụng một cụm từ đại loại như “bịnh lồi da”.
Loại phung tệ hại nhất có khuôn mẫu chung chung như sau:
+ Thứ nhứt, một mảng da bị đổi màu. Có thể xảy ra ở chân mày, mũi, tai, gò má hay cằm.
+ Thứ hai, mảng da nầy chuyển thành màu trắng hay màu hồng và bắt đầu lan rộng theo các hướng thật nhanh chóng.
+ Thứ ba, căn bịnh lan sang các bộ phận nội tạng khác. Chân mày có thể biến mất và nhiều khối u mềm xuất hiện trên cơ thể.
+ Thứ tư, mô bắt đầu tan rã khiến cho tay chơn trở nên biến dạng.
+ Thứ năm, các dây thần kinh của cơ thể bị tiêu hủy. Đây là chặng nguy kịch của bịnh phung vì như thế có nghĩa là bịnh nhân sẽ mất đi cảm xúc đau đớn. Vì thế, một con chuột đến nhai mất một ngón tay lúc ban đêm và người bịnh không hề hay biết. Hoặc họ sẽ chạm vào ngọn lửa mà chẳng thấy đau đớn chi cả.
Người thời xưa e sợ căn bệnh ấy vì nó tạo ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, vì nó lan nhiễm, và vì con người không thể chữa trị được căn bịnh ấy.
Hãy coi chừng tóc trắng
Vì mọi lý do đó, Lêvi ký 13-14 cung ứng những phần dạy dỗ đặc biệt về sự chẫn đoán và trị liệu cho bịnh phung. Về mặt cơ bản, ở đây nói rằng bất kỳ chỗ sưng tấy nào hay nhiễm trùng da phải được thầy tế lễ khán ngay lập tức. Ông phải tra xét chỗ sưng, da ở chung quanh và màu tóc trong khu vực bị nhiễm. Tóc trắng bị coi là một dấu hiệu nguy hiểm. Người bị nhiễm sẽ bị cách ly trong 7 ngày. Vào ngày cuối của 7 ngày đó, nếu không còn sự lây nhiễm nữa, người ấy sẽ được xã hội tái công nhận. Nếu không, thì người bịnh được chẫn đoán đang mắc bịnh phung, bị trục xuất ra khỏi xã hội trong thời gian người bị nhiễm. Đây là cách Lêvi ký 13:45-46 đặt ra vấn đề:
“Vả, người đã bị vít phung rồi phải xé quần áo, đầu trần, che râu lại la rằng: Ô-uế! Ô-uế! Trọn lúc nào người có vít, thì sẽ bị ô uế, phải ở một mình ngoài trại quân”.
Alfred Edersheim giải thích sự trục xuất có ý nghĩa như thế nầy đối với người phung:
Khi người phung đi ngang qua, xé áo quần mình, đầu để trần và phần thấp nhất của khuôn mặt và môi trên phải được che lại, giống như một người sắp chết lo báo lễ tang của chính mình. Lời lẽ than khóc: “Ô uế, ô uế” mà người thốt ra, công bố rằng ô uế đối với cả chết và sống về mặt đạo đức (The Life and Times of Jesus the Messiah).
Với mọi chi tiết đó, chúng ta đến với câu nói ở Luca 17:11-12 rằng khi Chúa Jêsus đang đến gần đường biên giới của xứ Samaria và Galilê, Ngài đã gặp một nhóm người phung. Kinh thánh chép rằng Ngài đang lên thành Jerusalem trong lần cuối cùng. Cái chết đang ở trong tâm trí của Ngài. Chúng ta không biết chính xác cuộc gặp gỡ nầy diễn ra ở đâu. Bạn không thể tìm gặp thị trấn nhỏ nầy trên tấm bản đồ. Đây là một thị trấn đâu đó ở phía Nam thành Naxarét và thành Nain và Núi Thabô và đâu đó phía bắc Sikha. Chúa Jêsus cùng các môn đồ Ngài đang đi về phía Đông sông Giôđanh và khu vực xứ Bêrê. Nếu bạn đã viếng qua Đất Thánh, bạn biết rõ ngày nay khu vực ấy không có thành thị lớn đâu. Đây là một khu vực vắng vẻ, đặc biệt là nơi bạn mong muốn gặp được cộng đồng người phung.
Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Chúa Jêsus gặp những con người bất hạnh nầy giữa xứ Galilê và xứ Samari. Galilê là căn cứ địa quê nhà của Chúa Jêsus. Ngài lớn lên ở đó. Ngài có gia đình và nhiều bạn hữu thời niên thiếu ở đó. Ngài lập trụ sở tại thành Cabênaum trên bờ biển Galilê. Phần lớn các phép lạ và nhiều sự dạy dỗ của Ngài đã được làm ra ở xứ Galilê. Đây là vùng đất mà Ngài rất được lòng người nhất.
Nhưng thành Samari là một vấn đề khác. Những người Do thái nhơn đức đã lẫn tránh thành Samari nếu họ có thể. Câu chuyện đi ngược về mấy trăm năm đến cuộc Phu Tù cho người Asiri bắt đầu vào năm 722TC. Một số người Do thái đã kết hôn chéo với người Asiri và đã trở thành – trong con mắt của đồng bào họ – lai giống và phản bội. Trải qua nhiều thế kỷ, người Samari đã trở thành một dân tạp với một tôn giáo bị pha trộn.
Người Do thái ghét người Samari, và người Samari đã đáp lại y như thế.
- Một phép lạ sâu sắc
Và chính ở đây, ngay đường biên giới giữa xứ Galilê và xứ Samari, ở giữa tinh thần thù nghịch của người Do thái và người Samari, Chúa Jêsus gặp gỡ 10 người phung. Họ có thể đi đâu khác được nữa chứ? Người Do thái không ưa họ; người Samari cũng thế.
Các câu 12-13 cung ứng cho chúng ta nghe như là một bằng chứng theo kiểu mắt thấy vậy:
“Nhằm khi vào làng kia, có mười người phung đến đón rước Ngài, đứng đằng xa, lên tiếng rằng: Lạy Jêsus, lạy Thầy, xin thương xót chúng tôi cùng!”
Đây là khu vực sinh sống của người phung hợp với số phận không may thường nhật của họ. Bản sắc duy nhứt của họ khi cùng chung sống với nhau là căn bệnh trầm kha đã xua đuổi họ ra sống ngoài vòng xã hội. Từng chi tiết đều là sự thực cả. Khi Chúa Jêsus vào trong làng, những người nầy đứng xa xa kêu la xin Ngài thương xót cùng. Làm sao họ nhận biết Ngài là ai chứ? Không nghi ngờ chi nữa, họ đã nghe nhiều tiếng đồn đại trên khắp vùng nông thôn trơ trụi ấy — “Người nầy có thể chữa lành cho người phung”. Chắc chắn là họ đã bàn bạc sự ấy và rồi dự tính cứ như thế. Ngay cả nếu Ngài có thể làm một việc như vậy, biết đâu đấy lại là những cơ hội khi Ngài đến với ngôi làng của họ?
Nhưng giờ đây lời đồn cứ lan đi — “Ngài đang có mặt ở đây” “Ai đang ở đây chứ?” “Chúa Jêsus người Naxarét” “Tôi không tin việc đó” “Thật đấy. Ngài đang có mặt ở đây” “Ông có nghĩ là Ngài sẽ chữa lành cho chúng ta không?” “Tôi không biết. Chúng ta hãy chờ coi”.
Họ còn đứng đó, ca đoàn rách rưới nhất trong xứ Israel, 10 người phung đang kêu gào xin Chúa Jêsus thương xót cho. Không một âm thanh nào đáng thương hơn đã lọt vào hai lỗ tai của Chúa chúng ta. “Xin thương xót chúng tôi cùng. Xin thương xót chúng tôi cùng”, tiếng kêu gào ấy đã toát ra từ những môi miệng đã nhìn thấy quá ít sự thương xót và quá nhiều sự xét đoán.
Khi họ đang đi, họ được chữa lành
Chúa Jêsus sẽ làm gì chứ? Liệu Ngài có chữa lành cho họ ngay khi ấy và ở đó chăng? Sự ấy chắc chắn nằm trong quyền phép của Ngài và nhất định đấy là điều mà mấy người phung đã trông mong. Thay vì thế, Chúa Jêsus đã phán một câu mà thoạt nghe rất ngạc nhiên đối với chúng ta.
Khi Ngài nhìn thấy họ, Ngài phán cùng họ: “Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ” (14). Ở cái nhìn đầu tiên, bạn sẽ nghĩ rằng Chúa Jêsus thiệt đang xua họ đi. Thậm chí bạn có thể kết luận rằng Ngài chẳng có dự tính chữa lành cho họ chi hết. Và nếu bạn đã đến với phần kết luận đó, bạn sẽ suy ra rằng Chúa Jêsus có ý định gây ấn tượng trên họ so với tình trạng vô vọng trong hoàn cảnh của họ. Song mọi luận suy ấy đều không chính xác. Thực ra, Chúa Jêsus đã dự tính chữa lành cho họ và (điều nầy rất quan trọng) Ngài đã dự tính làm việc ấy trong sự tuân giữ mọi đòi hỏi của luật pháp Môise. Lêvi ký 14 nói rõ rằng thầy tế lễ phải xác định bất kỳ sự “lành” nào từ bịnh phung. (“Lành” ở trong dấu ngoặc kép vì trong thực tế chẳng có ai từng được “lành” về chứng bịnh phung. Sau nhiều năm trời (15-20 năm trong phần lớn các trường hợp) sự lan nhiễm đã không còn nữa và người bệnh — đang mang dấu ấn tàn phá của căn bịnh — sẽ tái hòa nhập lại với xã hội). Nếu Chúa Jêsus không bảo mấy người phung đến khán ở thầy tế lễ, không một người nào sẽ dám tin nơi phép lạ thực sự đã xảy ra.
Song đấy chẳng phải là toàn bộ câu chuyện. Phần sau cùng của câu 14 chép rằng “Họ đang đi thì phung lành hết thảy”. Họ đã được chữa lành khi họ ra đi. Không phải trước khi đi đâu. Không phải sau khi nữa. Nói như thế có nghĩa là khi họ rời đi để đến gặp thầy tế lễ, họ vẫn còn chứng bịnh phung.
Bạn nghĩ họ cảm nhận thế nào khi Chúa Jêsus phán: “Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ?” Đi tỏ cái gì cho thầy tế lễ chứ? Họ vẫn còn là những người phung. Họ chẳng có cái gì để tỏ ra rằng thầy tế lễ sẽ muốn nhìn thấy. Thực vậy, việc sau cùng thầy tế lễ mong muốn thấy là 10 người phung bốc mùi, te tua, biến dạng, khốn khổ. Tôi tự hỏi không biết có ai nói: “Bận tâm mà chi chứ?” Rốt lại: “Từng bị phung, luôn luôn là người phung”. Đã có nhiều vết loét khắp chỗ, hai cánh tay và mấy ngón tay biến dạng do bị sinh vật gậm nhấm. Bạn có thể ngửi thấy người bịnh cách ¼ dặm đường.
Họ cứ đi, cứ hồ nghi, tốp người đau khổ lộn xộn nầy cứ đi đến gặp thầy tế lễ.
Họ bước một bước … và họ vẫn còn là những người phung.
Họ bước hai bước … và chẳng có việc gì xảy ra.
Họ bước bước thứ ba … và bịnh phung bám chặt lấy tứ chi của họ.
Nhưng ở bước thứ tư … có việc gì đó kỳ diệu, việc gì đó khó tin, việc gì đó mà họ từng dám mơ ước, đã xảy ra. Với bước thứ tư ấy, họ đã được chữa lành.
Ngay lập tức. Thật lạ lùng. Hết thảy 10 người ngay tức khắc.
Sự rủa sả của tôn giáo thụ động
Họ đã được lành khi họ chịu bước đi. Không phải trước. Không phải sau. Mà trong hành động bước đi, họ đã được chữa lành. Tại sao chứ? Vì hành động bước đi chính là hành động của đức tin. Họ cảm nhận ra sao thì không phải là vấn đề. Đức Chúa Trời đã tôn cao việc bước đi của họ bất chấp mọi hồ nghi của họ.
Điều đó đưa chúng ta đến với một sự hiểu biết sâu sắc hơn. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta. Khi Chúa Jêsus phán: “Hãy đi tỏ mình cùng thầy tế lễ” thực sự Ngài đang phán: “Hãy hành động giống như thể các ngươi đã được chữa lành rồi vậy”. Đúng là một lời khuyên long trọng đấy. Có nhiều lần chúng ta cầu nguyện, rồi cầu nguyện mà chẳng có một việc gì dường xảy ra. Nhưng khi đức tin chúng ta – dù nó có thể lay động – sau cùng cảm động chúng ta phải hành động, Đức Chúa Trời tôn cao đức tin ấy và câu trả lời bắt đầu tới đến. Tại sao chứ? Vì đức tin là tin theo cộng với sự vô tín rồi hành động theo phần tin tưởng.
Có nhiều người trong chúng ta bị bẫy bởi sự rủa sả của tôn giáo thụ động. Bạn biết đấy là gì rồi, có phải không? Đó là quan điểm cho rằng nói tin cậy Đức Chúa Trời có nghĩa là để cho Ngài làm hết mọi sự. Vì vậy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, con cần tiền bạc”, nhưng chúng ta từ chối không chịu bước ra rồi tìm kiếm một việc làm. Chúng ta cầu xin: “Lạy Chúa, xin giúp con giảm cân” nhưng chúng ta từ chối không chịu tập luyện. Tôn giáo thụ động sử dụng Đức Chúa Trời như một lời cáo lỗi chẳng làm một việc gì hết.
Hãy nghe đây, nếu tên của bạn là Nôê và Đức Chúa Trời bảo bạn trời sắp mưa, thì cầu xin cho có một chiếc tàu là đúng khi bạn cầu nguyện, song hãy đi ra rồi đốn một số gỗ gôphe đi.
Nếu tên của bạn là David, và bạn thấy mình đang ở trong trũng đối diện với Gôliát, thì cầu nguyện xin chiến thắng là đúng, nhưng khi bạn cầu nguyện, hãy nhặt lên mấy hòn đá, tra chúng vào cái trành rồi nhắm ngay vào cái trán của Gôliát.
Tin tưởng nơi Đức Chúa Trời không tương xứng với chỗ không làm gì hết. Hãy nhớ, mười người phung đã được chữa lành khi họ bước đi. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta bước đi.
III. Một mặc khải gây sốc
Vậy, mười người phung đã được chữa lành. Đây là một phép lạ kỳ diệu, nhưng đấy chưa phải là phần cuối cùng của câu chuyện. Thực vậy, thậm chí đấy chưa phải là trọng tâm của câu chuyện nữa là. Phép lạ khác sắp sửa xảy ra.
“Có một người trong bọn họ thấy mình đã được sạch, bèn trở lại, lớn tiếng khen ngợi Đức Chúa Trời; lại đến sấp mặt xuống đất, nơi chân Đức Chúa Jêsus, mà tạ ơn Ngài. Vả, người đó là người Sa-ma-ri” (15-16).
Bạn biết rõ câu chuyện rồi. Mười người đã được lành và chỉ có một người quay trở lại để dâng lên lời cảm tạ. Luca nói người nầy sấp mặt xuống đất trước mặt Chúa. Ông ta có cái điều mà các anh chị em thuộc hệ phái Ngũ Tuần gọi là “Shouting Session”. Và tại sao không chứ? Ông ta đã được chữa lành bịnh phung. Trong hai mươi năm, người là kẻ phung sinh sống trong một nơi thuộc vùng sâu vùng xa như thế nầy, bị cách ly đối với gia đình, bị bạn bè quên lãng, bị cắt đứt đối với chính dân tộc mình. Thình lình, căn bịnh biến mất và tứ chi bị vặn cong, mấy ngón tay xoắn lại, cơ bắp bị teo hết cũng biến mất theo với nó. Trong một thời gian ngắn có cần để kể lại một mẫu chuyện, chứng bịnh và mọi triệu chứng xấu xí bẩn thỉu của nó đã bị dời ra khỏi thân thể của ông ta, chẳng để lại một dấu vết nào ở đàng sau chúng. Ông ta giơ cao hai cánh tay mình lên phía trên đầu rồi nhặt lên một hòn đá xem coi ông ta sẽ ném nó đi được bao xa. Ông ta bắt đầu bước đi và rồi chạy và sau cùng nhảy tung lên trên khoảng không kia.
Ông ta đã được lành trở lại rồi. Khỏe mạnh lại rồi. Sạch sẽ lại rồi. Không còn là kẻ bị ruồng bỏ nữa.
Ông ta gào to lên, chẳng có gì phải kinh ngạc hết. Tôi cũng sẽ la lên nữa đấy.
Khi Luca nói thêm: “Vả, người đó là người Sa-ma-ri”, cú sốc có ngay. Chúng ta có thể đọc câu ấy theo cách nầy: “Hãy suy nghĩ một chút xem. Một người Samari”.
Hãy nhớ, Chúa Jêsus là người Do thái và người Do thái nghĩ người Samari là những kẻ phản bội, dân tạp. Để làm cho vấn đề ra tệ hại hơn, người ấy là một người phung Samari. Đối với người Do thái, không nên nhìn vào một sự kết hợp gớm ghiếc. Ông ta xuất thân từ một dòng giống sai trật, ông ta có thứ tôn giáo không đúng, và ông ta mắc phải một chứng bịnh tệ hại nhất khả thi. Trong các vấn đề tôn giáo, người Samari nầy hầu như chẳng biết gì hết và thứ ông ta biết đều là sai trật cả đấy thôi! Nhưng ông ta đã nhìn biết Chúa Jêsus chữa lành cho ông ta và ông ta vốn biết đủ để dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời. Câu nói ấy là lý do cho thấy tại sao câu chuyện nầy lại hiện hữu trong Kinh thánh.
Cho phép tôi đi một bước xa hơn. Luca không nói một cách trực tiếp như thế, nhưng tôi nghĩ ông ám chỉ rằng chín người kia đều là người Do thái. Nếu đấy là thực, thế thì cái điều câu chuyện nầy thực sự muốn nói tới, ấy là những kẻ đáng phải biết ơn nhất đều không tỏ ra sự ấy. Và người duy nhứt lẽ ra không quay trở lại thì đã quay trở lại.
Toàn bộ câu chuyện nầy phác họa cuộc sống như nó vốn có thực vậy. Thứ nhứt, đây là bức tranh nói tới ân điển dư dật của Đức Chúa Trời. Đây là một sự chữa bệnh với quy mô lớn – cả một bịnh viện được chữa lành với chỉ một lời nói. Mười người một lúc. Đây là một phép lạ lớn lao. Thứ hai, đây là hình ảnh nói tới sự vô ơn đang thịnh hành. Chín trong 10 người có lẽ sẽ quên từng phước hạnh mà họ từng nhận lãnh. Thứ ba, đây là hình ảnh nói tới ân điển không ai ngờ. Tấm lòng biết ơn thường nhảy nhót ở chỗ mà bạn ít ngờ tới.
- Một thắc mắc rất thấm thía
Giờ đây, chúng ta khám phá ra Chúa Jêsus đã nói gì về mọi sự nầy:
“Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu? Chỉ có người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư! Ngài lại phán rằng: Đứng dậy đi; đức tin ngươi đã cứu ngươi” (17-19).
Chúa Jêsus đưa ra ba câu hỏi.
- Không phải mười người đều được sạch cả sao? Phải.
- Còn chín người kia ở đâu?? Đi mất rồi.
- Chỉ có người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư? Không ai hết.
Nếu bạn nghe cho kỹ, bạn có thể nghe thấy nổi kinh ngạc, sốc và hầu hết đều là buồn rầu. Chúa Jêsus muốn biết về mấy người kia. Họ ở đâu chứ? Bộ họ không được lành sao? Tại sao họ không quay trở lại rồi nói “Cảm ơn Ngài” chứ?
Đây là một thắc mắc rất hay. Tại sao họ không quay trở lại?
+ Có lẽ họ đang trong cơn vội vã đến gặp thầy tế lễ.
+ Có lẽ họ nghĩ Chúa Jêsus đã đi nơi khác rồi.
+ Có lẽ họ nghĩ Chúa Jêsus vốn biết họ rất biết ơn rồi.
+ Có lẽ họ quá bận rộn.
Vậy, giờ đây họ ở đâu chứ?
Bỏ đi với các ơn phước của họ.
Bỏ đi để gặp thầy tế lễ.
Bỏ đi để gặp gỡ gia đình của họ.
Bỏ đi với chẳng một lời cảm tạ Chúa Jêsus.
Đây là một sự thực đáng kinh ngạc. Bạn nhìn vào 10 người phung nầy và họ rất giống nhau.
+ Hết thảy đều mắc bịnh phung.
+ Hết thảy đều là hạng người bị xã hội ruồng bỏ.
+ Hết thảy đều quyết định làm một việc gì đó về sự ấy.
+ Hết thảy đều nghe nói về Chúa Jêsus và tin Ngài có thể cứu họ.
+ Hết thảy đều kêu nài nơi Ngài.
+ Hết thảy đều vâng theo Lời của Ngài.
+ Hết thảy đều được chữa lành.
Ở bề ngoài họ giống nhau. Tuy nhiên, có một sự khác biệt.
Một người quay trở lại. Chín người kia tiếp tục đi.
Một người tỏ lòng biết ơn. Chín người kia thì không.
Một người tìm được ơn tha thứ. Chín người kia thì không.
Một người nhận được hai phép lạ. Chín người kia nhận được một phép lạ.
Hết thảy mười người đều được chữa lành. Đấy là một phép lạ. Nhưng người Samari đã được chữa lành và được tha thứ. Đó là hai phép lạ. Và đấy là điều Chúa Jêsus muốn nói khi Ngài phán: “Đức tin ngươi đã cứu ngươi”.
Giống như con trẻ tại bàn tiệc
Thắc mắc còn lại: Còn chín người kia ở đâu? Câu trả lời là, họ đã nhận được điều họ mong muốn và đã bỏ đi rồi. Chúa Jêsus đã làm một phép lạ cực kỳ cho họ và họ nói: “Cảm ơn Chúa, tôi có thể nhận được phép lạ ấy từ đây”. Họ sống giống như trẻ con ăn cho no bụng rồi chạy đi khỏi bàn ăn mà chẳng có một lời cảm ơn. “Chúng ta no rồi. Chúng ta hãy ra ngoài kia chơi đi”. Tôi nghĩ đây là tội lỗi đặc biệt của hạng người lớn lên trong nhà thờ. Chúng ta chẳng nhạy cảm gì nhiều đối với những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Thường thì chúng ta không yêu mến Chúa nhiều hay cảm thấy biết ơn vì các ơn phước của Ngài.
Chúng ta sẽ nói điều đó trong hai cách khác nhau:
- Biết ơn là nghĩa vụ cao nhất và là phẩm hạnh tối thượng của người tin Chúa, là dòng suối từ đó mọi ơn phước khác tuôn tràn ra.
- Vô ơn là căn bịnh phung của linh hồn. Sự vô ơn gậm nhấm từ bên trong, hủy diệt hạnh phúc của chúng ta, làm què quặt sự vui mừng của chúng ta, làm cho lòng thương xót của chúng ta bị teo đi, làm tê đi sự ngợi khen của chúng ta và làm cho chúng ta liệt đi trước mọi ơn phước của Đức Chúa Trời.
Tony Snow
Nhiều người trong chúng ta đã xúc động bởi các tin tức cho biết chứng ung thư ruột kết của Tony Snow đã quay trở lại. Viết về sự kiện nầy mới đây, Cal Thomas đã bắt đầu bài viết của mình (Tôi quen với Tony Snow) theo cách nầy:
Chẳng có ai là không thích Tony Snow. Bởi sự hoan hô, người ta biết ông là thư ký báo chí ở Nhà Trắng là người đứng đắn, tử tế và khích lệ mà họ đã từng gặp.
Trao đổi với nhóm nhà báo vào tháng Giêng, Snow đã nói với họ: “Trong nhiều cách thức, bị ung thư là việc tốt nhứt từng xảy ra cho tôi, còn lấy vợ thì khác hơn”. Bạn tự hỏi điều chi đã khiến cho một người nói năng như thế về một chứng bịnh có thể lấy mạng của mình. Chứng ung thư ruột kết giết hàng ngàn người mỗi năm. Làm sao chứng bịnh ấy lại trở thành một loại phước hạnh cho được chứ? Câu trả lời đại loại là như thế nầy đây. Bản thân chứng ung thư chẳng phải là ơn phước chi hết, nhưng Đức Chúa Trời thường sử dụng nó như một phương tiện để dạy dỗ chúng ta những việc mà chúng ta chưa hề biết và để đào sâu đức tin của chúng ta. Bản thân căn bịnh là một phần của cái giá mà chúng ta chi trả cho việc sống trong một thế giới sa ngã, nhưng qua chứng ung thư chúng ta có thể khám phá ra điều chi là vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống. Tony Snow thấy rằng những lời cầu xin của ông bắt đầu thay đổi. Ông bắt đầu học biết đem đời sống mình phục theo Đức Chúa Trời:
Không những nói: ‘Lạy Chúa, việc ấy nằm trong tay Ngài’ nhưng việc hiểu biết bất cứ điều chi có thể đến sau đó là đừng cố gắng thúc đẩy Đức Chúa Trời làm điều chi đó cho bạn, trừ phi bỉu môi trước một số ngăn trở phân cách bạn với Đức Chúa Trời, “vì đối với mọi người trong chúng ta, chúng ta chỉ nhận được sự hư không mà thôi”.
Giống như bao người khác đã khám phá, chứng ung thư của ông đã trở thành con đường cho một đức tin mới tìm được và là một việc mà ông đã không trông mong – ấy là sự vui mừng.
Sau cuộc giải phẫu ung thư lần thứ nhứt của ông, Snow nói ông phải nằm lại trên giường và ông bắt đầu đọc Kinh thánh “học biết nhiều để cầu nguyện” và cầu xin Đức Chúa Trời “làm ơn kéo tôi cho càng gần, (là điều) phát triển một sự khao khát cũng là một hình thái vui mừng”.
Từ chứng ung thư đến cầu nguyện theo Kinh thánh, đến khát khao sự vui mừng. Đây không phải là một con đường mà Tony Snow đã chọn lựa, song ông cũng nói rằng những gì ông đã khám phá đã tạo thành một chuyến hành trình đáng giá.
Chúng ta trải qua cuộc sống nói: “Lạy Chúa, rốt lại Ngài đã làm gì cho tôi vậy?” Và Chúa đáp: “Nếu ngươi chỉ biết thôi”. Nhiều điều trong cuộc sống giúp bạn hình dung ra bạn không có thực quyền và ai mới có thực quyền.
Ung thư đã làm việc ấy cho Tony Snow.
Bịnh phung đã làm việc ấy cho người Samari.
Một người được chữa lành – và dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời.
Một người vẫn còn đánh trận với bịnh tật mình – và dâng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Từng việc tốt lành trong đời sống Cơ đốc nhân tuôn tràn ra từ dòng suối mạnh mẽ nầy. Khi tôi nhận ra sự nhân từ của Đức Chúa Trời — không phải là trừu tượng hay trong lý thuyết — mà thật riêng tư, đặc biệt đối với tôi … Không phải chung chung đâu, trừ ra những gì Đức Chúa Trời đã làm cho tôi!
Thế rồi (và chỉ khi ấy) tôi được tự do bước đi, cầu nguyện, làm chứng lại.
+ Tôi không bị cưỡng chế.
+ Tôi không bị áp lực.
+ Khi sau cùng, chúng ta nhìn và thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm …
+ Khi sau cùng, chúng ta đến mọi ơn phước của chúng ta rồi kể tên chúng từng cái một …
+ Khi sau cùng, chúng ta hiểu rõ từng sự nhân từ và sự ban cho trọn vẹn đó đến từ Cha sáng láng ở trên cao …
+ Khi sau cùng, chúng ta nhìn thấy rõ chính sự sống là một sự ban cho đến từ trên cao …
+ Khi chúng ta biết – thực sự biết rõ – mọi sự trong cuộc sống đều là một sự ban cho …
Khi ấy, chúng ta bắt đầu ngợi khen,
Khi ấy, chúng ta bắt đầu dâng hiến,
Khi ấy, chúng ta bắt đầu ca hát,
Khi ấy, chúng ta bắt đầu làm chứng,
Khi ấy, chúng ta bắt đầu phục vụ,
Khi ấy, chúng ta bắt đầu bước vào “sự sống dư dật”.
+ Khi sau cùng, chúng ta học biết rằng chúng ta là những người phung khi chào đời …
+ Khi sau cùng, chúng ta nhìn thấy những gì Chúa Jêsus đã làm cho chúng ta …
+ Khi sau cùng, ân điển của Đức Chúa Trời bày tỏ ra để chúng ta có được bất cứ điều chi có giá trị…
Chỉ khi ấy cuộc sống mới thực sự bắt đầu thay đổi!
Ở thời điểm đó, những việc kỳ diệu bắt đầu xảy ra cho chúng ta:
Cái gì là Nghĩa Vụ giờ đây là Đặc Ân.
Cái gì là Luật Pháp giờ đây là Ân Điển.
Cái gì bị Đòi Hỏi giờ đây là Tình Nguyện.
Cái gì Bắt Buộc giờ đây là Tự Do.
Cái gì là Cực Nhọc giờ đây là Vui Mừng.
Cái gì bị xem là hiển nhiên giờ đây được dâng lên trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời.
Khi sau cùng, ân điển đầy dẫy chúng ta, khi ấy chúng ta chạy đi trong sự vui sướng!
Mười người được chữa lành trong ngày ấy, nhưng chỉ có một người quay trở lại để dâng lên lời cảm tạ. Có phải bạn đang sống với chín người kia hay với một người nầy? Có quá nhiều người trong chúng ta xem ơn phước là hiển nhiên và than vãn về mọi nghĩa vụ. Nói như thế thì có giống như bạn chăng? Chớ để cho việc ấy xảy ra.
Ngợi khen là một sự lựa chọn. Một tấm lòng biết ơn là một sự lựa chọn bạn đưa ra. Không một ai bị buộc vào thái độ cay đắng. Bạn chọn phương thức bạn sinh sống. Người nào quay trở lại dâng lời cảm tạ không chọn quên những điều Chúa Jêsus đã làm cho người ấy. Bí quyết của một tấm lòng cảm tạ là một sự lựa chọn có ý thức không quên những gì Đức Chúa Trời đã làm cho bạn.
Đức Chúa Trời
kỳ diệu của chúng ta
Rôma 11:33-36
Thường thì đề tựa của quyển sách không thuật lại cả câu chuyện. Các tiêu đề được chọn vì chúng dễ nhớ, không phải vì chúng có tính cách thông tin. Nhưng thỉnh thoảng bạn vấp ngã ở một tiêu đề có cả hai thứ: nó bắt lấy sự chú ý của bạn và cũng nói cho bạn biết chính xác quyển sách đang đề cập tới việc gì. Cách đây một thế hệ, J. B. Phillips đã viết một quyển sách có đề tựa là Your God Is Too Small [Đức Chúa Trời của bạn nhỏ bé quá]. Vì vậy, có nhiều người trong chúng ta đã vật vã vì Đức Chúa Trời của chúng ta thì nhỏ bé quá so với Đức Chúa Trời của Kinh thánh. Chúng ta đã xác định và giữ Ngài trong một cái hộp mà chính chúng ta đã dựng nên.
Nếu Đức Chúa Trời của bạn quá nhỏ bé, có lẽ bạn cần phải có một cái nhìn khác vào Đức Chúa Trời của Kinh thánh. Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà thần học đã sử dụng các từ ngữ nhất định nói tới tầm quan trọng của Ngài: Chí Cao, Toàn Năng, Toàn Tri, Toàn Tại, Toàn Túc, Vô hạn, Đời đời, và Bất tử, chỉ nhắc tới một vài từ ngữ mà thôi. Nhưng chẳng có một danh sách những tỉnh từ nào có thể phác họa thích ứng tình trạng bao la của Đức Chúa Trời đâu. Ngài to lớn đến nỗi chúng ta thậm chí chẳng có một từ ngữ nào thích đáng để mô tả sự cả thể của Ngài. Ngài lớn lao hơn mọi từ ngữ to lớn của chúng ta và vĩ đại hơn mọi suy tưởng vĩ đại của chúng ta. Vì Ngài là Đức Chúa Trời, không một từ ngữ hay tư tưởng nào của những người nam người nữ hay chết có thể xác định sự cao trọng của Ngài. Ngài còn cả thể hơn là chúng ta tưởng tượng, sự hiện diện của Ngài đầy dẫy cả vũ trụ, Ngài có quyền phép hơn chúng ta nhìn biết, khôn ngoan hơn mọi sự khôn ngoan của những người nam người nữ khôn ngoan, tình yêu của Ngài trổi hơn sự hiểu biết của con người, ân điển của Ngài chẳng có giới hạn, sự thánh khiết của Ngài là vô hạn, và mọi đường lối của Ngài không thể lường được. Ngài là Đức Chúa Trời chơn thật duy nhứt. Ngài không có đầu và chẳng có rốt. Ngài đã dựng nên muôn vật và muôn vật tồn tại bởi quyền phép thiêng liêng của Ngài. Ngài chẳng có ai đồng thời. Không một người nào cung ứng lời khuyên cho Ngài. Không một ai có thể hiểu hết được Ngài. Ngài là trọn vẹn trong mọi sự trọn vẹn của Ngài. Mọi nổ lực tốt nhứt của chúng ta không thể với tới thực tại thiêng liêng của Ngài dù chúng ta tự tâng bốc, nghĩ rằng chúng ta thực sự hiểu được Ngài.
Chúng ta cần phải xem xét ý nghĩa của những câu Kinh thánh như: “Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta” (Phục truyền luật lệ ký 29:29) và “Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu” (Êsai 55:9). Có một sự khác biệt rất cơ bản giữa Đức Chúa Trời và tạo vật của Ngài. Tư tưởng của Ngài thì “cao hơn” chính vì Ngài là Đức Chúa Trời, còn chúng ta thì không phải là Đức Chúa Trời. Vì vậy, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Đức Chúa Trời làm ra nhiều việc mà chúng ta không hiểu. Hay phần lớn những thắc mắc của chúng ta về sự sống sẽ chẳng sao giải đáp được. Gióp đã khám phá ra sự việc nầy khi Đức Chúa Trời đến gặp ông với một loạt dài những câu hỏi khởi sự với “Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu?” (Gióp 38:4) rồi kết thúc với “Ai sẽ mở cửa họng nó ra? Sự kinh khủng vây chung quanh răng nó?” (Gióp 41:5). Trả lời cho câu hỏi đầu tiên là “no” [không], trả lời cho câu thứ hai là “không phải tôi”. Và trả lời cho từng câu hỏi ở giữa cũng nằm trong chỗ tiêu cực thôi. Sự thể giống như Đức Chúa Trời đang chơi game Celestial Jeopardy và nắm chắc trong tay mọi vấn đề, còn Gióp chỉ có thể trả lời cho một câu hỏi đơn giản thôi.
Khi xử lý với những vật vã sâu sắc nhất của chúng ta, điều đó giúp nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời thực sự Ngài là ai. Nhận định của chúng ta về Đức Chúa Trời càng lớn lao hơn, chúng ta sẽ có thêm sức lực để đối mặt với những thử thách trong cuộc sống. Tương tự vậy, nhận định của chúng ta về Đức Chúa Trời càng thấp kém, chúng ta sẽ bị thổi tung đi khi thảm họa đến.
Với cái nền đó, chúng ta hãy nhìn vào Rôma 11:33-36. Trong mọi phân đoạn Kinh thánh nói tới sự cả thể của Đức Chúa Trời, có lẽ chẳng có phân đoạn nào chứa nhiều sự thực được dầm thấm trong bốn câu duy nhứt. Phân đoạn nầy được gọi là “bài ca tụng của thần học” và là một sự “bùng nổ của khen ngợi”. Lời lẽ thật hoành tráng, đầy hy vọng, và ngoạn mục. Không một nhà chú giải Kinh thánh nào từng cảm nhận thích đáng khi đối diện với một phân đoạn kỳ diệu như thế nầy. Phân đoạn ấy chứa chiều sâu của lẽ thật mà không một ai có thể hy vọng khui hết được, hay hiểu biết ít nhiều. Trong các mục đích của chúng ta, chúng ta có thể sắp xếp các tư tưởng chính của bốn câu nầy qua các câu nói đơn sơ.
Trước hết, mấy câu nầy dạy chúng ta …
Ba Sự thực Về Đức Chúa Trời
- Ngài biết mọi sự cần phải biết.
“Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời!” (33a). Sứ đồ Phaolô rất quen thuộc với Đức Chúa Trời như bao người khác, tuy nhiên ông xưng mình hiểu biết chưa tới chiều sâu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sâu bao nhiêu chứ? Sâu đến nỗi Phaolô chỉ có thể đứng nơi mép của vực sâu. Khi một người lội qua đại dương, người ấy cảm thấy an toàn bao lâu người còn cảm nhận được cát ở bên dưới chơn của mình. Song hãy để cho người lội ra xa hơn, và người sẽ cảm thấy không còn có cát nữa. Chắc chắn một lượn sóng ụp đến rồi kéo người vào lượn sóng đó, ở đó người không còn nắm được phương hướng nữa. Khi làn sóng cuốn người ra ngoài sâu, người kêu lên: “Ôi, sâu quá”. Đây là điều Phaolô đã cảm thấy khi ông đến với phần cuối cùng của sự suy gẫm về vẻ tối cao của Đức Chúa Trời, tội lỗi của con người, và chương trình đời đời của Đức Chúa Trời làm cho mọi người phải câm miệng lại trong ngục tù tội lỗi hầu cho Ngài có thể tỏ ra sự thương xót cho hết thảy mọi người. Sau cùng, ông nói: “Chúng ta hãy thôi đừng lý luận nữa, mà chỉ ngợi khen Đức Chúa Trời của chúng ta vì chương trình chuộc tội khôn tả xiết của Ngài”. Thần học chắc chắn phải trở thành bài ca tụng hay khác đi, chúng ta sẽ phạm vào chỗ suy nghĩ là chúng ta thực sự hiểu biết Đức Chúa Trời.
Ồ, chiều sâu sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Ồ, chiều sâu sự công bình của Đức Chúa Trời.
Ồ, chiều sâu ân điển của Đức Chúa Trời.
Ồ, chiều sâu sự tha thứ của Đức Chúa Trời.
Hãy xem bài thánh ca nầy từ ngòi viết của Samuel Francis:
Jêsus yêu thật sâu xa, vô tận!
Lớn rộng, mênh mông, không giới hạn!
Cuồn cuộn như đại dương vùng trổi dậy
Dâng trào trên tôi giống thủy triều!
Cuốn tràn bên tôi, ôm trọn quanh tôi!
Là dòng yêu thương Ngài tuôn chảy
Dìu đường lên trời, dìu đường về quê hương
Tới miền hiển vinh, nghỉ yên lặng!
Những người nam người nữ tài ba, sáng chói nhất chắc chắn phải đi đến cùng một kết luận. Các nhà thiên văn học nhìn lên các ngôi sao đầy dẫy trên bầu trời lúc ban đêm. Giống như kính thiên văn mạnh nhất đưa chúng ta đến bờ rìa của vũ trụ, người khôn ngoan cúi đầu xuống tung hô: “Lớn Bấy Duy Ngài!” Robert Jastrow đã sáng lập Học viện Goddard của cơ quan NASA. Trong quyển sách của ông Đức Chúa Trời Và Những Nhà Vũ Trụ, ông đến với phần kết luận nầy:
Đây là sự phát triển cực kỳ lạ lùng, bất ngờ bởi các nhà thần học. Họ luôn luôn chấp nhận Lời lẽ của Kinh thánh: Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất … [Nhưng] đối với nhà khoa học nào sống bởi niềm tin của họ vào quyền phép của lý luận, câu chuyện kết thúc như một giấc mơ tồi. Ông đã leo lên những ngọn núi của sự dốt nát; ông sắp sửa chinh phục đỉnh cao nhất; và] khi ông đặt mình lên vầng đá sau cùng, ông được nghinh tiếp bởi một nhóm các nhà thần học họ đã ngồi ở đó hằng bao thế kỷ.
Mặc dù Jastrow chẳng phải là nhà sáng tạo, lời lẽ của ông nhắc cho tôi nhớ tới Thi thiên 19:1: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm”.
Người nào biết nhiều phải xưng nhận là họ biết rất ít. Nếu một người xưng nhận mình hiểu biết cặn kẻ về Đức Chúa Trời, chúng ta phải e rằng bản thân người ấy chẳng biết được bao nhiêu. Vì Đức Chúa Trời còn sâu thẳm hơn lý trí của chúng ta có thể dò tìm được. Không những sự khôn ngoan và sự hiểu biết của Ngài còn sâu thẳm hơn chúng ta biết, sự khôn ngoan và sự hiểu biết ấy còn sâu thẳm hơn là chúng ta có thể tưởng tượng được nữa. Chúng ta không có một loại lý trí nào để dò chiều sâu bổn tánh của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ biết rằng chúng ta chẳng biết chi hết về bổn tánh ấy trừ phi những điều mà Đức Chúa Trời đã chọn bày tỏ ra. Tìm cách hiểu biết Đức Chúa Trời giống như tìm cách làm trống đại dương với một cái sô nước nhỏ. Nhúng cái sô ấy hàng ngàn lần trong nước thì bạn không tạo ra được một chỗ lõm nào của đại dương. Cái sô của bạn quá nhỏ bé, cánh tay của bạn quá yếu ớt, và đại dương thì quá mênh mông, quá rộng lớn, quá thẳm sâu. Cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể hiểu rõ được chiều sâu của hiện hữu Ngài. Khi tôi đến giảng ở Kentucky cách đây mấy năm, tôi có nghe một bài ca Tin Lành phát trên radio. Bài hát ấy đại loại như thế nầy đây: “Chẳng có gì xảy ra với bạn từng xảy ra với Đức Chúa Trời?” Ban đầu thì âm thanh ấy nghe kỳ lạ lắm, vì có những việc xảy ra cho chúng ta suốt, nhưng đó là sự thực: Chẳng có điều chi từng “xảy ra” với Đức Chúa Trời. Ngài không hề tỉnh giấc rồi nói: “Một ý hay vừa xảy ra cho ta”. Trong chỗ thứ nhứt, Ngài không hề ngủ, vì vậy Ngài không hề thức giấc. Ở chỗ thứ hai, tất cả mọi ý tưởng của Ngài đều quan trọng cả. Ở chỗ thứ ba, chẳng có gì từng xảy ra với Ngài. Ngài biết mọi ý tưởng quan trọng suốt từ lúc ban đầu có thời gian.
Phân đoạn Kinh thánh của chúng ta cho thấy rằng Ngài biết rõ mọi sự từng được nhìn biết. Không những tri thức Ngài thật sâu thẳm, mà tri thức ấy còn rộng rãi nữa. Ngài biết rõ mọi sự đã hiện hữu, mọi sự đang hiện hữu, và mọi sự sẽ hiện hữu nữa. Thậm chí Ngài còn biết rõ mọi sự sẽ xảy đến, hay sẽ trở thành, hoặc rồi đây sẽ trở thành nữa. Không những Ngài biết rõ sự ấy, mà Ngài còn biết rõ sự ấy từ buổi ban đầu có thời gian nữa.
Cách đây mấy năm, tôi có đọc một bài viết về “ân điển ngăn ngừa của Đức Chúa Trời”. Cụm từ – là mới mẻ đối với tôi – đề cập tới “ân điển đi trước”. Đây là phần định nghĩa rõ ràng: “Trong từng hoàn cảnh của cuộc sống, Đức Chúa Trời đã vận hành rồi trước khi tôi đến tại đó. Ngài đang hành động rất sáng tạo, có chiến lược và cứu chuộc vì ích cho tôi và vì sự vinh hiển của Ngài”. Wow! Có nhiều lần tôi hạn chế suy nghĩ của mình trước sự thực sự hiện diện của Đức Chúa Trời cùng đi với tôi khi tôi trải qua cuộc sống. Đó là sự thực, song đấy chỉ là một phần của câu chuyện mà thôi. Không những Ngài ở với tôi trong lúc bây giờ, Ngài đã có mặt trên đường trước tôi rồi. Hãy suy nghĩ theo cách nầy. Trong khi tôi vật vã với nhiều nan đề của ngày hôm nay, Đức Chúa Trời đang hành động cung ứng các giải pháp cho những vụ việc mà tôi sẽ đối diện vào ngày mai. Ngài có mặt ở đó rồi, hoạt động thật sáng tạo trong mọi tình huống mà tôi phải đối diện với, sửa soạn chúng cho tôi và tôi cho chúng.
Hay nói theo cách khác: Trong khi tôi sống vào ngày thứ Ba, Ngài đang dọn đường cho tôi vào ngày thứ Sáu. Đấy là những gì Châm ngôn 3:6 muốn nói khi câu ấy hứa rằng “Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con”. Đức Chúa Trời đã hành động rồi cung ứng mọi giải pháp cho các nan đề mà thậm chí tôi chưa biết là mình sẽ gặp phải nữa! Có phải bạn lo lắng cho tuần tới không? Hãy quên việc ấy đi. Ngài đã có mặt ở đó rồi. Còn về buổi nhóm thứ Hai tới thì sao? Đừng vã mồ hôi về ngày ấy mà chi. Ngài đã có mặt ở đó rồi. Còn về cuộc phẫu thuật mà con gái lớn của bạn phải đối diện với trong mấy ngày nữa thì sao? Đừng sợ chi. Ngài đã có mặt ở đó rồi.
Bấy nhiêu là đủ nếu Đức Chúa Trời chỉ đi với bạn qua những biến cố của cuộc sống khi chúng xảy ra. Nhưng Ngài còn làm nhiều hơn thế nữa kìa. Ngài đi trước mặt bạn, lo dọn đường, sắp xếp các chi tiết của cuộc sống hầu cho khi bạn đến tại đó, bạn có thể đầy lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã hiện diện ở đó trước bạn rồi. Đấy là ân điển ngăn ngừa của Đức Chúa Trời. Ngài đi trước dân sự Ngài. Ngài đang hành động trong thì tương lai đang khi chúng ta sinh sống trong thì hiện tại. Ngài có thể làm như thế vì Ngài biết rõ mọi sự cần phải biết.
- Ngài lập ra những chương trình mà chúng ta không thể hiểu được.
“Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được!” (33b). Các bản dịch khác sử dụng từ “bí hiểm”, nghĩa là “trổi hơn mọi suy tưởng của con người”. Eugene Peterson đưa ra cách dịch nầy về câu 33: “Có bao giờ bạn biết được việc gì hoàn toàn giống như sự rời rộng cực kỳ của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan sâu sắc, thật sâu sắc như vầy chưa? Sự khôn ngoan ấy vượt khỏi lý trí của chúng ta. Chúng ta không thể hình dung ra được sự khôn ngoan ấy”. Tôi thích cụm từ đó – “Sự khôn ngoan ấy vượt khỏi lý trí của chúng ta”. Không những Đức Chúa Trời lập ra những chương trình mà chúng ta không biết tới, ngay cả nếu chúng ta có biết đi nữa, chúng ta không thể hiểu được chúng. Điều đó giải thích lý do tại sao có một số việc chừa lại không sao giải thích được. Ấy chẳng phải là Đức Chúa Trời không bằng lòng lý giải đâu, sở dĩ như thế là vì lý trí nhỏ bé của chúng ta không thể hiểu được các ý đồ vô hạn của Đức Chúa Trời. John Wesley đã trình bày việc ấy theo cách nầy: “Xin chỉ cho tôi một con sâu nào có thể hiểu được một con người, thì tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một con người có thể hiểu được Đức Chúa Trời”. Điều đó không sao chỉ ra được cả.
- Chỉ một mình Ngài biết lý do tại sao mọi sự đang xảy ra.
“đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (33c). Matthew Henry có một lời rất hay về việc nầy. Những vụ việc chính yếu mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn biết đều rõ ràng và đơn giản cả. Ông nói, chúng giống như một xa lộ rộng mở cho hết thảy mọi người đi qua. Nhưng những sự xét đoán của tay Ngài đều lắc léo và kín nhiệm cả. Con đường đó bị đóng lại cho đến đời đời đối với chúng ta. Chúng ta không được dính dáng vào những lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, thay vì thế hãy sấp mình xuống trước mặt Ngài với lòng tôn kính về những điều mà chúng ta không hiểu nổi. Khi ấy, ông thêm một câu nầy: “Đức Chúa Trời chẳng để lại dấu tay nào ở sau lưng Ngài”. Bạn không thể nói Ngài đang ở đâu hoặc Đấng Toàn năng sẽ đi đâu. Ngài chẳng để lại một dấu vết nào để chúng ta có thể lần theo. Nói như thế có nghĩa là trong cuộc sống có nhiều việc sẽ xảy ra mà chúng ta không hiểu nổi. Bệnh tật, tai họa, tội ác bạo lực, suy sụp tài chính thình lình, ly dị, mơ ước vụn nát, ung thư, cuồng phong, bão tố, động đất, lũ lục, đói kém, chiến tranh, mọi lời hứa bị phá vỡ, điều ác lấn lướt điều thiện, mất việc làm, nhiều đời sống bị hủy hoại, con cái ngã chết, nhiều người khác được thăng cấp trong khi chúng ta bị thải hồi, những ý kiến của chúng ta bị tước mất và nhiều người khác lấy sử dụng, và các việc lành chúng ta làm để rồi người khác hưởng lợi lộc. Bảng danh sách còn dài vô tận và nát lòng.
Cách đây mấy năm, Michael Gartner đã viết trên tờ USA Today về cái chết đột ngột của Christopher, là đứa con nuôi 17 tuổi của ông. “Nó chết vào ngày thứ Năm. Nó là một thiếu niên rất khỏe mạnh vào ngày thứ Ba. Nó trở bệnh vào ngày thứ Tư. Và nó ngã chết vào ngày thứ Năm”. Ông nói tiếp: “Bạn sẽ ưa thích nó. Ai nấy đều ưa thích nó”. Cha và con chẳng giống nhau chút nào. Michael Gartner cao 5’8 và cân nặng 160 pounds. Christopher cao gần 6’4 và cân nặng gần 300 pounds. “Trông nó như một tảng bêtông với một nụ cười”. Nó chết vì bị tiểu đường vị thành niên tấn công đột ngột. Bất chấp mọi nổ lực y khoa và những lời cầu nguyện bền đỗ, Christopher thình lình qua đời. “Thiệt là khủng khiếp, và buồn đau, và không một lời nào có thể yên ủi bốn ông bà của nó, anh chị em, bạn bè hay bố mẹ của nó”. Qua ngày sau khi nó qua đời, có một người bạn gọi đến và nói ra một việc duy nhứt giúp ông chịu đựng tai họa khủng khiếp đó: “Nếu Đức Chúa Trời đã đến với bạn cách đây 17 năm rồi phán: ‘Ta lập với ngươi một giao kèo. Ta sẽ ban cho ngươi một đứa trẻ xinh đẹp, tuyệt vời, vui vẻ và mạnh khỏe trong 17 năm, và rồi ta sẽ đem nó đi’ ngươi sẽ lo việc ấy trong một giây đồng hồ thôi”. “Và đấy là giao kèo. Chúng ta không biết rõ các giới hạn”, Michael Gartner đã nói. Ông đã đúng. Đấy luôn luôn là sự việc. Và chúng ta không hề biết các giới hạn ở trước mặt. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống, sức khỏe, hạnh phúc, con cái, bạn bè, rồi phán: “Hãy tận hưởng điều đó đang khi ngươi có thể. Một ngày kia, ta sẽ trở lại để lấy chúng”. Và chúng ta không hề biết mọi giới hạn ở trước mặt.
Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết rõ lý do tại sao những vụ việc lại xảy ra. Phần lớn thời gian, chúng ta chỉ có thể lấy làm lạ mà thôi.
Thứ hai, phân đoạn Kinh thánh cho chúng ta biết …
Có ba điều không ai có thể làm
Các câu 34-35 chứa ba câu hỏi rất cường điệu, mỗi câu mong có một giải đáp tiêu cực. Hết thảy chúng đều bắt đầu với cùng hai chữ … “ai đã … ai đã … ai đã?” Câu trả lời luôn luôn giống như nhau: “Chẳng có ai … Chẳng có ai … Chẳng có ai”.
- Chẳng có ai giải thích được Đức Chúa Trời
“Vì, ai biết ý tưởng Chúa?” (34a). Có rất nhiều người nghĩ họ biết như thế nào là Đức Chúa Trời, nhưng việc duy nhứt chúng ta biết về Đức Chúa Trời là những việc mà Ngài đã chọn để bày tỏ ra cho chúng ta. Tôi dám chắc bạn đã nghe kể câu chuyện nói tới sáu người mù đang ra sức mô tả một con voi. Người thứ nhứt đụng tới cái ngà rồi nói: “Con voi thì nhọn hoắc, giống như ngọn giáo vậy”. Người thứ hai đụng tới cái hông to lớn rồi hô lên: “Không! Con voi giống như bức tường kìa”. Người thứ ba vuốt ve cái vòi của con voi rồi kết luận rằng con voi giống rặc con rắn. Người thứ tư tìm cách quàng hết tay mình quanh chân của con voi. Khi ông ta không thể làm được, ông ta nói: “Nó giống như một khúc cây”. Người thứ năm cảm thấy chiều rộng của cái lỗ tai thật to của con voi rồi nói: “Thiệt là dễ nhìn thấy con voi giống như một cái quạt vậy”. Người sau cùng đụng tới cái đuôi nhỏ rồi nói: “Mấy ông sai bét hết. Con voi giống như sợi dây vậy”. Ai đúng đây? Họ đều đúng cả đấy. Ai sai đây? Hết thảy họ đều sai. Hết thảy chúng ta đều giống như mấy gã mù kia khi phải đạt tới chỗ nhìn biết Đức Chúa Trời. Ai giữa vòng chúng ta có thể xưng mình hiểu trọn được Đức Chúa Trời vô hạn và Toàn Năng của vũ trụ? Không một ai biết đủ để giải thích Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn được.
- Chẳng có ai bàn luận với Đức Chúa Trời được.
“ai là kẻ bàn luận của Ngài?” (34b). Tôi thích cách Eugene Peterson trình bày: Có “ai lanh lợi đủ để nói cho Ngài biết việc phải làm” không? Ngài chẳng cần một vị tư vấn nào hết vì Ngài là khôn ngoan vô hạn. Trong các trường học, có những vị giáo sư được đào tạo đủ để gọi họ là tư vấn viên hướng dẫn. Họ giúp cho các sinh viên đưa ra những quyết định khôn ngoan về tương lai. Họ thu thập dữ liệu từ các thẻ báo cáo, điểm bài thi và những cuộc phỏng vấn chi tiết, kết hợp mọi điểm mạnh, yếu của sinh viên với các cơ hội sẵn có. Những vị tư vấn đó không thể thiếu vì cuộc sống đầy dẫy với nhiều tiềm năng. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng cần tư vấn viên hướng dẫn nào hết. Thực vậy, Ngài là Đấng Mưu Luận Hướng Dẫn trọn vẹn. Ngài hướng dẫn từng hữu thể trong cõi vũ trụ, song chẳng có ai hướng dẫn Ngài hết. Ngài mưu luận cho mọi loài thọ tạo, song chẳng có ai là mưu sĩ của Ngài cả. Vì một con người bình thường mưu luận với Đức Chúa Trời sẽ giống như một cây đèn cầy giúp cung ứng ánh sáng cho mặt trời.
Một sinh viên đại học vật vã qua bài thi của mình về bộ môn kinh tế. Anh ta phải lo cho xong bài tập trước ngày lễ Giáng Sinh. Trong sự tuyệt vọng, anh ta viết nguệch ngoạc dưới tờ giấy: “Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết câu trả lời cho ba câu hỏi nầy. Chúc Mừng Giáng Sinh!” Khi anh ta nhận lại bài thi đó, vị giáo sư đã phê như sau: “Đức Chúa Trời được 100 điểm. Con anh thì 0 điểm. Chúc mừng năm mới!”
Chẳng có ai biết được nhiều như Đức Chúa Trời biết cả, chẳng có ai giải thích được Đức Chúa Trời, và chẳng có ai có thể làm mưu sĩ cho Ngài.
- Chẳng có ai tố cáo Đức Chúa Trời về sự bất công.
“Hay là ai đã cho Chúa trước, đặng nhận lấy điều gì Ngài báo lại?” (35). Câu hỏi nầy ra từ Gióp 41:2, ở đây Đức Chúa Trời hỏi Gióp: “Ai ban cho ta trước đã, mà ta phải trả lại cho? Phàm vật chi ở dưới trời đều thuộc về ta”. Chẳng có ai dám nói: “Hỡi Đức Chúa Trời, Ngài nợ tôi một việc” vì Chúa sẽ chẳng là con nợ của một ai hết. Chẳng có ai dám nói: “Ngài lừa đảo tôi” vì Đức Chúa Trời chẳng lừa đảo ai hết. Chẳng có ai dám nói: “Tôi đã kiếm được ơn của Ngài” vì mọi sự ở bên nầy địa ngục là sự thương xót, và mọi sự ở bên nầy thiên đàng là ân điển. Hãy xem xét mọi điều mà Đức Chúa Trời chúng ta đang làm:
1) Ngài phục hồi những kẻ loạn nghịch bằng cách ưng ban cho họ sự công bình của Ngài.
2) Ngài chuộc lấy những kẻ phạm pháp rồi cất bỏ tấm lòng loạn nghịch của họ.
3) Ngài làm cho sự vinh hiển của mình được thêm lên bằng cách cứu lấy những kẻ phải đi thẳng vào địa ngục.
Chúng ta hãy xét kỹ về điểm nầy. Đức Chúa Trời cứu những người mà Ngài chẳng có bổn phận gì phải cứu hết. Ngài có thể hủy diệt dòng giống con người rồi khởi sự lại với thứ vật liệu thô tốt hơn. Nhưng Ngài không làm vậy. Những gì Ngài đã làm đúng hoàn toàn là không thể hiểu nổi.
Đấng Vô Hạn trở thành hữu hạn.
Đấng Toàn Năng trở thành một em bé.
Thần Linh được bọc trong mấy tấm tả.
Luther nói như vầy: “Ngài là Đấng mà thế gian không thể bảo bọc, lại nằm bên hông của Mary”. Chẳng một ai trừ ra chính mình Đức Chúa Trời từng dám nghĩ về việc ấy. Và rồi, trong sự khôn ngoan của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con đã chết một cái chết đáng thương, sỉ nhục, dữ dội trên thập tự giá của người Lamã – cái chết dành cho sự bất công, Đấng Vô Tội gánh lấy tội lỗi của cả thế gian. Để Đấng Christ trở thành Cứu Chúa của chúng ta, có ba điều kiện cần phải được thỏa:
1) Ngài phải là một con người. Một thiên sứ không thể chết vì tội lỗi chúng ta. Ngài phải thực sự dự phần vào nhân tánh của chúng ta.
2) Ngài phải là một con người vô hạn. Một kẻ hay chết không thể gánh lấy cái giá vô hạn làm giá cho tội lỗi của chúng ta.
3) Ngài phải là một con người vô tội. Một tội nhân không thể chết vì tội lỗi của nhiều người khác.
Đức Chúa Trời đã làm ra mọi sự cần thiết cho bạn để được lên thiên đàng. Chẳng có ai dám tố cáo Đức Chúa Trời về sự bất công vì Ngài ban ơn cứu rỗi ra cho toàn thế gian. Chẳng có ai tin theo Chúa Jêsus mà bị xua đuổi đi bao giờ.
Chẳng có ai sẽ kết thúc trong địa ngục trừ phi kẻ ấy đáng phải bị ở đó.
Chẳng có ai sẽ kết thúc trên trên đàng trừ phi người ấy được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời.
Mọi sự ở bên nầy địa ngục là sự thương xót, và mọi sự bên nầy thiên đàng là ân điển.
Sau cùng, phân đoạn Kinh thánh cung ứng cho chúng ta …
Ba Lý Do Để Ngợi Khen Đức Chúa Trời
Sự việc cho thấy Phaolô không còn chịu đựng được nữa. Ông muốn tỏ ra rằng Đức Chúa Trời là mọi sự trong mọi sự. Mọi sự đều đến từ Ngài, mọi sự đang tồn tại bởi quyền phép của Ngài, và mọi sự sẽ trả lời với Ngài một cách hoàn toàn. James Montgomery Boice gọi câu nầy là bí quyết của một “thế giới quan Cơ đốc” vì nó truất phế con người xuống rồi đặt Đức Chúa Trời lên ngai vàng của vũ trụ. Ông đưa ra quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi: Ban nhạc Beatles đã ghi âm bài hát sau cùng nào trước khi họ tan rã? Đáp: “Ta, tôi, của tôi”. Mục sư Boice bình luận rằng bài hát sau cùng của ban Beatles cũng là bài hát đầu tiên cũng là bài hát sau cùng của tấm lòng chưa được sanh lại. Nhưng bài ca của kẻ được chuộc là Rôma 11:36!
- Ngài là nguồn cội của muôn vật.
“Đều là từ Ngài” (36a) Ngài là nguồn của muôn vật, ý nói rằng muôn vật đều tuôn tràn ra từ Ngài. Tôi thấy phần minh họa tuyệt vời cho lẽ thật nầy khi tôi tham dự mấy ngày kỳ trại Camp Nathanael ở Emmalena, Kentucky. Bản thân căn trại quả là một phép lạ. Có một người tên là Garland Franklin là giám đốc đầu tiên. Trở lại thập niên 1930, ông đang lái xe dọc theo con đường đầy bụi gần Khe Troublesome khi Chúa phán cùng ông như sau: “Ta muốn ngươi xây một cái trại ở đây”. Đất không được đoạn mãi ngay khi đó, nhưng ông Franklin bắt đầu cầu nguyện về việc ấy. Vài năm sau đất đai được phát mãi và hội truyền giáo gây quỹ để mua nó. Tất nhiên điều nầy nằm trong trọng tâm Cuộc Đại Suy Thoái khi tiền bạc khan hiếm ở khắp mọi nơi, nhưng chẳng có chỗ nào khan hiếm hơn xứ có mỏ than ở miền Đông Kentucky.
Thế rồi vào năm 1936, họ quyết định đào một cái giếng ngay trên phần đất đó. Sau khi tiết kiệm được tiền bạc, họ thấy rằng họ chỉ có US$75 để trả cho cái giếng – việc đào giếng, lắp đặt thiết bị, và bất kỳ phí tổn nào khác nữa. Khi người ta đến đào giếng, Ông Franklin hỏi người ấy muốn đào ở chỗ nào!?! Người thợ ấy đáp “Thưa ông Franklin, tôi có thể nhìn thấy trong đất sâu như ông có thể thấy”. Thế nên, Garland Franklin đã chỉ một chỗ rồi nói: “Đào ngay ở đây đi”. Thế là người ấy khởi sự đào rồi đụng đến nước sau khi đào xuống chỉ có 75 feet (trong khi các giếng khác trong khu vực phải đào ít nhất là 200 feet). Sau khi đặt máy bơm vào, cùng tra lắp mọi chi tiết khác, nhà thầu tổng kết hóa đơn rồi trình lên cho Ông Franklin. Con số chính xác là US$74,99. Họ chỉ còn lại có một xu mà thôi!
Song đấy chưa phải là kết cuộc của câu chuyện đâu. Cái giếng họ đào vào năm 1936 vẫn còn ở đó và vẫn còn bơm nước. Nhưng đấy chưa phải là việc đáng kinh ngạc nhất. Trong 70 năm, cái giếng chưa hề khô cạn. Không bao giờ. Dù chỉ một chốc lát cũng không. “Giống như giếng ấy có cả đại dương nước dưới đó” giám đốc trại cho tôi biết như thế. Cách đây mấy năm, khi có cơn hạn hán khắc nghiệt ụp vào khu vực, phần lớn các giếng địa phương đều khô cạn, song cái giếng ở trại Nathanael thì không bị cạn khô. Họ có nhiều nước đến nỗi họ để cho dân địa phương đến và đong đầy mấy cái thùng đựng nước của họ.
Cái giếng vẫn còn bơm nước lên, và nó chẳng tỏ ra có một dấu hiệu nào về sự khô cạn cả. Có phải đấy là một phép lạ không? Phải, nhưng đàng sau cái giếng lạ lùng đó là một Đức Chúa Trời chuyên làm phép lạ, Ngài có thể phán một lời thì cả đại dương nước chảy ùa xuyên qua lòng đất. Ngài thực sự là nguồn cội của muôn vật.
- Ngài là Đấng Nâng Đỡ cho muôn vật
“Bởi Ngài” (36b). Không những muôn vật đều ra từ Ngài, mà Ngài còn là lý do cho sự sinh tồn liên tục của vũ trụ nữa. Một mình Ngài hiểu rõ mục đích dành cho muôn vật mà Ngài đã dựng nên. Một trong những câu chuyện ưa thích nhất của tôi có liên quan tới George Washington Carver, người đã khám phá ra 255 việc khác nhau mà bạn có thể làm với một cái hột đậu phộng. Tấn sĩ Carver được tôn kính trong nhiều năm làm việc tại Học viện Tuskegee, thuộc bang quê hương Alabama của tôi. Vì cớ ông, miền Nam bắt đầu chuyển mình từ nền kinh tế vải sợi qua nền kinh tế các vụ mùa khác. George Washington Carver là một Cơ đốc nhân tin kính, ông vốn có một sự hiểu biết sâu sắc về Đức Chúa Trời. Khi người ta hỏi ông làm sao ông đạt tới chỗ hiểu rõ được nhiều cách sử dụng dành cho đậu phộng như thế, ông thuật lại câu chuyện nầy. Ông nói rằng khi còn là một thanh niên, ông đi dạo ngoài đồng ruộng và khi có mặt ở đó, ông và Chúa đã có một cuộc trò chuyện. Khi ông yêu cầu Chúa tỏ ra cho ông biết lý do tại sao Ngài đã dựng nên vũ trụ, Chúa phán: “Nầy con, bấy nhiêu đó là quá lớn lao cho con đấy. Hãy hỏi ta điều chi con có thể hiểu được kìa”. Vì vậy, ông cố gắng một lần nữa. “Lạy Chúa, xin tỏ cho con thấy lý do tại sao Ngài đã dựng nên thế gian”. “Vẫn còn quá lớn lao cho con đấy. Hãy thử hỏi một lần nữa xem sao!” George Washington Carver cúi đầu nhìn xuống đất rồi nhìn thấy mấy cái hột đậu phộng vướng trên gốc nho. “Lạy Chúa, Ngài có thể nói cho tôi biết lý do tại sao Ngài dựng nên hột đậu phộng không?” “Đấy là một câu hỏi hay đấy. Giờ đây, chúng ta tìm ra một việc mà con có thể hiểu được rồi đó”. Chúa chỉ cho Tấn sĩ Carver các bí quyết của đậu phộng, và ông đã sử dụng mọi điều Đức Chúa Trời chỉ cho ông để làm thay đổi thế giới.
Mọi sự đều là “bởi Ngài”. Tất cả tri thức, mọi sự khôn ngoan, mọi sự chúng ta có đều là “bởi Ngài”. Ngài là Đấng Nâng Đỡ của muôn vật – ngay cả hột đậu phộng!
- Ngài là Mục đích tối hậu của muôn vật
“Muôn vật hướng về Ngài” (36c). Đây là câu nói rất hay vì Phaolô gộp hết “muôn vật” vào lời công bố của ông. Không một thứ gì bị chừa lại, không một chi tiết nào trong sự sáng tạo bị trừ ra. Đức Chúa Trời là ban đầu, ở giữa, và cuối cùng của “muôn vật”. Mọi sự đều ra từ Ngài, mọi sự tiếp diễn bởi Ngài, mọi sự tìm thấy mục đích tối hậu của nó trong Ngài. Cuộc sống giống như trò chơi ghép hình khỗng lồ, và chúng ta giống như bầy trẻ tìm cách ghép các mẫu nhỏ lại với nhau sao cho giống với hình mẫu trên bìa hộp. Thế là chúng ta tìm cách ghép các mẫu nhỏ lại với nhau rồi hình dung ra bức tranh lớn cùng một lúc. Không có gì phải ngạc nhiên, chúng ta vật vã hình dung ra những gì liên quan tới sự sống. Khi nhiều năm trôi qua, chúng ta nhặt lấy những mẫu nhỏ lắp ráp kia và có nhiều việc từng làm bối rối chúng ta giờ đây dường như không còn thấy bối rối nữa. Và chúng ta có một sự tán thưởng mới mẻ về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vì chẳng có một thứ gì là phung phí hết. Mọi sự đều “vừa khít” ở đâu đó.
Hay chúng ta giống như bầy kiến kia đang bò trên bức tranh mà Rembrandt đã vẽ ra. Khi chúng ta đến với những màu tối, dường như toàn bộ bức tranh đều tối tăm, ảm đạm, bí ẩn. Mọi sự ở chung quanh chúng ta đều sậm tối, xanh đen hay đen như nửa đêm. Nhưng nếu chúng ta chỉ đứng lui lại từ chỗ bức tranh, chúng ta sẽ nhìn thấy rằng màu tối được bù lại bởi màu sáng hơn — màu đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh da trời và màu cam. Chính sự mờ tối của các màu sậm làm cho màu sáng hơn nổi bật rõ nét. Cũng một thể ấy với chính sự sống. Chúng ta có thể tốn nhiều ngày hay nhiều tuần lễ hoặc nhiều năm trong tông màu đen tối của cuộc sống. Bịnh tật, đau đầu, thảm họa, ngược đãi và phản bội có thể khiến cho chúng ta nghĩ rằng chẳng có tông màu nào sáng sủa hơn. Nhưng Đức Chúa Trời đang tô vẽ một kiệt tác trong đời sống của bạn và trước khi nó hoàn tất, Ngài sẽ sử dụng từng màu sắc trên bảng màu của mình. Nếu bạn không nhìn thấy sản phẩm sau cùng trên đất, bạn sẽ nhìn thấy nó rõ ràng ở trên thiên đàng.
Tôi được nhắc nhớ đến câu nói nổi tiếng của Augustine: “Ngài có thể dựng nên chúng tôi cho chính mình Ngài, và tấm lòng chúng tôi không yên nghỉ cho tới chừng nào chúng tìm được sự yên nghỉ trong Ngài”. Muôn vật được dựng nên từ Ngài, bởi Ngài, và vì Ngài. Ngài là nguồn cội, phương tiện, và là mục tiêu của mọi loài thọ tạo. Chúng là một phần của “muôn vật” trong Rôma 11:36.
Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Có điều gì còn chừa lại cho chúng ta trừ ra lời lẽ của Phaolô trong câu 36 không? “Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng! A-men” (36d). Mọi lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời dẫn chúng ta tới một trong hai hướng. Một là bạn bỏ đi đức tin mình rồi trở thành kẻ hoài nghi hoặc bạn sấp mình quì gối xuống trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng quá vĩ đại, quá bao la, đáng kính sợ mà bạn không có thể hiểu biết trọn vẹn được.
Đức Chúa Trời luôn luôn để lại cho chúng ta với một sự lựa chọn, có phải không? Bạn có thể tin theo rồi được cứu hoặc bạn có thể hồ nghi rồi bị rủa sả. Nhưng dù là cách nào đi nữa phần nhiều các thắc mắc của bạn sẽ không bao giờ được giải đáp đầy đủ. Nếu bạn chọn tin theo, khi ấy chúng ta bị để lại với lời lẽ sau cùng nầy: “Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!”
Trong chỗ sống và trong chỗ chết – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong sự vui cũng như buồn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong những ngày sáng sủa và những đêm tăm tối – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong lúc bệnh tật và trong khi mạnh khỏe – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong sở làm và trong tư thất của bạn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong cuộc hôn nhân và nơi con cái của bạn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong lúc bạn thịnh vượng và khi nghèo khó – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong thời buổi hòa bình và trong những lúc chiến tranh – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong làn gió hiu hiu nhẹ và trong cơn bão táp – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong lớp học và trong phòng họp – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong khoảnh khắc đắc thắng và trong lúc thất bại tối tăm nhất – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong những lời cầu nguyện được nhậm và trong những lời cầu nguyện không được nhậm – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Trong nước mắt của ngày hôm qua, vui mừng của ngày hôm nay, và phiêu lưu của ngày mai – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Ở trên trời và trên đất – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
Bất cứ điều chi xảy đến, dù thảm họa hay đắc thắng, ở giữa những năm tháng, với sự thay đổi của các mùa, khi chúng ta đủ hiểu biết hay chẳng có chi hết, khi hy vọng qua đi và mọi sự chúng ta còn lại là Đức Chúa Trời, Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng! Amen!
Nếu Đức Chúa Trời tể trị,
rồi sao nữa?
– Thi thiên 103:19-22
“Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật. Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, hay vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi cả cơ binh của Đức Giê-hô-va, là tôi tớ Ngài làm theo ý chỉ Ngài, hãy ca tụng Đức Giê-hô-va! Hỡi các công việc của Đức Giê-hô-va, trong mọi nơi nước Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!” (Thi thiên 103:19-22).
Sứ diệp của tôi nhắm vào câu 19: “Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật”.
Ít nhất là có nhiều lý do để đừng tin câu nầy có ở đó để tin theo nó. Tôi nói như thế vì câu nầy dạy dỗ một lẽ đạo mà nhiều người thấy phiền hà – lẽ đạo nói tới sự tể trị của Đức Chúa Trời. Một câu nói xác định mục tiêu rõ ràng. Từ ngữ “cai trị” đề cập tới một vì vua hay một nhà cai trị. Tể trị là có quyền hành trong một lãnh vực đặc biệt. Quyền hành là luật lệ mà một vì vua thiết lập trong vương quốc của người.
Phân đoạn Kinh thánh của chúng ta khẳng định rằng Đức Chúa Trời đang tể trị trên vũ trụ. Ngài đang trị vì trên muôn vật. Ngôi của Ngài đã được thiết lập. Ngôi ấy không thể bị lay động bởi các vụ việc của con người. Nước Ngài cai trị trên muôn vật.
Về lý thuyết, chúng ta chẳng có một nan đề nào đối với lẽ đạo nầy. Đúng là không khó cho chúng ta để tin rằng Đức Chúa Trời truyền lịnh mở đường cho các ngôi sao trên bầu trời. Chúng ta không thể nói làm sao Ngài thực hiện được việc ấy, Ngài chỉ truyền lịnh thôi, và nếu Ngài không truyền lịnh đó, các ngôi sao sẽ thôi không còn chiếu sáng nữa. Ngài đặt dãy Ngân Hà trong chỗ của nó. Điều đó chẳng khó tin lắm đâu. Rốt lại, có ai đó đang lo liệu cho các vì sao. Đức Chúa Trời đang lo việc ấy. Chúng ta chấp nhận sự kiện đó.
Nan đề của chúng ta khởi sự khi sự tể trị trở nên tư riêng hơn. Nói tới các vì sao là một việc. Chúng ta có thể để việc ấy lại với Đức Chúa Trời vì chúng ta biết chúng ta chẳng có việc gì phải làm với các vì sao. Song khi nói rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị mọi sự đang xảy ra cho tôi – tốt và xấu, vui và buồn, tích cực và tiêu cực – và Ngài đang bày ra chương trình của Ngài để rồi mọi sự đang xảy đến cho tôi – giả sử là Ngài đang bày ra mọi chi tiết của đời sống tôi rồi ban cho tôi điều chi là tốt nhứt mỗi ngày – đấy là câu chuyện khác nữa.
Khi có rối rắm, chúng ta muốn biết ai đang điều khiển công việc. Cách đây mấy ngày, Marlene và tôi qua đêm ở một nhà nghỉ, ở đó hoàn cảnh đặc biệt của chúng tôi đòi hỏi chúng tôi phải kiểm tra lại mãi trong cùng một buổi sáng. Đấy là một chuyện hơi bất thường, nên chúng tôi cần ai đó ngồi tại bàn tiếp tân giúp đỡ. Khi tôi trao đổi với người ấy và giải thích cái điều mà tôi có cần, ông ta nói: “Tôi chẳng biết gì về việc ấy”.
Nhưng thiết nghĩ ông ta là người điều hành công việc. Nếu người có thẩm quyền không điều hành công việc, làm ơn nói cho tôi biết là ai đây? Nếu người có thẩm quyền không điều hành công việc, có lẽ thực sự ông ta không có thẩm quyền.
Đấy là “sự tể trị” muốn nói tới. Mọi sự ấy giải đáp cho thắc mắc: “Ai điều hành công việc?” Một vấn đề lớn hiện có trong giải đáp cho thắc mắc ấy. Đấy là lý do tại sao A. W. Pink nói rất ngắn gọn: “Khi nói Đức Chúa Trời đang tể trị là nói Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời”.
Ba đối tượng đáng suy nghĩ
Vì vậy chúng ta trở lại với câu gốc: “Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật”. Tôi có thể suy nghĩ đến ba lý do để nghi rằng câu nầy đúng là sự thực. Trong việc thốt ra những việc nầy, tôi không nhắm vào đối tượng. Tôi đang nói ra những việc mà hạng người trung thực sẽ nói khi họ suy nghĩ về việc ấy.
“Khi nói Đức Chúa Trời đang tể trị là nói Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời”.
1) Nan đề về thảm họa không lý giải được
Hết thảy chúng ta đều hiểu đối tượng nầy vì nó tập trung vào những biến có kỳ lạ ấy – các tai nạn kỳ dị – thảm họa trong thiên nhiên – đôi khi được cho là “hành động của Đức Chúa Trời”.
Giống như ngọn núi lửa nổ ra ở Hawaii và hủy diệt hai mươi ngôi nhà.
Giống như cơn bão tuyết ụp vào Kansas làm cho 15 người chết.
Giống như trận bão đã tàn phá New Orleans.
Giống như cuồng phong quét qua một công viên.
Giống như nạn đói ở Somalia.
Giống như động đất ở Trung Hoa.
Giống như sóng thần lấy đi 250.000 sinh mạng.
Giống như bùng nổ sốt rét ở Nigeria.
Những việc nầy xảy ra thường xuyên đến nỗi chúng ta không chú ý đến chúng trừ phi là một sự kiện thực sự lớn lao – hay thực sự gần gũi với chúng ta. Khi ấy Shephard Smith kêu gọi sự chú ý của chúng ta và chúng ta lắc đầu rồi tự hỏi lý do tại sao!?!
Tại sao? Tại sao là họ mà không phải là tôi? Tại sao là tôi mà không phải họ? Sao lại ở chỗ nầy mà không ở chỗ kia? Tại sao lại là công viên nầy mà không phải là công viên kia?
Đầu năm nay, trong mấy tuần liên tiếp, khu vực miền Trung Nam bị một loạt lốc xoáy quét qua phía Đông Texas, tạt ngang Arkansas và Missouri, rồi chuyển qua hướng Đông vào Tennessee Kentucky. Một cơn lốc xoáy đánh vào Oxford, Mississippi, khoảng một giờ phía Tây chỗ chúng tôi sinh sống ở Tupelo. Chúng tôi phải giật mình với các tin tức cho biết lốc xoáy đã đánh vào đại học đường Union, một ngôi trường Cơ đốc ở Jackson, Tennessee, khoảng 2 giờ về phía Bắc Tupelo. Cơn lốc xoáy đã gây thiệt hại nhiều cho khu ký túc xá và nhiều sinh viên bị thương nhưng cảm tạ Chúa chẳng có ai chết cả. Qua ngày sau, đài CNN phỏng vấn một trong các sinh viên đã xem đấy là một phép lạ khi chẳng có ai chết như kết quả của cơn lốc xoáy. Khi tôi nhìn thấy cuộn phim ghi lại sự hủy diệt, dường như nó giống với một phép lạ khi chẳng có ai bị chết cả. Nhưng chính làn sóng của cơn lốc xoáy đó đã làm chết 55 người về phía Nam. Một quan sát viên đã thắc mắc: “Còn về những người đã chết thì sao? Họ chẳng dính dáng gì đến phép lạ sao?”
Có nhiều cách để trả lời cho câu hỏi đó, nhưng trong phần phân tích sau cùng, chúng ta có thể nói như vầy: “Chúng ta không biết”.
2) Sự thịnh vượng của kẻ ác
Một số việc đã xảy ra cho chúng ta thì dễ giải thích nhưng vẫn không đáng.
Chúng ta không đáng để cho mối hôn nhân của chúng ta phải tan vỡ.
Chúng ta không đáng để bị lừa gạt.
Chúng ta không đáng bị mất việc làm.
Chúng ta không đáng bị ngược đãi như một đứa trẻ.
Chúng ta không đáng để con cái chúng ta phải kết thúc với ma túy.
“Ngài là Đấng gìn giữ vũ trụ nắm lấy tôi trong lòng bàn tay của Ngài”.
Loại sự việc nầy làm cho hạng người nam người nữ tin kính trong Kinh thánh phải áy náy. Hãy đọc Thi thiên 73 và nhìn thấy mọi điều mà Asáp đã nói. Ông có lòng ganh tỵ với kẻ ác. Họ chuyên tâm giết chóc. “Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo” (Thi thiên 73:3). Khi ông nghiên cứu về kẻ ác, dường như họ sống thật vô tư, thật sung sướng. Họ sống giống như họ chẳng có một nan đề nào trong thế gian. Họ cư ngụ trên Con Đường An Nhàn. Nếu họ muốn thề, thì họ thề. Nếu họ muốn bóc lột ai đó, họ làm ngay thôi. Họ hỉnh mũi lên với Đức Chúa Trời. Khi ấy ông nói: “Kìa là những kẻ ác, chúng nó bình an vô sự luôn luôn, nên của cải chúng nó thêm lên” (câu 12).
Người nhơn đức thì chết trẻ, hay chúng ta nghe kể lại, còn kẻ ác thì sống đến 85 tuổi. Vậy thì sự công bằng ở đâu? Và Đức Chúa Trời đang ở đâu khi dân sự Ngài bị đâu lưng vào bức tường? Nói ra câu: “Nước Ngài cai trị trên muôn vật” có nghĩa gì khi chúng ta bị đá vào mặt chứ?
Đây là một câu hỏi rất hay. Nếu bạn không vật lộn với câu nói ấy sớm hay muộn, bạn sẽ mất đi đức tin của mình. Tất nhiên mất đức tin đối với bạn có thể không phải là một việc tồi tệ. Đôi khi chúng ta phải mất nó để tìm lại được nó.
3) Nghịch lý của sự tể trị và ý chí tự do
Hết thảy chúng ta đều suy nghĩ về vấn đề nầy lúc nầy hay lúc khác. Sự việc đề ra quá đơn giản. Nếu Đức Chúa Trời đang tể trị và điều khiển đời sống của tôi, làm sao tôi thực sự có ý chí tự do cho được chứ? Hoặc nếu tôi thực sự có ý chí tự do, thì Đức Chúa Trời tể trị thế nào đây?
Khi chỉ có một ý, thì vũ trụ đầy dẫy với hài hòa và bình an.
Một lần nữa, từ nhận định của chúng ta – nhận định “chúng ta không phải là Đức Chúa Trời” là có hạn, hữu hạn, cực kỳ con người, bạn không thể có được cả hai phía ấy. Có thể tôi là một con rối hoặc có thể tôi là một đại hiểu tự do, song tôi không phải là cả hai được. Và điều đó có thể dẫn bạn đến một số thắc mắc rất thú vị, tỉ như Nếu Đức Chúa Trời đang tể trị, thì sao phải cầu nguyện? Ngài nắm hết muôn vật trong tay. Nếu Đức Chúa Trời đang tể trị, sao không đá ngược trở lại và cứ xem TV? Sao phải làm việc gì đó chứ?
Khi đề ra các đối tượng nầy, tôi không nói, cũng không tin rằng chẳng có câu trả lời nào hết. Có nhiều câu trả lời rất hữu ích. Tôi muốn chỉ ra những vấn đề mà hạng tín đồ biết suy nghĩ, kể cả các nhà thần học và cấp lãnh đạo thuộc linh lỗi lạc nhất, đã vật vã với trong hàng ngàn năm.
Chúng ta xây vào đâu để xin giúp đỡ cho việc tin tưởng đây? Hoặc chúng ta giữ việc tin tưởng trong một thế giới như vầy bằng cách nào?
Ba điểm cân nhắc rất quan trọng
Ba điềm nầy sẽ giúp đỡ nhiều cho chúng ta.
1) Có hai ý cứ để cho vũ trụ được thong thả.
Ở đây tôi đang sử dụng thuật ngữ của Donald Grey Barnhouse. Ông nói ra một việc đại loại như vầy. Lúc ban đầu chỉ có một ý – ý chỉ của Đức Chúa Trời. Khi chỉ có một ý, thì vũ trụ đầy dẫy với hài hoà và bình an. Nhưng giờ đây Satan (ý của hắn hoàn toàn ngược lại với ý của Đức Chúa Trời) đã được tự do rong chơi trong vũ trụ, đang thực thi mọi việc làm độc ác của hắn. Một khi Lucifer rơi xuống từ thiên đàng rồi trở thành Satan, đã có ý khác trong vũ trụ. Một ý muốn chống đối Đức Chúa Trời thật hoàn toàn giống như người nầy có thể đối kháng với người kia vậy.
Đức Chúa Trời là sự sáng.
Satan là sự tối tăm.
Đức Chúa Trời là lẽ thật.
Satan là kẻ nói dối.
Đức Chúa Trời là nguồn sự sống .
Satan chỉ đem lại sự chết mà thôi.
Và giờ đây, trong kỷ nguyên của hai ý muốn nầy, có sự thương tâm và đau đầu không nói được. Satan đã phạm vào tội lỗi đầu tiên. Hắn lãnh đạo cuộc loạn nghịch đầu tiên. Hắn tạo ra sự cám dỗ đầu tiên. Hắn có mặt trong Vườn Êđen. Hắn có mặt ở đó khi Giuđa phản bội Chúa Jêsus bằng một nụ hôn.
Dù lẽ đạo có khô khan, nguội lạnh, sự tể trị của Đức Chúa Trời đầy dẫy tấm lòng người tin Chúa với sự yên ủi.
Hắn rong chơi trong thế gian hôm nay giống như một con sư tử rống, tìm kiếm ai nó có thể nuốt được (I Phierơ 5:8). Hắn khuấy đảo rối rắm, đưa ra những lời vu cáo giả dối, và kích thích chúng ta phạm vào từng loại việc ác. Hắn là kẻ làm đắm chìm thế gian và là kẻ tàn phá gia đình. “Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt” (Giăng 10:10). Hắn đến để tước đi sự thanh sạch, lòng trung thực, sự ngay thẳng, tính đoan trang, sự tử tế, lòng thương xót, tính rời rộng, và từng bổn tánh tin kính khác của bạn. Hắn dự tính hủy diệt tình bạn, nhà cửa, cơ nghiệp, các tham vọng tin kính, và chắc chắn hắn muốn hủy diệt mối hôn nhân và gia đình của bạn. Hắn cũng đưa điều ác vào trong nhà thờ của bạn nữa đấy. Hắn muốn làm dấy lên sự tranh cãi, thù hận, chia rẻ, tranh cạnh và cãi cọ để các nhà thờ chia rẻ, Cơ đốc nhân trở nên cay đắng, bạn bè chia lìa, các Mục sư thối lui và hội thánh tan tác hết. Hắn đang làm mọi sự mà hắn đang làm để công việc của Đức Chúa Trời sẽ đi đến chỗ kết thúc và hắn vẫn còn là “chúa đời nầy” (II Côrinhtô 4:4). Đừng bao giờ quên rằng “cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ” (I Giăng 5:19).
Hắn muốn làm dấy lên sự tranh cãi, thù hận, chia rẻ, tranh cạnh và cãi cọ để các nhà thờ chia rẻ, Cơ đốc nhân trở nên cay đắng, bạn bè chia lìa, các Mục sư thối lui và hội thánh tan tác hết.
Trong mấy năm gần đây, tôi đã đạt tới sự hiểu biết quyền lực của Satan trong thế gian một cách sâu sắc hơn, suy nghĩ của tôi có thay đổi đôi chút. Tôi nghe nói về mấy người bạn, họ đang ở bên bờ vực ly hôn. Vì chúng tôi dường như đã không gặp họ trong một thời gian khá lâu, chúng tôi chẳng hay biết gì về bất kỳ rối rắm nào trong cuộc sống vợ chồng của họ. Cơn khủng hoảng dường như toát ra từ chỗ chẳng ra gì hết. Dễ hiểu thôi, các thành viên trong gia đình đang vật vã với nhưng tin tức và đang ra sức trợ giúp bất cứ điều chi có thể. Ngoài ra, tôi thực sự chẳng biết bất kỳ một chi tiết nào hết. Song khi tôi được yêu cầu dâng lời cầu thay cho họ, đây là lời cầu nguyện ra từ tận đáy lòng tôi.
Lạy Chúa, trong sự khôn ngoan của Ngài, Ngài đã ban hôn nhân như một món quà cho dòng giống con người. Ngài biết rõ chúng con cần đến nhau, rằng điều đó là tốt lành và chúng con sẽ được phước nếu chúng con hiệp cùng nhau, người nam và người nữ, trong mối hôn nhân Cơ đốc. Chúng con tin rằng hôn nhân mà Ngài ban cho người nam người nữ nầy chẳng phải là một lỗi lầm chi hết trừ ra đó là món quà đến từ trời. Và giờ đây Satan xuất hiện, Kẻ Hủy Diệt, để phá nát những gì Ngài đã thiết lập và chúc phước cho trong nhiều năm trời.
Lạy Chúa, xin làm việc gì đó lớn lao cho. Xin làm điều chi đó thật mạnh mẽ. Hãy dấy cánh tay quyền năng của Ngài lên rồi đẩy Satan ra xa. Con cầu xin rằng tấm lòng của _________ sẽ mềm mại đi, rằng đôi mắt anh ấy sẽ mở ra, rằng anh ấy sẽ chịu khó suy nghĩ về điều mà anh ấy sắp sửa rời bỏ. Lạy Chúa, xin ưng ban cho ____________ đức tin, kiên nhẫn và sự trông cậy. Và về con cái, xin bảo hộ chúng bởi Thánh Linh của Ngài. Xin giữ chúng an toàn trong vòng tay yêu thương của Ngài. Xin để tâm đến chúng trong những ngày đáng sợ nầy.
Lạy Chúa, làm ơn làm ra một phép lạ nào đó trong cuộc hôn nhân nầy để rồi nó sẽ được cứu. Hãy mang lại sự ăn năn, sự thay đổi sâu sắc trong tấm lòng, sự chữa lành và một khởi đầu mới. Chúng con chẳng thể làm chi được trong những việc nầy, nhưng Ngài có thể làm hết mọi sự ấy vì Ngài là Đức Chúa Trời Chí Cao và Ngài đang nắm giữ từng tấm lòng ở trong tay Ngài. Chúng con tin tưởng nơi Ngài.
Xin thêm đức tin cho chúng con. Xin thêm tình yêu thương cho chúng con. Xin ban cho chúng con sức lực để giữ mãi lòng tin. Lạy Chúa, xin giải cứu chúng con ra khỏi điều ác và ra khỏi Kẻ Ác. Nơi nào tội lỗi gia thêm, nguyện ân điển càng dư dật hơn. Giờ đây nguyện chúng con thấy được mọi điều mà Ngài sẽ làm. Chúng con cầu nguyện với lòng tin cậy rằng vì chẳng có điều chi quá khó cho Ngài. Nhơn danh Chúa Jêsus, Amen.
Tôi đã gạch dưới những phần nhất định của lời cầu nguyện nầy vì tôi e rằng tôi đã cầu nguyện như thế năm năm rồi. Khi chúng ta nhìn thấy hôn nhân đang ở bên bờ vực, chúng ta cần phải nhớ rằng Satan có hai bàn tay gian ác đang hành động trong hoàn cảnh đó. Chúng ta đánh trả qua sự cầu nguyện và chiến trận thuộc linh vì đấy là chiến trận – không những là cuộc chia tay trong hôn nhân mà còn là cuộc chiến thuộc linh thực sự nữa. Việc nhìn thấy vấn đề theo cách ấy làm sáng tỏ mọi việc và chuyển nó từ cuộc hôn nhân (ông nói – bà nói) đến lãnh vực thuộc linh. Satan đã tung ra một cú đấm và giờ đây chúng ta phải cầu xin Chúa giải cứu chúng ta ra khỏi quyền lực của hắn.
Khi chúng ta nhìn thấy hôn nhân đang ở bên bờ vực, chúng ta cần phải nhớ rằng Satan có hai bàn tay gian ác đang hành động trong hoàn cảnh đó.
Có phải Đức Chúa Trời tể trị trên ma quỉ không? Chắc chắn rồi. Tại sao Ngài không hủy diệt hắn? Ngài sẽ. Cho tới chừng chúng ta sống trên bãi chiến trường của chiến trận thuộc linh rộng lớn giữa Đức Chúa Trời và Satan, giữa điều thiện và điều ác. Chúng ta phải có mặt ở bên thắng trận, nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta không gánh chịu các thảm họa khi cuộc chiến thăng trầm.
2) Có hai cách để nhìn vào cuộc sống.
Chúng ta có cơ hội để nhìn vào cuộc sống theo hai cách – từ dưới lên hay từ trên xuống. Từ trên xuống có nghĩa là khởi sự với Đức Chúa Trời và rồi đi thẳng vào các nan đề của cuộc sống. Từ dưới lên có nghĩa là khởi sự với mọi nan đề của mình rồi lên thẳng tới Đức Chúa Trời. Hầu hết chúng ta đều theo bản năng đi từ dưới lên nếu chúng ta có thể. Việc ấy có tạo ra sự khác biệt nào không? Duy nhứt mọi sự khác biệt trên thế gian. Có thể có sự khác biệt giữa việc giữ lấy đức tin của bạn hoặc là mất nó đi. Sự khác biệt giữa vui mừng và cay đắng, giữa việc tự thương hại và đức tin đắc thắng.
Nếu bạn khởi sự với bạn, bạn sẽ kết thúc với bạn và chẳng thấy khá gì hơn đâu. Nếu bạn khởi sự với Đức Chúa Trời, bạn đã khởi sự ở một nơi khả thi để tìm ra bất kỳ giải đáp nào lâu dài. Đây có thể là sứ điệp trọng tâm của sách Gióp. Lúc đầu, Gióp đối mặt với sự mất mát không thể hình dung nổi, một loạt những thảm họa để ông ngồi lại gãi ghẻ trên đống tro, với người vợ cứ giục giã ông nên rủa sả Đức Chúa Trời rồi chết đi. Phần quan trọng nhất của quyển sách là cuộc đối thoại với mấy người bạn của ông về lý do tại sao những việc nầy đã xảy ra.
Nếu bạn khởi sự với bạn, bạn sẽ kết thúc với bạn và chẳng thấy khá gì hơn đâu.
Đây là sự thực đáng kinh ngạc nhất. Gióp không bao giờ tìm ra lý do tại sao Đức Chúa Trời đã chọn ông để chịu khổ như thế. Thắc mắc chính của ông vẫn chưa được giải đáp. Rõ ràng là ông không hề nhận ra vai trò của Satan trong toàn bộ sự việc. Vì vậy, trong giới hạn của những giải đáp thật đặc biệt, ông bị bỏ lại trong tối tăm. Nhưng đến cuối quyển sách, có một sự khác biệt rất lớn. Khi sau cùng ông sấp mình xuống trước mặt Đức Giêhôva, ông công nhận sự tể trị của Đức Chúa Trời: “Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm” (Gióp 42:2). Thiết tưởng thắc mắc có thể được nói ra theo cách nầy:
Có phải tôi bằng lòng tin rằng Đức Chúa Trời biết rõ Ngài sẽ làm gì trong đời sống tôi khi tôi chẳng có một manh mối nào hết?
3) Có hai sự lựa chọn mà chúng ta có thể đưa ra.
Trong quyển “If God is in Charge” [Nếu Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị], Steve Brown thuật lại câu chuyện nói tới một lớp học mà vị Mục sư phụ tá của ông đã dạy, trong đó ông nói rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, Đức Chúa Trời là sự yêu thương, và bất luận có nhiều việc tồi tệ đến ngần nào, Cơ đốc nhân phải ngợi khen Ngài. Ông tiếp tục nói rằng phần thử nghiệm thực của sự ngợi khen không phải khi mọi sự đều suông sẻ mà là khi chúng đi đến chỗ tồi tệ kìa. Trong thời gian hỏi đáp, có một người giơ tay lên rồi nói: “Tôi không thể tiếp thu điều ông nói về sự ngợi khen Đức Chúa Trời ở giữa điều ác và tổn thương. Tôi không tin khi ông mất mát người thân mà ông yêu thương qua sự chết, hay ông bị chứng ung thư, hoặc ông mất việc làm chẳng hạn, mà ông có thể ngợi khen Đức Chúa Trời”.
Nếu Đức Chúa Trời không tể trị, thì là ai chứ?
Vị Mục sư phụ tá đưa ra một câu trả lời tuy đơn sơ nhưng rất quan trọng. “Ông có đề nghị sự lựa chọn nào khác không?”Câu hỏi đang nài xin câu trả lời. Nếu Đức Chúa Trời không tể trị, thì là ai chứ? Nếu Đức Chúa Trời không nắm quyền tể trị, thì ai đang điều hành công việc chứ?
Nhưng tin tức tốt lành là đây. Đức Chúa Trời chúng ta đang nắm quyền tể trị. “Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật”. Tôi công nhận rằng câu trả lời không luôn rõ ràng như thế đâu. Song đó lại là sự thật.
Có hai sự lựa chọn mà chúng ta có thể đưa ra. Chúng ta có thể chối bỏ sự tể trị của Đức Chúa Trời, điều nầy nhất định dẫn tới thất vọng và thất bại, hoặc chúng ta có thể sấp mình xuống trước mặt Ngài với sự thuận phục hạ mình, điều nầy dẫn tới sự ngợi khen và tự do.
Nếu Đức Chúa Trời tể trị, còn gì nữa không? Hãy xem phần ứng dụng ở các câu 20-22.
Khi Đức Chúa Trời tể trị, hãy để cho các thiên sứ ngợi khen Ngài. Câu 20.
Khi Đức Chúa Trời tể trị, hãy để cho các cơ binh trên trời ngợi khen Ngài. Câu 21.
Khi Đức Chúa Trời tể trị, hãy để cho mọi công việc Ngài ngợi khen Ngài. Câu 22a.
Khi Đức Chúa Trời tể trị, hãy để cho mọi người ngợi khen Ngài. Câu 22b.
Thành tích của Đức Chúa Trời
Chỉ có một thắc mắc còn lại. Làm sao chúng ta biết – thực sự biết – rằng điều chi Đức Chúa Trời có trong trí dành cho chúng ta là tốt lành chứ? Chúng ta biết điều nầy vì chúng ta đã nhìn thấy Ngài đang hành động. Ngài có một bảng thành tích và thành tích ấy là tốt lành.
Đó là một câu chuyện xa xưa từng được thuật lại, câu chuyện nói tới một gã thiếu niên làm việc trong nhiều ngày để xây dựng một con thuyền đồ chơi. Một ngày kia, nó đem chiếc thuyền xuống con rạch để xem coi nó có nổi lên hay không!?! Khi làn gió thổi con thuyền ra khỏi tầm tay, gã thiếu niên kia chạy dọc theo bờ rạch kêu la xin cho chiếc thuyền quay trở lại. Nhưng không lâu sau đó, nó mất hút khỏi tầm nhìn.
Nhiều ngày trôi qua, rồi nhiều tuần lễ. Một thời gian sau đó, gã thiếu niên đang di dạo trong thành phố rồi đến bên một cửa tiệm cầm đồ. Qua cánh cửa sổ, nó nhìn thấy con thuyền đồ chơi của mình. Có ai đó đã tìm gặp chiếc thuyền, lấy nó ra khỏi con rạch, rồi đem bán nó. Gã thiếu niên bước vào bên trong, tìm ông chủ, rồi nói: “Thưa ông, ông có chiếc thuyền của con trong cánh cửa sổ kìa. Con đã làm nó”. Người chủ tiệm nói: “Nếu cháu muốn lấy lại chiếc thuyền, cháu sẽ phải làm giống như mọi khách hàng làm, là mua lại nó”.
Đức Chúa Trời có một bảng thành tích
và thành tích ấy là tốt lành.
Qua mấy ngày sau, gã thiếu niên đã nhận làm nhiều việc vặt trong vùng lân cận mình. Anh ta cắt cỏ, đổ rác, dắt chó đi dạo, rửa xe, và sơn hàng rào, tiết kiệm từng xu một. Sau cùng, khi nó có đủ tiền, nó trở ra cửa tiệm kia, hy vọng chiếc thuyền của mình vẫn còn ở đó. Sau khi trả tiền rồi, nó tái xưng nhận quyền làm chủ chiếc thuyền đó. Bước ra khỏi cửa tiệm, có người nghe gã nói: “Ta đã tạo thành ngươi. Ta mất ngươi. Ta tìm được ngươi. Ta đã mua ngươi. Giờ đây, ngươi là của ta cho đến mãi mãi”.
Cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời. Ngài đã dựng nên chúng ta, chúng ta lìa bỏ Ngài, Ngài tìm gặp chúng ta rồi mua lấy chúng ta với cái giá bằng huyết của Chúa Jêsus. Giờ đây, chúng ta thuộc về Ngài cho đến đời đời.
Đấy là bảng thành tích của Đức Chúa Trời. “Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” (Rôma 8:31). Dù lẽ đạo có khô khan, nguội lạnh, sự tể trị của Đức Chúa Trời đầy dẫy tấm lòng người tin Chúa với sự yên ủi. Trong thế giới nầy với nhiều thắc mắc như thế, chúng ta biết với sự chắc chắn rằng ngôi của Ngài là ở trên trời, Ngài tể trị trên muôn vật, và Ngài yêu thương chúng ta nhiều đến nỗi đã ban Con của Ngài để chúng ta có thể có sự sống đời đời. Ngài là Đấng nắm giữ vũ trụ đang nắm tôi trong lòng bàn tay của Ngài. Ngài là Đấng dẫn đường cho các vì sao cũng đang dẫn dắt tôi nữa. Ngài là Đấng biết rõ mọi sự từ sáng thế cho đến tận thế, Ngài biết rõ tôi. Và tôi giao phó sự sống tôi cho Ngài. Amen!
Sự Nhn Từ Ngi Cịn Đến Đời Đời
– Thi thiên 136
Cách đây mấy ngày, tôi có nhận được một bức thư từ một người bạn lần đầu tiên tôi gặp gỡ khi chúng tôi ở cùng nhóm thanh niên cách đây nhiều năm. Bạn tôi gửi một tin nhắn trong Facebook chứa phần quan sát rất sâu sắc:
Trong tâm trí tôi, chúng ta vẫn là những thanh niên vô tư, ngây thơ ở nhà thờ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng giờ đây chúng ta đang ở độ tuổi trung niên, và tôi để ý thấy phần nhiều bạn bè của chúng ta trên Facebook đang đối phó với nhiều tình trạng bịnh tật đặc biệt khó khăn. Nhiều người khác đang mất đi những người bạn thật đặc biệt, những người tư vấn, và các thành viên trong gia đình, họ đang ở phần cuối của tuổi thọ bình thường. Việc ấy vẫn còn gây tổn thương, một khi chúng ta là những con người hay chết bất toàn.
Bạn tôi nói thêm: Có một lượng lớn tổn thương đang tiếp diễn. Ai có thể ngờ rằng đây là sự thực chứ? Khi bạn còn trẻ, bạn cảm thấy bất khả chiến bại. Tôi luôn nghĩ điều nầy là một việc tốt đây, cảm giác sống mạnh giỏi, dũng cảm và có khả năng thắng hơn bất kỳ trở ngại nào, vì cảm giác đó cung ứng cho người tuổi trẻ lòng can đảm để lo làm nhiều việc lớn. Có người cho rằng thanh niên mà phung phí tuổi trẻ thì quả là một điều đáng tiếc. Đồng thời chúng ta kiếm được sự khôn ngoan đến từ kinh nghiệm, chúng ta đã mất đi tinh thần vô tư ngây thơ đó.
Có khi chúng ta kiếm được sự khôn ngoan ấy từ con cái của chúng ta. Chúng ta có những người bạn thân, họ phục vụ rất hiệu quả trong vai trò giáo sĩ ở Alaska. Cách đây một năm rưỡi, người vợ bị chẫn đoán với khối u não. Chẫn đoán ấy đến như một cú sốc vì cô ấy hãy còn trẻ và bề ngoài trông rất khỏe mạnh. Nhưng chứng ung thư chẳng hề trọng nể một người nào.
Mới đây, bạn bè của chúng tôi đã nhận được những tin tức xấu là chẳng còn phương thế điều trị nào khả thi nữa. Người vợ giờ đây đang khởi sự vào trại tế bần. Chúng tôi biết hoàn cảnh của họ vì họ thông báo cho bạn bè mình biết qua Facebook và Twitter. Người chồng và người vợ cả hai đều công khai về con đường của họ qua sợ hãi, giận dữ, và nghi ngờ. Thế mà sâu lắng ở trong lòng, đức tin họ luôn vững chải. Tôi đã nhận được hai tin nhắn của họ trên mạng Twitter mới đây. Người chồng viết rằng: “căng thẳng dâng cao trên gia đình trong những ngày nầy”. Thế rồi có sự việc nầy về đứa con 6 tuổi của họ:
Thêm một lưu ý nữa. Audrey nói rằng nó nghĩ Thiên đàng là một nơi tuyệt vời, vì vậy nó quyết định không “chia tay” với Chúa Jêsus:
Hãy để ý khuôn mặt mĩm cười ở cuối câu nói đó. Đúng là sự thực có trong cái biểu tượng nhỏ nhắn ấy. Trong những lần khủng hoảng trầm trọng, chúng ta khám phá ra chúng ta thực sự đang tin vào cái gì!?! Đối với bạn bè yêu dấu của chúng tôi, khi đến với khoảnh khắc của sự thực như thế, họ mĩm cười qua hai hàng nước mắt vì họ biết, họ biết, họ biết rằng Đức Chúa Trời là nhân từ.
Trong lúc bây giờ.
Dù ở trong nhà tế bần.
Audrey đã đúng. Sao phải “chia tay” với Chúa Jêsus trong lúc bây giờ chứ?
Sao phải “chia tay” với Chúa Jêsus
trong lúc bây giờ chứ?
Chúng ta phải tìm cho ra Đức Chúa Trời là ai để chúng ta sẽ thấy mạnh mẽ lên khi những cơn gió buồn rầu đang thổi ngược về chúng ta. Nền thần học đúng đắn đang làm điều đó cho chúng ta.
Chúng ta có thể nhìn thấy nguyên tắc nầy đang tác động trong Thi thiên 136, đôi khi được gọi là “Thi thiên Halêlugia” vì nó chẳng chứa một lời thỉnh cầu nào, không có một lời ta thán nào, và chẳng có một nan đề nào hết. Thay vì thế, nó chứa một danh sách những khoảnh khắc mà Đức Chúa Trời đã tác động trong lịch sử, mỗi lần như thế được đáp trả bằng điệp khúc “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Không nghi ngờ chi nữa, người hướng dẫn sự thờ phượng sẽ đọc dòng đầu của mỗi câu, và hội chúng sẽ đáp: “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”.
- Kêu gọi phải ngợi khen
Thi thiên bắt đầu theo cách nầy:
“Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện;
Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các thần,
Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy cảm tạ Chúa của muôn chúa;
Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời” (các câu 1-3).
Mấy câu nầy cung ứng cho chúng ta ba lý do để ngợi khen Đức Chúa Trời:
- Vì Ngài là thiện!
- Ngài là Đức Chúa Trời của các thần!
- Ngài là Chúa của muôn chúa!
Có “các thần” và “muôn chúa” hết thảy ở chung quanh chúng ta, nhưng chỉ có duy nhứt một Đức Chúa Trời chơn thật, Ngài đang tể trị vũ trụ. Mọi sự ngợi khen cao cả và sâu sắc của chúng ta đều phải nhắm vào Đức Chúa Trời cao vời đó.
Hãy xem xét ý nghĩa của những sự nầy:
- Ngài thực sự là Đấng tối cao của vũ trụ.
- Ngài là thiện trong những gì Ngài làm.
Thật là khó lượng được giá trị của các lẽ thật nầy:
- Nếu Ngài không phải là tối cao, chúng ta sẽ không thờ lạy Ngài.
- Nếu Ngài không phải là thiện, chúng ta sẽ chẳng tin cậy Ngài.
Nhưng vì Ngài vừa là thiện lại là Chúa chí cao nữa, không những chúng ta tin cậy Ngài, mà chúng ta còn phải sấp mình xuống trước mặt Ngài trong sự ngợi khen và thờ phượng!
Hãy chú ý phần đối đáp của mỗi câu: “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Câu nói đơn sơ nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng muôn vật bày tỏ sự nhân từ của Đức Chúa Trời vì ích cho con cái của Ngài.
Từ ngữ Hybálai được dịch là: “nhân từ” đề cập tới tình cảm kiên định, tình yêu thủy chung, hay bạn sẽ gọi đó là “tình cảm giao ước”. Đó là thứ tình cảm kéo dài vì nó dựa trên một sự cam kết không thể phá vỡ. Đó là tình cảm của một người chồng đối với vợ mình hoặc tình cảm của người mẹ đối với con cái của bà. Tình yêu của Đức Chúa Trời là đời đời vì giao ước của Ngài là đời đời. Ngài không thể không yêu dân sự của Ngài!
Nhưng ý nghĩa còn hơn như thế nữa. Tình yêu của Đức Chúa Trời cam chịu.
Tình yêu ấy tồn tại lâu hơn mọi vấn nạn của cuộc sống.
Tình yêu ấy vượt quá mọi rối rắm mà mỗi ngày chúng ta đối diện với.
Tình yêu ấy tiếp tục mãi khi sự sống của chúng ta đi tới hồi kết cuộc.
Ngài không thể không yêu dân sự của Ngài!
Mục sư Charles Spurgeon nói về tình yêu ấy theo cách nầy:
“Không một thánh đồ nào sẽ vấp ngã hay tử vong. Buồn rầu có thể đưa chúng ta đến với đất, và sự chết có thể đưa chúng ta đến với mồ mả, nhưng chúng ta không thể chìm đắm sâu hơn, rồi từ chỗ sâu thẳm nhất đó chúng ta sẽ dấy lên cao hơn hết thảy”.
Khi chúng ta đứng bên nấm mộ của người thân, chúng ta phải nhìn biết sự thực. Ông ấy đang ở đâu? Bà ấy đang ở đâu? Có phải sự chết là kết thúc hay còn có cái gì khác nữa?
Điều gì cung ứng cho chúng ta lòng tin cậy để ngẫn cao đầu đối diện với sự chết? Làm thế nào chúng ta có thể băng qua sông Giôđanh để tới bờ bên kia? Chúng ta có thể vì “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Bấy nhiêu đó thôi! Đó là sự trông cậy của chúng ta! Chúng ta chết đi, nhưng “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Chúng ta thất bại, nhưng “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Chúng ta vấp ngã, nhưng “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”.
- Nguyên nhân của sự ngợi khen
Phần còn lại của Thi thiên 136 chứa một nghiên cứu về sự thành tín của Đức Chúa Trời bắt đầu với sự sáng tạo (các câu 5-9) rồi kết thúc với việc Israel bước vào Đất Hứa (các câu 10-26).
- Sự sáng tạo (các câu 5-9)
Mấy câu nầy theo đúng khuôn mẫu của Sáng thế ký 1. Câu 5 tương đương với Sáng thế ký 1:1. Câu 6 song hành với Sáng thế ký 1:2. Các câu 7-9 theo sát với Sáng thế ký 1:14-18. Hãy chú ý, vũ trụ và muôn vật trong đó được dựng nên “nhờ sự khôn sáng của Ngài”. Điều nầy loại trừ thuyết tiến hóa vô mục đích hay số phận mù mờ. Vũ trụ bước vào hiện thực vì Đức Chúa Trời muốn như thế. Có lẽ bạn đã thấy in trên áo T-shirt câu: “Tôi tin thuyết Big Bang. Đức Chúa Trời phán, thì Bùm! Việc xảy ra”.
Tác giả của Thi thiên 136 sẽ nhất trí ngay. Hêbơrơ 11:3 nói ra cùng lẽ thật đó như thế nầy: “Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến”. Toàn bộ vũ trụ bước vào hiện thực bởi một kế hoạch đến từ bàn tay và lý trí của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Không một điều gì được thực hiện bằng cơ hội cả. Không một điều gì “tiến hóa” thành hiện thực do một đột biến ngẫu nhiên. Sự “khôn sáng” của Đức Chúa Trời đứng ở đàng sau vũ trụ như chúng ta đang nhìn thấy nó.
Nếu bạn loại bỏ Đức Chúa Trời,
bạn sẽ bỏ sót lẽ thật cơ bản về vũ trụ!
Một khi vũ trụ yên nghỉ trên “sự khôn sáng” của Đức Chúa Trời, không một người nào có thể hiểu biết vũ trụ cách thích ứng nếu không nhìn biết Đức Chúa Trời. Nếu bạn loại bỏ Đức Chúa Trời, bạn sẽ bỏ sót lẽ thật cơ bản về vũ trụ! Để hiểu rõ nguồn gốc của con người và tiểu sử thực của vũ trụ, chúng ta phải bắt đầu với sự khôn sáng của Đức Chúa Trời như Ngài đã tỏ nó ra cho chúng ta trong Lời của Ngài. Hãy khởi sự ở đó thì bạn đang khởi sự trên cái nền vững chắc. Còn khởi sự ở bất cứ đâu khác thì bạn chìm đắm trong bãi cát lún vô tín của con người.
Hết thảy chúng ta đang vật vã với ba thắc mắc quan trọng nầy:
Tôi từ đâu đến?
Tại sao tôi có mặt ở đây?
Tôi sẽ đi đâu?
Thắc mắc thứ nhứt là thắc mắc cơ bản nhứt. Cho tới chừng nào bạn trả lời cho thắc mắc ấy, bạn không thể trả lời thích đáng cho hai thắc mắc còn lại. Trong chuyến đi đến Trung hoa của chúng tôi mới đây, tôi đã chia sẻ ba thắc mắc nầy khi tôi rao giảng cho 450 sinh viên đại học. Trong thời gian hỏi đáp, một sinh viên nói rằng anh không nghĩ mình từ đâu đến hay sẽ đi đâu là vấn đề. Việc duy nhứt là vấn đề, ấy là anh ta đã làm gì đang khi anh ta còn sống ở đây trên đất. Anh ta muốn biết tôi nghĩ gì về quan điểm của anh ta. Câu hỏi là quan trọng vì nó buộc chúng ta phải đối diện với các vấn đề cơ bản nhất trong cuộc sống. Nếu chúng ta không đến từ đâu đó và sẽ chẳng đi đâu đó, thế thì hết thảy chúng ta còn lại là 60 hay 70 hoặc 80 năm sống trên hành tinh địa cầu nầy. Tại sao không ăn, uống, và vui vẻ vì ngày mai chúng ta sẽ chết? Tại sao không dấn thân vào bất cứ điều gì ở ngoài kia nếu đời nầy chỉ có từng ấy thôi? Còn nếu chúng ta được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, nếu Ngài yêu chúng ta nhiều đến nỗi Ngài đã sai Con Ngài đến chịu chết vì chúng ta, khi ấy chẳng có gì là vấn đề hơn là nhận biết Đức Chúa Trời cách sâu sắc, riêng tư, và mật thiết.
- Xuất Aicập (các câu 10-15)
Mấy câu nầy gợi nhớ lại hàng loạt phép lạ kỳ diệu nhơn đó Đức Chúa Trời đã giải phóng dân sự Ngài ra khỏi vòng nô lệ của người Ai cập:
“Ngài đã đánh giết các con đầu lòng xứ Ê-díp-tô. . .”
“Đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa chúng nó. . .”
“Dùng cánh tay quyền năng giơ thẳng ra. . .”
“Ngài phân Biển đỏ ra làm hai . . .”
“ Khiến Y-sơ-ra-ên đi qua giữa biển ấy . . .”
“Xô Pha-ra-ôn và cả đạo binh người xuống Biển đỏ . . .”.
Đức Chúa Trời chẳng có chút khó khăn khi đánh bại kẻ thù nghịch Ngài. Ngài cũng chẳng có chút khó khăn nào khi phân Biển Đỏ ra làm hai. Ngài chỉ yêu cầu dân sự Ngài công nhận rằng Ngài đã làm việc ấy – chớ không phải họ!
Đức Chúa Trời chẳng có chút khó khăn
khi đánh bại kẻ thù nghịch Ngài.
Chúng ta nên ngợi khen Chúa không những chúng ta đã được giải cứu, mà kẻ thù nghịch chúng ta đã bị tan tác, bị xấu hổ, và hoàn toàn bị đánh bại vì… Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
- Đồng vắng (câu 16)
Tác giả Thi thiên tóm tắt 40 năm lang thang trong một câu: “Ngài dẫn dân sự Ngài qua đồng vắng, vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời” (câu 16). Vì vậy, có nhiều việc đã xảy ra trong suốt 40 năm đó: mana và chim cút, nước chảy ra từ hòn đá, Balaam và con lừa biết nói, Môise trên Núi Sinai, con bò con bằng vàng, Cađe Banêa, 12 thám tử, nước đắng, các hài cốt trong sa mạc, lằm bằm, và nhiều thách thức liên tục đối với chức vụ lãnh đạo của Môise. Trải qua mọi sự ấy, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân sự Ngài đến Đất Hứa.
Hãy chú ý, Đức Chúa Trời dẫn dắt dân sự Ngài “qua” sa mạc, chớ không phải đi quanh nó. Muốn đến Đất Hứa, họ phải nếm trải sa mạc. Cũng một thể ấy cho hết thảy chúng ta. Đức Chúa Trời dẫn dắt con cái Ngài cùng đến thiên đàng, nhưng họ chẳng có con đường nào dễ dàng khi họ thực hiện chuyến linh trình của họ. Có nhiều khúc quanh co, nhiều con đường hình chữ chi, nhiều trì trệ, và có một vài con đường dường như là nẻo sự chết, nhưng Đức Chúa Trời hành động và qua đó mọi người đều nhìn thấy rằng sau cùng họ đã đến nơi vì . . . Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
- Chinh phục (các câu 16-22)
Bạn có thể tìm gặp câu chuyện nói tới Si-hôn và Óc trong Dân số ký 21. Khi Israel muốn có con đường thoải mái đi ngang qua xứ của dân Amôrít, vua Sihôn đã từ chối dân Israel và rồi còn tấn công họ nữa. Hắn đã bị đánh bại và dân Israel kết cuộc đã chiếm lấy các thành trì của dân Amôrít. Khi họ lên đường, Óc vua Basan đã dẫn quân đội ra đón đánh. Hắn ta cũng bị đánh bại hoàn toàn nữa.
“Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại Óc, các con trai người và cả dân sự người, cho đến chừng không còn người nào ở lại; dân Y-sơ-ra-ên chiếm lấy xứ người vậy” (Dân số ký 21: 35).
Các câu nầy đúng là một sự khích lệ, vì chúng nhắc cho chúng ta nhớ đến sự thành tín của Đức Chúa Trời mặc dù chúng ta cứ thất bại luôn. Thật là dễ lắm cho người Do thái phải nghĩ: “Tội lỗi chúng ta đã khiến cho Đức Chúa Trời quên chúng ta. Chúng ta chẳng còn có hy vọng, chẳng có tương lai. Chúng ta đã thổi tung hết mọi sự”. Nhưng bất chấp tội lỗi và sự vô tín dại dột của họ, Đức Chúa Trời không bao giờ từ bỏ dân sự của Ngài.
Nguyện mỗi một con cái Đức Chúa Trời đều nắm lấy nguồn hy vọng lớn lao. Quá khứ của bạn không quyết định tương lai của bạn. Có thể bạn đã thất bại thật nhiều lần, nhưng vẫn còn có ơn thương xót cho người nào tin cậy nơi Chúa. Ai biết được, trừ khi ngày mai bạn sẽ nhìn thấy Đức Chúa Trời đạt được một chiến thắng long trọng trong đời sống của bạn vì … Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
- Xuyên suốt lịch sử (các câu 23-25)
Mấy câu nầy chứa các lẽ thật quan trọng nói tới Đức Chúa Trời:
- Ngài nhớ đến chúng ta (câu 23).
- Ngài giải cứu chúng ta (câu 24).
- Ngài ban đồ ăn cho chúng ta (câu 25).
Quá khứ của bạn
không quyết định tương lai của bạn.
Ngài nhớ đến chúng ta bằng cách sai phái Chúa Jêsus đến cứu chúng ta.
Ngài giải cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi chúng ta.
Ngài ban đồ ăn cho chúng ta từng ngày một.
Những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Israel xưa kia, Ngài đang làm cho dân sự Ngài ở khắp mọi nơi, mọi thời đại, trong từng hoàn cảnh vì . . . Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
III. Phần kết luận của sự ngợi khen
Thi thiên 136 kết thúc với lời kêu gọi chung chung hãy ngợi khen Đức Chúa Trời mọi lúc mọi khi: “Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các từng trời! Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời“ (câu 26). Chúng ta hãy gói ghém bài học về Thi thiên nầy với ba phần kết thật quan trọng.
- Lịch sử không nói về chúng ta. Lịch sử nói về Đức Chúa Trời.
Dường như điều nầy quá cơ bản, nhưng thực ra đó là một lẽ thật rất quan trọng.
Bạn không nằm ở trọng tâm của lịch sử; mà là Đức Chúa Trời!
Bạn không nằm ở trọng tâm lịch sử;
mà là Đức Chúa Trời!
Dù việc gì xảy ra là vấn đề đối với bạn, song mục đích thực của cuộc sống là tôn vinh hiển cho Đức Chúa Trời trong mọi sự.
Nhìn thấy bàn tay của Ngài đang hành động.
Tin theo Ngài trong những khoảnh khắc tối tăm nhất.
Dâng cho Ngài những lời cảm tạ cho từng đắc thắng.
Nương trên Lời của Ngài.
Tấn tới mỗi ngày giống như Ngài hơn.
Sống sao cho người khác thấy dễ tin nơi Ngài.
Đấy là lý do tại sao tác giả Thi thiên nối kết những sự kiện cụ thể của lịch sử với tiếng kêu la ngợi khen đắc thắng. Nếu chúng ta bỏ sót điều nầy, hay nếu chúng ta xem nhẹ điều nầy, hoặc chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời không cứ cách nào đó “tùy chọn” cho đời sống của chúng ta, khi ấy chúng ta đã bỏ sót mục đích chính của sự chúng ta tồn tại rồi.
Hỏi: Cứu cánh chính của con người là gì?
Đáp: Tôn vinh hiển Đức Chúa Trời và thưởng thức Ngài cho đến đời đời.
Đúng, tất nhiên là như thế. Đấy là những gì quyển Tín điều Westminster chép. Chúng ta khẳng định như thế và làm theo cách vui sướng. Song việc ấy chẳng luôn luôn là dễ dàng đâu. Trong câu chuyện lịch sử của Israel, tác giả Thi thiên bao phủ nhiều thế kỷ thời gian chỉ trong một vài câu. Chương trình của Đức Chúa Trời không luôn luôn dễ dàng được thấy ở từng điểm trên đường. Khi người Do thái than thở ở Aicập dưới lằn roi của Pharaôn, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao họ đã cảm thấy bị Đấng Toàn Năng từ bỏ. Về sau, họ vẫn còn lằm bằm nghịch với Đức Giêhôva sau khi họ đã được cứu và đã nói họ nhớ Aicập nhiều lắm.
Chúng ta thiển cận dường bao!
Chúng ta mau quên sự nhơn từ của Đức Chúa Trời dường bao!
Chúng ta cầu xin sự giải cứu và rồi than phiền khi sự ấy đến. Chúng ta ra đời với ao ước điều chi đó tốt hơn. Thi thiên nầy nhắc cho chúng ta nhớ trong từng câu rằng đường lối của Đức Chúa Trời và đường lối của chúng ta không giống nhau. Nói chung, chỉ sẽ nhìn thấy chương trình của Đức Chúa Trời khi quay nhìn lại. Khi chúng ta quay nhìn lại, chúng ta nói: “Ồ, bây giờ thì tôi nhìn thấy rồi”. Nhưng khi chúng ta đang ở trong lò lửa, chúng ta chẳng nhìn thấy gì khác hơn là lửa.
Khi chúng ta đang ở trong lò lửa,
chúng ta chẳng nhìn thấy gì khác hơn là lửa.
Chúng ta cần Thi thiên 136 để tự nhắc nhở mình, vì chúng ta có xu hướng quên những gì Đức Chúa Trời hành động qua nhiều thế kỷ để thiết lập mục đích của Ngài ở trên đất. Chỉ vì chúng ta chưa nhìn thấy sự việc ngày thứ Năm lúc 6:37 chiều không có nghĩa là việc ấy không có ở đó.
Sự việc muốn nói chúng ta không nhìn thấy đấy thôi.
Chỉ bấy nhiêu!
Chúng ta không ở tại trung tâm của vũ trụ – Đức Chúa Trời mới có mặt tại đó. Tốt nhứt, chúng ta nên suy gẫm sự thực ấy lúc bây giờ vì chúng ta cần phải nhớ điều đó trước khi năm nay qua đi.
- Đức tin của chúng ta yên nghỉ trên các sự thực.
Câu chuyện lịch sử Israel lâu dài dạy chúng ta rằng đức tin chúng ta yên nghỉ trên mọi hành động cụ thể của Đức Chúa Trời trong lịch sử nhân loại. Khi Phaolô đưa ra lời biện hộ của ông trước mặt vua At-ríp-ba trong Công Vụ các Sứ Đồ 26, ông đã kết thúc lời lẽ của mình về sự chết, sự sống lại của Đấng Christ với câu nói nầy:
“Vua biết rõ các sự nầy; lại tôi bền lòng tâu vì tin rằng chẳng có điều nào vua không biết; vì mọi việc đó chẳng làm ra cách chùng vụng đâu“ (câu 26).
Ông muốn nói đại loại như thế nầy đây: “Ôi vua, vua không cứ phải theo lời tôi đã nói. Hãy kiểm tra việc ấy cho chính mình. Những sự thực đều có ở đó để bất cứ ai cũng có thể nom thấy cả”. Đấy là lý do tại sao câu trả lời tốt nhứt đưa ra cho một kẻ hoài nghi rất là đơn giản: “Hãy đọc Kinh thánh và dọn cho tâm trí mình”. Trong thời điểm hỏi đáp ở Trung hoa, một sinh viên khác nói rằng mặc dù một số người ở Trung hoa có thể bất đồng với tôi, họ phải tôn trọng nhận định của tôi và lắng nghe những điều tôi đã nói. Sau đó, anh ta đến gặp vợ tôi rồi tiếp tục cuộc luận lẽ của mình. Khi vợ tôi hỏi anh ta: không biết anh ta có đọc Kinh thánh hay không, anh ta đáp rằng anh ta có đọc song không tin Kinh thánh. Vợ tôi nói: “Cứ đọc Kinh thánh đi, thì anh sẽ hiểu những gì chồng tôi đã nói tối nay”. Đấy là một lời khuyên xuất sắc, có phải không? Chỉ giữ việc đọc Kinh thánh thì thấy cho bản thân mình mọi điều Kinh thánh thực sự muốn nói.
Chúng ta chẳng có gì phải sợ sệt từ những kẻ hay phê phán về đức tin Cơ đốc vì đức tin của chúng ta được lập trên những thực tại to lớn của Kinh thánh – một sự sáng tạo cụ thể bởi tay của Đức Chúa Trời, sự tồn tại của dân Israel, các phép lạ trong Cựu Ước, những lời tiên tri nói tới Đấng Mêsi, và trên hết mọi sự khác, sự ra đời lạ lùng, đời sống vô tội, sự chết có tính cách hy sinh, và sự sống lại đắc thắng của Đức Chúa Jêsus Christ và sự thăng thiên về trời của Ngài. Những việc nầy không được làm ra cách chùng vụng đâu.
- Nhớ tới nguyên bức tranh: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy thốt ra câu nói đó cho chính bạn. Hãy lặp lại mệnh đề nầy. Hãy học thuộc lòng câu ấy. Khi bạn cảm thấy mình bị cám dỗ đến nỗi thất vọng, hãy suy gẫm tư tưởng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Khi bạn muốn thối lui, hãy viết ra tư tưởng nầy rồi gắn nó trên tấm bảng: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Hãy nói với chồng mình: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Hãy nói với vợ mình: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Hãy nói với con cái mình: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Khi chính ma quỉ khởi sự thì thầm bên tai bạn về việc bạn là một kẻ thua cuộc, bạn hãy nói với Lão Quỉ Sứ ấy đừng hòng vì Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. Khi bạn có mọi sự ở trong tay, khi thế gian dường như sụp đổ ở chung quanh bạn, hãy đứng dậy, ngước đầu lên, rồi hô to lên với bầu trời: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
Bất luận bạn đi đâu trong tuần lễ nầy, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Bất luận nan đề của bạn là gì đi nữa, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Bất luận bạn cảm nhận ra sao về việc ấy, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Bất luận bạn đi đâu trong tuần lễ nầy,
Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Khi tôi viết ra mấy lời nầy, chúng ta vừa bước vào một năm mới với mọi hứa hẹn cùng mọi sự bất ổn của nó. Chúng ta mang theo với chúng ta gánh nặng mọi sợ hãi và lo toan của chúng ta, ký ức những lần thất bại của chúng ta trong quá khứ cùng với mọi mơ ước, kỳ vọng của chúng ta về tương lai.
Năm mới sẽ dành cho chúng ta những gì chứ? Khi tôi mở mạng Internet, tôi thấy hết bài nầy đến bài khác với những lời tiên đoán cho năm 2011. Dường như chúng ta đang bị chấm phá với những tên thầy bói ngồi trên ghế bành cùng những kẻ chuyên nhìn chăm vào quả cầu pha lê. Có người thậm chí xưng ra ngày giờ thiêng liêng của sự Đấng Christ tái lâm, đóng đinh nó thành một ngày thật đặc biệt. Tôi nói thẳng rằng tôi không biết lúc nào thì thị trường chứng khoán sẽ tăng hay giảm trong năm nay, tôi chẳng có một ý tưởng rõ ràng nào về ai sẽ thắng giải Super Bowl, và tôi không thể nói chắc Chúa Jêsus sẽ tái lâm hay không trong 12 tháng tới (hoặc 12 năm tới, về vấn đề đó).
Tôi không phải là nhà tiên tri hay con trai của một nhà tiên tri.
Song tôi dám chắc nhiều về việc nầy, và tôi tìm chỗ đứng về việc nầy đây: Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, đó là sự thực trong 6 tháng nữa cũng như điều đó là thực cho hôm nay. Vì Đức Chúa Trời không thể thay đổi, tình yêu của Ngài dành cho chúng ta sẽ không hề thay đổi. Hãy giữ điều đó trong trí khi bạn đối diện với những bất ổn ở trước mặt bạn. Có lẽ nhiều việc sẽ diễn ra suông sẻ cho bạn trong năm 2011. Tôi hy vọng thế. Có lẽ bạn sẽ kinh nghiệm những câu trả lời cho sự cầu nguyện. Nguyện đó là phần của bạn. Nhưng nếu bạn kinh nghiệm những lần khó khăn trong năm trước mặt, nếu bạn vật vã để làm cho thỏa mọi cứu cánh, nếu bạn cảm thấy mình đã lạc lối, nếu bạn bè của bạn dường như xây nghịch lại với bạn, nếu bầu trời sụp đổ ở chung quanh bạn, hãy trở lại với Thi thiên 136 rồi đọc lớn tiếng Thi thiên ấy.
Hãy tự nhắc nhớ mình, chúng ta đang hầu việc một Đức Chúa Trời là Đấng hành động trong lịch sử.
Hãy nhớ rằng đường lối của Ngài không phải là đường lối của bạn.
Hãy suy gẫm về quyền năng cả thể của Ngài trong quá khứ.
Hãy suy xét Ngài đã dẫn dắt bạn đi bao xa rồi.
Hãy suy nghĩ đến nhiều lời hứa mà Ngài đã lập.
Hãy tập trung lý trí của bạn vào Chúa Jêsus, và bất luận điều chi khác xảy ra trong năm nay, hãy tin lời xưng nhận của bạn là đúng ở đây và hãy vui mừng mãi mãi vì … Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!
Thành Tín Làm Trọn Công Việc Của Ngài
– Philíp 1:6
“Đời sống Cơ đốc nhân là một chuỗi phép lạ”. Mục sư Charles Haddon Spurgeon đã nói như thế, ông là nhà truyền đạo người Anh nổi tiếng vào thế kỷ thứ 19. Nếu ông nói đúng, tại sao chúng ta không nói tới các phép lạ đó? Khi một người bạn đến hỏi tôi câu hỏi ấy cách đây mấy năm, tôi đã yêu cầu mấy người bạn nói cho tôi biết những phép lạ mà họ kinh nghiệm cách riêng tư. Tất cả các câu chuyện đều rất hay, và một số có tính cách dạy dỗ rất lớn. Đây là câu chuyện của một người:
Tối nay tôi đọc với sự thích thú mọi lời phê phán của bạn về các phép lạ. Tôi tin Đức Chúa Trời vẫn còn thực hiện nhiều công việc thật lạ lùng. Và mọi câu trả lời đều rất ngoạn mục. Nhưng hầu hết những câu trả lời đối với tôi dường như là chẳng thức thời.
Chúng ta thực sự là thế hệ phải hài lòng liền tay. Tôi nghĩ chúng ta đọc Tân Ước rồi tự hỏi lý do tại sao chúng ta không nhìn thấy Đức Chúa Trời thực hiện tức thì, ngoạn mục mọi giải đáp cho sự cầu nguyện được đóng khung bằng những tràng sấm sét và nhiều tia chớp nhoáng. Tôi nghĩ Ngài đang ban ra những câu trả lời rất ngoạn mục, chỉ duy theo thì thuận tiện của Ngài. Tôi dựa theo kinh nghiệm riêng của tôi. Nếu tôi yêu cầu người bạn thân của tôi cách đây 16 năm viết ra phần mô tả về tôi và rồi yêu cầu cùng một việc ấy cho hôm nay, đây là phần kết luận bạn sẽ nhận được. Đây là hai nhân vật khác biệt với rất ít điểm chung.
Điều gì đã xảy ra? Chẳng thiếu gì hết, duy chỉ có thiếu phép lạ mà thôi! Tôi không theo sát mọi hoàn cảnh, nhưng cách đây 16 năm, tôi đã ở phần cuối của sợi dây về mặt tình cảm và về mặt thuộc linh. Ngày kia, tôi đã phải quì gối xuống rồi thưa với Đức Chúa Trời, một là Ngài thay đổi tôi hoặc cất tôi về quê hương vì tôi không muốn sống thêm một phút nào khác nếu đời sống tôi cứ mãi y như nguyên cũ. Đấy là khi tôi khởi sự nghe thấy tiếng của búa và cưa ở bên trong.
Khi nhảy vào phần cuối của câu chuyện, hơn 16 năm qua Đức Chúa Trời đã dựng nên một người hoàn toàn mới bên trong con người nầy. Phần lớn những con người bình thường đều không nhận thấy được vấn đề đó. Và sự việc đó không xảy ra chỉ bằng cái nháy mắt. Song đấy là một phép lạ! Sự thể rất ngoạn mục! Và không chỉ là từng ấy thôi đâu! Những gì Đức Chúa Trời đã làm trong đời sống tôi thì nhiều lạ lùng hơn nếu Ngài làm cho một cánh tay hay cái chơn mọc dài ra thay thế cho một cái tay hay cái chơn bị cắt cụt — vì Ngài đã tạo ra một con người hoàn toàn mới. Ngài vẫn còn đang làm phép lạ! Chúng rất ngoạn mục! Chúng nằm trong thì thuận tiện của Ngài! Nguyện sự vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời!
Những phép lạ chung quanh
Khi tôi đọc câu chuyện của Ngài, thì tư tưởng thoạt đến với tôi, ấy là có những phép lạ xảy ra quanh chúng ta nếu chúng ta chỉ nhướng mắt lên rồi nhìn xem chúng. Nan đề của chúng ta, ấy là chúng ta tìm kiếm những kết quả bề ngoài, ngoạn mục khi công việc của Đức Chúa Trời, giống như cái hột cải nhỏ kia, bắt đầu ở một chỗ kín đáo bên trong tấm lòng của con người. Mọi tường trình về sự chữa lành theo phần xác quả là thật kỳ diệu — và tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài vẫn còn chữa lành khi trả lời cho sự cầu nguyện hôm nay — phép lạ lớn lao chính là sự biến đổi một tội nhân thành một thánh đồ bởi ân điển của Đức Chúa Trời.
Tôi thích một câu rất đặc biệt trong lời làm chứng vừa qua: “Đấy là khi tôi khởi sự nghe thấy tiếng của búa và cưa ở bên trong”. Nếu bạn là một tín đồ có bề dày thời gian, bạn biết rõ về tiếng búa và cưa ở bên trong chính đời sống của bạn. Các nhà thần học đều có một từ rất hay về việc ấy. Họ gọi đó là “sự nên thánh”. Đấy là công việc mà Đức Chúa Trời đang làm bên trong tấm lòng của một người tin Chúa để biến người ấy thành một người hoàn toàn mới.
Đây là 5 sự thực bạn cần phải biết về sự nên thánh:
Đây là công việc của Đức Chúa Trời.
Đây là một quá trình trọn cả đời.
Sự ấy không bao giờ hoàn tất trong đời nầy.
Đức Chúa Trời sẽ không dừng lại cho tới chừng nào công việc đã được trọn.
Đức Chúa Trời sử dụng mọi sự xảy ra cho chúng ta — tốt và xấu — để khiến chúng ta ra giống với Chúa Jêsus.
Với bài giảng nầy, tôi đang đến gần với phần cuối của loạt bài có đề tựa là: “Đức Chúa Trời, Đấng bạn có thể tin cậy”. Tuần tới là sứ điệp sau cùng và tôi sẽ nghỉ khoảng hai tuần, một món quà gửi đến từ các trưởng lão đánh dấu năm thứ 10 làm Mục sư quản nhiệm Hội thánh Calvary Memorial. Tôi tính giảng nhiều về tuần tới, nhưng tôi thu hẹp lại thành hai Chúa nhật sau cùng, tôi muốn giảng về một số lẽ đạo rất quan trọng đối với tôi trong hơn 10 năm qua. Nếu mọi điều tôi nói có điều chi nghe quen thuộc, sở dĩ như thế là vì lời hứa của Đức Chúa Trời phải làm trọn công việc của Ngài nơi chúng ta đã trở thành một lẽ đạo quí báu trong tấm lòng của tôi. Tôi tin nhiều về việc ấy ngày nay hơn là tôi đã tin cách đây 10 năm.
Chúng ta hãy có một cái nhìn thật nhanh vào bốn phân đoạn để neo tư tưởng của mình vào, ở các nơi đó nói tới quyết định của Đức Chúa Trời muốn làm trọn công việc của Ngài nơi chúng ta.
- Ngài khởi sự công việc nơi chúng ta.
Hãy đặt lòng tin cậy về sự Ngài là Đấng đã khởi làm việc lành nơi bạn, Ngài sẽ lo liệu sao cho việc ấy đi tới chỗ hoàn tất cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ.
Hãy chú ý ba điều từ câu nói nổi tiếng nầy. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời chủ động sáng tạo khi khởi sự công việc nơi bạn. Ngài là Đấng “khởi làm việc lành” nơi chúng ta. Sự cứu rỗi luôn luôn bắt đầu với Đức Chúa Trời. Ngài đi bước đầu tiên, và nếu Ngài không đi bước đầu tiên đó, chúng ta sẽ chẳng manh động gì cả thảy. Có lẽ bạn đã nghe nói về nhà truyền đạo bị kiểm tra để được sự tấn phong vào chức vụ. Khi người ta hỏi ông trở thành Cơ đốc nhân bằng cách nào, nhà truyền đạo đáp: “Tôi làm phần của tôi và Đức Chúa Trời lo phần của Ngài”. Nghe như thế thì sễ thắc mắc lắm đấy, vì vậy số anh em trong hội chúng đã yêu cầu nhà truyền đạo giải thích “phần của ông trong sự cứu rỗi”. Nhà truyền đạo đáp: “Phần của tôi là chạy tránh Đức Chúa Trời bao xa như tôi có thể chạy được”. “Phần của Đức Chúa Trời là đuổi theo tôi, bắt lấy tôi rồi đem tôi vào trong gia đình của Ngài”. Đấy là câu trả lời hoàn toàn theo Kinh thánh vì hết thảy chúng ta ra đời đều tránh né Đức Chúa Trời, và nếu như Đức Chúa Trời không bật ra sáng kiến tìm kiếm chúng ta, chúng ta vẫn sẽ còn tránh né Ngài.
Thứ hai, Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm phải làm trọn công việc của Ngài nơi bạn. Tôi thấy đây là một tư tưởng rất khích lệ. Đức Chúa Trời có một “việc lành” mà Ngài dự trù phải hoàn tất nơi đời sống của bạn và của tôi. Đức Chúa Trời dự trù hết thảy con cái của Ngài phải được biến đổi ra giống với Đức Chúa Jêsus Christ, và Ngài sẽ không yên nghỉ cho đến khi nào “việc lành” ấy đã được làm cho trọn vào lúc sau cùng.
Có lẽ bạn đã nhìn thấy mấy cái nút kia có ghi: PBPGIFWMY. Những chữ viết tắt nầy đứng thay cho một lẽ thật rất quan trọng: “Please be patient. God isn’t finished with me yet” (Làm ơn hãy kiên nhẫn. Đức Chúa Trời chưa làm xong việc với tôi”). Cảm tạ Đức Chúa Trời, đó là sự thực. Có thể là tôi trông chưa giống nhiều đâu — nhưng Đức Chúa Trời chưa làm xong việc với tôi kia mà. Và khi bạn nhìn vào trong gương — và thậm chí sâu thẳm trong linh hồn bạn, có thể bạn chưa giống với những gì bạn nom thấy, nhưng không phải là vấn đề đâu. Đức Chúa Trời chưa làm xong việc với bạn kia mà.
Có những tin tốt và tin xấu trong lẽ thật nầy. Tin tốt, ấy là khi Đức Chúa Trời chưa làm xong việc, chúng ta có hy vọng rất lớn về cuộc tương lai. Tin xấu, ấy là khi Đức Chúa Trời chưa làm xong việc, Ngài sẽ không để chúng ta lại như chúng ta hiện có đây. Ngài sẽ hành động trên chúng ta cho tới chừng chúng ta được biến đổi ra giống như ảnh tượng của Đức Chúa Jêsus Christ. Hầu hết chúng ta đều có một con đường thật dài phải đi — và một số người trong chúng ta đều có một khoảng đường xa phải bước đi. Nhưng việc ấy không thành vấn đề. Nếu bạn thấy mình đang lọt vào bãi bùn lầy thất bại, hãy can đảm lên. Hỡi con cái của Đức Chúa Trời, Ngài chưa làm xong việc với bạn kia mà. Hãy chỗi dậy rồi bước đi, hỡi quí bạn Cơ đốc của tôi ơi. Đức Chúa Trời chưa làm xong việc với bạn đâu. Nếu bạn bị chuyển ra hàng ghế ngồi vì lỗi cá nhân, hãy tiếp thu bài học mà Đức Chúa Trời sẵn sàng cho bạn và rồi hãy trở lại mà thi đấu.
Thứ ba, Đức Chúa Trời bảo đảm kết quả công việc của Ngài nơi chúng ta. Không những Đức Chúa Trời khởi sự tiến trình, và tiếp tục tiến trình, mà Ngài còn bảo đảm phần kết quả tối hậu của tiến trình đó nữa. Ngài sẽ “làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ”. Câu nầy có ý nói rằng Đức Chúa Trời sẽ không xây đi bởi bất kỳ loại khó khăn nào. Ngài đã quyết khiến cho bạn ra giống với Chúa Jêsus đến nỗi cho dù bạn có tái phạm, điều đó sẽ không ngăn trở việc hoàn tất mục đích của Ngài. Một ngày kia, bạn và tôi sẽ đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ như con cái đã được Đức Chúa Trời cứu chuộc — thánh khiết, không vít, và trọn vẹn trong từng chiều kích. Chúng ta hôm nay phải nắm lấy tầm nhìn đó. Nhưng một ngày tốt hơn sẽ đến cho dân sự của Đức Chúa Trời. Những gì là bất toàn sẽ được làm cho trọn vẹn. Những gì chưa làm xong sẽ phải được làm cho xong. Cái gì thiếu thốn sẽ được bổ sung đầy đủ. Cái gì là một phần sẽ được đổi thành toàn phần. Điều chi kém thiếu chưa đủ sẽ được làm cho đầy trọn. Thứ gì tan vỡ sẽ được làm cho lành trở lại. Thứ chi tổn thương sẽ được chữa lành cho. Điều chi yếu ớt sẽ được làm cho mạnh mẽ lên. Cái gì tạm thời sẽ được biến thành vĩnh viễn.
Đức Chúa Trời đã hứa làm việc ấy và Ngài không thể nói dối. Có phải Đức Chúa Trời đã khởi làm việc lành trong đời sống của bạn không? Có phải bạn cảm thấy bất toàn và chưa trọn vẹn chăng? Đừng sợ hãi, hỡi con cái của Đức Chúa Trời. Ngài sẽ làm trọn công việc của Ngài ở nơi bạn.
- Ngài gìn giữ chúng ta không vấp ngã.
Ngài là Đấng có thể gìn giữ bạn khỏi vấp phạm và khiến bạn đứng trước mặt vinh hiển mình rất vui mừng, không chỗ trách được —
Thứ nhứt, có quyền phép của Đức Chúa Trời: “Ngài là Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm”.
Thứ hai, có mục đích của Đức Chúa Trời: “khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình”.
Thứ ba, có lời hứa của Đức Chúa Trời: “cách rất vui mừng, không chỗ trách được ”.
Đức Chúa Trời đã ấn định rằng người nào Ngài kêu gọi để được cứu sẽ được bảo vệ cho dù họ vấp ngã trên đường, họ sẽ không hoàn toàn nằm dài luôn đâu. Ngài canh chừng con cái Ngài bởi Thánh Linh của Ngài và với các thiên sứ thánh để biết chắc rằng không một người nào bị hư mất trong chuyến linh trình trên đất của họ. Tôi thích cách thức J. Vernon McGee sử dụng để chỉ ra vấn đề nầy. Giống như bao người khác Đức Chúa Trời kêu gọi, một ngày kia ông sẽ được tiếp lấy trên thiên đàng. Mục sư McGee phác họa Chúa ở trên trời đang đếm bầy chiên của Ngài khi họ đến trong ràng của Ngài:
“…94…95…96…97…98…99…McGee, McGee đâu rồi? Ta chưa thấy ông ta!” Không, Ngài sẽ không phải nói như vậy đâu. Hết thảy bầy chiên của Đức Chúa Trời sẽ đến nơi đó. Không một người nào sẽ bị mất trong tiến trình đó.
Jack Wyrtzen ưa nói như vầy đây: “Tôi dám chắc về thiên đàng giống như thể tôi đã sống ở đó rồi trong 10.000 năm”. Cơ đốc nhân có dám nói như thế không? Vì việc ấy không đặt nơi tôi hay nơi bạn. Việc ấy đặt trên Lời của Đức Chúa Trời đời đời. Nếu Đức Chúa Trời đã phán Ngài sẽ làm việc ấy, Ngài sẽ làm đấy. Bạn có thể đưa việc ấy vào cất giữ trong nhà băng. Những gì Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ làm, Ngài sẽ làm đấy.
Giuđe nói rằng mục đích của Đức Chúa Trời là trình diện chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời không chỗ trách được. Từ ngữ Hylạp nói tới “không chỗ trách được” ra từ những của lễ hy sinh ở đền thờ. Từ nầy mô tả một chiên con không lỗi không vít gì hết. Không một vết sẹo, không một cái xương nào gãy, không một dấu đốm nào cả, không một thứ bệnh tật hay bất kỳ loại nào. Đức Chúa Trời phán: “Hãy đem đến cho ta một chiên con không vít hay đừng đem con nào hết”. Ngài từ chối của lễ có vít vì là bất xứng trong sự thánh khiết của Ngài.
Nhưng nếu đó là sự thực, làm sao bất cứ ai trong chúng ta dám đứng trước mặt Chúa cho được chứ? Hết thảy chúng ta đều có tì vít, những lỗi lầm kín nhiệm, các tội lỗi kín giấu, nhiều thái độ sai trái, nhiều thói tật xấu, và tội lỗi đang treo quanh cổ chúng ta giống như một gánh nặng vậy. Hết thảy chúng ta đều phấn đấu với gánh nặng ấy từng ngày một, và phần nhiều người trong chúng ta đang sống với một lương tâm phạm tội và ý thức rõ ràng về sự thất bại của chính chúng ta.
Chính ở điểm nầy mà lời lẽ của Giuđe 24 trở nên quan trọng. Đức Chúa Trời dự trù trình diện chúng ta ở trước ngôi của Ngài không tì, không vít, tự do đối với mọi thứ trong đời nầy cứ trì kéo chúng ta xuống. Trong ngày lớn đó, các thiên sứ sẽ cất tiếng ca hát của họ lên khi từng người một các thánh đồ của Đức Chúa Trời được trình diện với Cha chúng ta ở trên trời. Tôi hình dung Chúa Jêsus đang phán: “Lạy Cha, đây là Stan Utigard. Ông ấy vừa mới ra khỏi cuộc phấn đấu vất vả ở trên đất. Bởi giá trị huyết của con, con trình ông ta cho Cha thật trọn vẹn, không tì vít, không chỗ trách được”. Và Đức Chúa Cha sẽ phán: “Được lắm, hỡi đấy tớ ngay lành trung tín kia, hãy vào mà hưởng sự vui mừng của Chúa”.
Cũng một thể ấy cho hết thảy chúng ta. Nhưng còn về tội lỗi của chúng ta thì sao chứ? Chúng bị bao phủ bởi huyết của Chúa Jêsus và đã bị xét đoán tại thập tự giá. Mọi thất bại trong đời nầy sẽ bị bỏ lại ở thật xa sau lưng. Mọi công việc chưa làm xong của một cuộc đời sẽ chỉ còn là một ký ức lờ mờ — nếu chúng ta có nhớ đến nó. Trong ngày lớn ấy, chúng ta sẽ được giải phóng hoàn toàn ra khỏi tội lỗi và mọi sự tàn phá của nó.
Đừng bỏ qua cụm từ ngắn ngủi đó: “cách rất vui mừng”. Trong tiếng Hylạp, cụm từ nấy có ý nói tới một việc như “hớn hở không kềm chế được”. Khi các thánh đồ bước vào, thì giống như một cuộc diễu hành ồn ào ở New Orleans (chỉ không có loại tồi tệ ở đó mà thôi). Chúng ta sẽ bước vào trong thiên đàng không phải với cặp mắt ngó xuống và bộ mặt ảm đạm đâu, mà với việc vui cười ca hát cùng với những tiếng hô vui mừng đời đời: “Halêlugia, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng tôi hớn hở”.
Ngày thứ Sáu vừa qua, người bạn thân của tôi là Bob Briner đã bước qua hai cánh cổng đời đời. Mọi vất vả của ông ấy đều đã qua đi cho đến đời đời, sau cùng thì ngày vui mừng hớn hở của ông ấy đã đến. Giờ đây, ông ấy đang đứng trước mặt Đức Chúa Cha, không tì vít hay không chỗ trách được, được chữa lành và được biến nên trọn vẹn cho đến đời đời.
Khi tội lỗi hành hại bạn tuần lễ nầy, nguyện tư tưởng nầy khích lệ bạn. Những ngày tốt hơn đang tới đến. Những ngày của sự đắc thắng. Những ngày vui mừng không còn xa lắm đâu. Thất bại trong hiện tại của bạn sẽ chẳng kéo dài cho đến đời đời được. Một ngày kia, trận chiến sẽ qua đi và bạn sẽ đứng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và trọn vẹn, tự do đối với những miếng giẻ rách đang trì kéo bạn xuống trong đời nầy. Bạn sẽ bước bào thiên đàng với một bài ca trên môi miệng của mình. Đức Chúa Trời đã bằng lòng làm trọn sự ấy.
III. Ngài trang bị cho chúng ta để làm theo ý muốn Ngài.
Nguyện Đức Chúa Trời của sự bình an, là Đấng qua huyết giao ước đời đời từ kẻ chết sống lại tỏ ra bởi Chúa Jêsus của chúng ta, là Đấng chăn chiên trưởng, trang bị cho bạn với mọi sự tốt lành để làm theo ý muốn của Ngài, và nguyện Ngài hành động trong chúng ta mọi điều đẹp lòng Ngài, qua Đức Chúa Jêsus Christ, để mọi sự vinh hiển đều thuộc về Ngài cho đến đời đời. Amen
Từ ngữ “trang bị” có ý nói tới việc phục hồi lại tình trạng làm việc thích đáng. Từ ngữ nầy được sử dụng nói tới một đội quân sẵn sàng đánh trận hay vá lại lỗ rách của lưới cá hoặc một cánh tay đã bị gãy. Bạn trang bị điều chi đó khi bạn sửa soạn nó để được sử dụng cho mục đích thích đáng của nó.
Đức Chúa Trời bằng lòng trang bị cho chúng ta mọi sự mà Ngài muốn chúng ta phải lo làm. Cho phép tôi nói rõ hơn. Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ kêu gọi chúng ta làm một việc gì đó mà không trang bị cho chúng ta để làm công việc đó. Không hề. Ngài sẽ không làm như thế đâu.
Tôi biết có nhiều người ngày nay đang đối diện với những cảnh ngộ khó khăn. Có thể là bạn sẽ chẳng có tiền bạc chi hết. Có người trong các bạn thì bị thất nghiệp. Có người đang đối mặt với cuộc giải phẩu sắp tới đây. Nhiều người khác đang đối diện với tật bịnh trầm trọng. Có người cần phải đưa ra những quyết định khó nhọc trong tuần lễ nầy và bạn không biết phải làm gì đây!?!
Hãy nhận lấy lời cổ vũ nầy. Bất cứ điều chi bạn phải làm trong tuần lễ nầy, Đức Chúa Trời sẽ trang bị cho bạn để làm công việc ấy. Cho dù con đường trước mặt có nhọc nhằn đấy, Đức Chúa Trời đã khởi sự vá lại mảng lưới của bạn và trang bị cho bạn để đánh trận. Thậm chí bạn chưa cầu hỏi Ngài; Ngài làm thế vì Ngài là loại Đức Chúa Trời như thế đó. Ngài không hề, không bao giờ, không bao giờ kêu gọi bạn đến với bất kỳ công việc nào mà không ban cho bạn những gì bạn cần để làm cho xong công việc ấy.
Hãy chú ý cách thức Ngài làm công việc ấy. Ngài hành động trong chúng ta từ trong ra ngoài. “Nguyện Ngài hành động trong chúng ta những gì đẹp lòng Ngài”. Nếu chúng ta cần sự can đảm, Ngài hành động sự ấy trong chúng ta. Nếu chúng ta cần ơn thương xót, Ngài ban sự ấy cho chúng ta. Nếu chúng ta cần sự ngay thẳng, Ngài kiến thiết sự ấy trong chúng ta. Nếu chúng ta cần sự khôn ngoan, Ngài truyền ban sự khôn ngoan mà chúng ta có cần. Nếu chúng ta cần kiến thức phổ thông, Ngài tìm một phương thức để ban kiến thức đó cho chúng ta.
Có nhiều người trong chúng ta đã nhìn vào hoàn cảnh khó khăn rồi nói: “Lạy Chúa, xin thay đổi hoàn cảnh của con”. Thường thì đấy không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời. Phần nhiều hoàn cảnh khó khăn thường xảy đến như một phương tiện để khiến cho chúng ta tấn tới về mặt thuộc linh. Đức Chúa Trời thường đem nổi khó khăn vào trong đời sống chúng ta để đào sâu sự nương cậy hoàn toàn của chúng ta đặt nơi Ngài. Khi sự ấy xảy ra, chúng ta cần phải cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thay đổi con, để con có thể đối diện với cảnh ngộ nầy”. Đó là một lời cầu nguyện mà Đức Chúa Trời đẹp lòng muốn nhậm lấy.
- Ngài hứa làm trọn công việc của Ngài nơi chúng ta.
Nguyện chính mình Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của sự bình an, làm cho bạn nên thánh mãi mãi. Nguyện toàn bộ tâm thần, linh hồn và thể xác của bạn, sẽ được giữ cho không chỗ trách được nơi sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Ngài là Đấng gọi anh em là thành tín và Ngài sẽ làm như thế.
Khi Chúa chúng ta trở lại, có hai việc quan trọng sẽ xảy ra cho người tin Chúa:
- Bản chất của chúng ta sẽ bị tỏ ra.
- Sự trọn lành của chúng ta sẽ được hoàn tất.
Chúng ta chưa đạt tới chỗ nầy trong lúc bây giờ. Dường như chúng ta đang làm cho tiến trình ấy chậm lụt đi. Có phải bạn thấy thất vọng về chính đời sống của mình không? Tôi có thấy đấy. Có phải bạn từng đứng ở trước tấm gương rồi nói: “Có điều chi sai trật với ngươi vậy? Tại sao ngươi không thấy khá hơn chứ?” Đôi khi trong các trường hợp ấy, Cơ đốc nhân giống như tiến ba bước rồi lùi hai bước vậy.
Tôi ý thức được rằng sự tấn tới về mặt thuộc linh nhiều lúc đáng thất vọng lắm. Sự thể giống như đang trèo lên đỉnh Núi Everest vậy, bạn càng tới gần đỉnh hơn, thì dường như nó còn xa hơn vậy. Nhưng Đức Chúa Trời có một lý do cho mọi sự nầy. Ngài muốn chúng ta phải nương cậy vào Ngài trong mọi sự. Ngài dựng nên sự sống để nó tác động chỉ khi Ngài nắm toàn quyền trên mọi sự kìa. Khi chúng ta tìm cách điều hành mọi sự — là điều chúng ta thường hay làm — mọi sự bắt đầu rã rời hết.
“Đấng gọi anh em là thành tín”. Cụm từ ngắn ngủi nầy rất là quan trọng. Đây là nền tảng cho lẽ đạo nói tới sự an ninh đời đời. Chúng ta muốn nói rằng người nào được cứu thì được cứu cho đến đời đời. Làm sao chúng ta biết điều nầy là sự thật chứ? Chúng ta biết điều đó là vì Đức Chúa Trời là thành tín hay giữ mọi lời hứa của Ngài. Toàn bộ hy vọng của chúng ta — và ở đời nầy và ở đời hầu đến — đều đặt trên sự thành tín của Đức Chúa Trời. Sự thành tín của Ngài mang lấy toàn bộ gánh nặng mọi nổ lực nhỏ bé của chúng ta.
Điều chi khiến cho chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ làm trọn công việc? Trong con mắt của tôi, tôi hình dung Đức Chúa Trời là một nhà điêu khắc đang làm việc với phần thô đá cẩm thạch. Ngài đang làm việc với mảng cẩm thạch lớn có tên là “Ray Pritchard”. Đây là một công đoạn khó vì mảng cẩm thạch nầy bị biến dạng, đổi màu, chẳng ra hình thù chi hết, và bị nứt nẻ ở một số nơi. Đấy là mảng cẩm thạch tồi tệ nhất mà một nhà điêu khắc từng tìm gặp. Nhưng Đức Chúa Trời không nản lòng và Ngài đang kiên nhẫn làm công việc của Ngài, dủa mài đi các chỗ xấu, chạm khắc một hình ảnh nơi phần thô cứng, thỉnh thoảng dừng lại để tô bóng chỗ nầy hay chỗ kia. Một ngày kia, sau cùng ông ta hoàn tất một phần của bức tượng. Sáng hôm sau, khi ông ta trở lại gian phòng đó với mảng lộn xộn kia. Ông nói: “Tôi nghĩ mình đã làm xong việc ngày hôm qua, ai đã làm rối tung bức tượng của tôi chứ?” Với một nụ cười méo mó, tôi giơ tay mình lên. Cái giơ tay đó chỉ ra tôi là thủ phạm. Tôi là kẻ thù tồi tệ nhất của tôi. Những gì tôi tưởng là sẽ cải thiện mọi chuyện chỉ là làm cho lộn xộn chúng mà thôi. Nhưng Đức Chúa Trời là thành tín. Ngài kiên nhẫn nhặt lấy cái đục của mình rồi trở lại với công việc. Ngài không bỏ cuộc nửa chừng dự án đó.
Ngài sẽ làm cho trọn
Hãy chú ý bốn từ cuối của câu 24 [theo bản Anh ngữ]: “sẽ làm trọn hết”. Câu nói thật đơn sơ và thẳng thắn. Không chút do dự, không mỹ miều, chẳng hồ nghi chi cả. Chỉ có bốn từ đơn sơ: Sẽ làm trọn hết. Không phải “Ngài có thể làm trọn hết” hay “Ngài phải làm trọn hết” hay “Ngài có lẽ làm trọn hết” hoặc “Ngài sẽ làm trọn công việc đó nếu Ngài muốn”. Thậm chí không phải “Ngài sẽ làm trọn hết nếu chúng ta lo làm phần của mình”. Chỉ một câu nói tuyên bố rằng Đức Chúa Trời sẽ làm trọn hết công việc ấy mà thôi. Thậm chí chẳng có tham khảo nào nhẹ nhất đối với bất kỳ việc gì nơi phần của chúng ta. Khi mọi sự được nói ra và được làm ra, cái điều là vấn đề không phải là tôi đang nắm chặt lấy Đức Chúa Trời đâu, mà Ngài đang nắm chặt lấy tôi kìa.
Có lúc, khi tôi hỏi ai đó: Ông (bà) thế nào rồi? Câu trả lời là: “Tôi đang sống suông sẻ đây”. Đấy là câu trả lời rất tế nhị, nhưng chưa phải là chính xác đâu. Nếu sự thực được nói ra, chúng ta chưa “suông sẻ” đâu. Một số người trong chúng ta cảm thấy “suông sẻ” và hầu hết chúng ta đều cảm thấy “đúng một phần và sai một phần”. Nhưng không ai trong chúng ta hoàn toàn “suông sẻ” trong từng lãnh vực của cuộc sống. Trong khoảnh khắc, chúng ta chẳng thấy “suông sẻ” nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta đang di động theo hướng đó và đến cuối cùng, mọi con cái của Đức Chúa Trời đều sẽ “suông sẻ” khi chúng ta đứng trong sự hiện diện của Ngài.
Trong ngày ấy, chúng ta sẽ được nên trọn lành và trọn vẹn. Hoàn toàn, tinh sạch, được làm cho trọn vẹn. Không còn có búa, chẳng còn có cưa, chẳng có công việc nào chưa làm xong. Tại sao chứ? Vì Đức Chúa Trời làm trọn mọi điều mà Ngài đã khởi sự.
Hãy tự đặt mình vào tay của Đức Chúa Trời
Chúng ta có thể nổi giận, nghi ngờ và thất vọng về bất kỳ quá trình nào. Chúng ta có thể giận dữ và thối lui. Nhưng Đức Chúa Trời không thay đổi. Ngài là thành tín và Ngài sẽ làm cho trọn hết.
Có gì còn chừa lại cho chúng ta không? Chỉ hãy tự đặt mình vào trong tay của Đức Chúa Trời. Hãy cộng tác với Đấng Thiết Kế Bậc Thầy khi Ngài nắn đúc chúng ta ra giống theo ảnh tượng của Chúa Jêsus. Khi nói: “Lạy Chúa, con đây nầy. Xin khiến con ra giống theo hình thù mà Ngài mong muốn nơi con”.
Hãy vững lòng. Đức Chúa Trời đang hành động trong đời sống của bạn. Ngài sẽ không dừng lại cho tới khi nào công việc đã được trọn.