DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Vào Ngày Này | Tháng Mười Một

Admin by Admin
1 Tháng Một, 2022
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

1 tháng 11

GIÁO HỘI NGHỊ CHALCEDON

Ngôi nhà thờ rất xưa của Thánh Euphemia, ngự trên đỉnh một ngọn đồi tại Chalcedon, nằm đối ngang Bosphorus từ Constantinople, đã tổ chức giáo hội nghị lần thứ tư của Hội thánh vào mùa thu năm 451. Hoàng đế cho triệu tập các giám mục lại để bàn bạc một loạt những điều tà giáo về Thân vị của Đấng Christ và để đưa ra một tín điều thống nhất Cơ đốc giáo.

Bổn tánh của Đấng Christ là thắc mắc chính về thần học trong 400 năm đầu tiên của lịch sử Hội thánh. Vương quốc Cơ đốc là một tổng thể đã hiệp lại thống nhứt trong một dai chính thống, nhưng những lần tấn công của tà giáo theo thời gian đã buộc Hội thánh trong những lần giáo hội nghị phải đưa ra sự xác định về Đấng Christ. Giáo hội nghị Nicacea vào năm 325 đã khẳng định Đấng Christ là Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn, Nhưng rồi, làm sao Ngài cũng là một con người trọn vẹn cho được?

Giáo hội nghị Chalcedon đã giải quyết vấn nạn ấy, và cách giải quyết ấy không đẹp lắm. Những vị giám mục cùng các đại biểu đều hò hét với nhau tranh cãi, họ ngắt lời nhau, không giữ được tánh nóng, lôi kéo diễn giả và dẫn tới xung đột. Tuy nhiên, vào lúc cuối cùng, giáo hội nghị ấy cũng khẳng định rằng Chúa Jêsus: (1) là Đức Chúa Trời trọn vẹn; (2) là con người trọn vẹn; (3) là một thân vị; và (4) có hai bổn tánh. Luận đề của Chalcedon, một trong những tài liệu quan trọng nhất của lịch sử Hội thánh, có đoạn chép như sau:

Theo các giáo phụ thánh, chúng ta xưng nhận với một tiếng nói rằng Đức Chúa Con duy nhứt và có một, là Đức Chúa Jêsus Christ của chúng ta, là Đức Chúa Trời và là con người trọn vẹn, là Đức Chúa Trời thực và là con người thực, Ngài đồng đẳng với Đức Chúa Cha, Ngài cũng đồng đẳng là con người như chúng ta. Ngài giống như chúng ta trong mọi sự mà không có tội lỗi. Chính Đấng Christ có một nầy, là Đức Chúa Con, là Chúa độc nhất vô nhị ai cũng biết đã được dựng nên với hai bổn tánh không chút nhầm lẫn, không thay đổi, không chia rẽ, không phân biệt.

Giáo hội nghị Chalcedon vì thế đã khẳng định rằng Đức Chúa Jêsus Christ là một thân vị có cả hai bổn tánh: thần tánh và nhân tánh. Ngài là một Chúa. Ngài vừa là Đức Chúa Trời vừa là Người.

Rồi với khẳng định đó, giáo hội nghị đã kết thúc vào ngày 1 tháng 11 năm 451.

                                                                                                                “Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển” (I Timôthê 3.16).               

 

2 tháng 11

THÀNH PHỐ RỰC LỬA

                Ngày nay có những đám cháy khắp thành phố đôi lúc xảy ra, chúng đem lại nhiều tai hại. Nhưng các Cơ đốc nhân vào những kỷ nguyên đầu tiên thường phục vụ và chịu khổ giữa những lần thành phố rực lửa như thế. Tín hữu trong thời Nero đã bị đổ thừa rất bất công khi Rôma bị hủy diệt bằng lửa. Tám mươi chín ngôi nhà thờ đã bị thiêu rụi trong ngọn lửa ở Luân đôn vào năm 1666. D. L. Moody bị mất hết tài sản trong ngọn lửa lớn tại thành phố Chicago vào năm 1871. Nhưng không một ngọn lửa nào trong số đó cao hơn ngọn lửa và nỗi kinh hãi đã nhận chìm thành phố Canton trong những ngày truyền giáo đầu tiên của Tin Lành vào Trung Hoa.

Robert Morrison đã hầu việc Chúa tại Canton bất chấp những sự lo âu của Công ty Đông Ấn và sự đối kháng của chính những người Trong hoa. Tuy nhiên, ông vẫn cật lực, sau cùng đã làm phép báptêm cho người trở lại đạo đầu tiên sau 7 năm làm việc khó nhọc.

Vào tối thứ Sáu, ngày 1 tháng 11 năm 1822, Morrison bật thức dậy vì sự hoảng loạn của thành phố. Một ngọn lửa, khởi sự từ tiệm làm bánh rồi được đưa đi bởi những cơn gió lớn, đã hoành hành giống như một lò lửa hực lan qua nhiều khu vực đông đúc, ở đấy nhà cửa chỉ toàn làm bằng gỗ. Nhiều đám đông đã bỏ chạy trong cuồng loạn. Thiết bị cứu hoả của Công ty Đông Ấn chẳng hữu hiệu bao nhiêu, vì các đường phố bị ách tắc với quá nhiều người đổ ra đó, và nguồn cấp nước lại quá hạn hẹp.

Morrison, sững sở trước biển lửa ấy, ông vội vã viết một bức thư bằng tiếng Hoa trước bình minh ngày 2 tháng 11 năm 1822, nài xin các giới cầm quyền cho giật sập nhiều toà nhà ngay trước ngọn lửa hòng ngăn chặn được sự lan tràn của cảnh tượng hải hùng kia. Nhưng họ đã từ chối, thậm chí chẳng chịu đọc thư của ông nữa, dù ông đã trao nó cho đích thân viên Tỉnh trưởng. Đến 8 giờ sáng, ngọn lửa đã thiêu rụi các khu công nghiệp của thành phố. Những trận gió xoáy đã đưa ngọn lửa chạy dọc theo bờ sông, về hướng Tây cách một dặm rưỡi. Nhiều người đã bị chết, bị cháy, hay bị rơi vào cảnh không nhà. Hàng ngàn cửa tiệm và nhà cửa đã bị hủy diệt. Đây là sự tận thế của thế gian đã được thu nhỏ lại.

Những kẻ hôi của đã cố gắng giành giật với ngọn lửa để tìm những đồ vật có giá trị, và Morrison ghi lại rằng 28 người bị giẫm chết trong khi tranh giành lấy tiền bạc sau khi một tên hôi của cắt lấy túi đeo lưng đựng tiền mặt của người kia. Bản thân vị giáo sĩ tương đối may mắn. Ông chẳng mất gì có giá trị cao ngoài cả trăm cân giấy dự định cho một ấn bản mới bản dịch Tân Ước của ông.

 

“đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước, thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vậy, là bị chìm đắm bởi nước lụt. Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác” (II Phierơ 3.5b-7)

 

3 tháng 11

BOBBY WILD GOOSE (Con ngỗng hoang cảnh sát).

Robert Raikes chào đời vào năm 1735 ở Gloucester, Anh quốc, ở đó cha của ông đã phát hành tờ nhật báo Gloucester. Khi bố của Raikes qua đời vào năm 1757, Robert 22 tuổi, thừa kế tờ báo đó, và ngay lập tức sử dụng nó để mở chiến dịch cải tổ về đạo đức. Thí dụ, những nhà tù trong nước Anh là những nơi rất độc ác, khốn khổ, tại đó những tù nhân ngồi đầy trong những xà lim nhỏ không có lỗ thông gió hay những tiện nghi vệ sinh, đã chết vì “sốt tù”. Raikes đến thăm họ, bố thí tiền bạc cho họ, rồi dạy họ biết đọc. Những trang báo sắc sảo của ông luôn nhắc lại lời kêu gọi hãy chú ý đến tình trạng khốn khổ của họ.

Một buổi trưa Chúa nhựt năm 1780, Robert khám phá một việc khác cần phải tranh đấu cho. Ông đi vào khu ngoại ô ổ chuột ở Gloucester để trao đổi với người thợ làm vườn. Một đám con nít vây quanh ông, và Raikes đã lui lại trước sự xô lấn của chúng, chúng ăn nói rất tục tỉu, cờ bạc, và bẩn thỉu. Ông trở về nhà run rẩy và hầu như đã cưu mang ngay khi đó một chương trình dành cho Trường Chúa Nhật. Những trường học ấy đã được mở ra rồi, nhưng không có sâu rộng. Raikes thuê bốn phụ nữ Cơ đốc mở các lớp vào những ngày Chúa nhựt. Tại sao phải là ngày Chúa nhựt? Trẻ em lao động trong các xí nghiệp một tuần 6 ngày, còn ngày Chúa nhựt thì chúng chỉ có rong chơi thôi.

Raikes lúc bấy giờ rất bệ vệ, ăn mặc lịch sự, miệng lúc nào cũng phì phà điếu thuốc, cây ba toong, bước thong thả qua các khu ổ chuột hết ngày này sang ngày khác tuyển chọn học sinh. Trẻ em bắt đầu gọi ông là “Bobby Wild Goose”. Nhưng tại trường Chúa nhựt của ông, chúng được dạy dỗ cho biết đọc, rồi chúng học Kinh thánh, giáo lý vấn đáp, cùng nhiều đề tài khác nữa.

Ba năm sau đó, khi các ngôi trường hoạt động chắc tay rồi, Raikes đã dùng tờ báo của mình cổ động chúng. Vào ngày 3 tháng 11 năm 1783 tờ nhật báo Gloucester đã đăng một bài viết về sự thành công của Trường Chúa Nhật. Trước sự kinh ngạc của Raikes, báo chí Luân đôn chọn lấy câu chuyện và đòi mở ra trên khắp Anh quốc những ngôi trường như vậy. Phong trào lan rộng một cách nhanh chóng. Và phần còn lại, như họ nói, là lịch sử.

Hình thức Trường Chúa Nhật đã thay đổi, tuy nhiên hàng triệu người thuộc mọi lứa tuổi tìm đường đến với Trường Chúa Nhật mỗi tuần để học biết về Đấng Christ.

 

“Khi ấy, người ta đem các con trẻ đến, đặng Ngài đặt tay trên mình và cầu nguyện cho chúng nó; môn đồ quở trách những người đem đến. Song Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy” (Mathiơ 19.13-14).

 

4 tháng 11

VẦNG ĐÁ CỦA MỌI THỜI ĐẠI

                Vào ngày 4 tháng 11 năm 1740 một đứa trẻ ở Farnham, Anh quốc, được đặt cho cái tên khá dài là Augustus Montague Toplady. Cha của ông đã chết trong một cuộc chiến tranh, mẹ ông đã làm cho ông hư hỏng, bạn bè nghĩ ông “đau yếu và thần kinh”, và những người bà con vốn chẳng ưa thích ông.

Nhưng Augustus rất ham thích về Chúa. Ông viết vào ngày sinh nhật của mình: “Giờ đây tôi đã được 11 tuổi. Tôi ngợi khen Đức Chúa Trời vì tôi chẳng nhớ đến một tội ác kinh khủng nào; nguyện vinh hiển thuộc về Chúa”. Đến khi 12 tuổi, ông đã giảng nhiều bài mà bất cứ ai cũng muốn nghe. Lúc 14 tuổi, ông bắt đầu viết thánh ca. Khi 16 tuổi, ông trở lại tin theo Đấng Christ trong khi nhóm lại thờ phượng ở một kho lúa. Rồi ở tuổi 22, ông được tấn phong làm một Linh Mục ở nước Anh.

Là một tín đồ trung thành với học thuyết Calvin, ông xem khinh thần học của Wesley. Ông tố cáo Wesley “nói dối và giả mạo”. Tôi tin ông là kẻ thù ghét rất ác ý đối với hệ thống Tin lành từng có mặt trên đảo quốc nầy. Augustus viết: “Wesley phạm vào tội không biết xấu hổ của Satan”, ông nói trong một trường hợp khác: “hành động hèn nhát, có phần trong sự giết người ám muội, bẩn thỉu”. Ông mô tả nhà truyền đạo là tay đấm bốc kiếm tiền và là thợ cạo ống khói.

Vào năm 1776 Augustus đã viết một bài nói về ơn tha thứ của Đức Chúa Trời, dự trù bài nầy là cái tát vào mặt Wesley. Ông kết thúc bài viết bằng một bài thơ như sau:

Hỡi Vầng đá muôn đời, khe ẩn náu cho tôi

Xin cho tôi được núp trong Ngài

Nguyện nước và huyết

Từ hông Ngài phát nguyên

Trở thành phương chữa tội

Cứu tôi ra khỏi cơn thạnh nộ

Và làm cho tôi được sạch

Augustus Toplady đã qua đời ở tuổi 38, nhưng bài thơ ấy đã chỉ ra đặc điểm của ông và được gọi là bài thánh ca: “được biết đến, được mến mộ, và được sử dụng nhiều nhất” trong các nước nói tiếng Anh. Kỳ quặc thay, bài thơ nầy tương tự với bài thơ mà Wesley đã viết 30 ngày trước trong đề tựa của một quyển thánh ca dành cho Tiệc Thánh:  “Xin núp trong Vầng đá muôn đời; Vì tôi phải nứt ra Ngài ôi; Lòng mong suối huyết kia trào phun; Từ hông vỡ Chúa xưa tràn tuôn; Nên những linh duợc chữa muôn tội; Trừ căn ác vốn hay hành tôi”.

Có lẽ hai người không kỵ nhau khi họ suy tưởng.

 

“Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là năng lực tôi, tôi yêu mến Ngài. Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi; Đức Chúa Trời là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình; Ngài cũng là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi, và là nơi náu ẩn cao của tôi” (Thi thiên 18.1-2).

 

5 tháng 11

GIÁO HỘI NGHỊ CONSTANCE

                Hai cái đầu không luôn luôn tốt hơn một cái đầu – và ba cái đầu sẽ đâm ra rất kỳ cục. Thí dụ:

Trong thời trung cổ, Giáo Hoàng đã trị vì như nhân vật quyền lực nhất ở trên đất, một siêu lãnh tụ có cả quyền lực tôn giáo và chính trị trong một vai trò được ăn chơi sung sướng. Nhưng khoảng 1.400 lãnh tụ chính trị ở Anh quốc và Pháp đã bắt đầu coi thường thể chế Giáo Hoàng.

Cuộc xung đột gay gắt nhất đã phát sinh khi các đạo quân của Vua Philip nước Pháp xông vào phòng ngủ của Giáo Hoàng Boniface 86 tuổi, ít nhiều gì cũng đã đánh ông ta cho đến chết. Một người Pháp, Giáo Hoàng Clement V, đã thay thế Boniface rồi chuyển dinh thự Giáo Hoàng sang Pháp. Thế là đã khởi sự thời kỳ 72 năm 6 đời Giáo Hoàng liên tục là người Pháp, tất cả họ đều chọn sống ở một thị trấn nhỏ Avignon, nước Pháp, thay vì ở Rome. “Cuộc lưu đày” nầy được gọi là Kỳ phu tù cho Babylôn của thể chế Giáo Hoàng. Những căng thẳng giữa Pháp và Ý  hiển nhiên dẫn tới cuộc bầu chọn hai Giáo Hoàng, một người được bên Ý chọn và một người được bên Pháp chọn. “Cuộc phân ly Giáo Hoàng” nầy đã kéo dài trong 39 năm, mỗi Giáo Hoàng đều có Trường Hồng Y riêng của mình, mỗi người đều xưng mình là Giáo Hoàng đại diện thật cho Đấng Christ.

Năm 1409, đại đa số các vị Hồng Y từ cả hai trường đều nhất trí kết thúc cuộc phân ly bằng cách hạ bệ cả hai Giáo Hoàng rồi bầu chọn một người mới. Kết quả? Khi chẳng có Giáo Hoàng nào chịu từ chức, con số tăng thành 3. Bối cảnh kỳ quặc có tới 3 vị Giáo Hoàng dẫn tới Giáo Hội Nghị Constance tổ chức vào ngày 5 tháng 11 năm 1414 – giáo hội nghị lớn nhất trong lịch sử và là quan trọng nhất kể từ Giáo Hội Nghị Nicaea vào năm 325. Constance, một ngôi làng có 6.000 dân, tăng thêm với 5.000 đại biểu cùng với một đạo quân các tôi tớ, thư ký, kẻ bán hàng rong, y bác sĩ, thầy lang băm, kẻ hát dạo, và 1.500 gái điếm. Giáo Hội Nghị nhóm lại trong ba năm, với chiều dài ấy một trong ba Giáo Hoàng đã từ chức và hai người kia bị hạ bệ. Đến năm 1417, Giáo Hội Nghị ấy đã chọn được một người mới, Giáo Hoàng Martin V, thế là đã kết thúc hiệu quả Cuộc Ly Giáo và Cuộc phu tù Babylôn.

Nhưng thiệt hại cho danh tiếng của Vatican đã có rất nhiều, giúp lót đường cho Công Cuộc Cải Chánh chính xác 100 năm sau đó.

 

“Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau Thật tốt đẹp thay!” (Thi thiên 133.1).

 

6 tháng 11

HÀNG NGÀN NGƯỜI NGÃ GỤC

Dọc theo bờ phía Tây châu Phi là xứ Liberia, là xứ sở độc lập đầu tiên của châu Phi da đen. Quốc gia nầy được thiết lập vào đầu thập niên 1800 qua những nổ lực của Hội Thuộc Địa Mỹ, một tổ chức chuyên đưa những cựu nô lệ Mỹ hồi hương ở các xứ thuộc địa dọc theo bờ biển châu Phi.

Vị giáo sĩ đầu tiên của Hội thánh Methodist Episcopal là Melville Bereridge Cox, đã hướng thẳng đến đây vào năm 1833. Ông goá vợ khi còn trẻ tuổi, là bạn và bị bắt phục với nỗi buồn đau rồi hoạch định bước vào công trường truyền giáo ở Nam Mỹ. Vị Giám mục của ông đã hỏi: “Sao không đi Liberia?” khi ông đang tìm người để phái đến vùng đất của những cơn sốt rét nghiệt ngã đó.

Cox đáp: “Nếu Chúa muốn, tôi chẳng vướng víu gì với sợ hãi đâu. Một ngôi mộ ở châu Phi sẽ là ngọt ngào một khi Ngài ủng hộ tôi”. Cox viết thư cho một người bạn: “Tôi biết tôi không thể sống lâu dài ở châu Phi, nhưng tôi hy vọng sống lâu đủ để có mặt ở đó; và nếu điều nầy đẹp lòng Đức Chúa Trời, nguyện xương cốt tôi sẽ nằm trong một ngôi mộ ở châu Phi, tôi sẽ thiết lập một mối dây ràng buộc giữa châu Phi và Hội thánh tại quê nhà, mối dây ấy sẽ không đứt cho tới chừng nào châu Phi được cứu chuộc”.    

Ông nói với những sinh viên ở Đại học đường Wesleyan ở Connecticut: “Nếu tôi chết ở châu Phi, các bạn phải đến đó và viết bia mộ cho tôi”. Khi một sinh viên hỏi họ sẽ ghi điều gì, Cox đáp: “Hãy viết, hãy làm cho hàng ngàn người ngã xuống trước khi châu Phi đầu hàng”.

Ông đã thực hiện cuộc thăm viếng sau cùng các ngôi mộ của vợ con ông, rồi đúng vào ngày 6 tháng 11 năm 1832, Cox đã lên chiếc Jupiter rồi dong buồm ra đi. Đại dương nổi bão tố, rồi lúc đầu ông bị say sóng nặng. Nhưng ở giữa đại dương ấy, ông bắt tay vào việc, hoạch định một ngôi nhà, trường học và nông trại truyền giáo. Nhìn vào bờ, ông viết: “Tôi đã nhìn thấy xứ Liberia và sống! Xứ ấy nổi lên giống như một đám mây của thiên đàng”. Ông lên bờ ở Monrovia vào ngày 7 tháng 3 năm 1833, rồi dấn thân vào công tác. Thế nhưng vào ngày 21 tháng 7, ông bật dậy từ một giấc ngủ chập chờn, tắm rửa sạch sẽ rồi hô to: “Hãy đến! Hãy đến! Nguyện Chúa Jêsus mau đến”. Ông đã chết trong một cơn sốt, sau khi đã hầu việc Chúa chưa đầy bốn tháng.

Đã có 999 người rời xứ ra đi; vì cớ tấm gương của Cox, 5 thanh niên khác nữa đã trên đường của họ đến tại đây.

 

“Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Philíp 4.12-13).

 

7 tháng 11

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG RẮC RỐI

                Công cuộc cải chánh ở xứ Tô cách Lan đã đến rất đau đớn, bao gồm nhiều sinh mạng của tín đồ Tin lành trung tín, trong đó có John Nisbet, về sau con trai của ông lúc 16 tuổi đã ghi lại đoản khúc nầy:

“Vào ngày 7 tháng 11 năm 1685, cha tôi cùng với ba người khác, muốn ra đi và kết thúc cuộc tranh luận tại một cộng đồng Cơ đốc kia; ông đã để tôi lại trong sự chăm sóc tử tế của Chúa, rồi tiếp tục chuyến hành trình mà ông đã dự trù. Nhưng sáng sớm ngày sa-bát, ông cùng với ba người khác bị 40 kẻ thù bắt giữ. Đêm trước đó, tôi đã đến nhà Earl ở Luân đôn; rồi trong giấc ngủ tôi mơ thấy mọi chặng đường rắc rối mà cha tôi đã lọt vào. Tôi thức giấc với tâm thần buồn rầu lắm, và ngay lập tức chổi dậy khẫn thiết cầu nguyện. Nhưng than ôi, than ôi, tôi như chết rồi, bất động và bị phủ lút với nỗi buồn tràn ngập đến nỗi tôi chẳng làm chi khác được suốt cả ngày mà chỉ thở dài với cõi lòng tan nát. Đêm xuống, có hai thiếu nữ đến, họ ngồi xuống cạnh tôi, rồi nhìn tôi với nỗi buồn đó, họ hỏi tôi không biết tôi có ăn gì chưa? Tôi cho họ biết tôi chẳng ăn uống gì được suốt cả ngày hôm ấy. Khi đó, họ mới mở túi đồ ăn của họ ra, trong đó có mấy miếng thịt, rồi cả hai từ tốn thúc giục tôi ăn uống. Nhưng tôi không làm sao ăn cho được. Lúc ấy, hai thiếu nữ đó mới bật khóc, một trong hai người nói: “Sáng nay, 40 kẻ thù ấy đến gặp cha của anh ở gần Fenwick Kirk; họ đã giết ba người kia và cha anh đã phải lãnh 7 vết thương rồi bị nhốt lại”. Sau khi nghe xong các tin tức đáng buồn ấy tôi bực bội trong lòng. Ngay lập tức tôi bật dậy rồi chạy thẳng ra cánh đồng mênh mông kia. Nhưng Chúa nhơn từ đã cho phép sự việc ấy xảy ra, mặc dù tối tăm, tôi đến gặp một Cơ đốc nhân rất lỗi lạc nọ, ông ấy tên là William Woodburn, là bạn của cha tôi, ông góp ý với tôi là hãy yên lặng và phục theo ý chỉ tối cao của Đức Chúa Trời, Ngài là cha của kẻ mồ côi. Theo lời khuyên phước hạnh và thích hợp nầy, trọng lượng gánh nặng của tôi như tan biến đi, nỗi buồn đau của tôi đã dịu hẳn xuống, và mọi khó chịu của sự việc như không còn có nữa. Tôi đã qua đêm nầy trong sự nhìn xem Chúa, nguyện cha tôi được sức lực để sống trung tín cho đến chết”.

 

“Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng; Các ngoại bang bị diệt mất khỏi đất của Ngài. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe lời ước ao của kẻ hiền từ; Khiến lòng họ được vững bền, và cũng đã lắng tai nghe, đặng xét công bình việc kẻ mồ côi và người bị hà hiếp” (Thi thiên 10.16-18a).

 

8 tháng 11      

VỊ TIẾN SĨ XẢO QUYỆT

John Duns Scotus chào đời tại xứ Tô cách Lan, đã học thần học ở Oxford, Anh quốc, và đã được tấn phong linh mục. Vào năm 1304, ông chuyển sang Paris rồi nhận được học vị Tiến sĩ. Sau đó, ông sang Cologne, nước Đức, ông dạy thần học trong khoảng một năm trước khi qua đời vào ngày 8 tháng 11 năm 1308, với độ tuổi hãy còn trẻ, có lẽ dưới 40. Một tấm bia đã được người ta dựng lên cho John Scotus tại nhà thờ dòng Franciscan ở Cologne vào năm 1513, ghi như sau: “Scotia (xứ Tô cách Lan) sinh ra tôi, Anh quốc trưởng dưỡng tôi, nước Pháp dạy dỗ tôi, Cologne giữ lấy tro bụi của tôi”.

Scotus có một trí tuệ rất xuất sắc, đã làm chao đảo thần học thời trung cổ. Ông có vài nổi băn khoăn về việc chỉ trích những nhà thần học công giáo – Thomas Aquinas và Anselm cùng nhiều người khác nữa – và ông rất thích làm cho sinh viên phải ngơ ngác bằng cách thách thức những tín điều sẵn có. Nhưng, giống như nhiều nhà thần học, ông có khuynh hướng hay hỏi hơn là trả lời. Bản thân thần học của ông rất khó cho người ta noi theo, và vì lý do đó lịch sử giáo hội cho ông là: “Vị Tiến Sĩ Xảo Quyệt”. Ông làm cho nhiều sinh viên phải bối rối và nãn chí với từ “dunce” (tối dạ) rút ra từ chữ “duns”(mờ tối)  là chữ lót trong tên của ông.

Scotus trở thành nhà thần học đầu tiên biện hộ cho lẽ đạo nói tới việc chịu thai tinh khiết của bà Mary: nghĩa là bản thân Mary chịu thai không có một tội lỗi nào, bà rất trong sạch và vô tội trong việc chịu thai đó. Ở cuộc tranh luận công khai tại Paris, chuyện được kể lại như sau: Scotus đã đấm liên hồi vào các môn đệ của Thomas Aquinas với 200 luận chứng về đề tài nầy, và hai phe rơi vào một cuộc tranh cãi cay đắng nhất trong Giáo hội tiền-Cải chánh.

Tuy nhiên, Scotus đã không dạy về lập trường của ông như một tín điều, mà như một điều khả thi, ông viết: “Về thắc mắc nầy, tôi nói rằng Đức Chúa Trời có khả năng thực thi điều đó, cho nên Mary không hề ở trong nguyên tội. Ngài có thể thực thi việc ấy khi bà vẫn ở trong tội lỗi trong một phút giây hay trong một thời điểm nào đó rồi được thanh tẩy liền trong giờ đó. Giải pháp nào thực sự đã diễn ra … Đức Chúa Trời biết”.

Lập trường của ông về đề tài dầu vậy đã trở thành sự dạy trong giáo hội đã được thiết lập khi Giáo Hoàng Pius IX công bố lập trường ấy là một tín điều vào năm 1854.

 

“Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến. Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em” (Philíp 4.8-9).

 

9 tháng 11

CÁI GIÁ CỦA ĐỊA VỊ MÔN ĐỒ

Nhà tâm thần và thần kinh học hàng đầu của Berlin là Karl Bonhoeffer vốn trông mong con trai của mình có được một nghề “đáng kính” như khoa học hay ngành luật. Thay vì thế, chàng trai Dietrich tuyên bố anh muốn trở thành một nhà thần học hơn. Khi gia đình anh chỉ ra những tì vít trong Hội thánh Đức, anh đáp: “Trong trường hợp đó, con sẽ cải tổ nó”.

Ông đã cố gắng, nhưng ông đã phải sống trong những ngày tháng của Adolf Hitler, kẻ đã lừa bịp những tín đồ trong nước Đức. Một vị Bộ trưởng đã nói: “Chính vì cớ Hitler mà Đấng Christ đã trở nên ảnh hưởng sâu sắc giữa vòng chúng ta. Chủ nghĩa xã hội dân tộc là Cơ đốc giáo tích cực trong hành động”. Bonhorffer, hết sức mình chống đối lại quân Phát xít, kêu gọi Hội thánh phải ăn năn. Tính thẳng thắn của ông đẩy ông đến chỗ nguy hiểm; mỗi ngày, mỗi năm, cuộc khủng hoảng càng lớn, mối căng thẳng đã được đào sâu xuống.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1938, là “đêm pha lê” (người Đức gọi là Kristallnatch), quân Phát xít mở cuộc tấn công mạnh mẽ của họ vào các cộng đồng Do thái ở nước Đức. Nhiều cánh cửa sổ bị đập vỡ, nhiều nhà cửa bị đột chiếm, nhiều nhà hội bị đốt cháy, nhiều gia đình bị đối xử hung bạo, nhiều người Do thái bị nhốt tù. Bonhoeffer, trốn khỏi Berlin, lần trở lại thủ đô rồi đứng giống như vị tiên tri dũng cảm chống lại với bạo lực. Ông nổi giận với những Cơ đốc nhân nào xưng công bình bạo lực bằng cách nói người Do thái đang gặt lấy chỉ những gì họ đáng phải chịu như những kẻ đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá. Ông đánh dấu thời điểm tai hoạ cùng với Thi thiên 74.7-8, là chỗ ông đã gạch dưới trong quyển Kinh thánh của mình.

Hiển nhiên là ông đã bị tống giam tại nhà tù Telget ở bên ngoài Berlin. Xà lim nhỏ hẹp của ông gồm có cái võng, kệ sách, ghế đẩu, và xô nước. Ở đây, ông đã sống 18 tháng, viết nhiều thư và thơ. Một số trong đó đã được gửi cho Maria von Wedemeyer, vị hôn thê của ông. Họ không bao giờ cưới nhau, và các bức thư ông viết cho bà giờ đây còn ở tại Đại học đường Harvard, được sự chấp thuận của bà cho đến năm 2002.

Hiển nhiên là Bonhoeffer bị giải đến trại tập trung Flossenburg. Khi ông hướng dẫn một buổi thờ phượng nhỏ vào ngày 8 tháng 4 năm 1945, mật vụ Đức đột nhập vào rồi giải ông đi. Ông kêu lên: “Đây là phần cuối cùng – cho tôi, khởi đầu cho cuộc sống”. Một thời gian ngắn sau đó, lúc 5 giờ sáng, ông bị giải đến chỗ hành quyết tại một lùm cây và bị buộc phải cởi hết quần áo. Ông quì gối xuống trong tư thế trần truồng mà cầu nguyện, rồi bay thẳng từ giá treo cổ về đến với Đức Chúa Trời.

 

“Chúng nó đã lấy lửa đốt nơi thánh Chúa, làm cho chỗ danh Chúa ở ra phàm đến đất. Chúng nó nói trong lòng rằng: Chúng ta hãy hủy phá chung cả hết thảy đi. Chúng nó đã đốt các nhà hội của Đức Chúa Trời trong xứ” (Thi thiên 74.7-8).

 

10 tháng 11

CHIẾN BINH

                Vào năm 1942, một vị giáo sĩ đến tại Malaysia có tên là Paul Fleming bị nhiễm phải sốt rét rồi trở về lại quê nhà. Trong khi hồi phục, ông đã để ra nhiều giờ trao đổi với Mục sư Cecil Dye về nhu cần phải đến với những bộ tộc ở vùng sâu vùng xa vì cớ Đấng Christ. Họ tạo ra một cơ quan đa hệ phái có tên là Hội Truyền Giáo cho các Bộ Tộc Mới, và không lâu sau đó, Dye, em của ông, cùng ba người khác nữa cùng với gia đình họ đến tại Bolivia, mở mang công cuộc truyền giáo giữa bộ tộc Ayore, một bộ lạc da đỏ sống hoang dã. Người Bolivia cảnh cáo họ về mối nguy hiểm, nhưng mấy người nầy cứ đưa gia đình họ vào sâu trong những khu rừng già rồi lập ra một căn cứ. Từ đó, 5 người lao vào rừng rậm tìm kiếm những người Ayore.

Một tháng trôi qua, và nhóm người tìm kiếm ấy bước vào con đường đầy sỏi đá ngang qua cùng đồi núi kia. Họ chẳng tìm được gì trừ ra một ống kính máy ảnh đã bị hư, một chiếc vớ, và một vài dụng cụ cá nhân khác. Một cuộc tìm kiếm thứ nhì đã tìm gặp thêm nhiều thứ đồ vật trong bối cảnh mà người Ayore đã bỏ đi. Các toán quân đội được chuẩn bị để bao vây khu vực để báo thù cho những kẻ bị giết, nhưng một giáo sĩ đã ngăn can họ, khi nói rằng: “Đừng hành quân! Chúng tôi muốn đến với họ vì cớ Đấng Christ”.

Nhiều năm tháng trôi qua, và nhiều phụ nữ đi sâu hơn vào lãnh thổ của người Ayore, vẫn hy vọng chồng của họ còn sống sót. Khi ấy, vào năm 1948, một nhóm người da đỏ trần truồng xuất hiện ngay tại trại, lấy đi nhiều đồ đạt được biếu tặng, rồi biến mất. Sau đó, họ trở lại để lấy thêm đồ đạt rồi nói cho những người phụ nữ biết chồng của họ đã chết.

Dần dần nhiều chi tiết đã nổi lên: Vào ngày 10 tháng 11 năm 1944, 5 vị giáo sĩ đã tiếp cận được làng của bộ tộc Ayore, tạo ra sự phấn khích lớn lao lắm. Một chiến binh vì mất kiên nhẫn đã buông tên của họ, làm bị thương một vị giáo sĩ. Các vị giáo sĩ khác nhổ mũi tên ra, rồi 5 người rút lui mau chóng. Upoide, một chiến binh khác, đã nổi giận dẫn một tốp đuổi theo, rồi từng vị giáo sĩ một đã bị đánh đập, bị đâm bằng giáo và bị giết chết.

Những người vợ kia không lâu sau đó đã học biết rằng chính Upoide là kẻ đã tiếp cận trại của họ, kể lại câu chuyện. Khi hắn nhận ra mấy người phụ nữ nầy chịu tha thứ cho mình, hắn xưng nhận mọi hành thủ của mình, chịu ăn năn, và đến với Đấng Christ. Một nơi định cư Cơ đốc thường trực không bao lâu sau đó đã được thiết lập giữa vòng bộ tộc Ayore như một căn cứ cho hoạt động truyền giáo khác, và một công trường truyền giáo kết quả cho thổ dân Nam Mỹ còn tiếp tục cho đến ngày nay.

 

“Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài. Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va” (Xuất Êdíptô ký 15.2-3).

 

11 tháng 11

BẮT CHƯỚC ĐẤNG CHRIST

                Thomas Hemerken, ai cũng biết là Thomas ở Kempen (Kempen là một ngôi làng Đức cách Cologne 40 dặm), hay Thomas xứ Kempis, đã viết quyển sách thuộc linh nổi tiếng nhất trong lịch sử Cơ đốc.

Ông chào đời vào năm 1380, và bố mẹ ông, dầu nghèo nàn, đã gửi ông sang Hà lan để được Hội Anh Em Chung Sống (The Brethren of the Common Life) dạy dỗ. Hội Anh Em chú trọng về sự biến đổi thuộc linh, thực hành sự nên thánh, và suy gẫm luôn về Đấng Christ. Những sự dạy nầy rất ăn ý với chàng sinh viên trẻ tuổi, và chàng trở thành một môn đồ rất sâu sắc của Đức Chúa Jêsus Christ. Vào năm 1399 Thomas, khoảng 20 tuổi, bước vào tu viện dòng Augustine trên Núi Saint Agues, gần Zwolle, Hà lan, và nơi đây trở thành quê hương trong phần đời còn lại của ông. Ở đó ông đã giảng đạo, chép nhiều bản thảo, phân phối tài liệu thuộc linh, và viết nhiều sách vỡ cho tới khi qua đời lúc tuổi được 90. Một bia kỷ niệm được đề tặng ghi nhớ ông tại Nhà Thờ Thánh Michael ở Zwoller vào ngày 11 tháng 11 năm 1897.

                Mặc dù đời sống của Thomas là một cuộc sống bình lặng, những tiếng vang dội của nó phản hồi qua lịch sử. Tác phẩm nổi tiếng của ông là quyển Bắt Chước Đấng Christ (The Imitation of Christ), nguyên là một loạt bốn quyển đã được in ấn theo cách ẩn danh (gây ra nhiều năm tranh luận về tác giả của nó). Quyển Bắt Chước đã được phổ biến rộng rãi, nhiều tín đồ Tin lành và Công giáo hưởng ứng, và nó đạt tới 99 lần tái bản vào thế kỷ thứ 15. Ngày nay, ai cũng biết nó là sách giáo khoa thuộc linh quan trọng nhất trong mọi thời đại. Trong khâu ấn hành, quyển sách đã được phân phối rộng rãi hơn bất cứ quyển sách nào trong lịch sử Hội thánh bên cạnh Kinh thánh. Độc giả bị thách thức phải từ bỏ mình, chú đến sự khiêm nhường, và kính sợ Đức Chúa Trời. Đây là một điển hình:

Hãy phấn đấu để hướng lòng mình đừng yêu mến những thứ trông thấy được, và hãy hướng nó vào những thứ không thấy được … Thà làm một nông dân nghèo mà biết hầu việc Đức Chúa Trời hơn là một triết gia đầy tự hào chỉ biết ngó sao rồi chễnh mãng việc nhận biết mình … Chúng ta không nên tin cậy từng lời nói của người khác hay cảm xúc trong lòng mình, mà phải cẩn thận, kiên nhẫn xem coi sự việc có thuộc về Đức Chúa Trời hay không!?! Một người trong lòng biết hạ mình, và càng vâng phục đối với Đức Chúa Trời, người ấy sẽ là người khôn ngoan hơn trong mọi sự, và linh hồn người sẽ cứ ở trong sự bình an luôn.

 

“Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đã chết, sự sống mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời” (Côlôse 3.1-3).

 

12 tháng 11

LỮ KHÁCH TRONG THẾ GIAN

                Nếu quyển Bắt Chước Đấng Christ có một đối thủ trong doanh thu, thì đó là quyển Thiên Lộ Lịch Trình, do John Bunyan viết. Vào ngày 12 tháng 11 năm 1660, Bunyan rời khỏi nhà để tổ chức một buổi thờ phượng nhỏ  tại tư gia của một người bạn. Vào đầu năm ấy, Vua Charles II của Anh quốc, với quyển Kinh thánh ôm chặt nơi ngực, đã trở về từ cuộc lưu đày để phục hưng lại chế độ quân chủ và xây giáo hội Anh quốc trở lại với địa vi uy quyền của nó. Tất cả những tư gia nào tổ chức thờ phượng không thuộc giáo hội Anh đều bị đóng cửa, khiến cho sự giảng đạo Tin Lành của Bunyan giờ đây bị khống chế.

Sau khi về đến nhà ở trang trại, Bunyan mới hay rằng có chiếu chỉ phát ra lịnh bắt giữ ông. Bạn bè thúc giục ông nên đi trốn. Ông đáp: “Không! Tôi sẽ không chao đảo cũng không bỏ qua sự nhóm lại. Chúng ta không khuất phục. Rao giảng Lời của Đức Chúa Trời là một việc tốt lành, chúng ta sẽ được ban thưởng nếu chúng ta chịu khổ vì việc ấy”. Buổi thờ phượng không lâu sau đó đã bị ngắt ngang bởi chính quyền địa phương, và Bunyan mới nói được mấy câu thì bị bắt. Ông đã mất 12 năm ở trong ngục tù tại Belford, Anh quốc, trong thời gian đó gia đình ông đã chịu khổ nhục và đứa con gái mù mà ông rất yêu thương là Mary đã qua đời.

Bunyan đã lo cho gia đình bằng cách làm những dây đăng-ten ở trong tù; nhưng sau đó ông khám phá ra một ơn rất hay – khả năng viết lách. Danh tiếng ông là một nhà văn ở trong tù đã làm cho doanh thu các quyển sách ông viết tăng rất cao, và ông đã viết 60 quyển sách, mỗi quyển cho một năm sống của ông. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, được viết ra vào chặng đường sau cùng trong ngục tù, là quyển Thiên Lộ Lịch Trình. Có tới 100.000 bản đã được bán ra trong cuộc đời của Bunyan và sau đó là hàng triệu bản. Quyển sách nầy hiệp với quyển Bắt Chước Đấng Christ là hai quyển sách bán chạy nhất trong lịch sử in ấn, sau quyển Kinh thánh.

Bunyan đã tốn những năm sau cùng của mình trong ngôi nhà nhỏ tại Belford, ở đó có nhiều vị khách đến thăm, họ thường thấy ông đang nghiên cứu, thư viện của ông chỉ có một quyển Kinh thánh và một số tác phẩm của ông mà thôi. Trên giường bịnh nằm chiến đấu với cơn sốt cao, trong đau đớn Bunyan ghi lại những câu nói đứt đoạn; còn đây là trích đoạn đã được in ấn như là Những câu nói khi Bunyan hấp hối. Trong đó có một câu nói như sau: “Tinh thần cầu nguyện còn quí báu hơn vàng và bạc. Hãy thường xuyên cầu nguyện, vì cầu nguyện là một cái thuẫn cho linh hồn, một của tế lễ dâng lên Đức Chúa Trời, và là cây roi dành cho Satan”.

 

“Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm nơi quê hương. Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời” (Hêbơrơ 11.14-16a).

 

13 tháng 11

GIÁO HỘI NGHỊ DORT

  1. S. Lewis đã lưu ý: “Một trong những việc mà Cơ đốc nhân bất đồng là tầm quan trọng của những sự họ bất đồng”. Ngày nay, nhiều người theo hệ phái “Calvin” và hệ phái “Arminius” cùng làm việc song hành với nhau, nhưng trong mấy trăm năm, họ đã đánh nhau như những kẻ thù cay đắng.

Hệ phái Arminius rút danh xưng của họ từ Jacob Arminius, ông chào đời tại làng Oudewater xứ Hà lan vào năm 1559 hay 1560. Ông đã nhận được một sự giáo dục rất cao, nhưng những nghiên cứu của ông tại Đại học đường Marburg bị ngắt quảng bởi thảm hoạ. Quân đội Tây ban Nha đã tấn công quê hương ông ở Oudewater, và Jacob, khi hay được tin tức ấy, ngay lập tức trở về nhà để thấy gia đình mình đã bị tàn sát hết.

Ông tốn mất vài năm kế đó lưu lạc khắp châu Âu, đi hết trường đại học nầy đến trường đại học khác, dầm thấm tri thức giống như miếng bông đá vậy. Đến năm 1587, sau cùng ông định cư tại Amsterdam, được chỉ định làm Mục sư ở đó bởi các giáo phụ của thành phố. Arminius, là người hiểu rõ đau khổ hơn ai hết, đã trở thành một vị Mục sư nhơn đức. Ông thăm viếng kẻ đau yếu ngay giữa sự bùng nổ của nạn dịch, quở trách kẻ bướng bỉnh, và mưu luận mềm dẻo trong các vấn đề thần học. Những bài giảng của ông rất có quyền lực và rất được lòng người.

Sau vài năm, Jacob chuyển đến Leiden để dạy tại trường đại học, rồi ở đó trong 6 năm còn lại ông rơi vào xung đột với sự giải thích của thuyết Calvin đang trên đà thắng thế bởi Theodore Beza, là người kế tục Calvin ở Geneva. Beza đã làm cho tín điều Calvin trở nên vững chắc cho rằng Đức Chúa Trời quy định giải cứu và rủa sả những cá nhân nhất định nào đó bởi ý thích riêng của Ngài. Arminius, lo rằng lập luận của Beza khiến cho Đức Chúa Trời trở thành tác giả của tội lỗi, đã khẳng định rằng sự lựa chọn cứu rỗi được định bằng đức tin. Cuộc tranh cãi gay gắt đến nỗi Quốc Hội Hà Lan đã yêu cầu cả hai phía trình bày lập trường của mình trong các tác phẩm.

Arminius đã qua đời trước khi phúc đáp, nhưng cuộc tranh cãi chỉ mới bắt đầu mà thôi. Một cuộc chiến bằng những quyển sách mỏng, báo chí, và các bài giảng đã chia rẽ Hà Lan đến nỗi họ phải tổ chức Giáo hội nghị ở Dort, bắt đầu vào ngày 13 tháng 11 năm 1618. Từ lúc khởi sự, giáo hội nghị đã xem những tín đồ của Arminius là dị giáo, và đúng ngày 14 tháng Giêng năm 1619 những người thuộc hệ phái Arminius bị xét đoán. Tất cả hai trăm vị Mục sư thuộc hệ phái Arminius ở Hà Lan bị buộc không thi hành chức vụ, và bất cứ ai không chịu im lặng sẽ bị trục xuất ra khỏi xứ. Nhưng vấn đề chưa được định liệu. Cơ đốc nhân đã tranh luận về các lẽ đạo nầy – và về tầm quan trọng của chúng – kể từ đó.

 

“Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh. Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi” (Công vụ các sứ đồ  2.38-39).

 

14 tháng 11

BILL “CƯỜI”

                Cuộc nội chiến trong xứ Congo (Zaire) vào thập niên 1960, và giữa vòng các giáo sĩ bị kẹt trong lửa đạn là William McChesney với Hội Truyền Giáo khắp thế giới. Mặc dù chỉ cao có 5,2 foot, nặng 110 pounds, Bill có một tư cách “quá khổ” luôn tỏ ra vui vẻ bất cứ đâu ông đi đến. Những bạn đồng sự của ông đặt cho ông cái tên là Bill “cười”.

Vào ngày 14 tháng 11 năm 1964, khi đang chịu khổ vì sốt rét, Bill, 28 tuổi đã bị quân Congo nổi loạn bắt giữ. Mười ngày sau, ông bị  đánh đập chẳng chút thương xót, áo quần ông rách tả tơi, rồi ông bị ném vào một xà lim bẩn thỉu, chật nít người. Những linh mục Công giáo đã trao quần áo cho ông, vì ông bị cơn sốt rét hành hại dữ lắm. Ngày hôm sau, ông bị họ lôi ra khỏi xà lim rồi bị giết chết.

Trước khi ra đi để đến tại châu Phi, Bill đã viết một bài thơ giải thích nỗi ước ao muốn ra truyền giáo nơi hải ngoại. Bài thơ ấy chép như sau:

 

Tôi muốn bữa điểm tâm được dọn lúc 8 giờ

Với thịt và trứng trên đĩa

Một miếng thịt nướng chín tôi sẽ ăn lúc 1 giờ

Và thêm bữa ăn tối khi ngày xế rồi

 

Tôi muốn một ngôi nhà cực kỳ hiện đại

Và một máy điện thoại đặt ở mỗi phòng

Những tấm thảm mềm mại đặt trên sàn nhà

Các tấm màn thật đẹp treo ngang những cánh cửa

 

Tôi cũng muốn có chiếc tủ quần áo

Thật ngăn nắp, chất lượng tốt nhất

Với bộ vest và áo choàng kiểu mới nhất

Sao Cơ đốc nhân không có được thứ tốt nhất ấy?

 

Nhưng khi tôi nghe Chúa phán

Với giọng nói thật rõ ràng, trong sáng:

“Ta bảo ngươi hãy đến mà theo Ta,

Là Con Người thấp hèn của xứ Galilê”.

 

Nếu Ngài là Đức Chúa Trời, và đã chịu chết vì tôi

Thì chẳng có một sự hy sinh nào là quá lớn

Đối với tôi, một con người hay chết, phải trình dâng

Tôi dâng hết mọi sự vì cớ Chúa Jêsus

 

Phải, tôi sẽ bước theo con đường mà Ngài đã đi

Không một lối nào khác làm đẹp lòng Đức Chúa Trời

Vì vậy, đây mới là sự lựa chọn của tôi

Tôi đã chọn lấy vì cõi đời đời.

 

“Còn ai không vác thập tự giá mình mà theo ta, cũng không được làm môn đồ ta” (Luca 14.27).

 

15 tháng 11

HẾT SỨC MÌNH

                Osward Chambers đã viết một trong những quyển sách quan trọng nhất của Cơ đốc giáo, nhưng ông không hề biết như thế.

Ông đã thể hiện ra các ân tứ của một hoạ sĩ rất sớm, và tương lai của ông dường như được định đoạt bằng một học bổng cho các trung tâm nghệ thuật hàng đầu ở châu Âu. Thế nhưng, sau khi được Charles Spurgeon dẫn dắt đến với Đấng Christ, ông đã không nhận học bổng rồi nạp đơn vào học Trường Kinh thánh Dunoon, ông nói với gia đình mình như sau: “Đừng tiếc vì con không thể chạy theo chương trình đại học, có thể con sẽ xuất sắc nhất dù không có học bổng ấy. Con sẽ tự học theo khả năng có hạn của con vì cớ Ngài”. Ông giải thích sâu xa hơn trong quyển nhật ký của mình: “Từ khi tôi còn nhỏ, niềm tin tôn giáo là một công việc rất lạ kỳ và lớn lao, một kinh nghiệm sâu sắc và kỳ dị”.

Trong khi ở tại Dunoon, Chambers có nghe Tấn sĩ F. B. Meyer giảng về Đức Thánh Linh. Ông trở về phòng cảm thấy mình chẳng có một năng lực thuộc linh nào hết, và ông lấy làm thương hại khi nói: “Chẳng có gì ngoài ân điển của Đức Chúa Trời và sự tử tế của bạn bè đã giữ tôi không phải vào dưỡng trí viện. Tôi biết nếu những gì tôi đã có là toàn bộ Cơ đốc giáo thì điều nầy là một sự lừa lọc”.

Khi ấy ông tìm được một câu trong Kinh thánh – Luca 11.13: “Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!”

                Ông nói: “Tôi cho rằng ân tứ của Đức Thánh Linh trong Luca 11.13 là nhất quyết. Tôi không có một khải thị nào về thiên đàng hay thiên sứ. Tôi sống khô khan và trống không, không có quyền thế gì hay nhận biết Đức Chúa Trời. Khi đó, tôi được yêu cầu giảng dạy trong một lần nhóm lại kia, và bốn mươi linh hồn đã đến đứng trước mặt”. Chambers đã tìm được năng quyền và sự bình an trong chức vụ đã chạm đến thế gian ở hai chiều: trong khi và sau khi ông sinh sống.

Ông qua đời rất đột ngột ở Ai cập vào ngày 15 tháng 11 năm 1917 khi phục vụ các đạo binh Anh trong suốt Đệ Nhất Thế Chiến, rồi được chôn cất ở Cairo dưới tấm bia mang dòng chữ của Luca 11.13. Về sau, người vợ goá của ông là Gertrude Hobbs đã biên soạn lại những bản thảo, những ghi chú, các bài xã luận, cùng những bài giảng thành quyển My Utmost for His Highest, một quyển sách thách thức nhiều Cơ đốc nhân trong đời nầy.

 

“Hay là xin trứng, mà cho bò cạp chăng? Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!” (Luca 11.12-13).

 

16 tháng 11

DI SẢN

                Vào ngày Chúa nhựt 16 tháng 11 năm 1572, Robert Fairley ở Edinburgh không trở về nhà sau khi đi nhà thờ. Nhà cải chánh John Knox đang nằm hấp hối ở gần đó, và ông đến để thăm ông ấy. Fairley đến ngồi tại cái bàn đặt cận giường của Knox, cả hai người đã chia sẻ thức ăn và tình thân hữu.

Fairley, ao ước mình là người cuối cùng nhìn thấy nhà cải chánh vĩ đại kia còn sống, đã dõi theo căn bịnh của Knox. Khi ý thức được sự cuối cùng, ông lại đến thăm vào ngày thứ Năm. Sau khi chờ cho tất cả những người khác đã rời khỏi phòng, ông rón rén đến bên cạnh người nằm hấp hối kia. Knox ngước mắt nhìn quanh rồi thì thào: “Tôi mắc nợ anh nhiều lắm. Tôi không thể báo đáp gì được cho anh, nhưng tôi phó thác anh cho Đấng có quyền làm điều đó – cho Đức Chúa Trời đời đời”.

Fairley không hề quên được những lời nầy. Ông đã nói cho con cái mình biết. Chúng nói lại cho con cái của chúng. Câu chuyện chuyển đi từ thế hệ nầy sang thế hệ khác cho tới chừng Marion Fairley được nghe thuật lại: “Tổ phụ con đã được trình cho Đức Chúa Trời đời đời qua sự cầu nguyện của tôi tớ Ngài, là John Knox”. Cảm động bởi di sản ấy và bởi sự giảng đạo của cha mình, Marion dâng mình cho Đấng Christ.

Marion lớn lên thành hôn với William Veitch tin kính. Một tối kia, khi những binh lính đột nhập vào, đem William nhốt vào ngục vì ông lo rao giảng Tin lành. Về sau Marion viết: “Suốt ngày những tên sĩ quan có mặt ở trong nhà, (Chúa) nâng đỡ tôi để tôi không nao núng trước mặt họ”.

Thế rồi, khi tin tức cho biết William sẽ bị treo cổ. Marion ngồi trên lưng ngựa trải qua cơn bão tuyết tháng Giêng đến tại nhà tù Morpeth, đến vào lúc nửa đêm. Lúc rạng ngày, bà được họ cho gặp chồng mình chừng vài phút: “tôi đã bước vào nhà của một người bạn rồi bật khóc”. Ngày ấy, ủy viên công tố Thomas Bell tuyên án: “Veitch sẽ bị treo cổ vào ngày mai như hắn đáng được”.      

Nhưng tối hôm ấy tên ủy viên công tố Bell đã lưu lại nhà của một người thân, uống rượu và trò chuyện cho đến hơn 10 giờ đêm. Bầu trời tối đen như kịt và lạnh buốt khi hắn ta rời khỏi căn nhà. Hắn không bao giờ đến được nữa. Hai ngày sau thi thể hắn được tìm thấy trên dòng sông, đã bị đông cứng lại thành đá.

William Veitch được thả ra, rồi ông cùng với Marion sống cho đến tuổi già, chuyển giao phần cơ nghiệp tin kính của mình cho con cháu của họ.

 

“Mà chúng ta đã nghe biết, và tổ phụ chúng ta đã thuật lại cho chúng ta. Chúng ta sẽ chẳng giấu các điều ấy cùng con cháu họ, bèn sẽ thuật lại cho dòng dõi hậu lai những sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, quyền năng Ngài, và công việc lạ lùng mà Ngài đã làm” (Thi thiên 78.3-4).

 

17 tháng 11

  1. H. MASON

                Charles H. Mason chào đời ở bên ngoài Memphis gần cuối cuộc Nội Chiến cho Jerry và Eliza Mason, là hai nô lệ đã được phóng thích tự do. Eliza đã khẫn thiết cầu nguyện để con trai bà được dâng cho Đức Chúa Trời. Đứa trẻ đã dầm thấm những lời cầu nguyện ấy và không lâu sau đó đã hiệp cùng mẹ mình tại ngai ân điển, cầu xin cho có thứ đức tin giống như đức tin của những nô lệ xưa và của bố mẹ mình.

Khi Charles được 12 tuổi, cơn sốt rét da vàng đã bùng phát trong xứ. Gia đình Mason gói ghém các thứ thuộc về mình rồi mau chóng chuyển sang Plumersville, Arkansas, ở đó họ trở thành những tá điền trong một đồn điền có đầm lầy. Nạn dịch đã đuổi theo họ, lấy đi mạng sống của Jerry, và, vươn cái vòi chết chóc của nó ra quấn lấy chàng thành niên Charles, khiến cho chàng ta chậm phát triển với những cơn cảm lạnh và sốt cao. Sự chết của chàng ta dường như là chắc chắn. Nhưng sáng sớm Chúa nhựt kia “sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tỏ ra cho Charles chưa bao giờ có trước đó”, khi vợ anh về sau cho biết: “Được chữa lành ngay lập tức bởi sự hiện diện của Đức Chúa Trời, (anh ấy) bước ra khỏi giường rồi tự mình đi ra ngoài. Ở đó, dưới bầu trời ban sáng, anh ấy đã cầu nguyện và ngợi khen Đức Chúa Trời vì được chữa lành. Trong những giây phút ấy, (anh ấy) đã làm mới lại sự đầu phục của mình với Đức Chúa Trời”. Đồng thời, mẹ của anh, bà đã thức giấc để kiểm tra anh, rất đổi ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc giường trống của anh. Bà khám phá ra anh đã ra khỏi nhà, vừa đi vừa nhảy vừa hô to: “Vinh hiển cho Đức Chúa Trời! Ha-lê-lu-gia! Ngợi khen danh thánh của Ngài!”

Không có gì phải ngạc nhiên, C. H. Mason đã lớn lên trở thành một nhà truyền đạo, sứ điệp thánh khiết của ông làm ray rứt những tín hữu Báptít. Một ngày kia, khi đang đi xuống con đường ở Little Rock vừa suy gẫm I Têsalônica 2.14, một danh xưng thoạt đến trong trí: Hội thánh của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Mason cùng những tín hữu Báptít cộng tác với nhau, và ông bắt đầu tổ chức các anh em cùng tâm trí với mình thành một nhóm mới. Giữa năm 1897 và năm 1906, tổ chức còn non nớt ấy đã tấn tới trong sinh hoạt của họ. Thế rồi đến năm 1907, ở Cuộc phấn hưng đường Asuza tại Los Angeles, Mason đã nhận được phép báptêm bằng Đức Thánh Linh. Ông trở về nhà với lòng sốt sắng mãnh liệt lắm, và hệ phái trẻ trung đã được tái tổ chức lại và được nhen nhúm lên.

Hội thánh của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ là hệ phái đầu tiên nổi lên từ nhiệt tình của đường phố Asuza, và bởi cái chết của Mason vào đúng ngày 17 tháng 11 năm 1961, hệ phái ấy có mặt giữa vòng những hệ phái Ngũ Tuần lớn nhất trong nước Mỹ.

 

“Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin. Hỡi anh em, anh em thật đã trở nên người bắt chước các hội thánh của Đức Chúa Trời tại xứ Giu-đê, là các Hội thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ” (I Têsalônica 2.13-14a).

 

18 tháng 11

CHÚA SẼ TIẾP TRỢ

                Hudson Taylor đã thiết lập Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa vào năm 1865 với tiền đề cho rằng Hội nầy không hề vận động những nguồn ngân sách mà chỉ tin cậy Đức Chúa Trời tiếp trợ cho mọi nhu cần của nó mà thôi. Trong khi chính sách nầy sẽ không được tán thưởng trong từng chức vụ, nó cung ứng cho Taylor với hàng ngàn trường hợp nói tới sự thành tín của Đức Chúa Trời, giống như một trường hợp được mô tả trong lá thư viết vào ngày 18 tháng 11 năm 1857:

                “Có nhiều người dường như nghĩ là tôi rất nghèo. Điều nầy thực đủ góc cạnh nào đó, nhưng tôi cảm tạ Đức Chúa Trời đó là cái “nghèo mà làm cho nhiều người được giàu có”. Đức Chúa Trời của tôi đã chu cấp cho mọi nhu cần của tôi, nguyện sự vinh hiển thuộc về Ngài. Tôi sẽ không thể làm chi khác hơn là – tôi nương cậy nơi Chúa, và được dùng như một ống dẫn để giúp đỡ cho nhiều người khác.

                Vào ngày thứ bảy, như thường lệ, chúng tôi đã chu cấp bữa ăn sáng cho kẻ nghèo thiếu, họ đã lên tới con số 70. Có khi họ không tới 40, ở những dịp khác họ lên tới 80 người. Mỗi ngày họ đến với chúng tôi, trừ ra ngày Tiệc Thánh, vì chúng tôi không thể quản được con số mà còn phải lo những nhiệm vụ khác nữa. Thế rồi, vào sáng thứ Bảy ấy chúng tôi lo cho mình trong ngày hôm sau, sau đó chúng tôi chẳng còn được một đồng nào cả. Làm thế nào Chúa sẽ tiếp trợ cho ngày thứ Hai, chúng tôi không biết; nhưng trên bệ của lò sưỡi có treo hai cuộn giấy ghi bằng tiếng Hoa – Ê-bên-ê-ze: “Nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ chúng con”; và Giêhôva Dirê “Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ cho” – và Ngài đã giữ chúng tôi chẳng lấy làm hồ nghi gì, dù chỉ là một giây lát. Chíng ngày ấy, có thư gửi đến, chưa đầy một tuần trông đợi, và Ông Jones đã nhận được 214USD. Chúng tôi cảm tạ Đức Chúa Trời và được lòng dạn dĩ. Qua ngày thứ Hai người nghèo đến ăn sáng như thường lệ, vì chúng tôi không bảo họ đừng đến, mà biết chắc rằng đây là công việc của Chúa, và Chúa sẽ tiếp trợ cho. Chúng tôi không sao ngăn được mắt mình phải đầy những giọt nước mắt của sự biết ơn khi chúng tôi nhìn thấy không những mọi nhu cần của chúng tôi được tiếp trợ cho, mà những người đàn bà goá, trẻ mồ côi, người mù loà và người què, kẻ cô đơn và người nghèo thiếu, họ đã được tiếp trợ cho bời sự sự dư dật của Ngài là Đấng đã nuôi những con chim quạ”.

               

“Ấy vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? mặc gì? Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi. Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Mathiơ 6.31-33).

 

19 tháng 11

NÍN LẶNG

                Ai là nhà truyền đạo người Anh lỗi lạc nhất trong số họ? Có người dứt khoát cho rằng đó là Richard Baxter thuộc hệ phái Thanh giáo nước Anh vào thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, trong 10 năm xuất sắc nhất của ông, tiếng nói của Baxter đã đi vào chỗ thầm lặng, các bài giảng của ông buộc phải câm nín đi, và toà giảng của ông thì trống trơn.

Cuộc đời của Baxter trải suốt thế kỷ thứ 17. Ông chào đời vào năm 1615 và sống trong những ngày tháng lộn xộn của cuộc Nội Chiến ở Anh quốc, sự chặt đầu Vua Charles I, và khối thịnh vượng chung dưới quyền Cromwell. Hệ phái Thanh giáo (Puritan), ngay giữa các sự cố nầy, đã tìm được xu thế chính trị chống lại họ vào năm 1660. Charles II phục hồi lại chế độ quân chủ rồi sau đó một thời gian ngắn Baxter (45 tuổi lúc bấy giờ) và 2.000 nhà truyền đạo thuộc hệ phái Thanh giáo đã bị từ chối không được đứng giảng đạo nữa. Baxter bị bắt, bị nhốt trong tù, bị tước đoạt hết mọi tài sản, và chịu nhiều thứ bịnh tật kể cả bịnh ho liên tục, chảy máu cam thường xuyên, chứng nhức nữa phần đầu, rối loạn tiêu hoá, đau thận, sỏi mật, và cuộc chiến liên tục với bịnh phổi.

Trong 10 năm Baxter không đứng trên toà giảng, không thể công bố hợp pháp Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng ông là một người của sự cầu nguyện, và từ những nỗi khổ của ông mà ra những quyển sách đầy quyền lực nhất từng được viết ra, trong đó có quyển Sự Yên Nghỉ đời đời của các Thánh đồ (The Saint’s Everlasting Rest), Mục sư Cải chánh (The Reformed Pastor) – và 138 quyển khác.

Sau cùng, cuộc “lưu đày” của ông kết thúc. Chúng ta đọc trong quyển nhật ký của ông viết về ngày 19 tháng 11 năm 1672: “Ngày 19 tháng 11 là ngày đầu tiên, sau thời gian nín lặng 10 năm trời, tôi đã giảng trước một hội chúng, dù nơi họ nhóm lại không phải là nhà thờ, mà ở tư gia của tôi, nghịch lại với luật pháp”.

Nếu máy ghi băng đã được phát minh – để nghe thấy giọng nói đầy quyền lực của Baxter sau 10 năm chuyên về cầu nguyện, suy gẫm, nghiên cứu và giận dữ. Baxter từng viết: “Hãy chịu khó học hỏi, vì tri thức thuộc linh nằm ở chỗ sâu sắc, và lý trí của chúng ta thì nông cạn”.

Baxter đã chịu khó nghiên cứu và làm việc không mệt mỏi cho tới khi ông chuyển qua sự yên nghỉ đời đời của các thánh vào năm 1691 ở tuổi 76.

 

“Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành…Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhân sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng: hãy giảng đạo” (II Timôthê 3.16-4.2a).

 

20 tháng 11

LỜI THỀ CỦA VỊ BÁC SĨ

            Vào ngày 20 tháng 11 năm 1759, chiếc Arundel tiếp cận với một chiếc tàu vô danh trong vùng biển phía Tây Ấn độ. Các thủy thủ da sạm nắng, hồi hộp đứng bên cạnh họng súng của họ khi Thuyền trưởng Charles Middleton gửi một nhóm nhỏ đi điều tra. Chiếc Swift được chứng minh là tàu buôn nô lệ cho xứ Guinea. Tàu ấy mang theo mầm dịch.

Middleton cho mời y sĩ James Ramsay, một thanh niên mà ông đã dẫn dắt đến với Đấng Christ. Vị bác sĩ trèo qua chiếc Swift và choáng váng trong nổi khủng khiếp. Các khoang tàu đều chật kín với những nô lệ trần truồng, bị xiềng theo từng hàng một, đau đớn, than thở, tháo mồ hôi và hấp hối vì cớ nạn dịch. Mùi hôi thối không thể chịu nổi, sự bẩn thỉu không thể tin được. Ramsay rời khỏi chiếc Swift thề sẽ làm hết sức mình để giải cứu cho hàng nô lệ.

Một thời gian ngắn sau đó ông không còn phục vụ trong Hải quân nữa rồi trở thành Mục sư trên đảo Saint Kitt ở phía Tây Ấn. Ông mua 10 nô lệ từ những chủ nô, và Ramsay trở thành tôi tớ của họ, ông dạy Kinh thánh cho họ và chăm sóc họ về mặt y khoa. Thái độ ghét bỏ tình trạng nô lệ của ông càng phát triển khi ông đến tham quan các đồn điền gần đó, chăm sóc những vết thương khi họ bị đánh bằng roi có bọc sắt. Những chủ đồn điền đe doạ ông khi ông phản bác thái độ đối xử đối với hàng nô lệ; và khi Ramsay lên tiếng kêu gọi hủy bỏ tình trạng nô lệ, ông bị tấn công trên báo chí địa phương, chỉ trích bởi nhiều người dân, rồi bị trục xuất ra khỏi xứ.

Ramsay nhận làm chủ toạ một Hội thánh tại vùng ngoại ô xứ Kent ở Anh quốc, Mặc dù mới 48 tuổi, trông ông già sụ đi. Hết ngày tới đêm, tiếng kêu la của những nô lệ đã ám ảnh ông, và ký ức của ngày 20 tháng 11 năm 1759 không hề lìa khỏi ông. Ông đặt hết cảm xúc vào việc viết báo và dấn thân vào một trận bão khác. Cơn bão ấy đã đến, nhưng lần nầy ông có một đồng minh – vị thuyền trưởng cũ của ông, Charles Middleton, giờ đây là một thành viên trong Quốc hội. Middleton tham gia vào chiến dịch của Ramsay, nhưng ông nhìn quanh tìm một thành viên Quốc hội trẻ trung, năng nổ hơn để làm lãnh tụ. Ông đã chọn William Wilberforce.

Chiến dịch lâu dài của Wilberforce hầu tiêu hủy tình trạng nô lệ ở Anh quốc bấy giờ ai cũng biết đến. Nhưng có ít người chịu lần lại dấu vết tới vị Bác sĩ Cơ đốc từng đưa ra lời thề vào một ngày của tháng 11 năm 1759.

 

“Đức Chúa Jêsus đến thành Na-xa-rét…Theo thói quen, nhằm ngày Sa-bát, Ngài vào nhà hội, đứng dậy và đọc. Có người trao sách tiên tri Ê-sai cho Ngài, Ngài dở ra, gặp chỗ có chép rằng: Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha…” (Luca 4.16-19a).

 

21 tháng 11

VATICAN II

Những cơn mưa xối xả kéo dài đến 9 tiếng đồng hồ mới dứt, và mặt trời ban sáng chiếu rực rỡ xuống 2.500 vị Giám mục Công giáo La mã với áo choàng toàn trắng khi họ diễu hành qua Quảng trường Thánh Peter chào đón buổi khai mạc lịch sử Giáo Hội Nghị Vatican II. Hôm ấy là ngày 11 tháng 10 năm 1962. Giáo Hoàng John XXIII, là người tổ chức Giáo hội nghị, đã được bầu làm Giáo Hoàng ở tuổi 77, và có ít người mong ông giữ chức vụ được lâu dài. Thay vì thế, ông đã làm cho mọi người phải ngạc nhiên khi kêu gọi hội nghị, đóng góp ý kiến cho một sự cảm thúc thình lình của Đức Thánh Linh.

Khi các vị giám mục tìm được chỗ của họ trong cung điện của Giáo hoàng, vị lớn tuổi nhất chầm chậm đứng dậy phát biểu. Ông nhắc cho khán thính giả của mình nhớ giáo hội giờ đây đang sống trong một kỷ nguyên hiện đại. Mặc dù “khoản tín điều” thì không thay đổi, giáo hội nghị đã trình bày vấn đề khác. Các hình thức, phương pháp, và thái độ đã được cập nhật hoá.

Trong ba ngày liên tiếp, các vị giám mục đã suy nghĩ, bàn bạc, chịu khổ, và cầu nguyện. Nhiều giới hạn đã được rút lại giữa phái Bảo thủ và phái Cấp tiến. Giáo Hoàng John đã qua đời vào ngày 3 tháng 6 năm 1963; nhưng Paul VI, người kế tục của ông, đã tiếp nối. Đến cuối cùng, 16 văn bản đã được tiến hành. Nghi thức công giáo đã được đơn giãn hoá, với sự cho phép cử hành các nghi thức của nhà thờ theo các ngôn ngữ của những dân tộc thay vì bằng tiếng Latinh. Nhiều phần Kinh thánh đã được sử dụng, với sự tham dự đông đảo của người thờ phượng. Phần chú giải Kinh thánh và việc ca hát trong hội chúng đã được khích lệ. Một chú trọng mới về sự tự do đã trở thành lẽ đạo của giáo hội nghị.

Quan trọng hơn nữa, thái độ của Công giáo đối với các bộ phận Cơ đốc khác đã được nâng lên. Trong sự kêu gọi Vatican II, Giáo Hoàng John đã mơ về đối thoại và thân hữu với “anh em tách rời” của Đông và Tây phương, về một sự thống nhất mới trong Vương quốc Cơ đốc. Ngày 21 tháng 11 năm 1964, là ngày kết thúc long trọng phiên họp thứ ba, và ba văn bản đã được tán thành trong ngày đó gồm Sắc lệnh ban hành chủ trương chung của Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới (The Decree of Ecumenism), được Giáo hội nghị bỏ phiếu áp dụng với 2.137 phiếu thuận và 11 phiếu chống. Sắc lệnh nầy tuyên bố rằng cả Công giáo và Tin lành đều có phần xấu hổ vì sự chia rẻ trong giáo hội, và sắc lệnh ấy ca tụng sự tấn tới của phong trào thực hiện chủ trương chung kia. Việc bàn bạc với các nhóm Cơ đốc khác sẽ thay thế cho nghi ngờ và tranh chiến, sắc lệnh ghi như thế.

Trong khi không một lẽ đạo cơ bản nào được tu chính tại Vatican II, những sự thay đổi đã hình thành nên các thái độ, cách tiếp cận đã làm thay đổi Giáo hội Côn g giáo cho đến đời đời.

 

“Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy” (Giăng 4.23-24).

 

22 tháng 11

BA ĐÀO SÔI

                Vào tháng 11 năm 1783, vị Luật sư ở Chicago là Horatio G. Spafford đưa vợ cùng 4 đứa con gái của mình là Maggi, Taneta, Annie, và Bessie, đến Nữu Ước, rồi đưa họ lên chiếc tàu Pháp sang trọng có tên là S. S. Ville du Havre. Trận hoả hoạn lớn ở Chicago đã hủy diệt mọi sự họ có, và Spafford đưa mấy cô con gái của ông vào Trường English cho tới khi các trường học ở Chicago – và chính cuộc sống ông – có thể được tái thiết lại. Khi ông nhìn thấy gia đình mình đến ngụ trong túp lều, một sự bất an hiện ra trong trí và ông đưa họ đến một căn phòng gần mũi tàu hơn. Khi ấy ông chào tạm biệt, hứa sẽ tái ngộ với họ về sau tại nước Pháp.

Trong thì giờ ngắn ngủi của ngày 22 tháng 11 năm 1873, khi chiếc Ville du Havre lướt đi trên mặt biển phẳng lặng kia, các hành khách đột nhiên bị bật sốc ra khỏi giường ngủ của họ. Chiếc tàu đã đụng phải con tàu buồm bằng sắt, chiếc Lochearn. Nước tràn vào giống như thác Niagara, và chiếc Ville du Havre lâm vào nguy hiểm. Những tiếng la thét, lời cầu nguyện và thề thốt nổi lên thành một cơn ác mộng khủng khiếp không tả xiết. Hành khách, không đứng vững được, bám vào mấy cây cột, té ngã trong bóng tối, và bị ướt sũng bởi những dòng băng mạnh, ùa xô tới trong biển. Những người thân ngã chụp lấy nhau rồi biến mất trong bóng tối đang sủi bọt kia. Trong vòng hai giờ đồng hồ, chiếc tàu to lớn ấy đã chìm xuống lòng đại dương trong bóng đêm. 226 người ngã chết trong đó có Maggie, Taneta, Annie, và Bessie. Bà Spafford được tìm thấy gần bất tỉnh, đang bám vào một mãnh ván trôi. Chín ngày sau, khi những kẻ sống sót cập bờ Cardiff, xứ Wales, bà đã gọi điện cho chồng mình: “Chỉ một mình được cứu”.

Ngay lập tức ông gói ghém hành lý sang gặp vợ mình. Trên đường đi, vào một đêm lạnh giá tháng Chạp, viên thuyền trưởng gọi ông đến bên cạnh rồi nói: “Tôi tin chúng ta giờ đây đang đi ngang qua vị trí mà chiếc Ville du Havre đã chìm”. Spafford đi về phòng của mình, thấy rất khó ngủ. Ông nhũ lòng: “Tốt thôi; nguyện ý Cha được nên”, và sau đó viết bài thánh ca nổi tiếng dựa theo mấy lời nầy:

 

Khi tôi được bình tịnh

dường sông chảy theo đường đời

Hoặc lắm thống bi như ba đào sôi

Hoàn cảnh dẫu ra sao, Christ khuyên cứ nói sắt đinh:

“Linh hồn ôi, ta yên ninh, thật yên ninh”.

 

“Vực gọi vực theo tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi. Dầu vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va sẽ sai khiến sự nhân từ Ngài; Còn ban đêm bài hát Ngài ở cùng tôi, tức là bài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời của mạng sống tôi” (Thi thiên 42.7-8).

 

23 Tháng 11

NGẮN NGỦI, BỊNH TẬT, VÀ NGOẠN MỤC

                Đời sống của ông là một đời sống ngắn ngủi, bịnh tật và ngoạn mục. Ông qua đời trước khi đến 40 tuổi, nhưng đã để lại một danh tiếng thật lâu dài. Blaise Pascal, chào đời ở Pháp vào năm 1623, tốt nghiệp tại Paris và khởi sự đánh dấu những đóng góp vào môn hình học, vật lý, và số học ở tuổi 16. Danh tiếng và sự giàu có được tích lũy rất mau chóng, những khuynh hướng tôn giáo của ông cũng thế. Vào tháng Giêng năm 1646, bố của ông bị té và gãy chân. Các y tá đều là người Công giáo sốt sắng lắm, và Pascal, sau khi trao đổi với họ, bắt đầu xem trọng niềm tin Thiên Chúa giáo của mình. Danh tiếng của ông trong cộng đồng khoa học tại Paris lớn lên bởi những cú nhảy vọt, và ông càng nghiên cứu thiên nhiên ông càng nhìn thấy bằng chứng về Đấng Tạo Hoá. Đến ngày 23 tháng 11 năm 1654, trong khi đọc Giăng 17, ông đã gặp gỡ riêng với Đức Chúa Jêsus Christ và có chút ấn tượng trên mẫu giấy da: “Khoảng 10H30 tối cho đến 12H30, LỬA! Đức Chúa Trời của Ápraham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, chớ không phải Đức Chúa Trời của triết gia và học giả. Chắc chắn như thế. Những cảm xúc. Vui mừng. Bình an. Đây là sự sống đời đời, nguyện họ nhận biết Ngài , là Đức Chúa Trời chơn thật duy nhứt, là Đấng mà Ngài đã sai phái, là Đức Chúa Jêsus Christ”.

                Pascal may mẫu giấy da ấy phía trong áo choàng của mình và thường trong những phút cám dỗ ông rà tay vào nó để ấn sứ điệp ấy vào lòng mình. Đời sống ông thay đổi, và ông bắt đầu dâng hiến nhiều tiền bạc cho người nghèo. Các nghiên cứu khoa học của ông nổi tiếng trên thế giới cho đến hôm nay, đã trở thành phụ thuộc trong những theo đuổi của ông về mặt thuộc linh.

Những quyển sách của ông bày tỏ ra nhiều câu nói rất khéo léo, và thậm chí Voltaire vô đạo cũng lưu ý rằng các tác phẩm của Pascal đều là công trình đầu tiên của thiên tài xuất hiện tại nước Pháp. Ông đã trở thành Shakespear, Dante, Plato, Euclide của nước Pháp. Ông đã thiết kế máy tính đầu tiên của thế giới, dịch vụ “bus” đầu tiên, và đã lót đường cho sự phát minh phong vũ biểu và các lý thuyết về môn xác suất.

Khi sức khoẻ ông giảm đi, Pascal muốn để lại sau lưng một công tác sau cùng, một lời biện hộ cho đức tin Cơ đốc, thách thức các nhà vô thần và những kẻ theo thuyết bất khả tri với nhiều bằng chứng về Cơ đốc giáo. Ông bắt đầu thực hiện những ghi chú, nhưng chứng đau đầu của ông ngày càng tệ hại thêm. Ông đã qua đời, để lại gần 1.000 mẫu chưa hoàn thành không bao lâu sau đó đã được gom về thành một trong những tác phẩm kinh điển trong nền văn chương Cơ đốc, quyển Pensées.

 

“Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống” (I Giăng 5.11-12).

 

24 tháng 11

KÍNH ĐỨC TIN HAI TRÒNG  

Có lẽ đây là cách nói Tô cách Lan của ông. Có lẽ nụ cười khôi hài của ông. Có lẽ tính giản dị trong sự giảng đạo của ông, hay có lẽ đây là lời cầu nguyện của ông với những nét dạn dĩ cay độc trong đó. Dù là lý do nào, Peter Marshall được ghi nhớ như một trong những vị Tuyên úy Thượng viện đáng yêu nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Marshall đến định cư tại Hoa kỳ, sau khi đến tại đảo Ellis vào năm 1927, chỉ 19 năm trước khi có danh hiệu Tuyên Úy Thượng Viện. Ông làm Mục sư chủ toạ ở Georgia, kế đó ở Hội thánh Trưởng lão Đại lộ Nữu Ước ở Washington. Đến tháng 5 năm 1947, ông được khoác danh hiệu Tuyên Úy Thượng viện, rồi những lời cầu nguyện của ông ngay lập tức đã chạm đến cả quốc gia.

Đây là lời cầu nguyện “kính đức tin hai tròng” của ông, được dâng lên trước Thượng Viện Hoa Kỳ vào đúng ngày 24 tháng 11 năm 1947:

                Lạy Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con và là Đức Chúa Trời của chúng con, xin ban cho chúng con đức tin để tin tưởng vào sự đắc thắng tối hậu của sự công bình, bất luận bầu trời bất ổn và tăm tối như thế nào của hôm nay.       

                Chúng con cầu thay cho kính đức tin hai tròng – để nhìn thấy sự tuyệt vọng và nhu cần của thời thế, mà còn nhìn thấy, xa hơn nữa, sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời chúng con đang thể hiện chương trình của Ngài trên thế giới mà Ngài đã dựng nên.

                Xin giúp đỡ các tôi tớ Ngài trong thời của chúng con biết giải thích ý nghĩa của câu nói được in trên đồng tiền của chúng con. Xin làm cho đức tin của chúng con ra thành thực bằng cách giúp đỡ chúng con ngày hôm nay làm một việc vì cớ Ngài đã phán: “Hãy làm đi”, hay đừng làm vì cớ Ngài đã phán: “Ngươi chớ”.

                Chúng con nói chúng con tin cậy Ngài, hoặc thậm chí muốn tin theo Ngài như thế nào, khi chúng con không làm theo điều mà Ngài đang phán dạy chúng con? Nguyện đức tin chúng con được nhìn thấy trong công việc của Ngài. Nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng con. Amen!

Hơn một năm sau đó, Peter Marshall, 46 tuổi, đã phải nhập viện mau chóng với cơn đau nặng nơi ngực và hai cánh tay của ông. Một cơn đau tim nghiêm trọng tấn công cướp đi mạng sống của ông, và cả nước đã than khóc cái chết của ông. Nhưng những lời cầu nguyện, các bài giảng, và cuộc sống của ông đã được bất tử hoá trong nền văn chương Cơ đốc qua các nổ lực của vợ và là nhà viết tiểu sử của ông, bà Catherine Marshall.

 

“Vả, khi các ngươi cầu nguyện, đừng dùng những lời lặp vô ích như người ngoại; vì họ tưởng vì cớ lời mình nói nhiều thì được nhậm. Vậy, các ngươi đừng như họ; vì Cha các ngươi biết các ngươi cần sự gì trước khi chưa xin Ngài. Vậy các ngươi hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh” (Mathiơ 6.8-9).

 

25 tháng 11

MÁU TRẮNG?

                Lẽ thật trong Kinh thánh thì cứng rắn và trong sáng như kim cương, cung ứng một nền tảng vững chắc cho cả sự sống và sự chết. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 10.35: “Ngươi không thể tranh luận với Kinh thánh” (theo bản Kinh thánh Anh ngữ). Nhưng quí vị có thể tranh luận với Kinh thánh về một vài truyền thuyết và phân nửa sự thực về lịch sử Hội thánh. Thí dụ, hãy lấy câu chuyện đáng nhớ của Thánh Catherine xứ Alexandria.

Chào đời vào thế kỷ thứ ba trong một gia đình quí tộc Cơ đốc ở Alexandria, Catherine xinh đẹp đã dâng mình cho Đấng Christ và từ chối không dâng tế lễ cho các tà thần. Hoàng đế Maxentius, ham mến nàng, đã hiến ơn tha thứ cho nàng nếu nàng chịu ngủ với ông ta. Nàng đã từ chối, và cho rằng nàng là cô dâu của Đấng Christ. Với hy vọng ngăn can nàng, Maxentius cho triệu tập 50 học giả xuất sắc đến tranh luận với nàng. Nàng đã chinh phục hết thảy họ, đem tất cả 50 người về với đức tin Cơ đốc. Họ đã trả giá cho sự trở lại đạo bằng cách bị thiêu sống, với những lời chúc mừng của Hoàng đế.

Đồng thời, Catherine đã làm cho vợ của hoàng đế, vị tướng lãnh hàng đầu, và 200 ngự lâm quân của ông ta trở lại đạo. Maxentius giận dữ, ra lịnh cho Catherine phải bị gắn vào bánh xe có đinh đóng chung quanh, chịu hành hình và tan xác. Khi bánh xe ngừng lại, Maxentius ra lịnh cho kẻ hành quyết phải chặt đầu của nàng. Sửa thay vì huyết tuôn đổ ra từ vòng cổ giản dị của nàng.

Nữ đồng trinh tuận đạo đã trở thành một trong những người nữ đời xưa được tôn kính, và vào ngày 25 tháng 11 năm 25 được chỉ định làm ngày tiệc thánh của Catherine trên lịch của Hội thánh. Nàng đã được ca tụng và tôn vinh không có giới hạn bởi những kẻ thờ phượng thời Trung cổ, trở thành thánh bảo trợ của giới thanh nữ, của thợ làm bánh xe bò, của những trạng sư, và các học giả.

Nhưng câu chuyện nói về nàng thực như thế nào? Có lẽ không nhiều đâu! Ở đàng sau truyền thuyết, là một người tuận đạo xinh đẹp, câu chuyện đầy đủ nói về người đều được biết rõ chỉ trên thiên đàng. Nhưng lần nhắc tới đầu tiên về ngày Catherine từ thế kỷ thứ chín khi xương cốt của nàng được chuyển đến chủng viện ở Núi Sinai, và những nhà chép tiểu sử sớm sủa nhất về ngày của nàng là từ thế kỷ thứ mười. Mặc dù nàng có mặt giữa vòng những vị anh hào lỗi lạc nhất trong những đám đông thời Trung Cổ, có ít bằng chứng cho rằng Catherine xứ Alexandria từng sống trên đất.

 

“đừng nghe phù ngôn và gia phổ vô cùng, là những điều gây nên sự cãi lẫy, chớ chẳng bổ sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, là công việc được trọn bởi đức tin. Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra. Có vài kẻ xây bỏ mục đích đó, đi tìm những lời vô ích” (I Timôthê 1.4-6).

 

26 tháng 11

MỘT CHÚT LỬA

                Quyền lực của những câu nói đơn sơ là bao la, như Giacơ 3.5 chỉ ra: “Thử xem cái rừng lớn chừng nào mà một chút lửa có thể đốt cháy lên!” Chưa bao giờ điều nầy thực sự hơn vào ngày 26 tháng 11 năm 1095, là ngày có bài giảng hiệu quả nhất từng được giảng ra bởi Giáo hoàng, nhà truyền đạo, hay vua. Đó là bài giảng của Giáo hoàng Urban II ở Clermont nước Pháp, mở ra cuộc Thập Tự Chinh.  

Trong nhiều năm trời, thế giới Cơ đốc đã lấy làm khó chịu đối với sự chiếm đóng của quân Thổ nhĩ kỳ Hồi giáo. Sau cùng Giáo hoàng Urban đã đưa vấn đề ra tại giáo hội nghị ở Clermont. Ông đã giảng trong một cánh đồng rộng mở cho cả giới tăng lữ và quần chúng, ông đã mô tả thể nào quân Thổ, một “dòng giống bị ruả sả”, đã tàn phá vương quốc của Đức Chúa Trời bằng lửa, cướp bóc, và gươm. Jerusalam là “cái rốn của thế gian” đã bị làm cho tàn nát. Antioch bị hủy phá. Đất Thánh nằm trong tay của kẻ dã man. Xứ ấy cần được giải phóng.

Đoàn dân đông, đứng phắt dậy điên lên, bắt đầu hát: “Đức Chúa Trời sẽ đánh nó! Đức Chúa Trời sẽ đánh nó!” Urban II đáp: “Đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời. Hãy để cho những lời nầy trở thành tiếng kêu la chiến tranh khi các ngươi rút gươm ra khỏi vỏ. Các ngươi là những chiến binh của thập tự giá. Hãy khoác lên ngực hay vai của các ngươi dấu thập tự màu đỏ máu”.

Ngay lập tức hàng ngàn người đã may thập tự giá lên quần áo của họ hay đóng dấu bằng sắt nung lên da của họ. Sự sôi nổi quét qua cả Đại Lục. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử châu Âu đã bắt đầu bằng cuộc thập tự chinh, được cảm thúc bởi Giáo hoàng, đã bắt lấy dân sự của nó. Kỷ nguyên Thập tự chinh trải dài từ năm 1906 đến năm 1291, và theo ánh sáng của lịch sử đã bị coi là một lầm lỗi khủng khiếp. Vương quốc của Đức Chúa Trời không thể được mở mang bằng chiến dịch quân sự cho được. Cuộc Thập tự chinh, chỉ từng phần và tạm thời thành công trong việc “giải phóng” xứ Palestine, tạo ra 200 năm ngược đãi, quá độ, chết chóc, bạo lực, nghiệt ngã và quở trách.

 

“Thử xem cái rừng lớn chừng nào mà một chút lửa có thể đốt cháy lên! Cái lưỡi cũng như lửa; ấy là nơi đô hội của tội ác ở giữa các quan thể chúng ta, làm  ô uế cả mình, đốt cháy cả đời người, chính mình nó đã bị lửa địa ngục đốt cháy. Hết thảy loài muông thú, chim chóc, sâu bọ, loài dưới biển đều trị phục được và đã bị loài người trị phục rồi; nhưng cái lưỡi, không ai trị phục được nó” (Giacơ 3.5b-8a).

 

27 tháng 11

SỨ ĐIỆP LÀM THAY ĐỔI NHIỀU ĐỜI SỐNG

                Earnest Presswood chào đời ở vùng thảo nguyên Canada vào năm 1908 rồi đến với Đấng Christ trong một lớp Trường Chúa Nhật ở tuổi 11. Sau đó, dưới sự rao giảng của Smith “tinh quái”, ông dâng mình vào sự phục vụ Cơ đốc. Ông đăng ký vào Thần học viện Hội Phước Âm Liên Hiệp tại Nyack, Nữu ước, và đến năm 1930, ông đã có mặt tại xứ Borneo.

Không lâu sau đó, nhiều tiếng đồn khắp cả đảo về người thanh niên da trắng, sứ điệp của người có thể khiến cho kẻ gian ác thành hạng người nhơn đức, kẻ say xỉn thành hạng người tỉnh táo, kẻ hay gây bạo lực trở thành người của Đức Chúa Trời. Cư dân trên đảo gọi chàng là Tuan Change, vì sứ điệp của chàng đã làm thay đổi được nhiều đời sống. Có người nói: “Khi tôi nghe giảng, tôi không còn muốn ngủ nữa. Hết thảy chúng tôi đều đến để gặp anh ấy. Anh ấy đã giảng về sự sống lại. Ngày từ lúc đầu bài giảng ấy chạm đến tôi. Tôi đã uống nó như uống nước vậy. Khi lần đầu tiên tôi nghe giảng, tôi đã tin theo”.

Ernie, 25 tuổi, đã lần theo các đường mòn trên núi đến tận những làng mạc xa xôi hẻo lánh. Hai bàn chân anh lở loét bởi vết đỉa cắn, song tình cảm anh không hề nao núng. Anh đã viết sau một chuyến đi: “Tôi đã có đúng một thời gian, về thuộc thể thì rất là khó chịu, nhưng các kết quả  thì thật là vinh hiển. Khoảng 600 người đã đến với sứ điệp”. Anh viết trong một dịp khác: “Từ sáng sớm cho đến qua nửa đêm, tôi rất bận rộn không thể nghỉ một chút nào được cả. Xin cầu thay cho tôi vì sự căng thẳng quá lớn. Tôi đã làm phép báptêm cho 130 người, và tôi mong ít nhất gấp hai lần hoặc nhiều hơn nữa”.

Trở về Mỹ trong một kỳ nghỉ phép, Ernie đem lòng yêu Laura Harmon, thành hôn với nàng, rồi đưa nàng trở lại Borneo. Nàng đã qua đời khi chịu đau đớn bị sẩy thai, và Ernie đã chôn cất nàng trong một cổ quan tài đóng bằng ván của ngôi nhà mà họ đã cất lên. Thế rồi chàng cứ tiến bước, một mình như trước.

Sự phục vụ của chàng đã bị ngắt quảng giữa nằm 1940 và 1945 bởi chiến tranh ở vùng Nam Thái Bình Dương. Trong 5 năm Ernie lấy làm lạ và lo lắng về bầy chiên đang chịu khổ của mình. Vào ngày 27 tháng 11 năm 1945, khi chàng trở lại, chàng thấy những nấm mộ của nhiều Cơ đốc nhân, nhưng Hội thánh tại xứ Borneo đã đắc thắng. Cho đến khi ấy, Ernie đã già sụ so với tuổi 38 của mình, và chàng đã qua đời ba tháng sau đó do chứng viêm phổi, sau một tai nạn thả bè – đã mở được một Hội thánh và gặt một mùa gặt thật trúng còn thịnh vượng cho đến ngày hôm nay.

 

“Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi, cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng” (Thi thiên 103.3-5).

 

28 tháng 11

CHỨC VỤ MỘT NĂM

Hugh MacKail là một thanh niên rất xuất sắc, anh đã rao giảng lẽ thật của Công cuộc cải chánh ngoài luật pháp ở xứ Tô cách Lan – nhưng không được lâu. Anh được cấp giấy phép giảng đạo ở tuổi 20 và đã giảng sứ điệp cuối cùng của mình ở tuổi 21, anh nói: “Dân sự của Đức Chúa Trời đôi khi bị bắt bớ bởi một A-háp đang ngồi trên ngôi, đôi lúc bởi một Ha-man trong triều đình, và có khi bởi một Giu-đa trong Hội thánh”.

Chính ngày ấy, giới cầm quyền xứ Tô cách Lan – “A-háp, Ha-man, và Giu-đa” – đã đuổi theo anh, buộc anh phải đi trốn để được an ninh, sự anh bị bắt là điều không thể tránh được, và cuộc xét xử anh đã diễn ra vào đúng ngày 28 tháng 11 năm 1666. Khi anh từ chối không chịu rút lại ý định của mình, anh bị đính cứng vào một cái ghế bằng một đôi giày bằng sắt, siết thật chặt quanh hai chân và đầu gối của anh. Một cái nêm bằng sắt được đẩy vào, và tên cai ngục đứng bên cạnh với một cây búa tạ chờ lịnh. Một nhà phẫu thuật ngồi gần đó, ngón cái của ông ta bắt mạch anh. Viên quan toà gật đầu. Tên cai ngục cầm chặt cái vồ lên, rồi đóng từng hồi vào cái nêm. Xương và thịt bị nghiền nát ra. Giây thứ hai trôi qua. Rồi giây thứ ba. Máu chảy xuống chân của Hugh rồi nhỏ giọt xuống mấy ngón chân cái. Quá nhiều sự đau đớn. Đến lần đập thứ 11, hai chân của Hugh bị nghiền nát ra như bột. Những làn sóng đau đớn trải đi trên từng cm thân thể của anh. Những bàn tay thô lỗ xốc anh ra khỏi chiếc ghế rồi ném anh vào ngục.

Mấy ngày sau, họ hỏi anh cảm thấy thế nào, Hugh mĩm cười rầu rĩ rồi nói anh đã thôi không còn lo lắng về cái chân của mình nữa mà khởi sự lo về cái cổ của mình. Anh đã có lý do. Sau đó, họ đã đưa anh đến giá treo cổ và buộc anh phải trèo lên cái thang đến với giàn giáo. Một đám đông đã tụ tập lại, và MacKail, cất giọng nói mình lên, anh nói: “Tôi chẳng quan tâm gì về việc trèo lên cái thang nầy một khi tôi muốn về quê hương tới nhà của Cha tôi”. Anh lết thật vụng về đôi chân vô dụng của mình lên các thanh ngang, xây người lại rồi nói: “Mỗi bước chân là một mức đến gần thiên đàng hơn”. Lên tới đỉnh, anh rút quyển Kinh thánh bỏ túi ra, đọc từ chương cuối cùng của quyển sách, rồi giảng về Đấng Christ. Sợi dây siết chặt quanh cần cổ khẳng khiu của anh, nụ cười như trẻ thơ của anh biến đi dần khỏi đất, và đôi chân anh nhảy múa trong khoảng không cho tới chừng linh hồn anh bay thẳng đến Đức Chúa Trời.

 

“Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm. Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là thứ nhất và là sau chót, là đầu và là rốt. Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành!” (Khải huyền 22.12-14).

 

29 tháng 11

THÊM MỘT NGƯỜI NHƠN ĐỨC

                Khi James Gilmore dong buồm sang Trung Hoa vào năm 1870, anh hãy còn trẻ, khoẻ mạnh lắm, và đang cần có một người vợ. Anh dấn thân vào việc mở lại công tác của Hội Truyền Giáo Luân đôn ở xứ Mongolia, nhưng chẳng có ai hưởng ứng. Anh viết: “Có những người tôi chẳng mong gặp chút nào, và cảm giác cô độc cứ bám nơi tôi”. Khi công việc tăng lên, sự cô độc cũng tăng theo. Anh nói trong nhật báo của mình: “Hôm nay tôi có ý tưởng giống như Ê-li trong đồng vắng. Ông ấy cầu nguyện xin được chết…Tôi cảm thấy mình đến gần với sự tự tử. Hai vị giáo sĩ luôn luôn đi chung với nhau. Ôi! Sự cô độc ghê gớm quá…”.

Nỗi đau càng sâu đậm hơn khi lời cầu hôn của anh với một thiếu nữ Tô cách Lan bị từ chối: “Thế rồi tôi đặt mình và hướng đi vào bàn thờ nầy – tôi muốn nói tới việc tìm một người vợ – trong tay của Đức Chúa Trời, cầu xin Ngài cũng tìm cho tôi một người, một người nhơn đức”.  

Đến năm 1873, Gilmore đến thăm mấy người bạn ở Bắc kinh, ông bà Meech. Sau khi xem một bức ảnh của em gái bà Meech, Emily Prankard, James đã hỏi thăm về nàng. Khi bà chủ nhà mô tả Emily, James thấy mình đã đem lòng yêu thương nàng. Anh liếc nhìn lại tấm ảnh, xem qua một số thư từ của nàng, và hỏi han nhiều câu hỏi nữa.

Đầu năm sau, James viết thư cho Emily, đề nghị cưới xin trong bức thư thứ nhứt của chàng. Cũng chính bức thư ấy, chàng báo cho bố mẹ mình tại xứ Tô cách Lan biết: “Con đã viết thư và đã đề nghị cầu hôn với một thiếu nữ ở nước Anh. Thú thật là con chưa gặp mặt nàng, và con biết rất ít về nàng; nhưng con đã trao cả vấn đề vào trong tay Đức Chúa Trời, con cầu xin Ngài, nếu được, xin hãy đưa nàng đến, bằng không được, Ngài cứ giữ nàng lại, và Ngài có toàn quyền trong mọi sự”.

Sau khi nhận được thư của Gilmore, Emily bèn trình nó ngay tức khắc trước ngôi ân điển. Về sau Gilmore nhớ lại: “Bức thư thứ nhứt tôi viết cho nàng chỉ là đề nghị thôi, còn bức thư thứ nhứt nàng viết cho tôi là chấp thuận”. Đến mùa thu, Emily đã có mặt tại Trung hoa, đúng vào ngày nầy, ngày 29 tháng 11 năm 1874. Một tuần sau, họ đã thành hôn. Gilmore đã kiếm được vợ và bạn đồng sự, và họ đã làm việc rất trung tín bên cạnh nhau trong nhiều năm trời, đã đưa miền Bắc Trung Hoa về cho Đấng Christ.

Châm ngôn 18.22 chép: “Ai tìm được một người vợ, tức tìm được một điều phước. Và hưởng được ân điển của Đức Giê-hô-va”.

    

“Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc. Lòng người chồng tin cậy nơi nàng, người sẽ chẳng thiếu huê lợi. Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi, chớ chẳng hề sự tổn hại” (Châm ngôn 31.10-12).

 

30 tháng 11

HY VỌNG HÃO HUYỀN

                John Clough khi làm việc trong một công trường thì được kêu gọi đến với một công trường đã vàng sẵn cho mùa gặt. Anh đã lớn lên với khuynh hướng không có tôn giáo, rồi trong trường học dường như thích kháng cự với những nổ lực truyền giáo của bạn bè. Người bạn cùng phòng với anh tìm cách đọc Kinh thánh và cầu nguyện với anh mỗi tối, nhưng John, càng lấy làm bực bội, gạch một đường bằng phấn trắng ngay giữa phòng, cấm cầu nguyện hay Kinh thánh ở bên phía của anh.

Thế nhưng, Đức Thánh Linh đã làm việc ở trong lòng anh, rồi một tối kia, không thể học và thắng hơn với nhu cần của mình,anh băng qua lằn ranh rồi quì gối kế người bạn cùng phòng của mình. Sau đó không lâu, khi nghe bài giảng của một vị giáo sĩ, John đã lấy làm lạ không biết Đức Chúa Trời có cho anh ra hải ngoại hay không, và anh đã nộp đơn. Anh đang ngồi trên máy gặt bốn ngựa đang thu hoạch lúa thì có người chìa tay trao cho anh bức thư gửi từ Boston. Clough quẹt mồ hôi trán rồi mở thư ra xem các tin tức đến từ Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Báptít. Anh hô to lên: “Các bạn có biết không? Họ muốn tôi đến Ấn độ với vai trò giáo sĩ đây”.

Các quan chức hội truyền giáo muốn gửi anh đến chỗ “Hy Vọng Hão Huyền” – Telugu, Ấn độ – ở đó 17 năm nổ lực đau khổ, cật lực chẳng được một  kết quả hiển nhiên nào cả. Đến ngày 30 tháng 11 năm 1864, Clough cùng vợ mình dong buồm từ Boston trên một con tàu nhỏ, có thể chịu được sóng gió, có tên là James Guthrie. Con tàu rời bến và băng ngang qua đại dương, sau cùng đến tại Ấn độ vào tháng 4 năm sau. John, lao ngay vào công việc, ngay lập tức phải đối mặt với một tình thế chẳng đặng đừng. Đẳng cấp cao của người Ấn độ từ chối không đến nhóm tại nhà thờ với đẳng cấp thấp hơn cùng những kẻ vô gia cư. Sau khi cầu nguyện xin Chúa ban cho sự khôn ngoan, Clough đã mở quyển Kinh thánh mình ra rồi đọc ở I Côrinhtô 1.26-29 nói về sự Đức Chúa Trời chọn lựa kẻ thấp kém hơn. Ở phòng bên kia, cùng lúc ấy, vợ anh cũng mở quyển Kinh thánh ra cùng địa chỉ đó. Clough, lấy làm ngạc nhiên, xem đấy là sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Anh công bố rằng mọi người đều được tiếp đón trong nhà thờ của anh, rằng anh sẽ không chấp nhận một hội chúng đối xử phân biệt.

Anh khởi sự giảng dạy, và số người trở lại đạo càng thêm lên. Mười lăm tháng sau đó, hai nhà truyền đạo người Ấn độ đến đứng trên một dòng sông rồi bắt đầu cử hành phép báptêm cho những người mới trở lại đạo. Khi họ thấm mệt, các nhà truyền đạo khác đã đứng thế cho họ. Đến 5 giờ chiều, 2.222 người đã chịu phép báptêm, và phép báptêm còn tiếp diễn thêm hai ngày nữa.

 

“Hỡi anh em, anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa vinh hiển chúng ta, thì chớ có tây vị người nào…Hỡi anh em rất yêu dấu, hãy nghe nầy: Đức Chúa Trời há chẳng lựa kẻ nghèo theo đời nầy đặng làm cho trở nên giàu trong đức tin, và kế tự nước Ngài đã hứa cho kẻ kính mến Ngài hay sao?” (Giacơ 2.1, 5).

 

 

 

Tags: #ThuVienOnline#VaoNgayNay
Previous Post

Vào Ngày Này | Tháng Mười

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Mười Hai

Admin

Admin

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Mười Hai

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In