Cho Đến Khi Sự Chết Chia Lìa Chúng Ta
Mục sư Ray C. Stedman
***
Đúng là một ngày cay đắng khi chồng lo chôn cất vợ mình! Có lẽ đó là điểm thấp nhất từng xuống tới bởi tinh thần của con người, và hoàng hôn cho người chồng ấy mọi hy vọng và kỳ vọng của cả đất. Trong Sáng thế ký 23, bây giờ chúng ta đứng bên cạnh Áp-ra-ham, khi ông khóc trước mộ của Sa-ra. Ông đang đi qua trũng mà ở đó sự chết đang phủ bóng của nó, nhưng chúng ta sẽ thấy khi chúng ta đọc chương này có một ánh sáng luôn soi chiếu trong bóng tối đen kịt nơi cuộc sống của người có đức tin. Như đôi khi chúng ta hát trong bài thánh ca xưa: “Bây giờ có một ánh sáng trong trũng bóng chết cho tôi, kể từ khi Chúa Jêsus ngự vào lòng tôi”.
Hai câu đầu tiên của Chương 23 đưa chúng ta vào bóng tối của đau khổ và sự chết:
“Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là bao nhiêu năm của đời Sa-ra. Sa-ra qua đời tại Ki-ri-át-A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, thuộc về xứ Ca-na-an. Áp-ra-ham đến chịu tang cho Sa-ra và than khóc người” (Sáng thế ký 23:1-2).
Có lẽ khoảng mười bảy năm đã trôi qua giữa Chương 22 và Chương 23. Các câu chuyện nói tới những thử thách này của Á-ra-ham nối liên tiếp trong tường trình thiêng liêng, nhưng chúng bị ngăn cách bởi nhiều năm phước hạnh, yên tĩnh và bình an. Sa-ra được một trăm hai mươi bảy tuổi khi bà qua đời và Y-sác, con trai của bà, bây giờ đã ba mươi bảy tuổi. Vào thời điểm này, gia đình nhỏ của Áp-ra-ham, Sa-ra và Y-sác đã chuyển từ Bê-e Sê-ba đến Hếp-rôn, dưới cây sồi Mam-rê, ở đó họ đã sống lần đầu tiên khi họ đến vùng đất Ca-na-an – giống như trở về ngôi nhà tuần trăng mật của họ – và Sa-ra qua đời ở đây. Trong một phương diện, đây là một nơi tuyệt vời để chết. Như tên địa danh đã chỉ ra, chính ở vị trí “béo bở“ của linh hồn và sự phong phú mối tương giao với Chúa mà Sa-ra, người phụ nữ xinh đẹp và có đức tin này, qua đời.
Như thường lệ trong thời buổi ấy, thi hài của Sa-ra được đặt trong một túp lều riêng biệt và Áp-ra-ham đi một mình vào lều đó để than khóc. Điều đáng chú ý, ấy đây là lần duy nhất chúng ta được truyền cho biết rằng Áp-ra-ham đã khóc. Cụ già này đã trải qua nhiều, rất nhiều lần thất vọng cay đắng và những lúc nát lòng trong sự nghiệp của mình. Cụ đã thất vọng khi Lót lìa bỏ cụ. Cụ rất đau lòng khi Ích-ma-ên bị đuổi đi. Tấm lòng cụ bị xé nát với đau khổ khi cụ phải dâng Y-sác trên núi. Nhưng lần duy nhất bản tường trình cho biết rằng cụ đã khóc là khi Sa-ra qua đời. Tôi nghĩ điều này tỏ ra chiều sâu của nỗi đau khổ và tình yêu của cụ dành cho người đàn bà này.
Sự việc đem lại nhiều sự dạy dỗ cho chúng ta khi dành một vài phút ở đây với Áp-ra-ham lúc cụ cúi đầu trước thi hài của Sa-ra. Như có lẽ bạn đã biết rồi, nếu bạn đã khóc với Áp-ra-ham, cái giếng buồn rầu được đong đầy bởi các dòng suối ký ức. Mọi ngày yêu dấu, ngọt ngào lại đến với chúng ta một lần nữa vì chúng phải có với Áp-ra-ham ở đây. Tôi nghĩ cụ đã nhìn thấy trong ánh mắt lý trí cụ cô thiếu nữ ấy đã bắt lấy tấm lòng cụ từ lâu lắm rồi. Tôi nghĩ thời điểm đó là vào mùa xuân, vì ngay cả trong thời buổi ấy vào mùa xuân, sở thích nhất thời của một chàng trai trẻ đã chuyển sang những gì các thiếu nữ đã suy nghĩ tới suốt mùa đông! “Chàng gặp nàng” đúng là câu chuyện tuyệt vời trong thời của Áp-ra-ham khoảng 4.000 năm trước cũng như ngày nay. Khi cụ già than khóc bên thi hài của Sa-ra, chắc hẳn cụ đã nhớ lại từng thời điểm tuyệt vời đó.
Ký ức lướt qua mấy ngón tay cụ giống như các hạt ngọc trai xâu trên một sợi dây. Cụ nhớ ánh nắng lấp lánh trên tóc nàng khi lần đầu tiên cụ nom thấy nàng, sự rạng rỡ trên khuôn mặt nàng trong ngày cưới, sự đụng chạm mềm mại của nàng và sự mơn trớn duyên dáng của nàng. Từng nỗi nhớ đều mang đến nỗi đau trong cái bóng buồn rầu của cụ ngay giây phút này. Cụ nhớ lại chuyến phiêu lưu cao cả của cuộc đời họ với nhau, và đặc biệt là ơn kêu gọi tối thượng, hấp dẫn từ Đức Chúa Trời đã gửi đến họ như một cặp vợ chồng cùng nhau đến một vùng đất xa lạ. Cụ nhớ đến Sa-ra đã cùng đi với cụ là dường nào, chia sẻ những nhọc nhằn, chấp nhận cuộc sống bất ổn mà không có chút than vãn hay phàn nàn nào cả.
Tấm lòng cụ hẳn đã quặn thắt biết bao với nỗi thống khổ khi cụ nhớ lại một lần nữa sự phản bội mà cụ đã thể hiện ở Ai Cập, khi cụ phơi bày nàng trước nguy hiểm và ô nhục với lời nói dối của cụ trước mặt Pha-ra-ôn, và một lần nữa nhiều năm sau đó trước mặt A-bi-mê-léc! Mọi ký ức cay đắng ngọt ngào ụp đến với cụ khi cụ nhớ lại những năm dài mệt mỏi không có một mụn con và họ đã cùng nhau khóc là dường nào. Cụ nhớ thể nào Sa-ra đã khóc những giọt lệ cay đắng bởi cái tử cung cằn cỗi đó và thể nào trong nỗi tuyệt vọng của bà muốn sinh cho cụ một đứa trai, bà đã trao người hầu gái của mình, ngay cả cái giá kiêu hãnh của mình, và Ích-ma-ên đã ra đời. Mọi sự này chắc hẳn đã lấp đầy tâm trí của Áp-ra-ham khi cụ khóc ở đây trước mặt Sa-ra. Cụ cũng nhớ rằng cuối cùng, sự vinh hiển thể nào cũng đã rạng rỡ trên gương mặt bà khi Y-sác con trai của bà, nằm gọn trong vòng tay của bà. Ký ức của cụ đảo ngược lại qua nhiều năm tháng và lần trở lại với tình yêu đã kéo họ lại với nhau, qua những thời điểm tồi tệ và qua những điều tốt lành, cho đến khi họ là một trong thân, hồn và thần.
Bây giờ cái chết đã tước bà khỏi vòng tay cụ, mặc dù nó chưa bao giờ tước bà ra khỏi tấm lòng của cụ. Đó là một giờ của tối tăm và buồn rầu trong cái bóng của sự chết. Nhưng đây không phải là toàn bộ câu chuyện. Khi đọc kỹ qua câu chuyện này, chúng ta đọc thêm một việc về đời sống đức tin:
“Đoạn, Áp-ra-ham đứng dậy trước người chết mình và nói cùng dân họ Hếch rằng: Ta là một khách kiều ngụ trong vòng các ngươi; xin hãy cho một nơi mộ địa trong xứ các ngươi, để chôn người thác của ta. Dân họ Hếch đáp rằng: Lạy Chúa, xin hãy nghe chúng tôi: giữa chúng tôi, chúa tức là một quân trưởng của Đức Chúa Trời; hãy chôn người chết của chúa nơi mộ địa nào tốt hơn hết của chúng tôi. Trong bọn chúng tôi chẳng có ai tiếc mộ địa mình, đặng chôn người chết của chúa đâu” (Sáng thế ký 23:3-6).
Tôi thích cụm từ này: “Áp-ra-ham đứng dậy trước người chết mình“. Điều đó biểu thị một sự cương quyết, một lần nhướng mắt, một bước vững chắc, một khuôn mặt của sự sống một lần nữa, và tác phong này được nối theo sau bằng một lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời: “Ta là một khách kiều ngụ trong vòng các ngươi“. Đấy là lời nói của một người nhìn qua bên kia mọi sự mà trái đất phải cống hiến và một lần nữa nhìn thấy thành phố có nền tảng mà đấng xây dựng và làm nên chính là Đức Chúa Trời.
Mặc dù Áp-ra-ham đã than khóc trong trũng bóng chết, nhưng không cứ cách nào đó cụ ý thức không thể có bóng tối nếu không có ánh sáng ở đâu đó. Bạn đã tiếp thu được điều đó chưa? Khi bóng tối len vào cuộc sống của bạn, đó là dấu hiệu cho thấy phải có ánh sáng ở đâu đó. Tất nhiên, nếu chúng ta xây lưng lại với ánh sáng, thì bản thân chúng ta là kẻ tạo ra bóng tối. Tôi nghĩ hàng ngàn người ngày nay đang sống trong một bóng tối liên tục bởi vì lưng của họ quay về phía ánh sáng và chính họ đã phủ một tấm khăn lên sự tồn tại của chính họ. Nhưng nếu chúng ta đối diện với sự sáng, như Áp-ra-ham đã có trong suốt cuộc đời cụ, cứ nhìn vào ánh sáng tuôn ra từ thành phố mà đấng xây dựng và làm nên là Đức Chúa Trời, thì cái bóng duy nhất tạm thời đến khi một thứ che mờ đi sự sáng trong giây lát mà thôi.
Rốt lại, đúng đấy là sự chết; Nó chỉ là một sự che khuất tạm thời của ánh sáng. Nhưng người có đức tin ngước mắt lên và nhìn ra ngoài bóng tối và thấy ánh sáng vẫn còn chiếu toả và ông nói với những người này: “Ta là một khách kiều ngụ trong vòng các ngươi. Không một thứ gì làm ta hài lòng ở đây. Ta không bao giờ có thể an cư ở giữa các ngươi”. Toàn bộ đất đai đã được trao cho cụ bởi lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng thi hài của vợ cụ trước mặt cụ nhắc cho cụ nhớ rằng đó là thời điểm của Đức Chúa Trời chưa đến. Đức tin của cụ không bị suy yếu bởi cái chết xảy ra ở đây, mà đúng hơn, đức tin của cụ được thêm lên bởi cái chết ấy.
Nếu Áp-ra-ham không nhớ rằng cụ là một lữ khách và là một người lạ, tấm lòng cụ sẽ bị nghiền nát đến tuyệt vọng bởi cái chết của người bạn đời yêu dấu của cụ. Vì vậy, có nhiều, rất nhiều người dường như đi đến cuối cùng của sự tồn tại khi có người thân qua đời, một người mà tấm lòng của họ bị ràng buộc chặt chẽ. Nhưng Áp-ra-ham ngước mắt lên trước ánh sáng từ thành phố bên kia. Cụ nhớ rằng không có gì trong đời này có ý định đáp ứng đầy đủ nhu cầu của tấm lòng của lữ khách đi ngang qua. Cụ xưng nhận sự thật đó ở đây một lần nữa trong giờ phút đau buồn của mình.
Tôi nhớ đã nghe Mục sư Barnhouse kể lại một sự cố rất hay minh họa chính quan điểm này. Ông kể về một cô gái kia, chồng của cô đã tử trận trong chiến tranh. Khi bức điện tín đến, cô gái Cơ đốc này đọc qua và sau đó nói với mẹ mình: “Mẹ ơi, con lên phòng đây và làm ơn đừng quấy rầy con”. Mẹ cô gọi cho người cha ở sở làm và nói với ông những gì đã xảy ra và ông vội vã về nhà rồi ngay lập tức đi lên phòng. Ông lặng lẽ mở cửa. Căn phòng được trải thảm và cô gái không nghe thấy ông bước vào, và ông thấy cô nàng đang quỳ bên cạnh giường. Bức điện tín được trải mở trên chiếc giường trước mặt cô. Cô cúi đầu trước bức điện ấy. Và khi đứng đó, ông nghe con gái nói: “Ôi, Cha trên trời của con, Ôi, Cha của con, Cha trên trời của con”. Không nói một lời, người cha quay lại và đi xuống cầu thang rồi nói với vợ: “Con gái đang ở trong vòng tay tốt hơn vòng tay của tôi”.
Đây là những gì đức tin thực thi trong giờ đau buồn. Chính sức mạnh của đức tin Áp-ra-ham giữa nỗi đau khổ, ông là một người khách lạ và một người lưu trú, một kẻ hành hương đi tới một thành mà chỉ một mình nó làm thỏa mãn tấm lòng của con người.
Bây giờ trong những câu sau đây, chúng ta nhìn thấy một việc trong sự độc lập của con người có đức tin:
Áp-ra-ham đứng dậy và cúi đầu trước dân Hê-tít, dân trong xứ. Và ông nói với họ, “Nếu các ngươi sẵn lòng để ta chôn cất người chết của ta mà mắt ta nhìn thấy, hãy nghe ta, và xin Ép-rôn, con trai của Xô-ha, dùm ta để ông ấy có thể nhường cho ta hang động Mặc-bê-la, ông ấy là chủ của nó; nó nằm ở cuối cánh đồng kia. Với giá đầy đủ, xin ông ấy nhường cho ta trước sự hiện diện của các ngươi để làm đất thổ mộ“. Bấy giờ Ép-rôn đang ngồi giữa dân Hê-tít; và Ép-rôn người Hê-tít đã trả lời Áp-ra-ham trong khi dân Hê-tít bàn bạc, trong mọi người đã bước vào cổng thành của ông ta: “Không, thưa ông, hãy nghe tôi; Tôi nhường cho ông cánh đồng, và tôi nhường cho ông cái hang trong đồng đó; trước sự hiện diện của dân sự tôi, tôi nhường nó cho ông; hãy chôn cất người chết của ông”. Khi ấy, Áp-ra-ham sấp mình xuống trước dân trong xứ. Và ông nói với Ép-rôn trong khi dân trong xứ bàn bạc: “Nhưng nếu các ông khứng, hãy nghe tôi; Tôi sẽ đưa ra giá của cánh đồng; hãy chấp nhận giá ấy từ tôi, để tôi có thể chôn cất người chết của mình ở đó”. Ép-rôn trả lời Áp-ra-ham: “Lạy chúa, xin nghe tôi; miếng đất ấy trị giá bốn trăm lượng bạc, giữa ông và tôi là gì chứ? Hãy chôn người chết của ông đi“. Áp-ra-ham đồng ý với Ép-rôn; và Áp-ra-ham cân cho Ép-rôn số bạc mà ông đã kể đến trong sự định giá của dân Hê-tít, bốn trăm lượng bạc, theo giá cả hiện hành giữa các thương buôn.
Vì vậy, cánh đồng Ép-rôn ở Mặc-bê-la, nằm ở phía đông Mam-rê, cánh đồng với hang động nằm ở trong đó, mọi cây cối trên cánh đồng, trên toàn bộ khu vực của nó, đã được chuyển cho Áp-ra-ham như một vật sở hữu trước sự hiện diện của dân Hê-tít, trước mặt mọi người bước vào cổng thành của ông ta. Sau việc này, Áp-ra-ham lo chôn cất Sa-rah vợ mình trong hang động thuộc cánh đồng Mặc-bê-la phía đông Mam-rê (nghĩa là Hếp–rôn) trong xứ Ca-na-an. Cánh đồng và hang động trong đó đã được chuyển qua cho Áp-ra-ham như một đất thổ mộ của dân Hê-tít. (Sáng thế ký 23:7-20).
Tại sao phải nhập vào các chi tiết này? Phải, vì một việc, đây là một nơi trong số nhiều bối cảnh đáng ngờ trong xứ Palestine đã được xác chứng hôm nay. Chúng ta vẫn có thể ghé thăm hang động Mặc-bê-la ở Israel. Ở đó, Áp-ra-ham và Sa-rah được chôn cất cùng nhau. Ở đó, Gia-cốp và Lê-a nằm cạnh nhau. Đã có một nhà thờ Hồi giáo lớn được dựng lên phía trên nó, nhưng rất chắc chắn rằng đây là hang động nơi Áp-ra-ham được chôn cất và là nơi ông đã chôn cất Sa-ra.
Sự tường thuật của Alphonse-Gaston cho thấy họ trải qua trong câu chuyện này rất Đông phương; Họ tiếp tục cưu mang giống như câu chuyện này hôm nay ở những thị trường Đông phương. Tuy nhiên, những người bạn ngoại giáo của Áp-ra-ham có một ý thức chơn thật trong về sự tôn trọng và vinh dự đối với người có đức tin. Họ nói: “Ông là một vị vua giữa vòng chúng tôi”. “Mặc dù chúng tôi nhận ra rằng ông rất khác biệt và có lẽ điều này gây ra nhiều thắc mắc trong lòng chúng tôi lúc đầu, nhưng chúng tôi biết ông là một người được lắm tôn trọng“. Họ rất tôn trọng ông, và rất sẵn sàng để ông có miếng đất ấy.
Tôi nghĩ câu chuyện này rất mang tính dạy dỗ, mặc dù sự khác biệt khi một Cơ đốc nhân tạo ra có thể gây ra cảm giác ghẻ lạnh và thậm chí không thích trong lòng người ta trong một thời gian, nhưng cuối cùng nó luôn dẫn đến sự tôn trọng và tôn vinh cao nhất từ chính những người đó. Những người trẻ tuổi, họ đang chịu quá nhiều áp lực phải tuân thủ, đặc biệt cần phải nghe điều này. Thế gian không ngừng cố gắng ép chúng ta vào khuôn khổ của chính nó, và chúng ta không thích sống khác biệt. Tuy nhiên, có một việc mà Đấng Christ đòi hỏi nơi chúng ta, ấy là trong những điều thiết yếu của cuộc sống và thái độ của chúng ta, chúng ta phải sống khác biệt. Có nhiều lãnh vực trong đó mà chúng ta không cần phải khác biệt, và thậm chí có thể gây khó chịu bằng cách sống khác biệt không cần thiết. Nhưng có những lãnh vực khác mà chúng ta không phải tuân thủ.
Khi Áp-ra-ham lần đầu tiên đến xứ, ông là một lữ khách và một người xa lạ, và họ hẳn đã xem ông như một người du mục sống lang thang. Có thể ông đã mất một thời gian dài để kiếm được sự tôn trọng của họ, nhưng ở đây vào lúc cuối cùng, những người bạn ngoại giáo này tụ tập xung quanh và nói với ông: “Ông là một vị vua, một vua hùng mạnh giữa vòng chúng tôi. Ông sẽ có bất cứ điều gì ông muốn. Chúng tôi tôn trọng sự chính trực, tấm lòng của ông, mặc dù ông vẫn là một người xa lạ và một lữ khách”.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng bài học tối cao ở đây là tỏ cho chúng ta thấy sự độc lập hoàn toàn của người có đức tin. Áp-ra-ham sẽ không đồng ý sở hữu một tấc đất mà không trả chi phí cho nó. Ông tế nhị khẳng định không lấy một thứ gì từ thế gian, mặc dù ông sẵn sàng lấy mọi thứ từ Đức Chúa Trời. Ông cho thấy một sự độc lập rất tuyệt vời ở đây; Ông sẽ không để cho thế gian khiến ông giàu có ở bất kỳ cấp độ nào. Đức Chúa Trời đã hứa với ông vùng đất này, và không có ý đồ nào của kẻ thù, không có thủ đoạn tạm thời, sẽ làm cho lòng ông được thoả. Nó phải đến từ Đức Chúa Trời, và cho đến khi nó xảy ra, ông khăng khăng chi trả cho phần này của nó mặc dù họ hiến nó cho ông. Vào cuối sự nghiệp của mình, mặc dù ông sở hữu mảnh đất bằng lời hứa, phần duy nhất ông thực sự sở hữu là cánh đồng và một hang động nơi ông chôn cất vợ mình. Đây là hình ảnh của con người đức tin.
Trong sách Hê-bơ-rơ cho chúng ta biết rằng không ai trong số những người nam và nữ có đức tin trong Cựu Ước thực sự kiếm được lời hứa mà vì đó họ đang tìm kiếm. Họ vẫn đang tiến về phía nó, bởi vì không có nó, họ sẽ không được làm cho hoàn hảo. Chúng ta được kêu gọi bước vào cùng một thái độ sống động và đầy tràn tâm hồn này. Hãy nhớ, không một thứ gì trên đất làm thoả lòng lữ khách và người lạ đi ngang qua vùng đất này.
Có một sự thiếu hụt rất lớn của chủ nghĩa cá nhân gồ ghề trong thế giới của chúng ta ngày nay. Chúng ta đang thiếu nó trong bối cảnh nước Mỹ của chúng ta. Đâu là bí quyết của chủ nghĩa ấy? Chúng ta tiếp thu được từ cuộc đời của Áp-ra-ham rằng bí quyết về cơ bản là hướng mắt chúng ta vào một nơi khác và không thoả lòng với bất cứ điều gì mà trần gian hiến cho. Sau đó, chúng ta có thể hoàn toàn thờ ơ với những lời kêu gọi, những lời xưng nhận và các áp lực đến từ mọi phía. Nếu tấm lòng của chúng ta thực sự bị cuốn vào bối cảnh này ở đây, chúng ta là loài vịt đang ngồi chờ mọi áp lực xảy đến, dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu ánh mắt của chúng ta dán chặt vào điều đó ở đằng kia, ngoài kia, nơi người có đức tin đang hướng tới, thành phố mà chỉ một mình Đức Chúa Trời tạo ra, thế thì chúng ta có thể sống rất độc lập ở đây. Đây là những gì chúng ta nhìn thấy nơi Áp-ra-ham.
Khi còn là một cậu bé, trái tim tôi đã bị khuấy động mạnh mẽ khi tôi đọc những câu chuyện nói tới những người lập Giao ước Tô cách Lan trong cuộc kháng chiến của họ chống lại sự chuyên chế và chủ nghĩa toàn trị của nhà thờ Công giáo La Mã. Chính cuộc sống của họ đã lâm nguy khi họ bị săn bắt khắp các núi đồi của xứ Tô cách Lan.
Các lá thư của Samuel Rutherford là một kho tàng tuyệt vời về đời sống tin kính của tấm lòng được Đấng Christ thu hút và nắm bắt. Cụ là một người đàn ông cao trọng, mạnh mẽ. Tôi nhớ đã đọc về việc cụ nằm hấp hối trong tù ở St. Andrews, xứ Tô cách Lan, nhà vua đã sai sứ giả đến triệu tập cụ phải xuất hiện tại tòa án ở London để trả lời các cáo buộc về dị giáo cao kỳ ấy. Khi sứ giả đến trước mặt ông cụ, khi cụ nằm đó trên giường bệnh, và thông báo rằng nhà vua đã ra lệnh cho cụ phải xuất hiện trước tòa, ông nói với sứ giả ấy với cung cách Tô cách Lan của mình:
“Hừ, hãy nói cho chủ của người biết, ta có lệnh triệu tập của toà án cấp cao, vả e sứ điệp này truyền đến tai hắn, ta sẽ ở nơi mà ít vua chúa hoặc kẻ cao trọng đến được“.
Đây là lời quở trách gây xúc động đối với một người thuộc về trần gian, là người nghĩ rằng ông ta có thể triệu tập một người có đức tin.
Đây là loại chủ nghĩa cá nhân hướng mắt bạn lên khỏi những gì đang xảy ra tầm thường, tạm thời, ngắn ngủi, mỗi ngày và đặt chúng trên các vấn đề đời đời mà chỉ có sự thỏa lòng mới có thể cung ứng cho bạn. Điều này được thể hiện đẹp đẽ trong bối cảnh từ cuộc đời của Áp-ra-ham. Cuối cùng, Áp-ra-ham sở hữu một hang động làm thổ mộ. Đấy là mọi sự. Đó là một lời nhắc nhở cho chúng ta và cho hết thảy những người nam người nữ có đức tin trong mọi thời đại, rằng mọi sự chúng ta có thể thực sự sở hữu ở đây là một thổ mộ trong đó chúng ta có thể đặt mọi hy vọng và kỳ vọng của đời này. Điều đó có đúng không? Mọi sự chúng ta hy vọng đến và mọi điều tốt đẹp mà chúng ta kỳ vọng sẽ có một ngày kia, mọi trải nghiệm chúng ta mong muốn là sống trở lại, mọi kỳ vọng này bị chôn vùi trong mồ mả. Nếu đây là mọi sự chúng ta có, đúng là một cuộc sống trống không, tội nghiệp.
Đúng là một sự thần cảm tuyệt vời khi nhìn vào những người này có đức tin trong Cựu Ước và đọc lại câu chuyện gây xúc động đó trong Hê-bơ-rơ 11 về những người nam và người nữ: “mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất” (Hêbơrơ 11:37b-38). Họ không có những tiện nghi mà thế gian kể là có giá trị lớn, nhưng Đức Chúa Trời đã ghi lại về họ rằng họ có một tương lai rất lớn và tuyệt vời ở trước mặt. Đối với họ, giống như Áp-ra-ham, ngay cả những nỗi buồn khổ của trần gian, sự chia ly khỏi những người thân yêu không thể làm lu mờ ánh sáng của hy vọng chảy ra từ thành hầu đến.
Chúng ta được dựng nên để trở thành những tạo vật của cõi đời đời. Trong sách Truyền Đạo, ở đây chép rằng Đức Chúa Trời: “Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người“ (Truyền đạo 3:11). Chúng ta không được dựng nên để trở thành những tạo vật của cõi thời gian. Chúng ta không được dựng nên để thoả lòng với giai đoạn ngắn ngủi này của cuộc sống rồi sau đó đi vào lãnh vực chết vô tận, im ắng. Đức Chúa Trời đã đặt sự đời đời ở trong lòng chúng ta. Nhưng bi kịch lớn, ấy là chúng ta có thể dễ dàng đánh mất mục tiêu. Chúng ta bắt đầu bị cuốn vào các nan đề của thời gian, và chúng ta đánh mất tầm nhìn rộng lớn về sự đời đời.
Tuy nhiên, sức mạnh sẵn có cho chúng ta giúp cho ngước mặt rạng rỡ với cuộc sống giữa nỗi buồn sâu thẳm nhất, và sống mạnh mẽ khi nhiều người khác yếu đuối, từ chối không nhường chỗ cho sự hoảng loạn và sợ hãi khi thế gian đang run rẩy và sợ hãi. Mọi sự xuất phát từ sự thực là giống như Áp-ra-ham, chúng ta cũng là lữ khách và xa lạ. Như Phao-lô nói: “Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất“ (Cô-lô-se 3:2). Chính thái độ này, trạng thái tâm trí này, cung ứng sức lực, ân điển và bình an cho tấm lòng đau khổ buồn.
Cầu nguyện:
Lạy Cha của chúng con, khi chúng con cùng nhau nhìn vào bối cảnh này của Áp-ra-ham, đã cúi đầu đau buồn trong giây phút trước thi hài vô hồn của người bạn đời thân yêu của ông khi còn sống, tấm lòng của chính chúng con bước vào trong bối cảnh ấy với sự cảm thông. Chúng con biết cuộc sống thường có thể tấn công bằng những cú đánh khủng khiếp, rằng chúng con cảm thấy sức tống của nó, nỗi đau của nó, sự cô đơn của nó. Chúng con biết rằng đôi khi chúng con bị lung lay bởi những sự việc xảy ra. Nhưng lạy Chúa, chúng con cảm tạ Ngài, vì mặc dù có những sự việc về chúng con có thể bị lung lay, nhưng cũng có những việc không thể xảy ra. Khi đức tin của chúng con đặt trên công việc đã hoàn tất của Chúa Jêsus chúng con, và tấm lòng chúng con đã bị chiếm hữu bởi Đấng đã nói rằng chúng con không thể thoả lòng trọn vẹn với những gì ở dưới đây, nhưng đôi mắt của chúng con bị bắt lấy bởi ánh sáng chiếu ra từ thành bên kia và chúng con đang tiến về phía đó, Lạy Chúa, xin cho chúng con có thể được trang bị ở đây và sẵn sàng cho địa điểm ấy, chúng con có thể tiếp thu các bài học để chuẩn bị cho chúng con được sử dụng ở bên ấy. Trong danh của Chúa Jêsus, Amen.

