Câu chuyện Xuất Ai Cập Dạy Ơn Thương Xót
“Phải cấp cho người một vật chi, hoặc trong bầy mình, hoặc của sân đạp lúa mình, hoặc của hầm rượu mình, tức là cấp cho người vật bởi trong của cải mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho ngươi. Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi; bởi cớ ấy, ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều nầy” — Phục truyền luật lệ ký 15:14-15
“Chính chúng ta đã làm nô lệ cho Pha-ra-ôn ở Ai Cập”. Đây là lời lẽ mở đầu của phần kể chuyện của Kinh Haggadah, văn bản hơn 2000 năm tuổi mà chúng ta đọc tại seder Lễ Vượt Qua. Khi kể lại câu chuyện Xuất Ai Cập, chúng ta đọc: “Trong mỗi thế hệ, mỗi người phải xem mình như thể chính mình mới rời khỏi Ai Cập”.
Một số cộng đồng Do Thái thậm chí còn có phong tục hóa trang thành nô lệ và diễn xuất trích từ cuộc Xuất Ai Cập. Tôi nhớ khi còn là một thiếu nữ đã ngồi dự ăn seder và nghĩ: “Thật ư? Tôi là một nô lệ ư? Tôi đã rời khỏi Ai Cập sao?” Chỉn khi lớn hơn một chút, tôi mới bắt đầu tán thưởng sức mạnh tinh thần của sự đồng hoá với toàn bộ lịch sử Do Thái.
Sự đồng hoá này với Xuất Ai Cập không những đơn thuần là một vở kịch theo nghi thức. Mà nó có tác động rất mạnh mẽ đến cuộc sống của chúng ta. Một nghiên cứu năm 2010 của giáo sư kinh tế Mark Ottoni-Wilhelm của Đại học Indiana cho thấy người Do Thái làm từ thiện nhiều hơn so với các nhóm dân tộc khác ở Mỹ.
Nghiên cứu của ông đã phát hiện ra rằng: “Những lời kêu gọi của người Do Thái thường kết nối nhu cần của kẻ nghèo với lịch sử nô lệ của người Do Thái ở Ai Cập”. Hơn 3.000 năm sau khi chúng ta được giải cứu ra khỏi Ai Cập, việc đồng hóa với tình trạng nô lệ và Câu chuyện Xuất Ai Cập dạy dỗ ơn thương xót đối với những ai đang khốn khó.
Câu Chuyện Xuất Ai Cập Dạy Ơn Thương Xót
Sự thật, ấy là Kinh thánh dạy đi dạy lại bài học này. Một trong những mục đích chính của chế độ nô lệ trong Kinh thánh và câu chuyện Xuất Ai Cập dạy chúng ta phải có lòng thương xót. Giống như Đức Chúa Trời đã nghe tiếng kêu cầu của chúng ta khi chúng ta đau khổ và túng thiếu (Xuất Ê-díp-tô ký 3:7), chúng ta cũng phải nghe tiếng kêu cầu của người khác nữa.
Một trường hợp được thấy có trong Phục truyền luật lệ ký 15, ở đây luật lệ về việc đối xử với những tôi tớ có giao kèo được nhắc tới. Một tôi tớ hợp đồng là một người đã rơi vào thời kỳ khó khăn đến mức anh ta buộc phải bán mình làm nô lệ để trả nợ. Kinh thánh dạy rằng khi tôi tớ hết thời gian phục vụ, họ phải được đối xử rộng lượng.
Dân Israel được truyền cho “Phải cấp cho người một vật chi, hoặc trong bầy mình, hoặc của sân đạp lúa mình, hoặc của hầm rượu mình”. Môi-se kết thúc phần hướng dẫn của mình bằng lời nhắc nhở này với con cái của Đức Chúa Trời: “Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi”.
Giống như Đức Chúa Trời tỏ ra lòng thương xót với dân Israel khi họ đau khổ và bị áp bức, câu chuyện Xuất Ai Cập và Lễ Vượt Qua dạy dỗ hết thảy chúng ta phải tỏ ra lòng thương xót đối với những ai đang ở trong hoàn cảnh khó khăn.
Phiên của bạn: Người túng bấn đang kêu gào với chúng ta y như khi chúng ta kêu cầu với Đức Chúa Trời trong xứ Ai Cập. Hãy giúp chăm sóc những kẻ có cần hôm nay bằng cách tham gia vào một trong các dự án nhân đạo của The Fellowship.

