Giếng nước sống đời xưa
Sáng thế ký 26.12-19
***
Phần giới thiệu:
Trong Sáng thế ký 26 câu 12 chúng ta đọc ở chỗ Ysác gieo giống trong xứ và đã nhận được ơn phước gấp trăm lần từ Đức Chúa Trời trong cùng năm đó. Câu 13 giải thích cho chúng ta biết rằng Ysác đã trở nên thịnh vượng, của cải ngày càng thêm, cho đến đỗi người trở nên rất lớn. Câu 14 cho chúng ta biết rằng Ysác đã có nhiều bầy chiên, bầy bò và tôi tớ rất đông. Câu 14 cũng tuyên bố cho chúng ta biết rằng người Philitin đã đem lòng ganh ghẻ Ysác. Câu 15 chép: “Mấy cái giếng lúc trước đầy tớ của Áp-ra-ham, cha người, đã đào, bây giờ đều bị dân Phi-li-tin lấp đất lại hết“. Ở Đông phương việc đào giếng là minh chứng danh nghĩa cho các xứ chưa có người ở xung quanh. Có người từng đào một cái giếng trên mãnh đất nhỏ, đây là phương thức “cắm lời xưng nhận của họ” về quyền sở hữu mãnh đất ấy. Cái giếng nằm trên mãnh đất cũng là một chữ ký nhận cho hết thảy mọi người, bạn bè và kẻ thù biết rõ đây là mãnh đất đã có chủ. Ysác thừa kế phần đất đai, nơi Ápraham đã đào mấy cái giếng để biến nơi ấy thuộc về người. Đối với người Philitin khi họ lấp lại mấy cái giếng là một hành động thù nghịch và là một lời tuyên chiến. Trong Hội Thánh ngày nay, ma quỉ đã tuyên chiến với Hội Thánh và đã lấp lại nhiều cái giếng đời xưa. Ysác đã chiến đấu với người Philitin lo lấp lại mấy cái giếng của ông rồi cướp lấy đất đai, còn chúng ta đang chiến đấu với một kẻ thù có nhiều khác biệt lắm. Êphêsô 6.12 chép: “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy”. Kẻ thù mà chúng ta đang đánh trận với là kẻ thù về mặt thuộc linh chớ không phải thuộc về xác thịt. Câu 18 cho chúng ta biết: “Y-sác bèn đào lại mấy cái giếng người ta đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha mình, mà bị dân Phi-li-tin lấp đất lại khi Áp-ra-ham qua đời, và đặt tên mấy giếng đó như tên của cha mình đã đặt“. Chúng ta phải làm theo mọi điều mà Ysác đã làm trong câu 18. Chúng ta phải đào lại mấy cái giếng đời xưa mà kẻ thù đã lấp lại. Khi chúng ta đào lại mấy cái giếng đời xưa nầy, chúng ta sẽ thấy được điều mà các tôi tớ của Ysác đã tìm đặng trong câu 19, câu nầy chép: “Các đầy tớ của Y-sác còn đào thêm giếng nơi trũng, gặp được một giếng nước mạch“. Từ ngữ nước mạch theo tiếng Hy bá lai có nghĩa là nước sống. Nếu chúng ta đào lại một lần nữa mấy cái giếng đời xưa nầy, chúng ta sẽ thấy nước sống tuôn tràn ra từ mấy cái giếng đó. Giờ đây chúng ta hãy xem xét những cái giếng mà chúng ta sẽ đào lại hầu cho chúng ta một lần nữa có thể tìm được nước sống tuôn tràn ra từ đời sống của chúng ta.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng ăn năn!
- Mathiơ 3.7-8 tuyên bố: “Bởi Giăng thấy nhiều người dòng Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu phép báp-tem mình, thì bảo họ rằng: Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn giận ngày sau? Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn“.
- [“Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn“]. Bằng chứng có cần trong sự ăn năn thành thực hay ngăn trở sự phô diễn và tuyên xưng bề ngoài.
- Luca 3.8 chép: “Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nói rằng: Áp-ra- ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cùng các ngươi, Đức Chúa Trời có thể khiến từ những đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được”.
- “Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn”. Hãy làm sự bồi thường và tỏ ra bằng chứng sự ăn năn mà quí vị đang xưng ra.
- Luca 13.3 tuyên bố: “Ta nói cùng các ngươi, không phải; song nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy“.
- [Ăn năn] Tiếng Hy lạp là metanoeo, đổi ý sao cho tốt hơn. Không những là quên tội, mà còn thay đổi thái độ của một người đối với tội lỗi và tình cảm của người đối với tội ấy nữa. Vì vậy, ăn năn được Đức Chúa Trời đòi hỏi như một điều kiện của sự tha thứ và ân điển.
- II Côrinhtô 7.9-10 chép: “nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào. Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết”.
- [“nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải”]. Quí vị bị làm cho buồn rầu theo một cung cách tin kính hầu cho chẳng bị thiệt hại chút nào, vì sự buồn rầu tin kính luôn luôn dẫn tới ơn cứu rỗi của những ai chịu luyện tập nó.
- [“đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào”]. Sự ăn năn của anh em đã ngăn không cho tôi sử dụng quyền lực để huỷ diệt hầu cho anh em không phải chịu một thiệt hại gì.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng cứu rỗi!
- Êsai 17.10 tuyên bố: “Vì ngươi đã quên Đức Chúa Trời của sự cứu ngươi, chẳng nhớ đến vầng đá sức mạnh ngươi. Vậy nên ngươi trồng cây tốt, lại trồng những gốc nho khác giống“.
- Giăng 3.3-8 chép: “Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy“.
- [sanh lại] Đúng ra cụm từ nầy có nghĩa là: sẽ có một sự biến đổi ra từ Đức Chúa Trời và một sự đổi mới nơi sự công bình và sự thánh khiết thực cho người được cứu.
- Công vụ Các Sứ Đồ 4.12 giải thích: “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu“.
III. Chúng ta phải đào lại cái giếng nên thánh!
- Rôma 6.18-23 tuyên bố: “Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi.Tôi nói theo cách loài người, vì xác thịt của anh em là yếu đuối. Vậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng phạm tội ác thể nào, thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy. Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do. Thế thì anh em đã được kết quả gì? Ấy là quả mà anh em hiện nay đang hổ thẹn; vì sự cuối cùng của những điều đó tức là sự chết. Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng. Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta“.
- [Vậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng phạm tội ác thể nào, thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy]. Vì cớ sự yếu đuối của xác thịt anh em. Khi anh em đem các chi thể vật lý của mình phục theo tội lỗi và sự bất khiết, anh em phải làm y như thế đối với sự công bình và sự nên thánh.
- [Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do]. Một lần nữa, Phaolô nhấn mạnh sự kiện một người không thể vừa là thánh đồ vừa là tội nhân được; không thể vừa thánh khiết vừa tội lỗi; và không thể vừa hầu việc Đức Chúa Trời vừa phục vụ Satan, hoặc làm tôi mọi cho tội lỗi và làm tôi sự công bình cùng một lúc cho được.
- Êphêsô 5.1-11 chép: “Vậy anh em hãy trở nên kẻ bắt chước Đức Chúa Trời như con cái rất yêu dấu của Ngài; hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm. Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ. Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn. Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời. Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dỗ anh em; vì ấy là nhân những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch. Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết. Vả, lúc trước anh em đang còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng; vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật. Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa, và chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn“.
- Rôma 12.1-2 chép: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào“.
- [dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời]. Người ta bây giờ dâng chính mình họ cho Đức Chúa Trời thay vì các thứ của lễ lên bàn thờ giống như hồi xưa. Giờ đây họ thuộc trọn vẹn về Chúa y như các thứ của dâng trước kia vậy.
- I Phierơ 1.14-16 công bố: “Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội. Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh“.
- [thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình]. Tôn giáo khác đã dựng nên một vị thần mà tấm gương của thần ấy chưa phải là gớm ghiếc nhất. Các thần lớn lao nhất của họ đều là những mẫu mực của sự bất khiết, vượt quá mức về tình dục và hay bóp méo sự thật. Ở đây Cơ đốc giáo có một thuận lợi hơn tà giáo. Đức Chúa Trời là thánh và Ngài đòi hỏi hết thảy những ai bước theo Ngài phải trở nên giống như Ngài.
- Thi thiên 93.5 chép: “Hỡi Đức Giê-hô-va, các chứng cớ Ngài rất là chắc chắn: Sự thánh khiết là xứng đáng cho nhà Ngài đến đời đời“.
- I Têsalônica 4.7 chép: “Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên thánh vậy“.
- Hêbơrơ 12.14 tuyên bố: “Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời“.
- II Côrinhtô 6.14-18 tuyên bố: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta. Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy“.
- [Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần?] Giải đáp cho thắc mắc nầy rất rõ ràng. Sự công bình không thể pha trộn với tình trạng phi luật pháp; sự sáng không thể thông đồng với sự tối; Đấng Christ và Belial không thể hoà hiệp được; một người tin Chúa không có phần chi với kẻ chẳng tin; và không thể hiệp đền thờ của Đức Chúa Trời với hình tượng tà thần được.
- Êphêsô 5.27 chép: “đặng tỏ ra hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài“.
- II Côrinhtô 5.17 công bố: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới“.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng tha thứ!
- Mathiơ 6.14-15 tuyên bố: “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi“.
- Mathiơ 18.21-35 chép: “Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Vậy nên, nước thiên đàng giống như vua kia, muốn tính sổ với các đầy tớ mình. Khi vua khởi soát sổ, thì có người đem nộp một tên kia mắc nợ vua một vạn ta-lâng. Bởi vì người chẳng có gì mà trả, thì chủ dạy bán người, vợ con và gia tài người, đặng trả nợ. Kẻ đầy tớ nầy bèn sấp mình xuống nơi chân chủ mà xin rằng: Thưa chủ, xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết! Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho. Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê, thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng: Hãy trả nợ cho ta! Người bạn sấp mình xuống mà nài xin rằng: Xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho anh. Song người chẳng khứng, cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết nợ. Các bạn thấy vậy, buồn lắm, đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra. Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ. Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy“.
- [nhưng đến bảy mươi lần bảy] Cho tới 490 lần, hay không giới hạn.
- Mác 11.25-26 chép: “Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi“.
- [Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi“]. Sự tha thứ của con người là điều kiện ở đây về sự tha thứ của Đức Chúa Trời.
- Luca 17.3-4 chép: “Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ. Dầu trong một ngày, họ phạm tội cùng ngươi bảy lần và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ“.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng báp têm bằng Đức Thánh Linh!
- Giăng 20.22 chép: “Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh“.
- Công vụ Các Sứ Đồ 1.2-8 tuyên bố: “cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn. Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời. Lúc ở với các sứ đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói. Vì chưng Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước, nhưng trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Vậy, những người nhóm tại đó thưa cùng Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải trong lúc nầy Chúa sẽ lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng? Ngài đáp rằng: Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết. Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất“.
- Luca 24.49 chép: “còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao”.
VI.Chúng ta phải đào lại cái giếng chữa lành thiêng liêng!
- Thi thiên 30.2 công bố: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! Tôi kêu cầu cùng Chúa, và Chúa chữa lành tôi“.
- Thi thiên 107.19-20 công bố: “Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. Ngài ra lịnh chữa họ lành, rút họ khỏi cái huyệt“.
- Êsai 53.4-5 chép: “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh“.
- I Phierơ 2.23b tuyên bố: “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh“.
- [lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh“] Sự chữa lành vật lý là một phần trong công tác cứu chuộc của Đấng Christ. Nhân những lằn đòn của Ngài chúng ta được lành bịnh.
- Mathiơ 8.16-17 chép: “Đến chiều, người ta đem cho Đức Chúa Jêsus nhiều kẻ bị quỉ ám, Ngài lấy lời nói mà đuổi quỉ ra; cũng chữa được hết thảy những người bịnh, vậy cho được ứng nghiệm lời của Đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng: Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta, và gánh bịnh hoạn của chúng ta“.
- [lấy, gánh] Cả hai đều là tiếng Hy lạp lambano, đồng nghĩa với từ ngữ Hy bá lai nasa, mang lấy món nợ tội lỗi và đau ốm và xem đấy là của chính mình. Ngài lấy (gánh) điều chi trên chính mình Ngài? Vấn đề có ở trước mặt chúng ta không phải là tội lỗi mà là tật nguyền và bịnh hoạn. Không những Ngài gánh lấy chúng để bước vào mối giao thông đầy đau khổ của chúng ta, mà còn giải cứu chúng ta ra khỏi chúng nữa. Ngài gánh lấy chúng là vì ích cho chúng ta, còn Ngài để cho chúng ta cứ mang lấy chúng thì chẳng ích chi cho Ngài. Những tội lỗi tự nhiên đã được làm ra, song mọi bịnh tật và mọi điều ác đều là các thứ mà tội lỗi đã đưa vào trong thế gian. Các thứ đó không phải là những loại bịnh tật thuộc linh như có người giảng dạy đâu, mà là những thứ tật bịnh do Đấng Christ gánh lấy cùng với tội lỗi. Sự cứu chuộc bởi sự chuộc tội không những cất bỏ hết mọi tội, mà còn cất bỏ hết các thứ tật bịnh với sự chuộc tội trọn vẹn cả thân và hồn. Nếu Đức Chúa Trời xử lý với tội lỗi trong lúc bây giờ, Ngài cũng xử lý với tật bịnh như đã được tỏ ra rất rõ ràng trong toàn bộ lẽ thật. “Nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em được lành bịnh“.
- [tật nguyền] Tình trạng suy nhược tâm thần, thân thể, bịnh tật, nhu nhược, đau ốm, yếu đuối. Mọi thứ nầy Đấng Christ đã gánh lấy trên thập tự giá, làm ứng nghiệm Êsai 53.
- [bịnh hoạn] Được sử dụng 4 lần xuyên suốt Kinh Thánh và luôn luôn chỉ về bịnh hoạn của thể xác. Từ ngữ “bịnh hoạn” đã được sử dụng 20 lần và “đau ốm” 88 lần, không phải chỉ về bịnh tật thuộc linh đâu.
- Giacơ 5.14-16 chép: “Trong anh em có ai đau ốm chăng? hãy mời các trưởng lão Hội thánh đến, sau khi nhân danh Chúa xức dầu cho người bịnh đoạn, thì các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người. Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh, Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy; nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha. Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều“.
- [Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh] . Đây là điều chữa lành cho kẻ đau trong các trường hợp như vậy. Khi sự cầu nguyện bởi đức tin được dâng lên và danh của Đức Chúa Jêsus Christ được kể đến, Chúa sẽ đỡ người bịnh dậy rồi tha thứ cho người nếu người có phạm tội. Quyền phép chữa lành nầy đã được hứa cho từng người tin Chúa, không phải chỉ cho các trưởng lão trong Hội Thánh đâu.
- Mác 16.15-18 tuyên bố: “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành“.
- [Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy] Đây là sự chữa lành thiêng liêng.
- [nếu kẻ bịnh có phạm tội, cũng sẽ được tha]. Sự chữa lành và sự tha thứ cùng song hành với nhau.
VII. Chúng ta phải đào lại cái giếng dâng phần mười.
- Malachi 3.8-12 tuyên bố: “Người ta có thể ăn trộm Đức Chúa Trời sao? mà các ngươi ăn trộm ta. Các ngươi nói rằng: Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu? Các ngươi đã ăn trộm trong các phần mười và trong các của dâng. Các ngươi bị rủa sả, vì các ngươi, thảy cả nước, đều ăn trộm ta. Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng! Ta sẽ vì các ngươi ngăn cấm kẻ cắn nuốt, nó sẽ không phá hại bông trái của đất các ngươi; và những cây nho các ngươi trong đồng ruộng cũng sẽ không rụng trái trước khi đến mùa, Đức Giê-hô-va phán vậy. Mọi nước sẽ xưng các ngươi là là có phước, vì các ngươi sẽ là đất vui thích, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy”.
- [Trong các phần mười và trong các của dâng]. Phần mười và các của dâng đều thuộc về Đức Chúa Trời do hiệu lực của mọi điều giao ước với con người; sử dụng chúng vì lợi ích cá nhân là ăn cướp điều chi lẽ ra đã thuộc về Ngài.
- Hãy đem hết thảy phần mười — không phải chỉ là một phần, giữ lại nhiều hoặc ít hơn, và như Malachi đã nói, lừa gạt Đức Chúa Trời về của dâng hiến, giống như Anania vậy; vào kho, ở đây chúng được chọn lọc trong thời của Êxêchia, và một lần nữa, trong thời buổi nầy, bởi sự dẫn dắt của Nêhêmi, “hầu cho có lương thực trong nhà ta”, “dành cho những người phục vụ trong nhà ta tại nơi thánh”.
- Hãy đem hết thảy phần mười — “Anh em biết rõ rằng mọi sự đến với anh em đều là của Đức Chúa Trời, và anh em không muốn dâng những gì thuộc về Ngài cho Đấng Tạo Hoá của muôn vật sao? Giêhôva Đức Chúa Trời chẳng cần đâu. Ngài không đòi hỏi một phần thưởng, mà đòi hỏi sự tôn kính. Ngài không đòi điều chi của anh em đâu, để làm hoà với Ngài. Ngài đòi nơi anh em “những hoa quả đầu mùa cùng các thứ phần mười”. Hỡi kẻ keo kiệt kia, đấy là điều anh em phải lo làm, nếu Ngài lấy 9 phần cho chính mình Ngài, rồi để lại cho anh em phần thứ mười? Ngài phán gì với anh em: ‘Hỡi con người, ngươi thuộc về ta, ta đã dựng nên ngươi; đất đai ngươi cày xới kia cũng thuộc về ta; Các thứ giống mà ngươi gieo kia cũng thuộc về ta; các loài thú đồng mà ngươi đang có kia đều thuộc về ta; Các trận mưa đều thuộc về ta, giông gió cũng vậy, hơi nóng mặt trời cũng thế; mọi nguyên tử nhờ đó ngươi sống còn cũng thuộc về ta; hỡi ngươi, dâng hiến chỉ là công việc của tay ngươi, những của dâng phần mười xứng đáng’. Nhưng khi Đức Chúa Trời Toàn Năng trưởng dưỡng chúng ta với sự vui thích, Ngài ban cho chúng ta phần thưởng rời rộng cho ai ít lao động mà chỉ biết dâng phần mười cho chính mình Ngài, Ngài bỏ qua cho chúng ta các thứ còn lại”.
- Từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta — Chính mình Đức Chúa Trời bảo đảm với các loài thọ tạo của Ngài, bằng một phương thức trong đó bản thân họ có thể thẩm tra. “Nếu ngươi vâng theo, ta sẽ cung ứng mọi nhu cần cho ngươi; còn nếu không vâng theo, ta sẽ tiếp tục khiến cho ngươi bị thiếu thốn”. Bởi các luật lệ mà Đức Chúa Trời đặt ra cho loài thọ tạo, Ngài ban cho họ một sự thử nghiệm, về sự hoàn thành mà họ có thể nghiệm xét, về sự ấy họ có thể bị xét đoán nữa. Họ sẽ bị đau buồn trong những năm tháng thiếu thốn ấy. Đức Chúa Trời hứa với họ nhiều năm dư dật, theo đúng điều kiện mà Ngài đã ấn định. Giờ đây người ta có thể suy nghĩ, nếu có ai hứa hẹn trong danh của Ngài một chứng bịnh thể ấy, nó làm tổn hại cho mùa màng, hay bầy gia súc của chúng ta, ngay tức khắc hãy đến với cứu cánh, còn nếu có ai tuân giữ theo luật pháp của Đức Chúa Trời? Chúng ta có thể bị xem là hạng người cuồng tín, và đúng như vậy, vì chúng ta không có một uỷ nhiệm nào ra từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chứng thực cho những ai mà Ngài phán dạy với họ; Ngài hứa hẹn, chỉ một mình Ngài mới có thể làm thành mà thôi.
- Nếu ta không mở những cánh cửa sổ của thiên đàng — Trong thời nước lụt, các cánh cửa ấy đã được mở ra cho sự tiêu diệt con người. Còn bây giờ, Đức Chúa Trời sẽ sa mưa dư dật xuống cho quí vị, vì cớ họ. “Đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không có chỗ chứa”, Ngài ban cho họ dư dật, chẳng giữ lại chút gì. Vì vậy trong Tin lành có phán, rằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời được “rãi khắp” “đổ vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta”. “Đến nỗi không chỗ chứa chăng; sát nghĩa, cho tới khi đầy tràn”, có ý nói rằng sự bình an sẽ kéo dài mãi cho tới khi tận cùng của sự sáng tạo. Phân đoạn Kinh Thánh không chỉ ra điều chi còn thiếu, dù là nơi phần của Đức Chúa Trời hay nơi phần của con người. Tuy nhiên, thật là mỉa mai lắm khi nghĩ có sự thiếu thốn về Đức Chúa Trời, về sự dồi dào của Ngài, “mọi sự chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng”, là nguyên tắc đầu tiên khi nhận định về Đức Chúa Trời, là nguồn cung ứng vô hạn. Nhưng khi nói về Đức Chúa Trời, Ngài sẽ đổ ra mọi ơn phước của Ngài, cho tới chừng con người không thể chứa được, là một niềm vui sướng của cõi đời đời, ân ban của Đức Chúa Trời sẽ dư thừa đối với khả năng nhận lãnh của loài thọ tạo. Bình dầu đổ ra dầu, cho tới chừng, như các tiên tri nói trong II Các Vua 4.6: “Hãy đem cho ta một cái bình”, đứa con trai người đờn bà goá nói: “Chẳng còn có cái bình nào khác nữa. Thì dầu bèn ngừng lại”. Ân sũng của Đức Chúa Trời bị hạn chế chỉ bởi khả năng nhận lãnh chúng của chúng ta.
VIII. Chúng ta phải đào lại cái giếng tin cậy và tin theo Đức Chúa Trời!
- Gióp 13.15 tuyên bố: “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài“.
- [Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài]. Gióp quyết định tin cậy nơi Đức Chúa Trời và giữ vững đường lối của chính mình trước mặt Ngài, bất chấp hậu quả.
- Thi thiên 18.2 chép: “Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi; Đức Chúa Trời là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình; Ngài cũng là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi, và là nơi náu ẩn cao của tôi“.
- Thi thiên 18.30 chép: “Còn Đức Chúa Trời, các đường lối Ngài là trọn vẹn; Lời của Đức Giê-hô-va đã được luyện cho sạch; Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài“.
- [luyện] Lời Đức Chúa Trời đã được luyện trong lửa. Lời ấy đứng vững trước bao thử thách. Lời ấy chưa hề làm cho những kẻ nào nài xin lời hứa của Lời ấy và lấy làm thoả mãn trước Đấng tác giả của Lời ấy.
- Êsai 12.2-3 chép: “Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi; Ngài đã nên sự cứu rỗi tôi. Vậy nên các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi các nguồn sự cứu“.
- Mác 11.22 công bố: “Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời“.
- [Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời] Sát nghĩa: “Hãy có đức tin của Đức Chúa Trời”. Có thể đây không phải hoặc là một mạng lịnh. Con người đã được dựng nên với đức tin của Đức Chúa Trời, nhưng nghi ngờ đã bước vào trong sự sa ngã. Đức tin được phục hồi trong sự sanh lại và nếu được luyện tập thường xuyên cùng giữ vững, nó sẽ lớn lên với sự đầy đủ nhất và có quyền phép.
- Luca 12.28-32 tuyên bố với chúng ta: “Hỡi kẻ ít đức tin, nếu loài cỏ ngoài đồng là loài nay sống mai bỏ vào lò, mà Đức Chúa Trời còn cho mặc thể ấy, huống chi là các ngươi! Vậy các ngươi đừng kiếm đồ ăn đồ uống, cũng đừng có lòng lo lắng. Vì mọi sự đó, các dân ngoại ở thế gian vẫn thường tìm, và Cha các ngươi biết các ngươi cần dùng mọi sự đó rồi. Nhưng thà các ngươi hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm. Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ chi; vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi nước thiên đàng“.
- Rôma 1.17 tuyên bố: “vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin”.
- [“vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa] Sự công bình của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong Tin lành trên cái nền đức tin, là điều kiện tuyệt đối để được cứu, và là tác động duy nhứt nơi những kẻ tin.
- [Người công bình sẽ sống bởi đức tin]. Được trưng dẫn từ Habacúc 2.4. Câu nầy có nghĩa là người công bình phải sống bởi đức tin liên tục, lại dẫn đến đức tin nữa giống như đã nhận lãnh sự sáng vậy.
- Galati 3.11 chép: “Vả lại chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin“.
- Hêbơrơ 10.38-39 chép: “Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào. Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi“.
- [bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi]. Điều nầy minh chứng rằng kẻ nào sa vào tình trạng diệt vong, họ sẽ mất linh hồn.
- Hêbơrơ 11.6 chép: “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài“.
- [Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài]. Ở đây chúng ta thấy tính cần thiết tuyệt đối của đức tin và bí quyết sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng sự cất lên của Hội Thánh!
- I Têsalônica 4.13-18 chép: “Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài. Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau“.
- I Côrinhtô 15.51-55 chép: “Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết. Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng. Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?“
- Giăng 14.1-3 tuyên bố: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó“.
- Chúng ta phải đào lại cái giếng thiên đàng, một nơi dành cho người được chuộc!
- II Phierơ 3.13 công bố: “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở“.
- Khải huyền 21.1-7 công bố: “Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép; vì những lời nầy đều trung tín và chân thật. Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không. Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta”.
- Khải huyền 21.9-27 chép: “Một vị trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai nạn cuối cùng, đến gần tôi, bảo rằng: Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy người vợ mới cưới là vợ Chiên Con. Rồi tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đưa tôi đến trên một hòn núi lớn và cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như của một viên bửu thạch, như bích ngọc sáng suốt. Thành có một bức tường cao lớn, với mười hai cửa, trên những cửa có mười hai vị thiên sứ, cùng những danh đề, là danh mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên: phía đông có ba cửa; phía bắc có ba cửa; phía nam có ba cửa; phía tây có ba cửa. Còn tường của thành có mười hai cái nền, tại trên có đề mười hai danh, là danh mười hai sứ đồ của Chiên Con. Đấng nói cùng ta tay cầm một cái thước, tức là cây sậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường của thành. Thành làm kiểu vuông và bề dài cùng bề ngang bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây sậy: thành được một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ; bề dài, bề ngang, và bề cao cũng bằng nhau. Người lại đo tường thành: được một trăm bốn mươi bốn cu-đê, là thước đo của loài người, và cũng là thước đo của thiên sứ. Tường thì xây bằng bích ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thủy tinh trong vắt. Những nền tường thành thì trang sức đủ thứ ngọc. Nền thứ nhất, bằng bích ngọc; nền thứ nhì, bằng đá lam bửu; nền thứ ba, bằng lục mã não; nền thứ tư, bằng đá lục cẩm; nền thứ năm, bằng hồng mã não; nền thứ sáu, bằng đá hoàng ngọc; nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám, bằng ngọc thủy thương; nền thứ chín, bằng ngọc hồng bích; nền thứ mười, bằng ngọc phỉ túy; nền thứ mười một, bằng đá hồng bửu; nền thứ mười hai, bằng đá tử bửu. Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu; mỗi cửa bằng một hột châu nguyên khối làm thành. Đường trong thành làm bằng vàng ròng, giống như thủy tinh trong suốt. Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó. Những cửa thành ban ngày không đóng, vì ở đó không có ban đêm. Người ta sẽ đem vinh hiển và phú quí của các dân đến đó; kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con“.
- Khải huyền 22.1-14 tuyên bố với chúng ta: “Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra. Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân. Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa; ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài; chúng sẽ được thấy mặt Chúa, và danh Chúa sẽ ở trên trán mình. Đêm không còn có nữa, và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho; và chúng sẽ trị vì đời đời. Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: Những lời nầy là trung tín và chân thật, Chúa là Đức Chúa Trời của thần các đấng tiên tri, đã sai thiên sứ mình đặng tỏ cùng các tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy ra. Kìa, ta đến mau chóng. Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy! Chính tôi là Giăng đã thấy và nghe những điều đó. Khi nghe và thấy đoạn, tôi sấp mình xuống dưới chân thiên sứ đã tỏ những điều ấy cho tôi, để thờ lạy. Song người phán rằng: Chớ làm vậy! Ta là bạn tôi tớ với ngươi, với anh em ngươi, là các đấng tiên tri, và với những kẻ giữ các lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời! Rồi người lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy; vì thì giờ đã gần đến. Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa! Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm. Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt. Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành!“
- Chúng ta phải đào lại cái giếng hồ lửa, một nơi mà hạng tội nhân sẽ ở đời đời trong đó!
- Êsai 66.22-24 chép: “Đức Giê-hô-va phán: Vì như trời mới đất mới mà ta hầu dựng, sẽ cứ còn trước mặt ta thể nào, thì dòng giống và danh hiệu các ngươi cũng sẽ cứ còn thể ấy. Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta. Khi dân sự ra ngoài, sẽ thấy thây của những người đã bội nghịch cùng ta; vì sâu chúng nó chẳng hề chết, lửa chúng nó chẳng hề tắt; chúng nó sẽ làm sự gớm ghiếc cho mọi xác thịt“.
- Mác 9.43-49 tuyên bố: “Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt. Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt. Lại nếu chân ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chân mà vào sự sống, còn hơn đủ hai chân mà bị quăng vào địa ngục. Đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt. Còn nếu mắt ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy móc nó đi; thà rằng chỉ một mắt mà vào nước Đức Chúa Trời, còn hơn đủ hai mắt mà bị quăng vào địa ngục, đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt. Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa“.
- Mathiơ 13.40-50 nói cho chúng ta biết: “Còn người ta nhổ cỏ lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ như vậy; Con người sẽ sai các thiên sứ Ngài thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác khỏi nước Ngài, và quăng những người đó vào lò lửa, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai, hãy nghe! Nước thiên đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia tìm được thì giấu đi, vui mừng mà trở về, bán hết gia tài mình, mua đám ruộng đó. Nước thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó. Nước thiên đàng cũng giống như một tay lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá. Khi lưới được đầy rồi, thì người đánh cá kéo lên bờ; đoạn, ngồi mà chọn giống tốt để riêng ra, đem bỏ vào rổ, còn giống xấu thì ném đi. Đến ngày tận thế cũng như vầy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra, ném những kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng“.
- Mathiơ 25.41-46 chép: “Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống; ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các người nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời“.
- Khải huyền 20.10-15 chép: “Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Am phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa“.
- Khải huyền 21.8 chép: “Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai“.
Phần kết luận:
Đây là sự cần thiết tuyệt đối, mọi cái giếng xưa phải được “đào lại” ở giữa vòng chúng ta. Kinh Thánh cho chúng ta biết trong Châm ngôn 22.28: “Chớ dời đi các mộc giới cũ, mà tổ phụ con đã dựng“. Giêrêmi 6.16 tuyên bố với chúng ta: “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng trên các đường cái và nhìn xem; tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình…”. Những cái giếng nầy dù là cũ kỹ; nhưng chúng rất có quy cũ, không lỗi thời đâu. Tuy nhiên, Lời Đức Chúa Trời dạy chúng ta trong Malachi 3.6: “Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi…”. Hêbơrơ 13.8 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi“. Đức Chúa Trời không thay đổi với thời gian, chỉ có con người thay đổi mà thôi. Nếu những cái giếng đời xưa nầy là tốt đủ cho các vị tộc trưởng đức tin đời xưa uống lấy; vậy thì chúng cũng tốt đủ cho quí vị và tôi. Nếu chúng ta chịu đào lại mấy cái giếng đời xưa nầy, chúng ta sẽ thấy rằng chúng đang chứa “nước sống”. Nước nầy còn đời đời, nước ấy cũng không hề thay đổi. Quí vị có chịu đào lại mấy cái giếng đời xưa nầy của tổ phụ thuộc linh của chúng ta không? Hoặc giả quí vị sẽ bỏ mấy cái giếng nầy lại với những lời dối trá ra từ kẻ thù chăng? Nếu quí vị chịu đào lại mấy cái giếng nầy, quí vị có thể uống dòng nước đem lại sự sống thuộc linh. Chúa Jêsus dạy chúng ta trong Giăng 4.14: “nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời“.

