DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Vào Ngày Này | Tháng Mười

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

1 tháng 10

ĐIỂM THỨ 15

Sự hiệp một rất quan trọng giữa vòng những Cơ đốc nhân, nhưng hiệp một không có nghĩa là đồng nhất; và một trong những khuôn mẫu đáng nhớ nhất trong lịch sử Hội thánh, ấy là Đức Chúa Trời đang sử dụng Hội thánh của Ngài và chúc phước cho con cái Ngài thậm chí trong lúc họ bất đồng nữa. Đội truyền giáo đầu tiên của lịch sử, Banaba và Phaolô, đã tranh cãi về Giăng Mác. Wesley và Whitefield đã rơi vào cảnh bất hoà về các quan điểm khác nhau trong thần học. Và bản thân những nhà cải chánh, là những con người có ý chí mạnh mẽ, đã cải nhau, giữa vòng những việc khác, bản chất Tiệc Thánh của Chúa.

Những nhà cải chánh Thụy sĩ, do Ulrich Zwingli lãnh đạo, đã khẳng định rằng Tiệc Thánh là một sự thờ phượng đáng nhớ, trong khi nhà cải chánh Đức, do Martin Luther lãnh đạo, đã khẳng định rằng Đấng Christ luôn hiện diện trong bánh và rượu ấy.

Cuộc xung đột sâu sắc đến nỗi cấp lãnh đạo chính trị tại địa phương đã cho mời mọi người đến nông trại của ông ở Marburg vào ngày 1 tháng 10 năm 1529. Trong đại sảnh đặt một chiếc bàn dài, trải thảm nhung, nằm ở giữa phòng. Trước khi vụ việc được đưa ra, Luther lấy một cục phấn, rồi trên miếng vải đặt ở trước mặt ông, đã viết câu nầy: “Nầy là thân thể ta”.

Cuộc tranh luận nổ ra trong ba ngày, Zwingli khẳng định rằng động từ “là” trong cụm từ “Nầy là thân thể ta” đáng được giải thích là “tiêu biểu”. Luther nói: “Trong Kinh thánh chỗ nào động từ “là” từng có ý nói là “tiêu biểu”? Zwingli chỉ cho ông thấy một vài chỗ. Nhưng Luther chẳng chuyển. Vào lúc kết thúc cuộc họp ba ngày đó, các vị đại biểu đã nhất trí 14 trên 15 lãnh vực tranh chấp trước kia. Nhưng ở điểm thứ 15 – Tiệc Thánh – họ đã thất bại không đạt tới chỗ nhất trí, và những nhà cải chánh không thể  kết hiệp ý kiến của bên Đức hay bên Thụy sĩ. Kết quả là, Zwingli mất đi sự ủng hộ của các vua người Đức. Năm bang Công giáo của Thụy sĩ đã phái một đội quân chống lại ông, và ông đã qua đời trong trận chiến Kappel.

Nhưng chẳng có một việc gì có thể ngăn chặn ngọn lửa của các nhà cải chánh, và dù sự thất bại ở các buổi họp tại Marburg, giáo lý về sự xưng công bình bởi ân điển nhờ đức tin đã lan rộng qua đại lục.

 

“Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta. Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống. Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người” (Mác 14.22-24).

 

2 tháng 10

BỐN THẾ KỶ

Những tín đồ Tin Lành rất chậm bắt tay vào lý tưởng truyền giáo. Vào thế kỷ 16, họ đã vất vả lắm mới giải phóng bản thân ra khỏi hình thức dãy chết của Thiên Chúa giáo. Thế kỷ 17 đã được sử dụng với nhiều nổ lực đẩm máu cho sự tự do trong nước. Mãi cho đến thế kỷ thứ 18 họ vẫn chưa phóng tầm nhìn ra hải ngoại được. Những tín hữu Moravia là giáo sĩ đầu tiên được phái đến các công trường ở Tây Ấn, và Labardo. Nhưng vẫn chưa có tổ chức một chiến dịch truyền giáo nào được ủng hộ bởi một căn cứ mạnh mẽ ở hậu phương.

Thế rồi một thợ đóng giày tên là William Carey xuất hiện. Những bài giảng, các lần trao đổi, và quyển sách của ông với đề tựa là Enquiry, sau cùng đã thúc giục các tín hữu Báp tít bạn ông sử dụng quyết tâm nầy tại một buổi nhóm: Hạ quyết tâm một chương trình đã được soạn thảo ngược lại với buổi nhóm sắp tới của các Mục sư tổ chức tại Kettering, để hình thành một Hội Báp Tít lo truyền bá Tin lành giữa vòng dân theo tà giáo.

Năm tháng sau, vào ngày thứ Ba 2 tháng 10 năm 1792, 14 người nhóm lại ở phía sau tư thất của nhà bà goá Wallis ở Kettering, trong một gian phòng ngang 10 feet dài 12 feet. Có 12 vị Mục sư, một sinh viên, và một chấp sự. Carey, 31 tuổi, đã ôn lại những thành tựu của các tín hữu Moravia và lần lại chương trình truyền giáo của Kinh thánh. Thế rồi một nghị quyết đã được đưa ra như sau: “Với lòng ham mến thực thi một nổ lực muốn truyền bá Tin lành giữa những kẻ ngoại đạo, theo sự thúc giục từ quyển Enquiry của Carey, chúng ta cả Hội quyết tâm cùng nhau hành động vì mục tiêu nầy; và trong tình trạng phân rẽ của nước Đấng Christ, mỗi hệ phái, qua cách áp dụng tình huống phân rẽ đó, dường như muốn đạt cho kỳ được cứu cánh lớn lao ấy, chúng ta đặt tên Hội Báp Tít Cá Biệt [Particular Baptist Society] nầy cho Công cuộc truyền bá Tin lành giữa vòng người theo tà giáo”.

Andrew Fuller đi loanh quanh với bức tranh ghi lại hình ảnh sự Phao-lô trở lại đạo, nắm lấy những lời thề chọn lọc đầu tiên của lịch sử dành cho công cuộc truyền bá Tin Lành được ủng hộ từ hậu phương.

Thình lình nhiều hội truyền giáo nổi lên ở khắp nơi, đặc biệt tại Luân đôn: năm 1792 Hội Truyền Giáo Anh Quốc; năm 1795 Hội Truyền Giáo Luân đôn; năm 1799 Hội Truyền Giáo Religious Tract và Hội Truyền Giáo Church. Vào năm 1804 Hội Kinh thánh Britist and Foreign thành hình. Kỷ nguyên truyền giáo đã bắt đầu, biến thế kỷ 19 thành “thế kỷ quan trọng” trong sự truyền bá Tin lành khắp hoàn cầu.

 

“Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại. Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 16.14-15).

 

3 tháng 10

CHIẾN DỊCH CỦA MỘT PHỤ NỮ

Có phải ngày lễ Cảm Tạ đầu tiên thực sự được những khách hành hương tổ chức một thời gian ngắn sau khi chiếc Mayflower bỏ neo tại Plymouth? Người người dân Texas cho rằng ngày lễ Cảm Tạ đầu tiên ở Mỹ đã được công bố ở hẽm núi Palo Duro bởi Padre Juan De Cadillac cho các đội quân của Coronado vào năm 1541, 79 năm trước khi tín đồ Thanh Giáo đến Mỹ.

Ở bất kỳ cấp độ nào, lễ Cảm Tạ là một ngày lễ hàng năm của quốc gia đến rất chậm. Suốt cả lịch sử sớm sủa của nước Mỹ, một số nhà lãnh đạo đã phát ra những lời tuyên bố về Lễ Cảm Tạ; một số thì không. Nhiều người đã chống lại vì nhiều lý do khác nhau, vì Lễ Cảm Tạ là một việc khi thì có, khi thì không…cho tới khi Sarah Hale quyết chắc về Lễ ấy. Sarah là một goá phụ hãy còn trẻ với 5 đứa con và một cửa hàng trang phục phụ nữ. Bà đã dùng những giờ phút rỗi rãnh cho việc viết lách, rồi đến năm 1823 quyển sách đầu tiên của bà đã xuất đầu lộ diện. Không bao lâu sau đó, bà thuê một nhà xuất bản một tạp chí nho nhỏ; kế đó, vào năm 1837, bà đặt tên cho nhà xuất bản là Sách Phụ Nữ Godey, tờ báo đầu tiên của nữ giới trong nước. Tổng số phát hành nhiều như nấm.

Tạp chí Godey không phải là một tờ báo Cơ đốc, nhưng Sarah, một tín đồ theo Tân giáo (Episcopal), là một Cơ đốc nhân tin kính đã cho xen những vấn đề tôn giáo vào trong các bài đăng của mình. Đến năm 1846, bà đã mở một chiến dịch hầu thiết lập Lễ Cảm Tạ làm một ngày lễ. Bà đã viết nhiều bài rất sốc nổi về Lễ nầy, và các số báo tháng 11 đã đăng những bài thơ Cảm Tạ, những câu chuyện, và cách làm các món ăn có gà tây. Bà hối những nhà chính trị bằng những bức thư riêng về đề tài nầy, và đến năm 1859, 30 vị Thống Đốc đã đồng ý với một ngày Lễ Cảm Tạ chung hết.

Vẫn chưa có một ngày lễ quốc gia nào nổi lên. Khi nước Mỹ bị lảo đảo với cuộc nội chiến, Sarah đã thử một chiến thuật mới. Sự bất hoà, bà đã viết vào năm 1859, có thể bị đẩy lùi bằng Lễ Cảm Tạ. Nếu từng Bang chịu hiệp lại vào Lễ Cảm Tạ chung nhất vào ngày 24 của tháng nầy, há nó sẽ không trở thành một bằng chứng tươi mới của tình yêu thương và lòng trung thành với Hiến Pháp sao!

                Nhưng chiến tranh đã nổ ra vào năm 1861. Vào năm 1863 bà đã viết thư gửi Tổng Thống Lincoln, đặt trước mặt Ngài một đề tài rất lý thú…ngày Cảm Tạ hàng năm của chúng ta làm một ngày lễ thống nhất. Vị Tổng Thống bị bao vây kia sau cùng đã đồng ý, rồi đến ngày 3 tháng 10 năm 1863 ông thiết lập Lễ Cảm Tạ làm ngày lễ quốc gia vào ngày thứ năm cuối của tháng 11. Dầu có chiến tranh, Lincoln nói, chúng ta có thể đếm các phước hạnh của mình: “Đó là những tặng phẩm giàu ơn của Đức Chúa Trời chí cao, là Đấng, khi xử lý với chúng ta bằng cơn thạnh nộ vì những tội lỗi của chúng ta, Ngài đã nhớ lại lòng thương xót “.

 

“Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời… Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời” (Thi thiên 118.1, 29).

4 tháng 10

TRẢ LỜI TRƯỚC CHO SỰ CẦU NGUYỆN

                Thỉnh thoảng Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của chúng ta trước khi chúng ta trình với Ngài. William Tyndale đã liều lĩnh lắm khi ông quyết định dịch Kinh thánh sang Anh ngữ vào thời của Vua Henry VIII. Hội thánh và nhà cầm quyền đã chống đối ông, nhưng ông nói với một vị giám mục: “Nếu Đức Chúa Trời tha mạng cho tôi, tôi sẽ khiến một đứa trẻ đang cầm cày kia nhận biết nhiều về Kinh thánh hơn cả ông biết nữa”. Vào ngày 6 tháng 10 năm 1536, ông bị thiêu trên giàn hoả vì mọi nổ lực của mình. Lời nói sau cùng của ông là: “Lạy Chúa, xin mở mắt Vua của Nước Anh ra”.

Ông đã qua đi mà không biết Chúa đã đáp lời cầu nguyện của ông rồi – một năm trước đó, cũng chính ngày ấy. Đâu là câu trả lời? Miles Coverdale. Ra đời vào năm 1488, Coverdale đã chịu ảnh hưởng của Robert Barns tại Cambridge, là người đã đưa ý tưởng “ra khỏi nước Đức” với  ông. Khi Coverdale cầm quyển Kinh thánh lên rồi bắt đầu đọc quyển sách ấy, ông liền có cảm tình với nó. “Giờ đây, tôi bắt đầu nếm trải Kinh thánh, giờ đây (nguyền vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời) tôi bắt đầu ngửi thấy mùi vị thánh khiết tin kính ngọt ngào nhất”.

Không bao lâu sau đó, ông bắt đầu giảng một sứ điệp truyền giáo. Sự việc nầy cho thấy rất khó cho ông tại nước Anh, vì vậy ông bỏ sang đại lục, ở đó ông tốn 7 năm dịch Kinh thánh từ tiếng La tinh sang Anh ngữ cho đồng bào của ông đọc. Quyển sách được in ấn vào năm 1535, ấn bản trọn vẹn đầu tiên của Kinh thánh bằng Anh ngữ. Ông khéo léo dâng quyển sách cho Vua Henry VIII, nhà vua lấy làm vui lòng, cho phép quyển sách trở thành bản dịch Kinh thánh Anh ngữ đầu tiên được lưu truyền mà chẳng có một sự ngăn trở nào hết – vì thế câu trả lời cho sự cầu nguyện của Tyndale đã có trước một năm trời.   

                Trong lời tựa, Coverdale nói ông không ham muốn phần dịch thuật Kinh thánh, nhưng “bản Kinh thánh không theo đúng tiếng mẹ đẻ của tôi sẽ làm cho tôi khó hiểu lắm”.

Coverdale trở thành Mục sự chủ toạ của Hội thánh Saint Magnus gần cầu Luân đôn, và khách tham quan ngày nay có thể đọc một tấm biển ghi nhớ gắn trên bức tường phía đông của nhà thờ: “….ông đã để ra nhiều năm tháng của cuộc đời mình lo soạn một bản dịch Kinh thánh. Vào ngày 4 tháng 10 năm 1535, bản dịch Kinh thánh Anh ngữ đầu tiên đã được in xong theo quyền điều hành của ông”.

 

“Ta sẽ nhậm lời họ trước khi kêu cầu ta; họ còn nói, ta đã nghe rồi” (Êsai65.24).

 

5 tháng 10

TĂM XỈA RĂNG & NHỮNG QUẢ CAM

Tháp Luân đôn, nằm ngay trên sông Thames, là một ngôi làng nhỏ có bốn bức tường vững chắc vây quanh. Nó đóng vai trò như một cung điện, một đồn lũy, và, đáng ngại hơn cả, là một nhà tù. Ở đây một thanh niên Công giáo có tên là John Gerald đã chịu khổ vì đức tin của mình trong sự trị vì của Nữ Hoàng Tin lành Elizabeth I.

Anh là một linh mục thuộc dòng Jesuit, được đào tạo trong Đại Lục, anh bắt đầu thi hành chức vụ linh mục ở Anh quốc lúc được 18 tuổi, theo luật pháp hiện hành phải chuyển nơi ở từ chỗ nầy sang chỗ khác. Thế rồi anh bị bắt rồi bị đưa tới nhà ngục Clink, là nhà tù khổ sai xứng với cái tên của nó vào thời ấy. Trong ba năm anh bị giữ ở đó, có lúc bị xiềng lại, thường tìm cách để thoát thân. Rốt lại, anh bị đưa sang Tháp Luân đôn.

Một trong những tòa nhà ở đó là tháp White, có một cái hầm sâu không một cánh cửa nào để ra ngoài được. Ở đấy, trong ánh sáng kỳ quái của những ngọn đuốc lập loè, Gerald bị treo lên trong nhiều giờ liền, hết ngày nầy sang ngày khác. Khi anh bị ngất đi, họ làm cho anh tỉnh lại và tiếp tục hành xác anh. Hai cánh tay của anh sưng lên trông rất ghê gớm, toàn thân anh bị đau đớn dai dẳng, xương cốt anh kêu lên, và hai bàn tay anh bị thương tích rất nặng đến nỗi không thể cầm muỗng ăn cơm được nữa.

Sau cùng cuộc hành hình phải bị đình chỉ trong một thời gian. Vị linh mục trẻ tập luyện mấy ngón tay, trong vòng ba tuần lễ anh có thể cầm muỗng ăn được rồi. Không lâu sau đó, anh đã xin mấy quả cam và tăm xỉa răng. Tăm xỉa răng trở thành cây viết. Cam trở thành mực, nhìn thấy chữ khi được hơ nóng lên. Các sứ điệp đã được gửi đi đều đặn. Một sợi dây, một chiếc xuồng, và nhiều người phụ giúp đã được tuyển chọn. Đến ngày 5 tháng 10 năm 1597, Gerald đã trèo qua một cái lỗ trên mái tháp Cradle, ném một sợi dây rồi tuột xuống, phải chịu đựng đau đớn rất nhiều nơi hai bàn tay. Các bạn hữu đã đưa anh đến một nơi ẩn náu ở ngoài thành Luân đôn.

Không lâu sau đó, anh đã quay lại với công việc linh mục của mình trong sự bí mật, luôn luôn từng bước một hầu tránh bị bắt trở lại. Sau cùng, không còn cách nào để cho anh ở lại Anh quốc, anh phải ra khỏi xứ trong đoàn tùy tùng của các đại sứ Tây ban Nha và Hà lan. Ông phục vụ ở Rome cho tới ngày 27 tháng 7 năm 1637, khi ông qua đời ở tuổi 73. Ngày nay ai cũng biết ông là một trong những người đã dùng mưu mẹo thoát ra khỏi tháp Luân đôn.

 

Vậy, nếu dọn lòng cho xứng đáng, và giơ tay mình ra hướng về Chúa; Bằng có tội ác trong tay ông, mà ông bỏ xa khỏi mình, chẳng để sự bất công ở trong trại mình, bấy giờ, ông hẳn sẽ ngước mắt lên không tì vít gì, thật sẽ được vững vàng, chẳng sợ chi; Ông sẽ quên các điều hoạn nạn mình, và nhớ đến nó như nước đã chảy qua”.

 

6 tháng 10

TYNDALE

                “Cha đẻ của quyển Kinh thánh Anh ngữ” đã chào đời tại một ngôi làng nhỏ gần biên giới xứ Welse khoảng năm 1490. Ông đến tại Oxford với ân tứ thông thạo ngôn ngữ rồi bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Erasmus, nhà ngôn ngữ học lỗi lạc của thế giới. Ông miệt mài với quyển Kinh thánh Tân Ước tiếng Hy lạp của Erasmus và các tác phẩm khác nữa, và không bao lâu sau đó ông bắt đầu thuyết giảng từ các sách ấy. Kinh thánh vẫn chưa có theo Anh ngữ, và một ý niệm hình thành trong lý trí của William Tyndale.

Ông bắt đầu công bố giá trị của Kinh thánh và nhu cần phải phiên dịch Kinh thánh ra Anh ngữ. Ông bị đe doạ và bị chống đối. Có người nói: “Thà chúng tôi không có luật pháp của Đức Chúa Trời hơn là không có Đức Giáo Hoàng”. Lời đáp của Tyndale vẫn còn vang dội, nổi tiếng trong lịch sử của Hội thánh: “Nếu Đức Chúa Trời cho phép, tôi sẽ mau khiến cho một thiếu niên chuyên cầm cày hiểu biết Kinh thánh nhiều hơn là ông nữa”.

Ông đến gặp Giám Mục sở tại Luân đôn xin giúp đỡ trong việc phiên dịch Kinh thánh sang Anh ngữ, nhưng ông đã bị từ chối. Tuy nhiên, Tyndale vẫn cứ chạy theo công việc của mình. Sau khi thấy sự sống của mình rơi vào tầm nguy hiểm, ông đã trốn sang Đại Lục. Ở đó, ông tiếp tục công tác dịch thuật, chuyển lậu những bản dịch sách Mathiơ và sách Mác về lại Luân đôn. Những tay thám tử sang tận châu Âu tìm bắt ông, và Tyndale bèn chơi trò trốn tìm, ẩn núp và trốn chạy. Đến năm 1525, những bản Tân Ước hoàn chỉnh đã được người ta kín đáo đọc tại thành Luân đôn.

Vào ngày 21 tháng 5 năm 1535, Tyndale bị phản và bị bắt. Ông ốm yếu nằm trong xà lim ngục tù rất đáng thương. Sự làm chứng của ông ở đó đã khiến cho viên cai ngục và gia đình của ông nầy trở lại đạo. Đến ngày 6 tháng 10 năm 1536, ông bị treo cổ ở ngoài Brussels, ông chết mất và bị thiêu đi. Khi ấy ông mới có 42 tuổi.

Lời nói sau cùng của Tyndale là: “Lạy Chúa, xin mở mắt Vua nước Anh”. Lời cầu nguyện ấy đã được nhậm, vì Vua Henry VIII đã chấp thuận một bản Kinh thánh Anh ngữ mới do bạn của Tyndale là Miles Coverdale thực hiện. Henry không hề biết quyển  Kinh thánh của Coverdale chứa gần 70% công việc của Tyndale. Đến năm 1604, James I chấp thuận một bản dịch mới của Kinh thánh bằng Anh ngữ, và công việc của Tyndale là nền tảng 90% trong bản Kinh thánh King James.

 

“Vì, mọi xác thịt ví như cỏ, mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ. Cỏ khô, hoa rụng, nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em” (I Phierơ 1.24-25).   

 

7 tháng 10

TỪ NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA GEORGE MULLER

                Lúc ấy vào cuối năm 1829, tôi rời Luân đôn lo công tác truyền giảng Tin lành, một anh em trong Chúa trao cho tôi tấm danh thiếp có ghi địa chỉ của một phụ nữ Cơ đốc nổi tiếng, Cô Paget, khi ấy cư trú ở Exeter, để tôi sẽ gọi điện cho cô ấy. Cô Paget trao cho tôi địa chỉ của một anh em Cơ đốc, Ông Hake, ông nầy có một trường học dành cho thanh niên thanh nữ ở Northernhay House. Tôi đã tới đó hết tuần nầy đến tuần khác. Lúc bấy giờ mục đích của tôi là không lập gia đình chi cả, mà cứ tự do như thế để đi đây đi đó trong công tác phục vụ cho Tin Lành; nhưng tôi nhận thấy sau đó vài tháng, là một Mục sư trẻ dưới 25 tuổi nên lập gia đình. Giờ đây thắc mắc, tôi sẽ làm hôn phối với ai? Cô Groves thoắt hiện ra trong lý trí của tôi; nhưng cuộc chiến cầu nguyện đã xảy ra lâu lắm trước khi tôi đưa ra quyết định. Sau cùng, điều nầy đã quyết với tôi, tôi có lý do để tin tôi đã chấp nhận một tình cảm ở trong lòng của Cô Groves dành cho tôi, rồi vì thế tôi phải đưa ra lời đề nghị cầu hôn với nàng. Vào ngày 15 tháng 8, tôi viết cho nàng lời cầu hôn, xin nàng trở thành vợ của tôi, và ngày 19 tháng 8, nàng đã chấp nhận tôi. Việc đầu tiên chúng tôi đã làm sau khi tôi được chấp nhận là quì gối xuống cầu xin ơn phước của Chúa trong hôn phối đã dự trù của chúng tôi. Đến ngày 7 tháng 10 năm 1830, chúng tôi đã thành hôn. Đám cưới của chúng tôi thật đơn sơ. Chúng tôi đến nhà thờ, không có điểm tâm trong ngày cưới, nhưng vào buổi trưa có một buổi nhóm của các bạn Cơ đốc tại nhà của Ông Hake, tưởng niệm sự chết của Chúa; lúc bấy giờ tôi đánh xe ngựa cùng với vợ tôi đến Teignmough, qua ngày hôm sau chúng tôi đến phục vụ Chúa.

                Đây là phương thức của Đức Chúa Trời khi ban cho tôi một người vợ tuyệt vời.

 

“Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, Chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con” (Châm ngôn 3.5-6).

 

8 tháng 10

ĐÚNG LÀ NGÀY ẤY!

                Dwight L. Moody đã đến với Chúa tại một cửa hàng bán giày ở Boston khi còn là một thiếu niên. Mặc dù ít học, ông có năng lực vô hạn tự nó mau chóng bốc lên thành năng lực đưa dẫn linh hồn đến với Chúa. Ông chuyển sang Chicago, lãnh lấy công tác cho thiếu nhi, rồi lớn lên trong Lớp Trường Chúa Nhật có hơn cả ngàn em. Nhưng dù bề ngoài phát triển mạnh mẽ, Moody có bề trong thất bại, luôn thấy thiếu năng quyền thuộc linh, hay vật vã với tư tưởng cho rằng Đức Chúa Trời muốn ông phải rời Chicago  để trở thành nhà truyền giáo lưu động, là điều ông không sẵn lòng với.

Đến ngày 8 tháng 10 năm 1871, Moody giảng cho các khán thính giả trong lớp Trường Chúa Nhật của mình, ông yêu cầu họ phải xem xét việc đáp ứng lại với Đấng Christ vào Chúa nhựt sau – nhưng họ không bao giờ có được cơ hội đó. Khi buổi thờ phượng kết thúc, những âm thanh cứu hỏa vang dội trên đường phố. Buổi nhóm kết thúc trong hoảng loạn và những người trẻ tuổi rời khỏi nhà thờ để nhìn thấy cả thành phố đang trong cơn hốt hoảng. Nhiều ngọn lửa bốc cao trên bầu trời, nuốt chửng lấy các toà nhà. Những hệ thống gas chính đã nổ ra, đường phố bị ách tắt với nhiều người đang tháo chạy. Cuộc hoả hoạn lớn ở Chicago đã cháy từ Chúa nhựt cho đến thứ Tư, và Moody bị mất hết cả nhà thờ và tư thất của ông.

Bị dao động sâu sắc, Moody mau chóng rời khỏi Chicago  để đến Nữu Ước tìm kiếm những nguồn ngân quỹ để tái thiết lại công việc của ông, nhưng “lòng tôi không ở với việc đi xin”. Trong khi đi xuống Phố Wall, ông có được một kinh nghiệm thuộc linh rất có năng quyền đến nỗi ông hay đề cập tới sự việc nầy về sau: “Tôi đã kêu la trọn lúc Đức Chúa Trời đầy dẫy tôi với Thánh Linh của Ngài. Thế rồi, một ngày kia, trong thành phố Nữu Ước – ah, đúng là ngày ấy – tôi không thể mô tả được. Đôi khi tôi nhắc tới điều nầy, kinh nghiệm ấy thiêng liêng lắm không thể tả được – Phaolô đã có một kinh nghiệm mà ông không hề nói tới trong 14 năm – tôi chỉ có thể nói rằng Đức Chúa Trời đã tự tỏ chính mình Ngài ra cho tôi, và tôi đã có một kinh nghiệm về tình yêu của Ngài đến nỗi tôi phải xin Ngài hãy rút tay Ngài lại”.

Từ ngày ấy trở đi, bất cứ lúc nào, bất cứ khi nào Moody rao giảng, hàng trăm người đã được cứu, và ông đã dành phần đời còn lại của mình đi khắp toàn cầu trong vai trò một nhà truyền giáo nổi tiếng và có hiệu quả nhất cho Đấng Christ vào thế kỷ thứ 19.

“Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài” (Công vụ các sứ đồ  10.42-43).

 

9 tháng 10

NHỮNG MƯU CẦU ĐÁNG HỔ THẸN

                Phong trào Báptít hiện đại đã bắt đầu vào thập niên 1600; và dù các cấp lãnh đạo của phong trào phải chịu tù đày, chết chóc trong tay của nhà cầm quyền người Anh, họ đã được bảo tồn. Giữa vòng họ là Benjamin Keach, sinh năm 1640. Ông đã trở lại với Đấng Christ lúc 18 tuổi rồi khởi sự làm chủ toạ Hội thánh 10 năm sau đó. Ông đã hầu việc Chúa trong Hội thánh Báptít Horsley Down ở Southwark gần Luân đôn, ở đó ông được bạn bè mô tả là: “nhà truyền đạo sốt sắng, tự học, quan điểm của ông hẹp hòi đối với hệ phái và hầu hết hội chúng, nhưng lại vận dụng ảnh hưởng lớn lao trong các giới hạn đó”.

Keach yêu thích cả hai: các em thiếu nhi và ca hát – và điều nầy đã dẫn ông vào chỗ rối rắm. Với lòng mong muốn giải thích các tín điều Báptít cho lớp người trẻ tuổi, ông đã viết sách cho họ đọc. Lứa tuổi thiếu nhi rất thích việc ấy. Còn nhà vua thì không. Những cảnh vệ người Anh đến bắt ông, và đúng ngày 9 tháng 10 năm 1664, ông đã đứng như tù phạm tại toà án Aylesbury trong khi Chánh Án loan đọc: “Benjamin Keach, ngươi bị kết án về tội viết lách và in ấn một quyển sách gây loạn lạc và đáng kinh tởm; ngươi sẽ đi tù mười lăm ngày rồi thứ Bảy tới đây đứng trong gông cùm trong hai giờ đồng hồ từ 11 giờ cho tới 1 giờ với một bản án để trên đầu có ghi: “Vì tội viết lách và in ấn một quyển sách có tư tưởng ly giáo có đề tựa: “Hướng Dẫn Thiếu Nhi” hay “Sách Vở Lòng Mới, Dễ Học”, và thứ Năm tới đây đứng cùng tư thế và trong thời gian đó tại khu chợ Winslow, và ở đó quyển sách của ngươi sẽ được mở ra công khai thiêu đốt trước mặt ngươi bởi đao phủ để làm nhục ngươi và giáo lý của ngươi, và ngươi sẽ phải nộp cho sự oai nghi của nhà Vua số tiền 20 bảng Anh”.

Keach đương nhiên bị nhốt 2 tháng trong tù và đã nộp một trăm bảng Anh, nhưng ông không học bài học nầy. Một thời gian sau đó, ông lại lâm vào cảnh rắc rối một lần nữa, lần nầy vì đã in một quyển thánh ca, các nhà thờ nói tiếng Anh đã ca hát trước đó chỉ những Thi thiên của Vua David, thường thì với những giai điệu chán ngắt. Vào năm 1691, Keach cho in quyển Giai điệu thuộc linh [Spiritual Melody], là quyển có 300 bài thánh ca rất hay. Một sự đổi mới như thế đã làm đảo lộn hội chúng của ông, và ông đã nhìn thấy với hốt hoảng khi có nhiều tín đồ bỏ ra về. Nhưng dù đến thế, Keach đã để phần đời còn lại của mình vào việc theo đuổi những việc giống như thế để dạy dỗ các em thiếu nhi và ca hát những bài ca thánh.

 

“Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay sẽ ở tại trong lòng ngươi; khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chổi dậy. Khá buộc nó trên tay mình như một dấu, và nó sẽ ở giữa hai con mắt ngươi như ấn chí” (Phục truyền luật lệ ký 6.6-8).

 

10 tháng 10

60 OUNCES MÁU        

                Người ta biết rất ít về đời sống niên thiếu của Sir Archibald Johnston, còn Lord Warriston thì khác. Ông lớn lên vào thế kỷ thứ 17 và rất năng động trong chính phủ xứ Tô cách Lan và trong sinh hoạt của Hội thánh Trưởng Lão, lên đến một địa vị rất được tôn trọng. Lý trí ông sắc bén giống như bất kỳ người nào sống trên quần đảo Anh quốc, và ông đã tự do làm chứng cho các cấp lãnh đạo đời nầy về đức tin của mình. Trong cuộc nổi loạn của hệ phái Thanh giáo, ông đứng bên cạnh Cromwell khi Vua Charles I bị truất phế và bị hành quyết. Khi Charles II phục hồi chế độ quân chủ ở Anh quốc vào năm 1660, Johnston thấy mình đang ở trong tầm nguy hiểm; rồi vào ngày 10 tháng 10 năm 1660, ông bị công bố là kẻ trốn tù.

Johnston trốn sang Đại lục, nhưng khi ở đó đã lâm bịnh. Lúc ấy, một trong các y sĩ của Vua Charles là Bác sĩ Bates, đến gặp ông. Với ý đồ muốn thủ tiêu ông, Bác sĩ Bates đã tiêm chất độc cho ông rồi rút trong người ông 60 ounces máu. Trong khi Johnston không chết, lý trí ông thường suy yếu và không còn nhớ mình đã nói hay đã làm gì trước đó chừng 15 phút.

Được bạn bè trợ giúp, Johnston trốn sang Pháp; nhưng vây cánh của Charles cũng truy tìm ông ở đó, và ông bị bắt trong khi đang cầu nguyện. Đến tháng Giêng năm 1663, ông bị đưa về lại Anh quốc và bị nhốt trong Tháp Luân đôn. Lâu ngày, ông bị chuyển sang Edinburgh để chờ hành quyết, mặc dù theo cháu của ông cho biết: “ông bị rối loạn trong cơ thể và lý trí đến nỗi đáng quở trách nhà cầm quyền nào cứ tiến hành ngược đãi ông”.

Ông ngủ ngon lành trong đêm trước cuộc hành quyết, và ông đã dùng bữa trưa cách vui vẻ: “với hy vọng dùng bữa tối trên thiên đàng, và uống cạn ly rượu mới trong Nước của Cha mình”. Lúc 2 giờ ông bị dẫn ra khỏi ngục đến với giàn giáo. Ở đó ông rút tờ giấy ra khỏi túi, không còn nhớ mình muốn nói gì. Ông đã đọc hai trang của tờ giấy đó; giống như thể sắp được cất lên trời, ông ngước mắt nhìn lên rồi cầu nguyện: “Lạy Aba, Cha, Xin tiếp lấy tôi tớ khốn khổ nầy của Ngài, để đến với Cha, nhờ những công trạng của Đức Chúa Jêsus Christ”.

Ông bị treo cổ, và đầu ông bị đóng đinh bên cạnh đầu của James Guthrie ở Cảng Netherbow.

 

“Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rôma 5.6-8).

 

11 tháng 10

CHIẾN TRƯỜNG TOURS

                Vào năm 570, Amina sanh một đứa con trai, theo người thuật chuyện ở đông phương, đứa con trai nầy đã ngay lập tức kêu la lúc chào đời: “Chẳng có thần nào khác ngoài Allah, và ta là tiên tri của Ngài”. Đó là Mohammed, “Đấng Được Hứa Cho”, và chính ông là người cung ứng tôn giáo cho dân Ả rập. Những năm tháng theo sau đã nhìn thấy môn đồ của Mohammed nắm ngay lấy hết cuộc chinh phục nầy đến cuộc chinh phục khác cho tới khi vùng Trung đông và Bắc Phi đều ở dưới chân của họ. Khi ấy, họ di chuyển giống như  bầy châu chấu qua Tây ban Nha trước khi leo lên những đỉnh núi Pyrenees ở phía Nam rồi thèm muốn nhìn chăm vào nước Pháp.

Âu châu đã rơi vào Kỷ Nguyên Tối Tăm của nó đúng lúc người Ả rập đang bước vào Kỷ Nguyên Vàng Son của họ; rồi vào đầu thập niên 700, người Hồi giáo đã đe doạ nghiền nát phần còn lại của Đế quốc La mã xưa kia. Khắp châu Âu đều vang dội tiếng kêu la: “Người Ả rập đang đến”. Họ sắp đến, và dường như họ không thể bị chặn đứng được. Trên các đường phố của thành phố Paris, nhiều người nam người nữ đã run sợ; và từ giữa họ ra một Charles ở vùng Franks, con trai của Pepin. Charles Martel, chàng được gọi là Lưỡi Búa Charles.

Charles cho tập trung những người ở vùng Franks cùng một số  liên minh ở vùng đồng bằng giữa Tours và Poitiers. Đội quân nầy không đông lắm – chỉ là đám quân tạp, thô lỗ. Charles bảo họ phải vững vàng, bám lấy đất của mình, phải chịu chết khi cần thiết, làm bất cứ điều gì nhưng không được phá vở hàng ngũ.

Đến ngày 11 tháng 10 năm 732, hai lực lượng đã gặp nhau – hai nền văn hoá, hai ngôn ngữ, hai tín điều, hai nền văn minh đánh nhau vì số phận nền văn minh của Tây phương. Người Hồi giáo tấn công người vùng Franks, gầm gừ đe doạ sấm sét tiếng vó ngựa cùng tiếng la vang trời của họ nghe thấy từ ngàn dặm xa. Những kẻ phòng thủ vẫn ngoan cường. Cuộc tấn công lần thứ nhì nổ ra, nhưng binh sĩ của Charles đứng hiên ngang như phượng hoàng giang xoè đôi cánh xem thường cái chết. Cuộc công kích lần thứ ba thất bại, rồi đến lần thứ tư. Charles phi ngựa giữa người của mình, dõng dạc ban lịnh, lấp kín lại những lỗ hỗng. Trong 5 ngày những lần đột kích đã đến như sóng tràn bờ. Qua đến ngày thứ sáu, quân Ả rập cắt đứt hàng ngũ chỉ để thấy chúng bị bao vây và bị bẫy. Chúng bị mất tinh thần và những kẻ xâm lược còn sống sót đã bỏ trốn.

Bãi chiến trường như tấm thảm trải với xác chết – nhưng châu Âu đã được cứu nhờ vào Cơ đốc giáo.

 

“Vì vậy, hỡi các vua, hãy khôn ngoan; Hỡi các quan xét thế gian, hãy chịu sự dạy dỗ. Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ, và mừng rỡ cách run rẩy. Hãy hôn Con, e Người nổi giận, và các ngươi hư mất trong đường chăng” (Thi thiên 2.10-12a).

 

12 tháng 10

CƠN TÊ BUỐT CỦA CHẤT ĐỘC

                Luca, người đã chốt các biến cố trong Tân Ước vào lịch sử thế giới, đề cập tới Đại đế La mã Claudius trong Công vụ các sứ đồ  11 và 18.

Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus, ra đời một thời gian ngắn trước Đấng Christ, đã trở thành Đại đế La mã vào năm 41 ở tuổi 50. Khi còn là một thanh niên, ông đã chịu khổ vì bịnh liệt, và đôi chân dài, khẳng khiu đã chịu đựng cả thân hình to khoẻ của ông. Đầu ông hay lắc lư khi ông bước đi, ông nói lắp, rồi ông bật cười có từng cơn. Khi giận dữ, miệng sủi bọt và mũi ông thì chảy nước ra.

Nhưng khi ông trở thành Đại đế, ông đã làm kinh ngạc mọi người bằng cách tỏ ra lời hứa. Ông hạ thấp các thứ thuế, mở rộng đế quốc đến nước Anh và xứ Mauritania, và từ chối không chịu cho người ta thờ lạy mình như một vị thần. Có nhiều người đã nhận lấy quyền công dân La mã dưới sự cai trị của ông. Nhiều dịch vụ dân sự được mở mang, hệ thống luật pháp được cải tiến, và công ăn việc làm được tiến triển.

Mọi việc không kết thúc ở đó. Những năm tháng về sau của Claudius bị vẫn đục bởi sự dan díu xằng bậy, phần nhiều về việc nầy đều xoay quanh vợ của ông là Agrippina. Người vợ đầu tiên của Đại đế  đã chết đúng vào ngày cưới của họ. Những người khác đã ly dị hay bị giết. Khi ấy ông đã gặp và đã cưới Agrippina xảo quyệt kia.

Hoàng hậu, 32 tuổi, đã có một mục đích – bảo đảm ngai vàng cho con trai ruột của mình. Để làm việc ấy, bà ta phải giải quyết cả Claudius và con trai ông là Britannicus. Khi bà ta nắm được nhiều quyền hành hơn, bà ta đã mưu sự chết của kẻ thù rồi mở ra một sự trị vì rất kinh khiếp.

Phải tốn mất 5 năm cho Claudius để nhận thức được điều chi đã xảy ra, nhưng đã quá trễ rồi. Đúng ngày 12 tháng 10 năm 54, bà ta cho ông ăn thứ nấm có tẩm với chất độc. Ông ta đã chịu đựng trong 12 giờ đồng hồ trong đau đớn, không thể nói được một lời, trước khi ngã chết. Britannicus chắc chắn cũng đã trúng độc luôn.

Con trai của Agrippina lên ngôi Hoàng đế, Ông ta cảm tạ mẹ mình bằng mưu giết bà ta. Trước tiên, ông tìm cách đầu độc bà ta, nhưng bà ta vốn biết rõ mọi mưu mẹo đó. Kế tiếp, ông tìm cách dìm cho bà ta phải chết đuối, nhưng bà ta lội về an toàn từ chỗ đắm tàu có dự định trước. Sau cùng, ông đã thuê những kẻ ám sát đâm nhiều nhát kiếm vào bụng của bà ta. Sau khi xem xét thi hài lồ lộ ra đó của bà ta, vị hoàng đế trẻ tuổi kia tấm tắt: “Ta không biết mình có một người mẹ đẹp như thế”.

Tên của vị hoàng đế nầy? Nero.

 

“Trong những ngày đó, có mấy người tiên tri từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành An-ti-ốt. Trong bọn có một người tên là A-ga-bút đứng dậy, bởi Đức Thánh Linh nói tiên tri rằng sẽ có sự đói kém trên khắp đất; thật vậy, sự đói kém nầy xảy đến trong đời Cơ-lốt trị vì” (Công vụ các sứ đồ  11.27-28).

13 tháng 10

NHỮNG DI TÍCH

                Những chiến sĩ thập tự chinh thời trung cổ đã trở về từ xứ Palestine và Constantinople, mang theo với họ là một kho “di tích” mới tìm ra – những đồ vật thánh từ Đất Thánh. Hết thảy châu Âu đều xôn xao, giám mục nầy ganh đua với giám mục kia, nhà thờ nầy tranh với nhà thờ kia, để giành lấy và trưng bày các đồ vật thánh đó. Nhiều đại giáo đường thực sự đã trở thành những nhà bảo tàng, và các di tích nầy không lâu sau đó đã trở thành những món đồ đáng kính cho những cuộc hành hương.

Trong nhiều nhà thờ khác nhau, những người đến thờ phượng có thể xem qua những cái ngạnh từ chiếc mão bằng gai, các mãnh vụn từ thập tự giá của Đấng Christ, hay ngón tay mà Thô-ma đã thọt vào sườn của Chúa Jêsus. Nhà thờ xứ Halberstadt giành được miếng bọt biển và cán của nó trên đồi Gôgôtha. Một nhà thờ xứ Saint Omer có được ngọn giáo đã đâm vào sườn của Đấng Cứu Thế. Đại giáo đường xứ Amiens cất giữ cái đầu của Giăng Báptít trong một cái mâm bằng bạc. Ba ngôi nhà thờ khác ở Pháp khoe về thi hài trọn vẹn của Mary Magdelene. Ở các nhà thờ khác tại châu Âu, người ta có thể tham quan bộ râu của Nôê, hòn đá của Gia-cốp, cây gậy của Môi-se, hoặc hòn đá chận cửa mộ của Đấng Christ. Ở chỗ khác là áo xống, ly rượu tiệc thánh hay những lưỡi dao cạo râu của Ngài làm rung động những khách hành hương với đôi mắt mở thật rộng.

Thậm chí cả bao quy đầu của Chúa, cuốn rốn của Ngài, và sửa từ ngực của Mary cũng đã được tìm ra và cho trưng bày. Nhà thờ Thánh Phierơ ở Rome cho trưng bày thi hài của Phierơ và Phaolô, biến nơi nầy thành mục tiêu tối hậu cho khách hành hương Cơ đốc.

Cho nên, chẳng có gì phải ngạc nhiên, bên cạnh đấy, ở Anh quốc vào ngày 13 tháng 10 năm 1247, khi một số “huyết của Đấng Christ” đã về đến tại Luân đôn. Những chiến sĩ thập tự chinh cam đoan về thẩm quyền của huyết ấy, và nó mang những con dấu của các tộc trưởng ở thành Jerusalem và các giám mục của Đất Thánh. Vua Henry III đã kiêng ăn và cầu nguyện suốt cả đêm 12 tháng 10; khi sáng ra ông diễu hành qua các đường phố Luân đôn, cùng đi là các linh mục với bộ giáo phục đầy đủ. Ông giữ lấy những bát chén liên quan tới rượu thánh. Cuộc diễu hành chuyển từ nhà thờ Thánh Phaolô đến điện Westminster, khi ấy Giám Mục xứ Norwich đã giảng một bài quan trọng về tiệc thánh.

Nhưng ông đã làm tốt hơn khi bất chấp di tích và đã rao giảng lẽ thật, ông không rao giảng một điều nào khác hơn lẽ thật trong Êphêsô 1.7: “Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài”.

 

 “Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng, khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài” (Êphêsô 1.7-9).

 

14 tháng 10

CHIẾN DỊCH CỦA BACKUS

                George Whitefield vừa mới hoàn tất việc rao giảng ở Norwich, Connecticut, khi ấy có một thanh niên bước tới bắt tay ông. Issac Backus, kẻ thừa tự một cơ nghiệp đồ sộ của gia đình, đã cảm động rất sâu sắc, và không lâu sau đó ông đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ, đã chịu phép báptêm, rồi trở thành một Mục sư, một nhà mở mang Hội thánh, và là giáo sĩ Báptít. Là nhà truyền đạo cho quê hương, Backus đã thực hiện hơn 900 chuyến du hành trong nước Mỹ thuộc địa, ông đã đi hơn 68.000 dặm đường trên lưng ngựa.

Tuy nhiên, ông là nhân vật rất nổi tiếng là một nhà vô địch của sự tự do tôn giáo. Từ khi khởi sự chức vụ, Backus đã kiên trì đánh trận vì sự tách nhà thờ ra khỏi nhà nước trong xứ Mỹ thuộc địa. Khi ông bước vào chức vụ của mình, một thứ thuế ở Massachusetts ủng hộ “nhà thờ thuộc nhà nước” – Hội thánh Congregational ở New England. Backus đã từ chối không nộp thuế nầy, bị bỏ tù, rồi khi được tha, đã mở ra một chiến dịch không mệt mỏi để bãi bỏ hệ thống nhà thờ thuộc nhà nước.

Vào năm 1774, khi Hội nghị Continental lần đầu tiên nhóm lại ở Philadelphia, Backus có mặt ở đó, đang cố gắng vận động thuyết phục các đại biểu. Đến ngày 14 tháng 10 năm 1774, ông cùng với quí Mục sư thân hữu của mình đã tổ chức một buổi nhóm với các đại biểu Massachusetts đến dự Hội nghị rồi đưa ra thỉnh cầu đòi tự do tôn giáo cách trọn vẹn. Những nhà chính trị đã bực tức. John Adams khẳng định rằng các thứ thuế đã được chọn lọc để ủng hộ Hội thánh Congregational không ảnh hưởng đến sự tự do của các nhóm tôn giáo khác, và ông đã kết thúc buổi nhóm trong bốn giờ đồng hồ  bằng câu nói: “Thưa quí vị, nếu quí vị muốn tìm cách tạo ra một sự thay đổi trong luật lệ ở  Massachusetts liên quan đến tôn giáo, quí vị có thể đang nổ lực làm thay đổi quỹ đạo của mặt trời đấy”.

Backus đã quyết định đẩy lời thỉnh cầu của mình đến John Hancock, rồi ở trước mặt Hội nghị Continental, nhưng John Adams luôn luôn tác động đánh bại mọi nổ lực của ông. Tuy nhiên, các ý tưởng của ông đã bắt rễ, rồi 27 năm sau cái chết của Backus, nhà thờ thuộc nhà nước sau cùng ở Massachusetts đã tách ra khỏi nhà nước. Issac Backus là nhân vật được tin tưởng nhiều hơn bất cứ ai khác trong việc hình thành và công khai tách nhà thờ ra khỏi nhà nước hoàn toàn đắc thắng tại nước Mỹ.

 

“Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta. Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, là Đấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi. Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa” (Công vụ các sứ đồ  5.29b-31a).

 

 

15 tháng 10

ĐỨC CHÚA TRỜI NGÓ XUỐNG

                Phaolô nói: “Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan … chẳng nhiều kẻ quyền thế… Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại” (I Côrinhtô 1.26-27).

Câu chuyện xảy ra trên một chiếc xe bus bên Anh quốc. Gladys Aylward, một cô hầu bàn ít học 28 tuổi, đang đọc về Trung hoa và nhu cần về giáo sĩ ở đó; rồi từ giây phút ấy, Trung hoa trở thành cuộc sống và tình cảm của cô. Cô nộp đơn vào một cơ sở truyền giáo chỉ để bị trả đơn lại. Chán nản với thất vọng, cô quay trở về căn phòng nhỏ của kẻ hầu bàn rồi mở túi xách của mình ra. Trong đấy chỉ có hai đồng xu và quyển Kinh thánh của cô. Cô cầu nguyện: “Lạy Chúa, đây là quyển Kinh thánh của con! Đây là tiền của con! Đây là con!” Gladys bắt đầu dành dụm từng đồng xu một để mua vé tàu sang Trung hoa. Cô biết cô không đủ sức để đi bằng tàu biển, vì vậy cô quyết định đi bằng đường tàu hoả băng ngang châu Âu và Á châu, dù phải đi ngang khu vực chiến tranh rất nguy hiểm trên đường biên giới Mãn châu. Đúng ngày 15 tháng 19 năm 1932, một bữa tiệc nhỏ được tổ chức tại nhà ga đường Liverpool ở Luân đôn để tiễn Gladys Aylward lên đường đi Trung hoa. Chuyến hành trình dựng tóc gáy và gần lấy đi sinh mạng của cô. Nhưng rồi Gladys đã đến được Trung hoa, xuất hiện ở nhà một vị giáo sĩ lớn tuổi hơn, ông đã mời cô vào nhà – nhưng hoàn toàn không biết phải làm gì với cô.

Thế rồi – xin thu ngắn câu chuyện lại – Gladys Aylward hiển nhiên trở thành một trong những nữ giáo sĩ độc thân gây nhiều kinh ngạc nhất trong lịch sử hiện đại. Sự nghiệp truyền giáo của cô phi thường đến nỗi thế giới phải chú ý đến vào lúc sau cùng. Truyện ký của cô đã được chuyển thành phim do ngôi sao điện ảnh Ingrid Bergman đóng. Cô dùng bữa tối với những nhân vật đáng tôn trọng như Nữ hoàng Elizabeth và đã giảng luận trong nhiều nhà thờ lớn. Thậm chí cô đã trở thành một đề tài cho vô tuyền truyền hình: “Đây là cuộc sống của bạn”.

Nhưng Gladys không hề quen thuộc với ánh đèn sân khấu, vì trái tim cô luôn luôn đặt vào Á châu. Cô từng nói: “Tôi không phải là sự chọn lựa đầu tay của Đức Chúa Trời cho những gì đã được làm ra tại Trung hoa. Có ai đó … tôi chẳng biết đó là ai – sự chọn lựa đầu tay của Đức Chúa Trời. Tôi không biết điều gì đã xảy ra. Có lẽ ông ấy đã chết. Có lẽ ông ấy không sẵn lòng. Còn Đức Chúa Trời Ngài ngó xuống … và đã nhìn thấy Gladys Aylward”.

 

“Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh” (I Côrinhtô 1.26-27).

 

16 tháng 10

NGỌN ĐÈN LATIMER

                Thật là sai lầm khi đóng đinh Công cuộc cải chánh ở Anh quốc chỉ trên cánh cửa của Vua Henry VIII. Trong khi Henry phá vỡ mối giao hảo với Rome, ông vẫn tin theo giáo lý Công giáo. Ông chỉ muốn Thiên Chúa giáo với việc không có Giáo Hoàng mà thôi. Cuộc cải chánh thực sự ở nước Anh được gắn cho một học giả ở Trường đại học Cambridge có tên là Thomas Bilney, ông đã vòng tay ôm lấy lẽ thật của cuộc cải chánh sau khi đọc quyển Tân Ước tiếng Hy lạp của Erasmus. Bilney nhóm lại với một nhóm tại quán White House chuyên nghiên cứu Kinh thánh và cầu nguyện cách bí mật. Thế rồi ông đã bị phát hiện, rồi bị thiêu trong ngọn lửa tại Norwich vào ngày 19 tháng 8 năm 1531 – nhưng chưa tạo ảnh hưởng bằng Hugh Latimer, một gã khỗng lồ thuộc linh ai cũng biết với biệt hiệu là: “Vị Sứ Đồ cho Anh quốc”.

Latimer đã chống đối cuộc cải chánh cách cay đắng; nhưng Bilney, sau khi nghe ông giảng một bài rất gay gắt tại Cambridge chống lại thuyết Luther, đã tìm gặp và đã thành công trong việc thuyết phục ông. Không lâu sau đó, Latimer đã rao giảng thứ đức tin mà ông đã từng miệt mài lo hủy diệt. Kết quả là, ông không còn được ưu đãi trong suốt sự trị vì của Henry và đã tốn thời gian bị nhốt trong tháp Luân đôn. Khi Edward VI lên ngôi, Latimer được thả ra để thi hành chức vụ; nhưng khi Edward băng hà, Latimer lại có mặt giữa vòng những kẻ bị bắt rồi bị các quan chức của Nữ Hoàng Mary kết án. Đúng ngày 16 tháng 10 năm 1555 ông và Nicholas Ridley bị trói đâu lưng lại với nhau trên giàn hoả ở Oxford rồi bị đốt bằng lửa. Latimer nói: “Ông Ridley ơi, cứ vững lòng. Hãy chặt dạ! Ngày nay chúng ta sẽ cháy như một ngọn đuốc, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, trong nước Anh, tôi tin rằng ngọn lửa nầy sẽ chẳng hề tắt đâu!”

Rồi ngọn lửa dâng cao lên, khói toả mịt mù

                Không làm cho Hugh Latimer phải nghẹn lời

                Vì, ông nói: “Anh Ridley ơi, hãy cứ vững lòng

                Một ngọn đèn trong nước Anh vừa được nhóm lên ở đây

                Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, đèn ấy sẽ không tắt” –

                Và lời nói thì thầm ấy đã vang dội khắp mọi nơi

                Ngọn đèn Latimer không bao giờ tắt

                Dầu nhiều ngọn gió vẫn cứ thổi

                Ngọn đèn Latimer vẫn y nguyên

                Cho tới chừng đắc thắng trong ngày phán xét

 

“Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng” (Hêbơrơ 12.3).

 

17 tháng 10

NGÔI MỘ CỦA VỊ GIÁM MỤC

                Khi sứ đồ Giăng gọi độc giả là “con cái ta”, có lẽ ông in trong trí môn đồ của mình là Ignatius, một thanh niên mà tên của người không xuất hiện trong Tân Ước, nhưng là người rất nổi bật trong lịch sử Hội thánh đầu tiên. Khoảng năm 69, Ignatius đã trở thành Giám mục thứ ba của Hội thánh tại thành An-ti-ốt (ở đây các môn đồ đầu tiên của Chúa được gọi là “Cơ đốc nhân” – Công vụ các sứ đồ  11.26), và ông trở thành người đầu tiên sử dụng cụm từ “Cơ đốc giáo” và “Thiên Chúa giáo”.

Chúng ta biết rất ít về chức vụ của ông, nhưng ông đã trung tín hầu việc Chúa tại thành An-ti-ốt 40 năm trời. Khi sự bắt bớ dậy lên, Ignatius đã bị bắt, bị xiềng lại, và được giao cho 10 tên lính, chúng đã đối đãi với ông giống như thể chúng là “bầy báo” vậy. Câu chuyện nói tới chuyến giao tù phạm đến Rome của ông đọc giống như nó sao y từ những trang Tân Ước.

Chuyến đi trên đường của nó qua ngã đường bộ rồi bằng đường hàng hải, theo những dấu chơn của Phaolô. Khi họ đi ngang qua Si-miệc-nơ, Êphêsô, Philíp, và Têsalônica, các Cơ đốc nhân đã tụ tập lại để cầu xin ông chúc phước cho. Dọc đường đi, Ignatius đã viết 7 bức thư, các thư từ nầy đã đứng chung hàng với những tài liệu nổi tiếng nhất trong lịch sử Hội thánh. Trong bức thư ông gửi cho thành Rôma, dự tính đến trước chuyến đi của ông, Ignatius nài xin các anh em ở đó tránh đừng sử dụng những thế lực chính trị hòng ngăn trở sự tuận đạo mà ông vốn mong đợi. Ông viết: “Anh em không thể làm cho tôi một ơn lớn lao hơn, hãy để tôi được đổ ra như một của lễ cho Đức Chúa Trời đang khi bàn thờ đã sẵn sàng rồi”. Không muốn quấy rầy họ với việc chôn cất mình, ông ao ước được thiêu trọn vẹn bên những con thú ngoài đấu trường. Ông viết: “Hãy nhữ mấy con thú làm nấm mồ cho tôi, để chúng đừng chừa lại một thứ gì trong thân thể của tôi cả”.              

                Và những lời cầu nguyện của ông đã được nhậm. Ông đã chịu chết, đúng vào ngày 17 tháng 10 năm 108, dưới những hàm răng của bầy sư tử hay bầy cọp làm phương tiện giải trí cho Đại đế Trajan. Nhưng ảnh hưởng của ông không chết. Một ngàn bốn trăm năm sau, một tên lính Tây ban Nha đã cảm động bởi việc đọc câu chuyện của Ignatius đến nỗi anh ta đã dâng đời sống mình cho Đức Chúa Trời và đã đổi tên mình là Loyola thành Ignatius.

 

“Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình. Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (I Giăng 2.1-2).

 

18 tháng 10

ĐẾN TRƯỚC MÙA ĐÔNG

                Hệ phái Trưởng Lão của xứ Tô cách Lan đã trải những cái bóng thật dài. Catherine Robertson lớn lên trong xứ Tô cách Lan, ở đấy cha cô làm chủ một xưởng bông vải lớn nhất trên thế giới. Cô là Cơ đốc nhân rất tinh tế, giàu có, nhiệt thành và là một tín đồ mạnh mẽ của hệ phái Trưởng lão. Cô lấy chồng là một giáo sư-truyền đạo, và cả hai bắt đầu chức vụ ở vùng nông thôn Ohio. Họ có 7 người con, và người con út – Clarence Edward Noble Macartney – đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo lỗi lạc nhất của hệ phái Trưởng lão vào thế kỷ thứ 20.

Clarence rất xuất sắc trong cả hai bộ môn: nghiên cứu và tranh luận, nhưng ông đã vật vã với nghi ngờ và chịu khổ với tính nhút nhát. Ông được thâu nạp vào Thần học viện Princeton, rồi học hỏi nơi Archibald Hodge và B. B. Warfield. Trong sự nghiệp nổi bật và lâu dài của ông, Clarence đã làm Mục sư chủ toạ ba nhà thờ ở Pennsylvania. Trung bình ông nghiên cứu 6 giờ một ngày và, như một môn giải trí, đã viết nhiều sách vỡ và đã phân phát nhiều bài giảng trong Đệ II Thế Chiến. Ông là một người sống độc thân trọn đời.          

Năm 1924, ông được phong danh hiệu Tổng hội trưởng của Hội thánh Trưỡng Lão tại nước Mỹ. Ông được mô tả là đáng trọng, có tài hùng biện, tách biệt, giống như Napoleon. Ông đã viết 57 quyển sách và là một người ôn hoà đáng tin cậy. Đối với những kẻ chối bỏ uy quyền của Kinh thánh, ông nỗi giận: “Một quyển Kinh thánh bị xem thường kết quả trong một tin lành bị mất chất. Phong trào Tin Lành, khi nó mất niềm tin vào Kinh thánh, là mất đi tôn giáo của nó”. Ông nói, chúng ta có thể dùng cà phê đã được lọc hết chất cafêin, và hút thuốc lá không có chất nicôtin, nhưng chúng ta không thể có Cơ đốc giáo bị biến chất Cơ đốc được.

Toà giảng là ngôi của ông, và ông đã giảng những bài giảng đã được trau chuốt mà không cần phải chú thích. Sứ điệp hay nhất của ông mà ai cũng biết, đã được lặp đi lặp lại nhiều lần khắp trong xứ, là một bài giảng truyền giáo có đề tựa là: “Hãy đến trước mùa đông”, rút ra từ II Timôthê 4.21 và được giảng lần đầu tiên tại Philadelphia vào ngày 18 tháng 10 năm 1915. Bài giảng ấy nhấn mạnh nhu cần phải tiếp nhận Đấng Christ ngay lúc bây giờ, chớ không phải sau nầy: “Đức Thánh Linh, khi Ngài mời người ta đến với Đấng Christ, không bao giờ nói: “Ngày mai” mà luôn luôn nói “hôm nay”. Nếu bạn có thể tìm cho tôi trong Kinh thánh chỗ nào Đức Thánh Linh nói: “Ngày mai hãy tin theo Đấng Christ” hay “Hãy ăn năn và được cứu vào ngày mai” tôi sẽ bước ra khỏi toà giảng và không bước lên đó nữa – vì tôi sẽ không có Tin Lành để rao giảng”.

 

“xin anh em chớ chịu ơn Đức Chúa Trời luống không. Vì Ngài phán rằng: Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!” (II Côrinhtô 6.1b-2).

 

19 tháng 10

MỘT HỘP DAO MỔ

Charles Spurgeon từng nói với các học trò của mình: “Nhiều đợt ngã lòng phủ đến trên hầu hết chúng ta. Người mạnh mẽ không luôn luôn cường tráng, kẻ vui mừng không luôn luôn sung sướng đâu”. Bản thân Spurgeon là một minh chứng sống, vì ông thường chịu đựng nhiều lúc đau thương thống khổ lắm. Một trong những lần tệ hại nhất đã diễn ra khi ông chỉ mới 22 tuổi. Hội chúng của ông đã lớn nhanh hơn ngôi nhà thờ của họ, vì vậy Spurgeon đã sắp đặt hầu thuê  Sảnh đường Âm nhạc của Royal Surrey Garden, là toà nhà rộng lớn và xinh đẹp nhất của Luân đôn, cho các buổi thờ phượng tối Chúa nhựt. Sảnh đường Surrey thường được sử dụng để tổ chức những buổi hoà nhạc, các buổi hội hè, và những gánh xiếc. Khi sử dụng nó làm một nơi thờ phượng là không nghe được trong thời buổi ấy, và các tin tức đã lan đi khắp Luân đôn giống như tia chớp vậy.

Vào sáng Chúa nhựt ngày 19 tháng 10 năm 1856, Spurgeon đã rao giảng tại Giảng đường New Park, ông nói: “Tôi đã được kêu gọi để đứng ở những nơi các đám mây dông thổi đến, nơi có những tia sét, cùng những ngọn gió dữ gào thét trên đỉnh núi. Phải, ở giữa những hiểm nguy, Ngài sẽ cảm thúc tôi với lòng dạn dĩ; giữa những mệt nhọc vất vả Ngài sẽ khiến tôi nên mạnh mẽ; chúng ta sẽ nhóm lại tối nay ở nơi mà nhiều người sẽ tập trung lại, có lẽ từ sự tò mò vu vơ, để nghe Lời của Đức Chúa Trời; để nhìn thấy những gì Đức Chúa Trời có thể làm, khi một đám mây đang vần vũ trên đầu của kẻ mà Đức Chúa Trời đã dấy lên đặng giảng Tin lành cho quí vị…”

Buổi tối hôm ấy, có tới 12.000 người như dòng thác đổ vào Surrey Hall và thêm 10.000 người nữa tràn đến từ những khu vườn lân cận đó. Buổi thờ phượng bắt đầu, nhưng khi Spurgeon đứng lên cầu nguyện, có một người hô to lên: “Lửa! Lửa! Phòng trưng bày đã cháy rồi!” Chẳng có một ngọn lửa nào hết, nhưng đám đông đã bỏ chạy trong hoảng loạn, và kết quả của sự xô đẩy ấy có 7 người đã bị đạp cho đến chết. Hai mươi tám người phải nhập viện.

Nhà truyền đạo trẻ khi ấy đã rối như tơ, ngã lòng, được khiêng ra khỏi toà giảng đến nhà một người bạn, ở đó ông đã ẩn dật trong nhiều tuần lễ. Ông đã khóc lóc lúc ban ngày và chịu nhiều giấc chiêm bao khủng khiếp lúc ban đêm. Về sau ông nói: “Tư tưởng của tôi hết thảy giống như cái hộp đựng dao mổ vậy, chúng cắt tấm lòng tôi ra thành nhiều mãnh”. Sau cùng, khi suy gẫm thơ Philíp 2.10, Lời của Chúa bắt đầu phục hồi lại linh hồn ông.

Chính tai vạ nầy, khủng khiếp thực sự khi nó xảy ra, đã cuốn thành mái vòm đưa Charles Spurgeon qua đêm đã nổi tiếng là một nhà truyền đạo mà cả thế gian đều muốn nghe.

 

“hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống,  và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Philíp 2.10-11).

 

20 tháng 10

BỞI LẰN ROI NGÀI

                Peter Damian đã qua đời vào ngày 23 tháng 2 năm 1072, nhưng không trước lúc bắt đầu một trong những chuyện dở hơi kỳ cục nhất trong lịch sử Cơ đốc. Damian, một thầy tu dòng Benedictine, đã bào chữa cho một đời sống khổ hạnh cực kỳ. Trong khi chối bỏ những khoái lạc đời nầy, ông thấy quất roi vào thân mình là một điều rất hữu ích, và ông đã dạy cách thực hành cho nhiều người khác. Nhiều thầy tu bắt đầu tự quất roi vào mình khi đọc thuộc lòng các Thi thiên. Mỗi Thi thiên kèm theo với 100 lần quất roi với một dây da đánh vào lưng để trần. Cả sách Thi thiên đủ cho 1.500 lằn roi. Nó thực thi lại sự thương khó của Đấng Christ và của những người đã tuận đạo, họ nghĩ như thế, và đã góp phần như một hành động ăn năn, sám hối. Một số thầy tu đã tự quất thật mạnh cho đến chết vì ích riêng của họ và để giải thoát linh hồn khỏi cảnh khổ.

Tự hình phạt bằng roi còn giữ lại ở những khu vực riêng biệt và giới hạn trong những chủng viện khoảng hai trăm năm, nhưng vào thế kỷ thứ 13, việc nầy bùng lên trong quần chúng. Cái Chết Đen khiến cho nhiều người tin sự cuối cùng của thế giới đã đến gần, và nhiều nhóm tự hành xác mình đã xuất hiện trên khắp châu Âu kêu gọi người ta hãy ăn năn. Trong lần bùng nổ vào năm 1259, nhiều đoàn đông cả ngàn người từ mọi giai cấp, mọi lứa tuổi đã diễu hành qua các đường phố quất roi vào hông của họ, mang  lấy những cây thập tự và biểu ngữ, hát những bài thánh ca và quất roi vào mình.

Phong trào tự quất roi vào mình nhóm lên nhiều lần trong hai thế kỷ sau đó, và sự điên cuồng của năm 1349 thể hiện tất cả những cảnh tượng quá độ ấy. Nhiều nhóm cuồng tín thình lình xuất hiện ở nhiều khu vực khắp Âu châu. Họ diễu hành từ thị trấn nầy sang thị trấn khác, ăn mặc toàn trắng, với thập tự giá màu đỏ trên nón và áo choàng, hát lên những bài thánh ca và mang nhiều biểu ngữ. Họ cắm trại ở những quảng trưởng công cộng, rồi cứ hai lần một ngày họ cởi trần cho đến hông, quì gối xuống rồi quất roi vào mình. Họ quất roi bịt sắt nhọn rướm máu trong khi họ chơi các giai điệu của những bài thánh ca.

Vào ngày 20 tháng 10 năm 1349, tự quất roi vào mình bị xét đoán bởi một sắc lịnh của Giáo Hoàng, và đúng như thế. Chúng ta không bao giờ trả giá cho tội lỗi của mình bằng chính huyết của mình, đã đổ ra cách đau đớn cho được. Bởi lằn roi Ngài chúng ta được lành bịnh. Thân thể của chúng ta là đền thờ của Ngài phải được coi sóc, chớ không được ngược đãi.

Tự hành xác bằng cách quất roi còn được thấy ở Rome vào cuối năm 1870, thậm chí đến ngày hôm nay vẫn còn bộc phát ở một số nơi.

 

“Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Êsai 53.5-6).

 

21 tháng 10

LẠY CHÚA, CON THUỘC VỀ NGÀI

James Hannington lớn lên bình yên đủ gần Brighton, Anh quốc, làm việc trong phòng tài vụ của cha ông. Nhưng rồi ông đã bước vào chức vụ và dâng mình cho Hội Truyền Giáo. Chuyến đi đầu tiên của ông qua châu Phi bị bịnh tật ngăn trở. Sau khi hồi phục, ông thực hiện ra đi lần nữa và đã đến tại bờ biển châu Phi vào ngày 23 tháng 7 năm 1884. Ông đi sâu vào đất liền xứ Uganda, nhưng ông đã cố ý chọn con đường nguy hiểm nhất khó tưởng tượng được. Những đồng hương đã sai người đuổi theo ông, nhưng họ đến quá trễ. Hannington đã bị những chiến binh của bộ tộc Mwanga bắt, bộ tộc nầy chẳng có luật lệ chi hết. Quyển nhật ký nhỏ của ông, viết đầy trong đó những hàng chữ chi chít, trong đó có đoạn viết như sau:

Ngày 21 tháng 10 năm 1885. Khoảng 20 tên vô lại ụp đến trên chúng tôi. Chúng thô bạo đẩy tôi ngã xuống đất. Hai lần tôi sắp thoát khỏi chúng, rồi bị ngất đi do cố sức và lết hai chân trên mặt đất, quần áo tôi bị rách ra thành nhiều mảnh, ướt đẩm hết, rã rời tứ chi, chỉ mong có chết.

Ngày 22 tháng 10. Trong một ngôi nhà gỗ cở vừa, không có hệ thống thông gió nào cả, sàn nhà đầy những vỏ chuối, lá cây mục nát, cùng chấy rận. Hoảng hốt sợ hãi, chỉ còn sức cầm lấy quyển Kinh thánh nhỏ. Liệu tôi sẽ sống nhờ nó chăng? Lạy Đức Chúa Trời của con, con thuộc về Ngài.

Ngày 23 tháng 10. Tôi thức giấc đầy sự đau đớn và yếu đuối lắm rồi. Tôi không thấy được là mình sẽ không đứng dậy nổi nữa, tuy vậy, tôi quyết không chịu thua.

Ngày 27 tháng 10. Tôi yếu lắm; bầu trời thì đen kịt. Tôi không biết phải nghĩ tới điều gì, và chỉ biết thổn thức trong lòng: “Nguyện Chúa làm điều chi đẹp lòng Ngài”.

Ngày 28 tháng 10. Một buổi tối thật khủng khiếp, trước tiên với kẻ gát say rượu và thứ hai, với muỗi mòng, chúng đã tìm được nơi ở của tôi và lao tới. Tôi không nghĩ mình sẽ ngủ được một tiếng đồng hồ, và thức dậy với cơn sốt càng lúc càng tăng nhanh. Ôi lạy Chúa, xin thương xót con và giải phóng con. Tôi hoàn toàn sụp đổ và yếu dần đi. Rất được yên ủi khi đọc Thi thiên 27.

Ngày 29 tháng 10. Tôi được nâng đỡ bởi Thi thiên 30, Thi thiên nầy đến với tôi bằng một sức lực rất lớn. Một con chó sói rú lên gần tôi trong đêm đó, nó ngửi thấy một người đang nhiễm bịnh, nhưng tôi mong nó sẽ không ăn thịt tôi.

Đây là lần ghi chép cuối cùng của ông. Họ đã giết ông trong ngày ấy.

 

“Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai? Khi kẻ làm ác, kẻ cừu địch và thù nghịch tôi, xông vào tôi, đặng ăn nuốt thịt tôi, thì chúng nó đều vấp ngã. Dầu một đạo binh đóng đối cùng tôi, lòng tôi sẽ chẳng sợ; Dầu giặc giã dấy nghịch cùng tôi, khi ấy tôi cũng có lòng tin cậy vững bền” (Thi thiên 27.1-3).

 

22 tháng 10

THẤT VỌNG

                Các Hội thánh vùng Đông Bắc Mỹ đã lớn lên cách nhanh chóng vào đầu thập niên 1800, bùng lên bởi hết phấn hưng nầy đến cơn phấn hưng khác. Các tân tín hữu có ít vốn về thần học, tuy nhiên nhiều người trong số họ đã bắt đầu bàn tới các chi tiết lời tiên tri trong Kinh thánh với sự hăng hái rất lớn. Sự nghiên cứu sôi sụt lên về ngày và năm mà Đấng Christ sẽ tái lâm, rồi giữa những nhà nghiên cứu đó là William Miller ở Nữu Ước.

Miller, khi mới trở lại đạo, đã chú vào những lời tiên tri của Đaniên, kết luận vào năm 1818 rằng Đấng Christ sẽ tái lâm vào năm 1843 hay 1844. Về sau khi ông bắt đầu rao giảng, điều nầy trở thành đề tài chính cho các sứ điệp của ông, và khán thính giả của ông, họ nhìn thấy ông sốt sắng nhất, hùng biện nhất, và thành thực nhất, đã thêm lên rất nhiều. Sau cùng, ông tuyên bố rằng Đấng Christ sẽ tái lâm trên đất vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

Khủng hoảng về tài chính năm 1839 góp phần vào niềm tin cho rằng  kỳ tận thế của thế gian đã đến gần. Hình thái sốt sắng về sự tái lâm của Đấng Christ trở nên qua trọng đến nỗi các biểu đồ tiên tri được đính kèm theo với danh sách thị trường chứng khoán cùng những biến cố đương thời trên báo chí. Những sự dạy của Miller đã quét qua New England, và nhiều người đã chạy theo Phong trào Miller.

Vào bình minh sáng ngày 22 tháng 10 năm 1844,  một ý thức về sự sợ hãi và điềm gỡ quét qua New England. Dân chúng nhóm lại trên nhiều đỉnh núi và trong các nhà thờ. Các sinh hoạt đời thường ngưng trệ khi ai nấy chờ đợi bầu trời thình lình mở ra và sự cuối cùng của thế giới. Khi ngày giờ trôi mau mà chẳng có việc gì xảy ra, nhiều Cơ đốc nhân vỡ mộng. Người chưa được cứu nhạo báng và giễu cợt. Nhiều năm sau đó, có sự sa sút rất lớn trong việc trở lại đạo, và thời điểm có những cơn phấn hưng đi tới chỗ kết thúc vội vã. Ai cũng biết sự cố ấy là: “Thất Vọng Vô Cùng”.

Tuy nhiên, một số môn đồ của Miller, vẫn cứ một mực tiến tới, và mọi nổ lực của họ đã mở ra phong trào Cơ đốc Phục lâm (The Seven Day Adventist).

 

“Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi. Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, — và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, —khi Con người đến cũng như vậy” (Mathiơ 24.36-39).

23 tháng 10

QUYỂN KINH THÁNH VÔ GIÁ

Giữa vòng tài sản quan trọng nhất của Cơ đốc giáo là quyển Codex Alexandrinus, một bản thảo Kinh thánh Hy lạp được viết ra vào đầu thập niên năm 400. Quyển sách gần như có trọn bộ Kinh thánh, cùng với bản kinh ngụy tác (Apocrypha), một số bản thánh ca, cùng những thư tín do Clement ở Rome viết.

Bản thảo nầy được lưu trữ ở Alexandria cho tới năm 1627, khi Cyril Lucar, tộc trưởng của xứ Alexandria, đem trình cho Vua Charles I của Anh quốc, là người đã đem đặt bản thảo nầy vào Thư viện Hoàng gia của mình tại Cung điện Saint John. Nhưng khi cuộc cách mạng Thanh giáo nổi lên, Charles bị chém đầu, và ngự lâm quân bị phanh thây tại cung điện Saint John. Các sách vỡ trong thư viện của ông bị chất thành nhiều đống trên sàn nhà, làm mồi cho mưa gió, bụi bặm và chuột bọ.

Chế độ quân chủ được phục hồi vào năm 1660 dưới quyền Charles II, nhưng mọi điều kiện tại Thư viện Hoàng gia không được cải thiện. Vào năm 1693, Richard Bentley, một học giả sáng chói, tạm thời giữ an toàn bản thảo Alexandrinus ở nơi trú ngụ của ông.

Vào đầu thập niên 1700, Thư viện Hoàng gia được di dời về Điện Cotton, và quyển Kinh thánh vô giá được giữ trong một căn phòng hẹp, ẩm thấp với mỗi bên có một cánh cửa sổ nhỏ. Christopher Wren nhận thấy ngôi nhà hư hại đến nỗi gần như “sắp sập đến nơi”, và thư viện “cần phải được dọn dẹp cho sạch sẽ”. Năm 1730, Thư viện Hoàng gia được dời vào Điện Ashburnham, vào sáng Chúa nhựt ngày 23 tháng 10 năm 1731, đã bốc cháy. Tiếng chuông báo động vang lên, và Arthur Onslow, Diễn giả của Điện Commons, chạy đến từ chỗ ở của ông gần đó để cứu hoả. Nhiều bộ sách quí được ném ra các khung cửa sổ với nổ lực giải cứu chúng, còn bản thảo Codex Alexandrinus vô giá trị kia đã được đối xử với sự quan tâm tốt hơn nhiều. Một nhân chứng đã thuật lại về Tấn sĩ Bentley: “trong chiếc áo ngủ và mái tóc giả thật to” đã lao ra khỏi toà nhà với bản thảo Codex Alexandrinus cặp dưới nách.

Ngọn lửa tai hoạ đã kéo sự chú ý của công chúng vào cảnh ngộ của Thư viện Hoàng gia, và sau đó một thế hệ, thư viện nầy có được một ngôi nhà trong Viện bảo tàng Anh quốc, ngày nay ở đó bản thảo Codex Alexandrinus được trưng bày thật an toàn.

 

“Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông” (Luca 1.1-3).

 

24 tháng 10

NƯỚC SỐNG

                Cuộc đời của John Paton được nắn đúc bởi thời thơ ấu của ông trong một ngôi làng nhỏ quê mùa ở Kirkmahoe, xứ Tô cách Lan. Ngôi làng nhà quê ấy có nhiều cây sồi, các bức tường bằng đá, một mái nhà tranh, và căn phòng chứa tới 11 đứa trẻ. Căn phòng mặt tiền vừa là phòng ngủ, vừa là căn bếp, và cũng là phòng tiếp khách. Căn phòng mặt sau là kho chứa đồ của cha ông. Căn phòng chính giữa là buồng nhỏ, cha ông lui vào đó mỗi ngày để cầu nguyện và nghiên cứu Kinh thánh. Âm thanh của những lời cầu nguyện xuyên qua các bức tường đã tạo thành ấn tượng rất có quyền lực trên chàng John nầy.

Nhiều năm về sau, khi Hội thánh cải chánh của xứ Tô cách Lan phát ra lời kêu gọi cần nhiều giáo sĩ cho vùng Nam Thái Bình Dương, John đến gặp bố mẹ mình tìm kiếm một lời khuyên. Họ nói cho ông biết một điều mà họ chưa hề tỏ ra trước đó – ông đã được dâng cho công cuộc truyền giáo hải ngoại trước khi ra đời.

John dong buồm từ Tô cách Lan vào ngày 16 tháng 4 năm 1858, cặp vào các hòn đảo vào tháng 11. Ông thấy mình đang ở giữa những kẻ chuyên ăn thịt người và cứ bị nguy hiểm luôn. Ông ghi lại trong một trường hợp: “Họ vây quanh chúng tôi thành một vòng tròn chết chóc và họ thúc nhau đưa ra cú đánh đầu tiên. Lòng tôi chỗi dậy với Chúa Jêsus; tôi nom thấy Ngài đang quan sát mọi sự. Sự bình an của tôi quay trở lại giống như cơn sóng đến từ Đức Chúa Trời. Tôi nhìn biết rằng cuộc đời của tôi là bất tử cho đến khi nào công việc của Chúa với tôi đã được làm xong”.

Điểm xoay chiều đến khi Paton quyết định đào một cái giếng để cung ứng nước uống cho dân chúng ở đó. Những người dân trên đảo đứng quan sát với ước đoán sâu sắc lắm, họ lấy làm khủng khiếp khi thấy ông đem “mưa từ dưới đất” lên. Paton cứ đào, càng lúc càng sâu cho tới khi sau cùng ở độ sâu 30 feet, ông đụng được mạch của dòng nước. Sự chống nghịch đối với công tác truyền giáo của ông đã ngưng lại, và những người dân trên đảo tròn xoe đôi mắt kia đã dành cho ông sự kính trọng hết lòng của họ. Tù trưởng Mamokei đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa, kế đó là một vài người nữa đã bước tới. Vào ngày 24 tháng 10 năm 1869, gần 11 năm sau thời điểm ông đến đó, Paton đã hướng dẫn buổi thờ phượng thông công lần đầu tiên của mình. Mười hai kẻ chuyên ăn thịt người đã trở lại đạo, họ dự Tiệc Thánh. Ông viết: “Khi tôi đặt bánh và rượu vào những bàn tay từng nhuộm máu của học thuyết ăn thịt người, giờ đây đã xoè ra để nhận lấy và dự phần vào những biểu tượng tình yêu của Đấng Cứu Chuộc. Tôi đã có một tiên vị về niềm vui của sự vinh hiển gần làm cho tấm lòng tôi tan ra thành nhiều mãnh”.

 

“Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến” (I Côrinhtô 11.26).

 

25 tháng 10

GIÁO HỘI NGHỊ ÊPHÊSÔ

Cơ đốc chính thống giáo dạy rằng Đức Chúa Jêsus Christ là một con người, có cả nhân tính và thần tính. Nestorius, một nhà truyền đạo đầy năng quyền vào thế kỷ thứ 5, đã không đồng ý. Hai thân vị riêng biệt ở trong Đấng Christ hoá thân thành nhục thể, ông đã dạy như thế, một thiêng liêng và một đời thường. Ông nói: “Tôi phân biệt hai bổn tánh, nhưng tôi kết hợp sự thờ phượng. Hãy xem xét điều tôi nói. Người được hình thành trong lòng Mary không phải là chính mình Đức Chúa Trời, mà là Đức Chúa Trời đang thừa nhận mình”.

Một cuộc tranh cãi kịch liệt đã nổ ra. Nestorius, một diễn giả được lòng người, được phong làm tộc trưởng xứ Constantinople bởi Hoàng đế Theodosius II. Nhiều nhà truyền đạo, các thầy tu, và những giám mục đã đứng trên toà giảng của họ mà chống lại ông. Giáo Hoàng xét đoán ông trong một loạt 12 điều anathem (chữ anathem có nghĩa là “đáng ruả sả”) rồi đòi ông phải rút lại ý kiến trong vòng 12 ngày.

Hoàng đế Theodosius, bị choáng váng bởi cuộc chiến về thần học đang xé nát đế quốc của ông, đã triệu tập một giáo hội nghị tại thành Êphêsô vào năm 431. Từ lúc đầu, hội nghị rất sôi nổi và rất đau lòng. Nestorius đến với 16 giám mục, một lực lượng hộ tống có vũ trang, và sự ủng hộ của hoàng đế. Nhưng đa số đã lấn áp ông, và bản án đã được phát ra chống nghịch ông: “Ai không rủa sả Nestorius, người đó sẽ bị rủa sả; đức tin chơn thật ruả sả hắn; giáo hội nghị thánh rủa sả hắn. Ai tương thông với Nestorius, người đó sẽ bị rủa sả. Hết thảy chúng ta ruả sả thư tín và đạo lý của Nestorius. Hết thảy chúng ta rủa sả Nestorius cùng những kẻ theo hắn và đạo lý bất kỉnh của hắn”.

Nhưng Hoàng đế Theodosius phát ra chiếu chỉ không tán thành vì tất cả những giám mục không có mặt đủ tại thành Êphêsô. Nhiều nhà chính trị, vận động ngầm, và lo sợ nối theo sau; nhưng cuối cùng kết quả vẫn y nguyên. Nestorius bị truất phế không còn là tộc trưởng của Constantinople nữa, và vào ngày 25 tháng 10 năm 431, người kế tục ông đã được đề nghị. Nestorius bị trục xuất sang Ai cập, ông đã qua đời ở đó sau khi viết xong quyển hồi ký và đặt đề tựa cho nó là Tai Vạ.

Giáo hội nghị Êphêsô là một trong những giáo hội nghị cay đắng nhất trong lịch sử Hội thánh, nhưng nó bảo tồn lẽ đạo chính thống nói về Đấng Christ. Tuy nhiên, một nhóm nhỏ các giám mục đông phương đã từ chối không chấp nhận các quyết định của nó, đã tự thiết lập họ thành một Giáo hội phân biệt, tập trung ở Persia. Số người sót lại của Giáo hội Nestorius còn lại cho tới ngày nay ở Tây và Trung Á.                                       

“về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rôma 1.3-4).

26 tháng 10

NGƯỜI CÓ SỨC LÔI CUỐN

Thomas More là người khó mà không ưa được. Học giả người Ý Niccolo Sagundino viết: “Tôi thường đến nghĩ trong chỗ nhóm bạn của ông hay tụ tập như một người đến ngụ ở một nơi rất xinh đẹp. Khi tôi  đến gặp, ông luôn luôn cho tôi biết nhiều việc và tôi thấy mình hay muốn gặp ông ấy đến thế. Bạn không thể hình dung được đâu. Tôi dám chắc với bạn đấy, một người rất dễ thương, lôi cuốn, và rất vui vẻ. Sự tao nhã tuyệt vời của ông ấy trong vai trò một nhà văn, sự chọn lọc lời nói và những câu văn rất hay nói chung rất đáng ngưỡng mộ, nhưng tâm trí của ông cũng sắc bén như thế đấy, nó được gọt dũa bởi tính thẳng thắn, biết hài hước, dí dỏm, và rất nhã nhặn”.

Dean Swift nghĩ More là nhân vật hấp dẫn quan trọng nhất “mà vương quốc nầy từng có”. Erasmus đồng ý như vậy. Ông mô tả More là một người chồng chung thủy, lúc nào cũng thấy vui vẻ, nụ cười gần như luôn nở ra, một nhà hùng biện có sức thuyết phục cao, một con người rất lanh lợi. Erasmus cho biết: “Nói ngắn gọn, Thiên Nhiên đã từng tạo ra một thiên tài rất hoà nhã, dịu dàng, và hạnh phúc, ấy là Thomas More”.

Những điều nầy đã đưa đẩy More đến một chức vụ cao nhất ở Anh quốc vào ngày 26 tháng 10 năm 1529, khi ông được phong tặng danh hiệu Chủ Tịch Thượng Viện dưới thời Vua Henry VIII. Nhưng việc nầy đã dẫn tới việc ông bị hại, vì More là một nhân vật tôn giáo rất sâu sắc. Ông đã bố thí rời rộng cho người nghèo khó, hát trong ca đoàn thuộc giáo xứ của ông tại Chelsea, hướng dẫn gia đình cầu nguyện mỗi đêm, và xây một giảng đường nhỏ cận nhà mình để cầu nguyện riêng và nghiên cứu Kinh thánh. Ở đây thỉnh thoảng ông dự phần vào việc tự quất roi vào mình bằng một roi da có thắt gút theo kiểu thời Trung cổ. Ông dâng hiến cho giáo hội của mình. Ông buộc phải chống đối những tín đồ Tin lành. Ông là một con người rất nguyên tắc.

Henry VIII không ưa con người của nguyên tắc, và ông đã nổi giận khi Chủ tịch Thượng viện của mình từ chối không nhận lãnh từ Giáo Hoàng đơn ly dị của Catherine xứ Aragon.Ông càng điên tiết lên khi More từ chối không công nhận ông là đầu của Hội thánh nước Anh. Henry bỏ tù ông tại tháp Luân đôn và tìm cách gán cho ông án phản bội. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1535, Thomas More leo lên giàn giáo rồi nói với đoàn dân đông rằng ông đã chịu chết như “tôi tớ trung thành của nhà vua, nhưng trước tiên là của Đức Chúa Trời”. Khi ấy ông đọc Thi thiên 51 rồi kê đầu vào giá gỗ chịu chặt.

 

“Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi. Nầy, Chúa muốn sự chân thật nơi bề trong; Chúa sẽ làm cho tôi được biết sự khôn ngoan trong nơi bí mật của lòng tôi. Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết” (Thi thiên 51.5-7).

 

27 tháng 10

LÒNG TÔI BẬT TAN VỠ

Vào năm 1771, tại Giáo hội nghị của hệ phái Trưởng Lão ở Anh quốc, John Wesley đã nói: “Anh em của chúng ta ở Mỹ đang kêu cứu. Ai bằng lòng sang đó? Francis Asbury, cao 5 foot 6, cân nặng 150 pounds, đã ngồi lắng nghe. Trong nhiều tháng trời chàng thanh niên đã có lòng ao ước muốn sang thăm nước Mỹ. Vì vậy, tôi nhũ thầm, rồi đưa ra một kết ước với lòng mình. Kết ước ấy đã được Ông Wesley chấp nhận, ông ấy xét thấy tôi đã có ơn kêu gọi.

                Asbury trở về nhà báo cho bố mẹ mình biết những tin tức đó. Dầu sự việc gây đau buồn, họ đã đồng ý để cho tôi đi. Mẹ tôi là một trong những người mẹ dịu dàng nhất trên thế gian; tôi tin bà được phước của Chúa khi chịu chia tay với tôi.

Ông dong buồm ra đi vào ngày 4 tháng 9. Trong ba ngày tôi đã lã người ra vì say sóng; và tôi chưa biết có trường hợp bịnh hoạn nào giống như thế. Nhưng không lâu sau đó, ông phục hồi đủ để ghi lại những tư tưởng của mình: “Tôi sẽ đề ra một số việc đang có trong lý trí tôi. Tôi sẽ đến tại đâu? Đến với Tân Thế Giới. Tôi sẽ làm gì? Tìm kiếm vinh quang ư? Không, nếu tôi biết rõ tấm lòng của mình. Để kiếm tiền ư? Không, tôi sẽ sống cho Đức Chúa Trời, và khiến cho nhiều người khác biết sống như vậy”.

Asbury đến nước Mỹ vào ngày 27 tháng 10 năm 1771. Ngày nầy chúng tôi cặp cảng Philadelphia, từ đây chúng tôi đi thẳng tới nhà của Ông Francis Harris, ông tử tế tiếp đón chúng tôi rồi đưa chúng tôi đến một ngôi nhà thời rộng rãi, chúng tôi đã tiếp xúc với hội chúng tại đây. Mọi người vui sướng gặp gỡ chúng tôi, họ tiếp chúng tôi như những thiên sứ của Đức Chúa Trời. Khi tôi đến gần bờ biển nước Mỹ, tấm lòng tôi bật tan vỡ trong tôi, suy nghĩ mình sẽ đến tại đâu, sẽ đi đâu, sẽ làm gì. Tôi cảm thấy Đức Chúa Trời đang hiện diện ở đây…

Asbury không hề trở về lại nước Anh. Ông lao vào trong đồng vắng của nước Mỹ, đi đó đi đây cả ngày lẫn đêm trong nhiều năm trời, trong đủ loại thời tiết, trải qua nhiều khó nhọc. Ông đã đi 270.000 dặm đường, trên lưng hết con ngựa nầy đến con ngựa khác. Mọi sự ông có khi đi đường là cái túi máng trên lưng ngựa. Khi Asbury đến nước Mỹ đã có chưa tới 80 nhà truyền đạo và 14.000 thuộc viên thuộc hệ phái Trưởng lão. Khi ông qua đời đã có 2.000 nhà truyền đạo và 200.000 thuộc viên.

 

“Vả, chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa; và vì tình yêu mến Đức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em. Vì Đức Chúa Trời, là Đấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ” (II Côrinhtô 4.5-6).

 

28 tháng 10

CHINH PHỤC BỞI DẤU NẦY

                Vào đầu thế kỷ thứ Tư, Cơ đốc giáo đã làm chao đảo Đế quốc La mã, kiêu hãnh về nhiều nhà thờ trải từ Anh quốc sang Carthage và Persia. Tin lành được rao truyền từ miệng nầy sang miệng kia, từ người nầy đến người nọ, cho đến khi, mặc dầu có sự bắt bớ liên tục, Cơ đốc giáo đã bắt được rễ của mình. Spurgeon nói: “Cớ mỗi giọt huyết rơi xuống đất, giọt huyết ấy biến thành một người”.

Giống tố sau cùng đã xảy ra khi Hoàng đế Diocletian thình lình mở ra Cơn Bắt Bớ Lớn, dữ tợn nhất trong những cuộc thanh trừng. Nhưng người La mã đã chán thấy máu, và cuộc tàn sát Cơ đốc nhân đã tạo ra sự đồng cảm sâu xa dành cho hạng tín đồ. Khi Diocletian thoái vị, một cuộc tranh đấu dành quyền lực đã nổ ra giữa hai gã khỗng lồ: Constantine và Maxentius. Quân đội của họ đối mặt nhau tại cầu Milvian ở bên ngoài Rome; và Constantine, như về sau ông thuật lại cho sử gia Eusebius biết, đã quay sang với Đức Chúa Trời của Cơ đốc nhân xin được giúp đỡ. Trong một điềm chiêm bao vào ngày 28 tháng 10 năm 312, ông nhìn thấy một thập tự giá trên bầu trời với dòng chữ Hy lạp: “Chinh phục bởi dấu nầy”. Nhờ đó mà ông được can đảm, cho tiến quân và chiến thắng. Sau trận đánh, ông đã tán thành Cơ đốc giáo cách công khai, và Hội thánh bơ vơ kia thình lình thấy mình đang đứng ở trên đỉnh của thế giới.

Constantine đã mở rộng nhiều tự do cho hàng giám mục. Ông hủy bỏ án đóng đinh trên thập tự giá và chấm dứt trò giác đấu như án phạt. Ông phát ra chiếu chỉ Milan, trong đó ghi như sau: “Người nào có ao ước muốn theo tôn giáo của những Cơ đốc nhân từ giây phút nầy cứ tiến hành mà không có một sự quấy rối hay băn khoăn nào cả”. Ông biến ngày Chúa nhựt thành ngày lễ, xây nhiều nhà thờ, tài trợ cho các dự án Cơ đốc, và cho nhóm lại nhiều vị giám mục để thảo luận về thần học.

Nhưng dù Constantine đã thực được sanh lại có bị nghi ngờ hay không!?! Ông đã đối đãi với các cấp lãnh đạo của Hội thánh như những phụ tá về chính trị. Ông trục xuất những kẻ đi nhà thờ mà ông không thích và giữ theo hình thức tà giáo mà ông chuộng. Dưới quyền cai trị của ông, trong khi tận hưởng sự tự do, Hội thánh bị xấu đi từ một đội quân những kẻ tử vì đạo thành một đám đông ô hợp những kẻ theo tà giáo nửa vời. Một sự liên kết giữa giáo quyền và chính quyền đã phát triển đề ra bối cảnh cho Kỷ Nguyên Trung Cổ còn tiếp tục cho đến ngày nay trong các nhà thờ thuộc nhà nước ở châu Âu.

“Sự trở lại đạo” của Constantine ngay lập tức có cả việc tốt nhứt đã xảy ra cho Hội thánh, và việc tệ hại nhứt nữa.

 

“Đáng chúc tụng danh Đức Giê-hô-va. Từ bây giờ cho đến đời đời! Từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, khá ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!” (Thi thiên 113.2-3).

 

29 tháng 10

MŨI TÊN CỦA VỊ GIÁM MỤC

                Maurice Abbot là thợ dệt vải trong một ngôi làng cách Luân đôn 20 dặm. Một đêm kia, vợ ông là Alice đang có thai, nằm mơ thấy mình bắt được một con cá, đứa con của nàng sẽ là một đứa trai. Nàng chạy ùa ra  con sông gần đó và bắt được con cá nhỏ trong cái rổ xúc của mình. Nàng làm thịt con cá, rồi ăn nó, đúng vào ngày 29 tháng 10 năm 1562, nàng sanh một con trai.

Câu chuyện lan truyền đi khắp cả thị trấn hay mê tín đó, và có nhiều người đã dâng tiền bạc cho đứa trẻ ăn học. Kết quả là, George đã bước vào trường đại học Oxford vào tuổi 16. Gia đình Abbot là những tín đồ Tin lành rất trung tín, và chàng trai trẻ kia đã bước vào chức vụ. Những bài giảng đầy năng quyền của chàng thiên về Thanh giáo (Puritan), thường buồn tẻ, luôn luôn có tính cách giáo điều. Khi Vua James chấp thuận một bản Kinh thánh mới, George trở thành nhà dịch thuật của các sách Tin lành, sách Công vụ các sứ đồ, và sách Khải huyền.

Năm 1611, là năm bản dịch Kinh thánh King James được phát hành, George trở thành đầu của Hội thánh Anh quốc, Giám mục xứ Canterbury – chỉ có người dịch bản Kinh thánh KJV mới có được chức vụ đó. Khi James qua đời, chính Abbot được tôn lên làm Tân Vương, Charles I. Vì thế ông trở thành nhà dịch thuật bản Kinh thánh KJV duy nhứt được tôn lên làm vua.

Nhưng ông cũng là nhà dịch thuật duy nhứt và là vị Giám mục duy nhứt xứ Canterbury từng giết một người. Chuyện xảy ra khi ông tham gia với mấy người bạn trong một cuộc đi săn, vào giữa mùa hè năm 1621, Abbot vốn rất khoẻ mạnh, bụng thì to, và không quen với cung tên. Khi con mồi xuất hiện, ông rút mũi tên ra, dương cung lên rồi bắn đi. Mũi tên bay trúng nhằm Peter Harkins chết liền tại chỗ. Tất cả nước Anh sửng sốt, và nhiều người đứng lên chỉ trích vị Giám mục, ông cũng đang tự trách mình hơn thế nữa. Một giáo hội nghị đặc biệt được tổ chức để tuyên bố ông không có tội; và nhà vua đã phát ra chiếu chỉ xin tha thứ. Nhưng nhiều tín đồ đã tỏ ra hồ nghi về sự thánh khiết của một người đã giết chết người khác. Abbot không bao lâu sau đó đã lâm bịnh “sỏi thận”, và bịnh gout. Ông bắt đầu kiêng ăn mỗi thứ Ba với sự buồn rầu vì tài thiện xạ nghèo nàn của mình. Nhưng ông không được lành – hay được dân chúng chấp nhận. Tuy nhiên, ông vẫn nói với chúng ta mỗi lần chúng ta đọc các sách Tin lành, sách Công vụ các sứ đồ, hay sách Khải huyền trong bản dịch Kinh thánh King James.

 

“Tôi gần sa ngã, nỗi đau đớn vẫn ở trước mặt tôi; Vì tôi sẽ xưng gian ác tôi ra, tôi buồn rầu vì tội lỗi tôi. Nhưng kẻ thù nghịch tôi còn sống và mạnh, các kẻ ghét tôi vô cớ thì nhiều; Còn những kẻ lấy dữ trả lành cũng là cừu địch tôi, bởi vì tôi theo điều lành. Đức Giê-hô-va ôi! xin chớ lìa bỏ tôi. Đức Chúa Trời tôi ôi! xin chớ cách xa tôi” (Thi thiên 38.17-21).

 

30 tháng 10

CẤP LÃNH ĐẠO THA HOÁ

                Ngày 31 tháng 10 năm 1517 là ngày mà ai cũng biết tới trong lịch sử Tin Lành – ngày Martin Luther đóng đinh bản kết án mình vào hai cánh cửa thành Wittenberg. Nhưng có một sự kiện đã xảy ra 16 năm trước đó giúp cho chúng ta hiểu rõ sự dạn dĩ của Luther. Rodrigo Borgia là tên của một hồng y vào năm 1456, và “không lâu sau đó ông ta đã đội chiếc mũ đỏ thay vì cất bỏ nó, cùng với phần còn lại của bộ y phục, vì một cuộc đua đường dài với đám rước những người phụ nữ, lai lịch của họ chúng ta không biết và đối với ông ta cũng không biết luôn”. Tình trạng phi luân của ông ta càng tăng lên khi, vào năm 1492, ông ta trở thành Giáo Hoàng Alexander VI.      

Vào ngày 30 tháng 10 năm 1501, Giáo Hoàng Alexander chủ trì xem vở ba-lê đồi bại. Những người khách đến gần cung điện của Giáo Hoàng nhìn thấy những bức tượng sống gồm những thanh thiếu nữ trần truồng ăn chơi trong những tư thế khiêu dâm. Ở bên trong, sau khi chén dĩa được dọn sách ra khỏi sảnh đường, những gái điếm xinh đẹp nhất của thành phố đã nhảy múa với thực khách, từng hồi từng lúc họ lột từng mãnh quần áo của họ ra. Hiển nhiên là Giáo Hoàng cùng các con trai ông đã trở thành quan xét của một cuộc tranh giàng gái, trong đó các thực khách đã cởi hết quần áo và làm tình với nhau. Alexander đã ban nhiều giải thưởng cho nhiều người.

Sự đồi bại của chế độ Giáo Hoàng cứ tiếp tục dưới thời Julius II, kẻ nối ngôi Alexander, và khi Luther đến viếng Rome vào năm 1510, ông bị sốc khi thấy cung điện của Giáo Hoàng được “12 cô gái trần như nhộng” phục vụ. Lần trở lại quá khứ, Luther nhớ  đã nhìn và nghe thấy những gớm ghiếc về tình dục đã diễn ra trong danh của Đấng Christ bởi những kẻ mà ai cũng nghĩ là cấp lãnh đạo thuộc linh. Về sau ông viết: “Tôi không quên lần viếng thăm Rome. Tôi chẳng bứt rứt gì khi chống lại chế độ Giáo Hoàng”.

Chính bản chất tha hoá của chế độ Giáo Hoàng cũng nhiều như thất bại về đạo lý của nó đã thuyết phục Luther liều khởi tố và rút phép thông công với sự dũng cảm ngoan cường. Sống thánh khiết – thanh sạch cá nhân – Luther biết rõ, thì phải gắn bó với đạo thật, và sự kết hiệp ấy không thể bị phân rẽ … vì “người công bình sẽ sống bởi đức tin mình”.

 

“Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ. Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn. Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời” (Êphêsô 5.3-5).

 

31 tháng 10

GIỮA TRƯA

                Vào năm 1517, Giáo Hoàng Leo X, đã rỗng túi và cần ngân quỹ để tái thiết hoàng cung của thánh Phierơ, ông phát ra lịnh “bán” đặc biệt những thẻ xá tội. Chính từ ngữ “xá tội” có khuynh hướng mang lấy những nghĩa rộng về mặt đạo đức lờ mờ không rõ ràng, nhưng các thẻ xá tội nầy đã bị thắc mắc. Tội nào được “xá”? Đây là loại tha thứ đặc biệt cho những tội lỗi được phát ra bởi Giáo Hoàng khi xem xét các hành động khác nhau, trong trường hợp nầy những sự dâng hiến vào kho của Leo. Những thẻ xá tội thậm chí có thể được “mua” cho cả người thân nơi luyện ngục.

Thầy dòng Dominican tên là Johann Tetzel trở thành kẻ môi giới của Giáo Chủ, đi đó đi đây với chiếc rương bằng đồng, một cái túi biên lai đã in sẵn, và một thập tự giá to lớn phủ lên đó là biểu ngữ của Giáo Hoàng. Bất cứ khi nào Tetzer đến với một thị trấn, chuông của nhà thờ đổ liên hồi, nhiều đám dân đông tụ tập lại, và đường phố đông nghẹt người. Tetzer đứng trước giáo đường, mở mấy cái túi ra, rồi hô lớn: “Ở đây tôi có giấy thông hành để dẫn linh hồn con người đến với những cực lạc của Thiên đàng. Khi tiếng của đồng tiền ai đó bỏ vào bát, linh hồn của người ấy sẽ bay từ chỗ luyện ngục mà thẳng tiến lên thiên đàng”.

Ông ta thường nhận được quá phần của mình.

Nhưng có nhiều người lấy làm bối rối, và khi đôi mắt khó chịu của Martin Luther nhìn chăm vào các thẻ xá tội mà dân làng đã mua tại Wittenberg, ông nghiên cứu chúng cách cẩn thận và tuyên bố chúng chỉ là sự lừa gạt mà thôi. Vào giữa trưa ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther, một giáo sư  đại học 33 tuổi, đã đi bộ từ cửa nhà thờ Castle ở Wittenberg, nước Đức, rồi đóng đinh trên cánh cửa ấy một tài liệu. Cánh cửa đã dự phần như một tấm bảng đưa tin cho thị trấn, và Martin Luther đã gắn lên đấy một lời công bố. Ông gọi đó là: “tranh luận về quyền lực và hiệu quả của những thẻ xá tội”.

Một vài khách qua đường tò mò đến gần xem rồi kiểm tra cẩn thận những lời nói như sau: “Vì tình yêu dành cho đức tin và ao ước muốn đưa vấn đề ra ánh sáng, những đề nghị sau đây sẽ được bàn bạc tại Wittenberg dưới quyền hạn của Đức Cha Martin Luther, Giáo sư môn hội hoạ và thần học…”. Nối theo sau câu ấy là 95 luận đề.

Luther không biết tài liệu ấy dẫn đến cho ông những cú đấm mạnh như thế nào!?!

 

“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân…Các dân náo loạn, các nước rúng động; Đức Chúa Trời phát tiếng, đất bèn tan chảy. Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng chúng tôi; Đức Chúa Trời Gia-cốp là nơi nương náu của chúng tôi” (Thi thiên 46.1, 6-7).      

 

 

   

 

 

Tags: #ThuVienOnline#VaoNgayNay
Previous Post

Vào Ngày Này | Tháng Chín

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Mười Một

Admin

Admin

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Mười Một

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In