CÔ DÂU RẠNG RỠ
Nhã ca 6:4- 7:10
Sứ điệp 6
Mục sư Steve Zeisler
Con người sinh ra đã có khuynh hướng mạnh cứ hiểu lầm chính mình. Một mặt, chúng ta luôn thiếu trách nhiệm khi thất bại và cố gắng che giấu các nhược điểm của mình. Mặt khác, chúng ta thường mù quáng trước công cuộc biến đổi của Đức Chúa Trời trong đời sống của mình.
Tuy nhiên, sự hiểu biết tăng lên khi chúng ta đến gần những người khác trong cộng đồng Cơ đốc. Những người nào có thể dùng tình yêu thương nói ra lẽ chơn thật là những người quan trọng trong việc khám phá ra cả sự tan vỡ và ơn phước. Đức Chúa Trời đã dạy: ở một mình là không tốt, và ngay từ đầu, hôn nhân và sự khám phá bản thân đã đi đôi với nhau. Hậu quả mang tính hủy diệt của tội lỗi được thể hiện rõ qua lời của Đức Chúa Trời phán cùng Ê-va: “ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi” (Sáng-thế ký 3:16). Khao khát yêu thương khiến chúng ta dễ bị tổn thương. Nhưng cũng rất thực là trong Đấng Christ, vợ chồng có cơ hội sâu sắc để nói về sự hiện diện của Đức Chúa Trời nơi người kia. Chúng ta làm tổn thương nhau trong hôn nhân, chúng ta khám phá ra mình đang bị tổn thương như vậy, và chúng ta có cơ hội trở thành một nguồn phước trong hôn nhân cũng như khám phá ra sự hiện diện của Đức Chúa Trời nữa. Chúng ta cần sự kết nối để khám phá bản thân. Nhã ca kể lại câu chuyện nói tới một mối liên hệ như thế và một số bài học tiếp thu được trong tiến trình đó.
Một trong những đặc điểm nổi bật của Nhã ca là hàng loạt những mô tả cá nhân được kiểu cách hóa rất cao — mắt em như bồ câu, môi em như hoa huệ, cổ em như một tháp ngà, v.v… Đó là một phong cách thơ văn phổ biến ở vùng Cận Đông xưa kia, và thậm chí phần nào là đặc trưng cho thơ văn Ả Rập ngày nay. Ba kiểu cách như thế được chàng rể thốt ra khi chàng mô tả cô dâu của mình, và chúng ta sẽ cùng nhau xem xét chúng khi nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh hôm nay.
Kiểu cách thứ nhứt trong số các kiểu cách này nằm ở chương 4. Vào đêm tân hôn, chàng rể đã mô tả rất hay về cô dâu của mình và thể nào chàng đã bị cuốn hút với nàng. Đó là một khởi đầu đầy hân hoan khi hai người trở nên một — hai thân thể trần trụi và vui thích, một khu vườn bị khóa đã được mời bước vào, và tiếng chúc phúc của Đức Chúa Trời bao quanh họ. Sự việc này gợi nhớ đến vườn Ê-đen, và rất là đẹp đẽ.
Chương 5 kể lại câu chuyện về sự mất gắn bó, thờ ơ và tổn thương. Đấy là việc gợi nhớ đến Sáng thế ký, có phải không? Nhưng rồi cô dâu thốt ra các thuật ngữ tôn cao chồng mình, và họ được đem trở lại vào mối quan hệ phải lẽ với nhau.
Bây giờ, chàng rể đưa kiểu cách thứ hai, và chàng lặp lại một số ngôn ngữ trong kiểu cách thứ nhứt. Các câu 4-10:
Chàng Rể
Hỡi bạn tình ta, mình xinh đẹp như Thiệt sa, có duyên như Giê-ru-sa-lem, đáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí. Hãy xây mắt mình khỏi ta, vì nó làm cho ta bối rối. Tóc mình khác nào đoàn dê trên triền núi Ga-la-át; Răng mình như bầy chiên cái, từ nơi tắm rửa mới lên; Thảy đều sanh đôi, Không một con nào son sẻ. Má mình trong lúp tợ một nửa quả lựu. Có sáu mươi hoàng hậu, tám mươi cung phi, và nhiều vô số con đòi: Chim bò câu ta, người toàn hảo ta vốn là có một, con một của mẹ mình. Kẻ kén chọn của người đã sanh đẻ mình. Các con gái đều thấy nàng, và xưng nàng có phước. Đến đỗi những hoàng hậu và cung phi cũng đều khen ngợi nàng.
Hợp xướng
Người nữ nầy là ai, hiện ra như rạng đông, đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời, đáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí?
Có những điểm tương đồng trong kiểu cách ở đêm tân hôn, nhưng cũng có những khác biệt đáng kể nữa. Có một việc, cô dâu không còn là một thiếu nữ đoan trang nữa. Nàng đã trở thành một người đàn bà có tầm cở và uy quyền cá nhân, đáng được chồng tôn trọng. Phần mô tả đôi mắt của nàng trong phân đoạn này so với đoạn trước thì rất thú vị. Trong chương 4, chàng nói: “Mắt mình trong lúp giống như chim bồ câu”, nhưng ở đây chàng nói: “Hãy xây mắt mình khỏi ta, vì nó làm cho ta bối rối”. Nàng có ánh mắt xuyên thấu, phủ lút của một người phụ nữ tự tin, một người nữ mà chàng không chắc mình luôn có thể giữ được bình tỉnh.
Trong kiểu cách trước đó, chàng rể không những nói đến khuôn mặt của cô dâu mà còn nói tới cả cổ và ngực của nàng. Kiểu cách ấy thể hiện lời mời của chàng và hy vọng họ sẽ hiệp nhau về thể xác. Nhưng kiểu cách này không đề cập đến việc ấy chút nào. Ở đây, chàng chỉ nói về gương mặt của nàng, và chàng sánh nàng với những người nữ đẹp nhất thời đó — các hoàng hậu, cung phi và cung nữ — và chàng nói: “Nàng tốt hơn hết thảy họ. Thực vậy, họ ngưỡng mộ nàng”. Nàng tự tin và xinh đẹp, và chàng nhìn nàng với sự tôn trọng vô cùng.
Tôi nghĩ, rất là hữu ích khi nghe chàng có thể nói về nàng theo cách ấy. Khi chúng ta lần đầu tiên gặp cô dâu ở chương 1, nàng không dám chắc và hồ nghi giá trị của mình (các câu 5-7). Giờ đây, chồng nàng không những nhìn thấy những gì là thật thuộc về nàng mà còn cả những gì là thật trong nàng lúc bấy giờ nữa. Chàng có thể thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm trong đời sống nàng — sự trưởng thành và ý nghĩa mà nàng đã đạt được — và giống như thể chàng đang nhìn chăm vào nàng và hỏi: “Người nữ này là ai?”
Chàng có thể đưa ra thắc mắc vì cớ riêng của mình, hoặc chàng sẽ hỏi để các người khác nghe thấy những gì chàng sắp nói, nhưng chàng gần như chắc chắn hỏi vì cớ của cô dâu. Chàng đã học biết nhìn xem nàng từ trong ra ngoài, oai nghi như những vì sao đang diễu hành, và chàng biết ơn về tính cách và sức lực của nàng.
Khi Leslie và tôi mới cưới nhau, cô ấy bước vào thế giới mà tôi đang sinh sống. Cô ấy trở thành một chi thể trong nhà thờ của tôi, cô ấy kết bạn với bạn bè của tôi và cô ấy trở thành một chi thể của bối cảnh mà tôi được ai nấy biết đến. Nhưng bây giờ tôi thấy rằng tôi thường là người bước vào thế giới của cô ấy, nơi mà tính cách của cô ấy được mọi người ngưỡng mộ và tôn trọng, sự hiện diện của cô ấy mà họ tìm kiếm, và tôi được hiệp cùng cô ấy trong bối cảnh của cô ấy.
Tôi nghĩ đấy chính là điều mà những câu Kinh Thánh này gợi ý. Việc quan trọng dành cho người làm chồng làm vợ là phải xem xét cẩn thận, trung thực nhìn xem người khác, khám phá và vui mừng trước sự tấn tới mà Đức Chúa Trời mang lại, và rồi nói về những gì chúng ta nhìn thấy. Chúng ta có cơ hội lớn lao là chồng là vợ, để phục vụ Đức Chúa Trời và phục vụ lẫn nhau theo cung cách này.
Câu 13:
Hợp Xướng
Hỡi Su-la-mít, hãy trở về, hãy trở về! Khá trở về, trở về, hầu cho chúng tôi xem thấy người. Vì sao các ngươi muốn thấy người Su-la-mít, như thấy sự nhảy múa của Ma-ha-na-im?
Mặc dù bối cảnh của câu 13 là không chắc chắn, nhưng có vẻ như cô dâu đang tham gia một điệu múa dân gian. Ma-ha-na-im là “Vũ điệu của hai đội” và nó có thể là một phần của lễ kỷ niệm lịch sử nào đó. Các cụm từ: “Trở về, trở về” thực ra có nghĩa là “quay tròn”, nhưng chúng cũng có thể có ý nói: “xoay vòng” hoặc “mùa theo vòng tròn”. Vì vậy, chúng ta có thể tưởng tượng các người nữ nhảy múa thành vòng tròn và mời gọi cô dâu cùng hiệp với họ trong điệu múa.
Đây là chỗ duy nhất trong Nhã ca, ở đó cô dâu được đặt tên là Su-la-mít rất có thể là một tước hiệu hoặc danh xưng ám chỉ khu vực nàng xuất thân. Vì vậy, cô dâu đang nhảy múa, còn chồng nàng nhìn xem và bắt đầu phần thứ ba kiểu cách mô tả của mình. Câu 1-9a:
Chàng Rể
Hỡi công chúa, chân nàng mang giày, xinh đẹp biết bao! Vòng vế nàng khác nào một trân châu, công việc của tay thợ khéo làm. Rún nàng giống như cái ly tròn, rượu thơm không có thiếu. Bụng nàng dường một đống lúa mạch, có hoa huệ sắp đặt tứ vi. Hai nương long nàng như hai con sanh đôi của con hoàng dương. Cổ nàng như một cái tháp ngà. Mắt nàng khác nào các ao tại Hết-bôn Ở bên cửa Bát-Ra-bim; Mũi nàng như ngọn tháp Li-ban Ngó về hướng Đa-mách. Đầu ở trên mình nàng khác nào núi Cạt-mên, và tóc đầu nàng như sắc tía; Một vì vua bị lọn tóc nàng vấn vít. Hỡi ái tình ta, mình xinh đẹp thay, hạp ý dường bao, khiến cho người ta được khoái chí! Hình dung mình giống như cây chà là, và nương long mình tợ chùm nó. Ta nói rằng: Ta sẽ trèo lên cây chà là, vịn lấy các tàu nó; Nguyên hai nương long mình như chùm nho, mùi thơm mũi mình như trái bình bát, và ổ gà mình như rượu ngon.
Trong khi kiểu cách thơ văn và thậm chí một số cụm từ tương tự như các kiểu cách kia của chàng, nhưng có một số khác biệt đáng chú ý giữa kiểu cách này và hai kiểu cách trước. Một điểm khác biệt, ấy là chàng bắt đầu bằng đôi chân (nhảy múa) của nàng và mô tả lần tới đầu của nàng. Những mô tả trước đây của chàng bắt đầu với cái đầu và di chuyển lần xuống dưới.
Ngoài ra, lần này chàng còn mô tả toàn bộ cơ thể của nàng. Trong chương 4, chàng chỉ đề cập ngắn gọn đến thân thể của nàng, và trong chương 6, chàng không hề nhắc tới thân thể của nàng — chỉ nhắc tới gương mặt của nàng mà thôi. Song ở đây chàng mô tả hết về nàng, và chàng rất thoải mái với nàng là ai. Nàng đã mặc quần áo đầy đủ, nhưng trong con mắt tâm trí của chàng, chàng có thể nhìn thấy mọi sự về nàng và chàng cảm thấy thoải mái với nàng như vốn có. Không có chút do dự, không có khu vườn bị khóa ở đây. Không có ý thức gì việc làm tình là một điều bí ẩn đối với họ; đó là phần lãnh thổ quen thuộc.
Thậm chí tôi còn nghĩ rằng có một tính cách vui vẻ trong lời nói của chàng. Làm sao bạn dám nói: “Hình dung mình giống như cây chà là, … Ta sẽ trèo lên cây chà là” mà không có cảm giác ấm áp và hóm hỉnh? Nó gợi nhớ đến lời bài hát của Steve Miller Band: “Em dễ thương nhất mà tôi gặp. Anh thực sự yêu hai trái đào của em, muốn rung cả cây luôn. Lúc nào cũng như chim bồ câu dễ yêu!” Có một loại tự do và thoải mái đến từ việc hiểu rõ về nhau và tận hưởng tình bạn của nhau. Theo một ý nghĩa, chàng đang nói: “Tôi thích nhìn nàng mĩm cười khi nàng nhảy múa. Tôi sẽ nằm với nàng và hít lấy mùi táo từ hơi thở của nàng”.
Nếu chúng ta nhìn vào lời lẽ của chú rể trong chương 6 và chương 7 với nhau, chúng thực sự đưa ra một lời tuyên bố tuyệt vời, có phải không? Chúng ta thấy chàng rất tôn trọng nàng đến mức nào, chàng ngưỡng mộ nàng cở nào, thậm chí chàng còn sợ hãi nàng nữa kia (“Hãy xây mắt mình khỏi ta. Vì nó làm cho ta phải bối rối. Đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời”). Mọi sự trong lối nói đầy sự tôn trọng, thoải mái, gắn bó và vui vẻ kết hợp với nhau đều rất mạnh mẽ. Và chúng ta có cơ hội là vợ là chồng nói chuyện với nhau theo cách này.
Giờ đây, hầu hết thời gian cuộc hôn nhân của chúng ta không ở mức cao của sự ngưỡng mộ và gắn bó bình an. Nhưng đó là việc đáng hy vọng và hướng tới; Để đạt cứu cánh ấy, Nhã Ca có thể là một sự khích lệ lớn lao. Và là anh chị em trong thân thể của Đấng Christ, chúng ta có thể nói với nhau những lời khẳng khái như thế. Chúng ta không cần phải kết hôn để nói cho nhiều người khác biết rằng chúng ta tin nơi họ nhiều là dường nào, chúng ta thấy những điều tốt đẹp nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời thực hiện trong đời sống của họ, chúng ta thưởng thức tình bạn của họ nhiều là dường nào. Chúng ta có cơ hội khích lệ lẫn nhau trong đủ loại cảnh ngộ.
Trong câu 9, chàng rể nói: “Và ổ gà mình như rượu ngon”, và cô dâu đáp ứng:
Cô Dâu
Chảy vào dễ dàng cho lương nhân tôi, và tuôn nơi môi kẻ nào ngủ.
Có một thắc mắc về dịch thuật ở đây, song tôi nghĩ đây là cách dịch tốt nhứt. Nàng hình dung họ với nhau là hai tình nhân và khi họ dễ dàng ngủ gần nhau. Câu 10:
Tôi thuộc về lương nhân tôi, sự ước ao người hướng về tôi.
Cụm từ được dịch là “ước ao” [desires] trong câu 10 chỉ được sử dụng hai lần khác trong Cựu Ước. Sáng thế ký 3:16 là lời tuyên bố của Đức Chúa Trời với Ê-va: “sự dục vọng [desires] ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi” và nó đề cập đến trạng thái đồng phụ thuộc đầy đau khổ trong đó, người này bị cuốn hút bởi người kia là người cứ đẩy ra xa. Cụm từ này được sử dụng theo cách tương tự trong Sáng thế ký 4:8, một lần nữa, nó ám chỉ sự tổn thương của tình trạng tội lỗi.
Tôi không tin tác giả của Nhã ca có ý định để những độc giả như chúng ta liên hệ những dấu chấm đó trở lại với Sáng thế ký. Nhưng quyển sách này thu hút sự chú ý của chúng ta đến những điều sâu sắc hơn là câu chuyện về hai người yêu nhau. Nhiều thế hệ độc giả cũng đã khám phá ra tình yêu của Đức Chúa Trời trong câu chuyện này nữa. Chúng ta đọc về một người chồng tôn trọng vợ mình, và chúng ta nghe thấy tiếng nói của Đấng Christ tôn vinh Cô Dâu của Ngài. Cô dâu và chàng rể yên nghỉ bình an trong vòng tay nhau nhắc cho chúng ta nhớ tới sự bình an, sự yên nghỉ và sự chấp nhận mà Chúa Jêsus ban cho chúng ta là con cái và là Cô Dâu của Ngài. Và cụm từ “ước ao” được sử dụng ở chỗ khác trong bối cảnh bi kịch, tội lỗi và nỗi đau trong hôn nhân ở đây bị đảo ngược; ở đây chính người chồng mới là người ước ao vợ mình (“Sự ước ao người hướng về tôi”). Bây giờ cụm từ này có một bối cảnh hy vọng. Nhã Ca là câu chuyện nói tới sự cứu chuộc, về việc Đức Chúa Trời mang lại vẻ đẹp cho những nơi có sự tan vỡ. Và mặc dù tác giả con người của nó có lẽ không bao giờ có ý định suy gẫm kiểu thần học như vậy, nhưng câu chuyện vẫn hát lên những bài ca hay hơn với sự uyên thâm sâu sắc hơn dù việc “giải thích đúng đắn” về bản văn có thể gợi ý.
Hôn nhân cung ứng một cơ hội mạnh mẽ nói ra lẽ chơn thật trong cuộc đời của một người khác. Chúng ta có thể phản ánh với người đó điều gì là tốt đẹp, đang phát triển và đáng ngưỡng mộ. Chúng ta có thể cùng nhau bước đi trên con đường tự khám phá và trở thành nguồn phước cho nhau trên lộ trình. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về tình yêu đời đời và không bao giờ phai nhạt đối với chúng ta. Chúng ta có thể nói về Đức Chúa Trời, là Đấng biết và yêu chúng ta, Ngài đổi mới và dạy dỗ chúng ta. Chúng ta có thể nói về sự yên nghỉ kéo dài cho đến đời đời.
Lạy Chúa, chúng con cần sự giúp đỡ trong việc khám phá chính mình. Con cầu xin rằng mỗi một chúng con sẽ là tiếng nói tốt cho người khác và chúng con có thể nói điều gì là chơn thật vì cớ họ. Con cầu thay để có được trải nghiệm đó trong hôn nhân và tình bạn. Con cầu xin chúng con sẽ tìm lại được chính mình với tầm nhìn của chúng con được mở rộng hơn và được nhắc nhở thường xuyên hơn về Ngài là ai đối với chúng con và tình yêu của Chúa dành cho chúng con nhiều biết bao. Chúng con cầu nguyện trong danh Chúa Jêsus. Amen.

