1 tháng 9
GIÁO HOÀNG TÀ ĐẠO
Lịch sử của Hội thánh cho thấy có nhiều bài học tốt và xấu. Những anh hùng của Giáo Hội gồm có những thánh đồ cao thuợng nhất đã từng sống, nhưng bảng phân công của Giáo Hội cũng ghi lại những kẻ vô lại, họ đã bôi đen tên tuổi của họ. Thí dụ:
Vào năm 1460, Cardinal Rodrigo Borgia 29 tuổi xứ Tây ban Nha đã tỏ ra tức giận khi anh ta mở lá thư gửi đến từ vị Giáo Hoàng đang tức vị. Pius II đã lo âu trước các tin tức nói tới đảng Borgia ngông cuồng khác. Giáo Hoàng than phiền: “Không thiếu một sự quyến rũ tình cảm nào”. Ông xét đoán đảng Borgia, cảnh cáo anh ta về “sự phóng túng” và “sự miệt khinh”.
Nhưng Borgia, tuy không kềm chế được, vẫn cố nén lại cho tới chừng ông mua được chức vụ Giáo Hoàng vào năm 1492. Ông tự gọi mình là Giáo Hoàng Alexander VI. Những lạm dụng đầy tội lỗi của ông càng tăng thêm cùng với tuổi tác, và ông ta luôn luôn giữ một sự kiên định đối với nữ giới.
Nhưng Giáo Hoàng Alexander bị Lucrezia Borgia, người con gái bất hợp pháp của mình lấn lướt. Những gì chúng ta biết về Lucrezia chỉ là sơ sịa nhưng rất sinh động. Nàng rất quyến rũ, linh lợi, và hấp dẫn. Mái tóc màu vàng kim của nàng phủ lấy gương mặt như thiên sứ dài đến tận chân. Nàng đã hưởng sức sống mạnh mẽ của cha nàng khi còn ở tuổi niên thiếu.
Anh của nàng là Caesar đã trở thành Hồng Y, kẻ đã làm rối công việc của giáo hội với tình trạng phi luân và giết người. Và người anh khác của Borgia, Juan, cũng chẳng có đạo đức gì hơn.
Vào thập niên năm 1490, Rome nghe đồn rằng Lucrezia đã ngủ với cha mình và cả hai anh trai nữa – hết loạn luân nầy đến loạn luân khác và hai anh em ghen ghét nhau thậm tệ. Đến sáng ngày 15 tháng 6 năm 1497, thi thể của Juan đã được tìm thấy trong dòng sông Tiber, mang chín nhát dao găm. Caesar bị nghi ngờ, mặc dù chẳng có một điều gì chứng minh.
Lucrezia đã có thai. Giáo hội Vatican tìm cách che giấu tình trạng của nàng, nhưng lời cứ đồn ra. Đứa con có tên là Giovanni. Nhưng ai là cha của nó? Đến ngày 1 tháng 9 năm 1501, Giáo Hoàng Alexander VI phár ra hai chiếu chỉ lạ thường. Chiếu chỉ thứ nhứt, đã được đưa ra quần chúng, xác nhận Giovanni là con của Caesar. Nhưng chiếu chỉ thứ hai, đã được che giấu trong những nơi kín của Giáo Hội, công nhận Giovanni là con ruột của Giáo Hoàng, khiến cho Giáo Hoàng Alexander VI vừa làm cha vừa làm ông nội của nó.
Một thầy tu trẻ có tên là Martin Luther vốn biết rõ sự tình.
“Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu người ngoại đạo cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình… Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao? Hãy làm cho mình sạch men cũ đi” (I Côrinhtô 5.1, 6-7a).
2 tháng 9
TÌM MỘT CÂU RỒI ĐIỀN TÊN MÌNH VÀO ĐÓ
Việc giáo dục con cái của hàng giáo sĩ rất thú vị và đòi hỏi nhiều nổ lực. Ở mặt nầy, ít người có nhiều may mắn hơn con cái của hàng giáo sĩ. Chúng lớn lên khi quốc tế với thế giới là nhà của chúng. Chúng phiêu bạt khắp châu Âu hay thám hiểm cả châu Phi dễ dàng như những đứa trẻ khác chơi đùa trên đường phố. Mặt khác, nhiều bối cảnh truyền giáo không cung ứng trường học thích ứng hoặc những điều kiện có cần với lứa tuổi thanh thiếu niên.
Ruth Bell Graham chắc chắn nhớ ngày 2 tháng 9 năm 1933. Khi ấy cô mới 13 tuổi. Cha của cô, một giáo sĩ – y sĩ chuyên về phẩu thuật ở Trung hoa, và mẹ cô đã gửi cô cho ban giám hiệu nhà trường ở một nơi bây giờ gọi là Pyongyang, Bắc Hàn. Đối với Ruth, đây là cuộc chia tay buồn lắm, và cô đã sốt sắng cầu nguyện cô sẽ chết trước khi buổi sáng đến. Nhưng khi bình minh ló dạng, những lời cầu nguyện của cô không được nhậm, cô nắm lấy mấy túi đồ rồi lê bước hướng về bến sông. Cô đã để lại mọi sự quen thuộc và rất yêu quí: bố mẹ, những người bạn Trung hoa, các vị giáo sĩ, nhà cửa, nhiều ký ức. Chiếc tàu Nagasaki Maru đưa cô xuống sông Whangpoo vào sông Yangtze rồi hướng ra Biển Đông của Trung hoa.
Một tuần sau, những làn sóng nhớ nhà đã nghiền nát cô giống như một lượn sóng biển đánh ụp vào vậy. Ban ngày Ruth rất bận rộn, nhưng các buổi tối thì khó nhọc hơn, và cô sẽ vùi đầu mình vào chiếc gối, cô bật khóc khi nằm ngủ, hết đêm nầy sang đêm khác, hết tuần nầy sang tuần khác. Cô ngã bịnh, và trong bệnh xá cô đã đọc suốt sách Thi thiên, tìm gặp sự yên ủi trong Thi thiên 27.10 – “Khi cha mẹ bỏ tôi đi, thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi”.
Thế nhưng, đau thương, sợ hãi, nghi ngờ vẫn cứ bám riết lấy. Sau cùng, cô đến gặp chị mình là Rosa, cũng nhập học ở Pyongyang. Rosa nói rất thực tế: “Chị không biết phải nói với em như thế nào cho phảỉ, trừ phi em lấy một câu Kinh Thánh nào đó rồi điền tên của mình vào. Làm thế chắc giúp được nhiều đấy!” Ruth vói lấy quyển Kinh Thánh của mình rồi mở ra ở một chương mà cô rất ưa thích, Êsai 53, rồi điền tên mình vào đó: “Nhưng người đã vì tội lỗi của Ruth ta mà bị vết, vì sự gian ác của Ruth mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu Ruth được bình an, bởi lằn roi người Ruth được lành bịnh”.
Trái tim cô bỗng đập mạnh lên, và sự chữa lành bắt đầu.
“Ai tin điều đã rao truyền cho chúng ta, và cánh tay Đức Giê-hô-va đã được tỏ ra cho ai? Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô… Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an” (Êsai 53.1-2a, 5b)
3 tháng 9
ĐẠI ĐẾ GREGORY
Không một ai trong chúng ta là tốt hoàn toàn cả, và rất ít người trong chúng ta là hoàn toàn xấu. Chúng ta thường phấn đấu với những quyết định, đôi khi tìm kiếm những nổ lực với dự định đúng đắn lại tạo ra những kết quả không hay. Sự thể như vậy đã xảy ra với Gregory. Ra đời ở Rome khoảng năm 500SC, gia đình của ông cung ứng cho sự giàu có và đẳng cấp, và ông trở thành Thị trưởng Rome vào năm 33 tuổi. Sau khi cha ông qua đời, Gregory đã dâng tài sản của mình cho giáo hội và người nghèo, biến lâu đài của ông thành tu viện, rồi trở thành một thầy tu.
Ông được tấn phong làm Giáo Hoàng Gregory I vào ngày 3 tháng 9 năm 590, và đã làm nhiều việc lành. Ông nặng lòng về công cuộc truyền giáo cho nước Anh khi thấy những gã thiếu niên mắt xanh, nâu bị đem bán ngoài các khu chợ nô lệ của người La mã. Ông nói: “Họ là người Anh, hãy biến họ thành những thiên sứ”. Ông bèn sai Augustine đến giảng đạo cho quần đảo Anh quốc.
Gregory cũng chỉ định nhiều người khôn ngoan và thành thạo làm các cấp lãnh đạo của giáo hội, và ông đã đánh trận với sự bội đạo. Ông đã khuyến khích những người Visigoths chuyển từ tà giáo sang chính thống giáo. Ông đã viết nhiều chứng đạo đơn truyền đạo cho các bộ tộc dã man, và giữ lấy đạo đức theo Kinh Thánh. Ông soạn một lịch trình đào tạo cho hàng giáo phẩm. Ông đã viết nghi thức tế lễ và phổ cập thánh ca mang tên Gregory.
Nhưng Gregory cũng thiết lập bảng tín điều cho Công giáo La mã và lễ Mass. Ông khích lệ sự thờ lạy các di tích (hài cốt của những Cơ đốc nhân quá cố), và cho phổ cập những truyền thuyết không có thực về các thánh đồ. Ông tôn vinh quá khứ và giữ truyền khẩu tương đương với Kinh Thánh. Ông rút tỉa những bài học mang tính ngụ ngôn từ các trang Kinh Thánh. và ông xưng mình có toàn quyền trên Vương quốc Cơ đốc .
Với Tây Âu đang rơi vào chỗ hỗn loạn và Đế quốc La mã bị tan tác, Gregory đã bước tới nắm toàn quyền cai trị luôn về mặt dân sự. Ông đã cai trị trên hầu hết nước Ý. Ông dấy lên một đaọ binh và đã đánh bại quân Lombards. Ông thương thuyết với những hiệp ước để tránh sự hủy diệt Rome. Ông đã thả và bắt nhiều cá nhân. Ông chọn lấy các thu thuế, cung cấp thực phẩm và những dịch vụ cho người nghèo. Thực vậy, ông đã biến giáo hội thành quốc gia.
Trong khi làm như thế, Gregory đã trở thành cha đẻ của chế độ giáo hoàng thời trung cổ – với mọi điều tốt và xấu mà chế độ ấy đã thừa hưởng.
Đức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy… Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta” (Giăng 18.36-37b).
4 tháng 9
CHIẾN DỊCH NIGER
Vào năm 1840, có ba mục tiêu – thúc đẩy truyền giáo, giải quyết vấn đề nhân đạo, và thủ tiêu tình trạng nô lệ – đã nổi bật lên thành Chiến dịch Niger, một sản phẩm trí tuệ của Foxwell Buxton thuộc Hội truyền giáo và thuộc Hội thủ tiêu tình trạng buôn bán nô lệ. Chính phủ người Anh đã tài trợ cho chiến dịch, và cả nước Anh đều dõi theo lộ trình của ba chiếc tàu chạy bằng hơi nước có tên là Albert, Wilberforce, và Soudan. Những con tàu bằng sắt vốn có một hệ thống thông gió mới sử dụng đầu lọc hoá chất để “trung tính hoá” lượng khí đốt lại tạo ra bịnh sốt rét.
Hạm đội dong buồm ra đi vào đầu năm 1841, cùng đi có những thủy thủ, các nhà khoa học, những nhà nông, các nhà từ thiện, những nô lệ đã được phóng thích (đóng vai trò thông ngôn) và hai nhà truyền giáo, J. F. Schon và Samuel Adjai Crowther. Họ đến các dòng sông châu Phi vào giữa tháng 8; nhưng vào ngày 4 tháng 9 năm 1841 viên bác sĩ trưởng đoàn, Bác sĩ McWilliam, đã ghi lại rằng “cơn sốt ác tính” đã nổ ra và toàn bộ chiến dịch đã bị tê liệt. Người đau bịnh đã được đưa sang chiếc Soudan để trở về những hải cảng khoẻ mạnh hơn, còn chiếc Wilberforce thì theo sau nó.
Một mình chiếc Alber lao vào dòng sông Niger, nhưng không lâu sau đó viên thuyền trưởng và đoàn thủy thủ đều nhiễm bịnh hết. Có nhiều người đã tự mình nhảy qua boong tàu trong cơn mê sảng của họ. Người chết được các giáo sĩ đem thiêu bên bờ sông. Chẳng có một người nào lèo lái được chiếc tàu, Tấn sĩ McWilliam đã làm hết sức mình để điều khiển con tàu đang quay cuồng ấy, ông sử dụng một quyển sổ tay tìm thấy trong khoang lái của viên thuyền trưởng. Nhưng ông cứ phải rời khỏi buồng lái hoài để thăm nom những kẻ đau yếu và hấp hối. Trong 145 người châu Âu trên tàu, 130 người đã nhiễm sốt rét và nhiều người đã ngã chết.
Nhưng sứ mệnh không phải là một thất bại hoàn toàn đâu! Các vị giáo sĩ đã trở về với những tường trình rất có giá trị dẫn tới việc thiết lập một trung tâm truyền giáo tại Vịnh Fourah để đào tạo các nô lệ đã được tự do, họ sẽ truyền giáo cho Tây Phi Châu. Trong vòng bốn năm, hòn đá góc của trung tâm đã được đặt ngay tại chỗ mà 40 năm trước một khu chợ đã được thiết dựng cho việc buôn bán nô lệ. Và những thanh đòn tay của mái nhà mới đã được gác lên, chúng hoàn toàn được làm từ những cột buồm của những chiếc tàu buôn bán nô lệ
“Các ngươi là kẻ đi biển cùng mọi vật ở trong biển, các cù lao cùng dân cư nó, hãy hát bài ca tụng mới cho Đức Giê-hô-va, hãy từ nơi đầu cùng đất ngợi khen Ngài! Đồng vắng cùng các thành nó hãy cất tiếng lên; các làng Kê-đa ở cũng vậy; dân cư Sê-la hãy hát, hãy kêu lên từ trên chót núi! Hãy dâng vinh hiển cho Đức Giê-hô-va, và rao sự ngợi khen Chúa trong các cù lao!” (Êsai 42.10-12)
5 tháng 9
KHÔNG QUAY LẠI
Allen Francis Gardiner lớn lên trong một gia đình Cơ đốc, sinh sống gần với biển cả, và đã đạt được một sự nghiệp rất thành công trong nghề đi biển của người Anh, song lại biết rất ít về Đức Chúa Trời. Nhưng đến năm 1822, ông ngã bịnh và đã đánh giá lại cuộc đời của mình. Ông viết trong tạp chí của mình như sau: “Sau nhiều năm sống trong sự vô ơn, vô tín, phạm thượng và loạn nghịch, sau cùng tôi đã tan vỡ!?! Than ôi, tôi đã chậm, đã chần chừ trong việc công nhận vị khách thiên thượng, Ngài đang đứng ngoài cửa mà gõ kia kìa!”
Việc đi vòng quanh thế giới đã cung ứng cho Thuyền trưởng Gardiner một cái nhìn thoáng vào nhu cần của các vị giáo sĩ, và ông đã dâng chính mình cho công việc nầy. Sau khi rời nước Anh để đến Nam Mỹ, ông hy vọng được phục vụ giữa vòng bộ tộc da đỏ Araucanian hay Mapuche ở phía Nam xứ Chile. Nhà cầm quyền xen vào và cuộc chiến giữa các bộ lạc buộc ông phải trở về lại Anh quốc. Ba năm sau đó, ông quay trở lại xứ nầy rồi đem Tin lành tới các hòn đảo Patagonia, Tierra del Feugo. Nhận ra cơ hội trong tầm tay, Gardiner đã về lại nước Anh và vào ngày 4 tháng 7 năm 1844, thiết lập một tổ chức nhỏ gọi là Hội Truyền Giáo Patagonian. Ông viết: “Tôi đã quyết trở qua Nam Mỹ rồi không quay lại nữa, để thiết lập một sứ mệnh giữa vòng các bộ tộc của thổ dân. Trong khi Đức Chúa Trời ban cho tôi năng lực, sự thất bại sẽ không làm cho tôi phản nản lòng”.
Gardiner đã viếng Nam Mỹ lần thứ ba, nhưng các nổ lực của ông một lần nữa bị đe doạ bởi tranh chiến giữa các bộ tộc cùng sự can thiệp của nhà cầm quyền, xứ ấy lại thiên nhiều về Công giáo, dửng dưng với công cuộc truyền bá Tin lành. Ông về lại Anh quốc, tuyển 6 giáo sĩ, và dong buồm sang Tierra del Fuego. Nhưng hết thảy bảy người đầu ngã chết vì bịnh tật, đói kém, và phơi thây trên đảo Picton. Gardiner, người cuối cùng phải chịu chết, ngày 5 tháng 9 năm 1851 là số báo sau cùng của ông đăng như sau: “Nhơn từ và kỳ diệu là những sự tử tế đầy tình yêu thương mà Đức Chúa Trời giàu ơn đối cùng tôi. Ngài đã gìn giữ tôi cho tới giờ nầy và trong bốn ngày, mặc dù không có đồ ăn cho cơ thể, không có một cảm giác đói khát nào cả”.
Thuyền trưởng Allen Gardiner đã qua đời mà không nhìn thấy một linh hồn nào được cứu giữa vòng những bộ tộc mà lòng ông cưu mang gánh nặng nhiều nhất. Nhưng ông đã thắp lên một ngọn đèn sẽ không bao giờ tắt. Hội Truyền Giáo Nam Mỹ của ông (như đã được gọi như thế) đã sai phái nhiều giáo sĩ và đã cứu được nhiều linh hồn trải hơn 150 năm.
“Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (I Côrinhtô 15.58).
6 tháng 9
BỊ ĐÁNH BẰNG HOA HỒNG
Những khách tham quan đến Boston Commons bằng những chiếc tàu thiên nga duyên dáng của nó sẽ lấy làm ngạc nhiên khi biết được điều chi từng xảy ra ở đó cho Obadiah Holms. Vào năm 1651 Holms bị bắt vì đã rao giảng tín lý Baptist ở gần Lynn. Bạn bè tìm cách nộp phạt cho ông, nhưng Holms đã từ chối. Đúng ngày 6 tháng 9 năm 1651, ông bị dẫn đến Boston Commons, bị quất vào lưng, và bị cột vào cây cột để đánh đòn. Về sau ông viết: “Khi người ta bắt đầu đánh đòn vào lưng tôi, tôi đã nói với họ, dù xác thịt tôi không chịu đựng nổi, Đức Chúa Trời sẽ chẳng thất bại đâu. Vì vậy, điều nầy đã làm đẹp lòng Chúa bèn ngự đến, đầy dẫy tấm lòng và lưỡi của tôi; rồi với giọng nói nghe thấy được tôi tan vỡ cầu nguyện với Chúa xin đừng kể tội nầy cho họ. Thực vậy, khi những lằn roi quất trên tôi, tôi đã có được một sự bày tỏ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà trước đó tôi không có cũng chẳng cảm nhận được, lưỡi cũng không thể nói ra được; và nỗi đau đớn bề ngoài cũng đã được cất khỏi tôi, quả thực tôi không thể tả được điều đó cho quí vị đâu. Cho nên, tôi có thể chịu đựng trận đòn ấy thật dễ dàng, và trong một tư thế chẳng cảm xúc gì về nó cả mặc dù đòn vọt rất là đau đớn, kẻ đánh đòn với hết sức lực của hắn (hắn nhổ nước bọt vào hai bàn tay đến ba lần như nhiều người khẳng định) với cái roi thắt ba tao, với cái roi đó, tôi đã bị đánh tới ba chục lần. Khi hắn tháo tôi ra khỏi cây cột, sự vui sướng trong lòng tôi rộn lên, và nét phấn khởi hiện lên trên gương mặt tôi, tôi nói với quan toà: “Ông đã đánh tôi bằng hoa hồng”.
Nếu thực vậy, chúng đã được quấn bằng gai. Lằn roi khắc nghiệt đến nỗi máu chảy dài trên thân thể của Holms cho đến khi nó tràn ra từ đôi giày của ông. Một người bạn ghi lại: “Holms bị quất ba chục roi trong một tư thế chẳng thương xót trong nhiều ngày, nếu không phải là trong nhiều tuần lễ, ông lại không nằm nghỉ, mà gập người trên hai đầu gối và hai cùi chỏ, từng phần trên cơ thể ông vì đau đớn không thể tiếp xúc thẳng với mặt giường được”.
Nhưng nỗi đau đớn kia không phải là uổng phí. Thử thách và đòn vọt của Obadiah Holms đã tạo ra sự biến đổi cho Henry Dunster, hiệu trưởng trường Harvard, trở lại với hệ phái Baptist, và đã lãnh đạo tổ chức cho Hội thánh Baptist đầu tiên ở Boston.
“chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa, vì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục, sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy. Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rôma 5.3b-5).
7 tháng 9
CHIẾN TRANH
Ở Âu châu trong thế kỷ thứ 20, mối quan hệ giữa Giáo Hoàng và Hoàng đế giống như cuộc khiêu vũ của loài nhím. Hoàng đế cần Giáo hoàng để có được sự tôn trọng; còn Giáo hoàng cần Hoàng đế để bảo vệ giáo hội. Thế nhưng ai trong số họ là tối cao?
Vào ngày 7 tháng 9 năm 1159, Cardinal Orlando Roland đã xưng mình là Giáo Hoàng Alexander III, nhưng ông chẳng được hoan nghênh bởi Hoàng đế La mã Frederick II, vì ông từng châm biếm: “Hoàng đế nhận được địa vị cao quí của mình từ ai, nếu không phải từ Giáo hoàng?” Ngay lập tức Frederick phong cho một người khác làm Giáo hoàng, đặt tên là Octavian, là người cùng đi với Alexander sang Vatican, Pháp, Tây ban Nha, và Anh quốc. Nước Đức, Hungary, Bohemia, Na-uy, và Thụy điển đã ủng hộ Octavian. Nước Ý thì tách ra.
Chiến tranh nổ ra. Vào tháng 1 năm 1166, Frederick vượt qua dãy núi Alps, tấn công và đánh tan các đạo quân ủng hộ Alexander. Nhưng không lâu sau đó, ông thấy mình đối diện với một đạo quân mạnh mẽ hơn đạo quân của Giáo hoàng. Nỗi lo nổ ra giữa vòng các đạo quân của ông ta, nó lan ra giới quí tộc, các hiệp sĩ, cùng binh lính. Frederick nhổ trại vội vàng rồi băng qua dãy núi Alps trở lại với một ít người sống sót lê bước về.
Chắc chắn ông đã thực hiện những bước làm hoà lại với Alexander, là cái đầu thuộc linh của quân đội mình; rồi sau 18 năm xung đột, hai người gặp nhau ký hiệp ước hoà bình ngay trước Thánh đường Thánh Mác ở Venice vào ngày 24 tháng 7 năm 1177. Giáo hoàng ngồi mặc y phục Giáo hoàng, vây quanh là những hồng y, tổng giám mục, cùng nhiều hàng giáo phẩm khác. Hoàng đế đến bằng thuyền gondola cùng với một đoàn quí tộc. Ông nổi bật lên từ đoàn hộ tống và tiến thẳng vào thánh đường. Kềm chế mọi cảm xúc của mình, ông cởi chiếc áo choàng ra, quì gối xuống, rồi phủ phục dưới chân của Giáo hoàng. Alexander bật khóc, đỡ Hoàng đế đứng lên, rồi hôn người. Đoàn dân đông đã ca hát bừng lên khí thế.
Truyền thuyết kể lại một sự trao đổi thì thầm, trong đó Frederick nghiêng mình nói vào tai của Giáo hoàng: “Tôi tỏ lòng thành kính nầy với Phierơ, chớ không phải với ông đâu”, còn Alexander đáp lại như sau: “Với Phierơ và với ta”.
Đây chẳng phải là hoà bình lâu dài đâu, và Alexander II một lần nữa bị đưa từ Rome đến Civata Castellana, ông qua đời ở đó trong cuộc lưu đày vào năm 1181.
“Nhưng Đức Chúa Jêsus gọi đến mà phán rằng: Các ngươi biết rằng các vua dân ngoại thì ép dân phải phục mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế mà trị dân. Trong các ngươi thì không như vậy; trái lại, trong các ngươi, kẻ nào muốn làm lớn, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi” (Mathiơ 20.25-26).
8 tháng 9
NGÀY KINH KHỦNG TẠI ANAGNI
Châm ngôn 16.18 – Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau – tìm được một minh hoạ nơi Benedetto Gaetani. Gaetani, một tu sĩ, luôn tự tin, phục vụ Vatican rất tốt với nhiều khả năng khác nhau trên khắp châu Âu. Khi ông trở thành Giáo Hoàng Boniface VIII vào năm 1294, ông quyết định dấy chế độ Giáo Hoàng lên tới đỉnh cao nhất của nó. Mão miện của ông gồm 48 viên hồng ngọc, 72 ngọc saphire, 45 ngọc lục bảo, và 66 hạt ngọc trai. Giám Mục La mã, ông nói: “là cao nhất hơn cả bậc vua chúa, các bậc cầm quyền đều nhận lãnh sự sáng láng của họ từ nơi ông giống như mặt trăng nhận ánh sáng của nó từ mặt trời vậy”. Đôi khi ông xuất hiện trước khách hành hương kêu lên: “Ta là Caesar, ta là hoàng đế”.
Philip IV, vua nước Pháp hãy còn trẻ lắm chẳng biết gì về điều ấy, và ông tiếp tục lấn lướt Boniface trong những lần tranh cãi về ngoại giao. Nhiều việc đã xảy đến tới mức cao độ khi Philip bắt giam đặc sứ của Giáo Hoàng. Boniface giận dữ với một áng văn có tên là Ausculta fili – Hãy nghe đây, Con ta – kết án Philip về sự kiêu căng đối với hàng giáo phẩm và với việc cướp bóc tài sản của giáo hội. Philip bèn nhóm Quốc hội nước Pháp lại, tuyên bố độc lập, tách ra khỏi giáo hội.
Khi ấy Giáo Hoàng phát ra một chiếu chỉ khác, đẩy quyền lực Giáo hoàng lên tới mức cao nhất trong lịch sử Giáo hội, gọi là Unam sanctam. Giáo Hoàng là đại diện của Đấng Christ, chiếu chỉ nói, và mỗi một con người phải vâng theo ông. Giáo hoàng còn tuyên bố thêm vào ngày 8 tháng 9 năm 1303, ông sẽ xuất hiện tại nhà thờ Anagni, nước Ý, gần cung điện mùa hè của ông, và với lời tuyên bố nghiêm trọng ra lịnh cấm đoán nhắm vào Philip.
Ngày 8 tháng 9 không bao giờ đến. Đúng ngày 7 tháng 9 quân đội của Philip tấn công cung điện của Giáo hoàng rồi thiêu rụi nó nhằm ngày sinh nhật thứ 86 của Giáo hoàng. Ông đã bị đối xử thật tồi tệ. Cung điện của ông bị cướp phá và đại giáo đường bị đốt cháy, các thánh tích của nó bị hủy diệt. Tài sản vô giá nhất của nó, một cái chén chứa sữa từ ngực của Mary đã bị hất đổ hết.
Boniface phải làm tù phạm trong ba ngày cho tới khi các lực lượng hoàng gia đến đưa ông về cung điện. Nhưng ông già nầy không hề được phục hồi lại. Ông đã bị mất trí và bắt đầu đập đầu mình vào tường. Ông từ chối không chịu ăn. Một tháng sau, ông qua đời. Biến cố nầy được ghi lại trong lịch sử là “Ngày kinh khủng tại Anagni”, và nó đánh dấu sự bắt đầu suy thoái của chế độ Giáo hoàng ở châu Âu vào thời Trung cổ.
“Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã. Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo” (Châm ngôn 16.18-19)
9 tháng 9
JABEZ
Mary Redfern sống trong ngôi làng nhỏ Haddon ở Derbyshire bên Anh quốc. Mẹ cô là kẻ hay ngủ, mọi sự lo toan cho 8 đứa em rơi trên đôi vai của Mary. Một ngày kia vào năm 1769, cô nghe thấy một sự huyên náo trên đường phố. Một người dáng dấp nhỏ thó đã đến giảng đạo ở ngoài trời trước một đám dân đông. Tên của người ấy là John Wesley.
Không lâu sau đó, Richard Boardman, một trong những truyền đạo của Wesley, đến rao giảng. Ông vừa mất vợ, và cách xử sự của ông rất dịu dàng và sâu sắc. Ông đã giảng từ I Sử ký 4.9 về Jabez: “được tôn trọng hơn anh em mình”. Mary cảm động lắm và không bao giờ quên được câu chuyện nói về Jabez. Cô chuyển sang Manchester , lấy chồng, rồi đặt tên cho con trai đầu lòng của mình là Jabez. Khi Wesley đến giảng đạo cho Hội thánh ở đường Oldham của Manchester, Mary đã đưa con mình là Jabez theo. Nhà truyền đạo lỗi lạc đã chạm đến đứa bé rồi chúc phước cho nó.
Đứa bé biết rất ít về sự nó được chúc phước làm kẻ nối bước Wesley trong tương lai.
Chàng thanh niên Jabez thường nghe Wesley rao giảng, và anh phát triển một tình cảm rất lớn đối với Tin lành. Khi còn nhỏ, anh thường đi cả dặm đường để nghe giảng đạo, trở về phân phát các bài giảng ngắn của chính mình với các chị em đang chịu khổ lâu nay, sử dụng những chiếc áo sơ mi của bố làm áo lễ khi giảng đạo. Khi 19 tuổi, anh đã giảng bài giảng chính thức của mình ở Sodom, gần Manchester, và sau đó một thời gian ngắn anh đã được tấn phong bước vào chức vụ.
Jabez mau chóng tiến bộ trong hệ phái Giám lý, nhưng anh thường bướng bỉnh và kiên quyết. Khi anh chỗi dậy nắm lấy quyền lãnh đạo sau khi Wesley qua đời, anh đã cai trị với bàn tay cứng rắn. Khẩu hiệu của anh là: “Hệ phái Giám Lý ghét chế độ dân chủ giống như ghét tội lỗi vậy”. Một trong vài cuộc tranh luận đã diễn ra đúng vào ngày 9 tháng 9 năm 1825, khi Giảng đường Brunswick mở cửa ở Leeds, Anh quốc. Một cuộc tranh cãi nổ ra về việc nên định hình hệ phái hay không!?! Nhiều thuộc viên đã chống lại việc định hình đó, nhưng Bunting cùng các cấp lãnh đạo khác không cứ cách nào đã mở mang hệ phái. Hệ phái, về sau người ta nói, có 1000 bảng Anh và 1000 thuộc viên Giám Lý.
Jabez được người ta gọi là Giáo Hoàng của hệ phái Giám Lý. Nhưng ông đã giảng một Tin lành trong sáng và đưa sự đào tạo về thần học Hệ phái Giám lý và những công cuộc truyền giáo cho thế giới vào trong hệ phái của mình. Ảnh hưởng của ông kéo dài cho đến ngày nay.
“hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhiệm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy” (I Phierơ 5.2-3).
10 tháng 9
49 CITY ROAD
Jabez Bunting được chôn cất gần John Wesley, nhưng những tín đồ Giám Lý khác thì muốn được chôn sát một bên mộ của Wesley hơn. Họ xem ngôi mộ nầy có vinh dự cao cả, họ muốn bụi đất sự chết của họ pha trộn với bụi đất của nhà truyền đạo lỗi lạc ấy. Nghĩa trang chật ních người được đặt ở phía sau Giảng đường của Wesley tại City Road ở Luân đôn. Vào thập niên 1770, Wesley đã xây giảng đường của mình ở đây, rồi mới xây tư thất gần đó. Ông dọn vào ngày 10 tháng 9 năm 1779, viết trên tạp chí của mình như sau: “Đêm nay, tôi dọn về nhà mới ở Luân đôn.Tôi sẽ qua bao nhiêu đêm ở đó?”
Câu trả lời – 11 năm. Ông đã qua đời trong lúc tuổi đã già, tuổi thọ của ông góp phần vào một số bí mật chất chứa trong ngôi nhà mới đó. Những khách tham quan ngày nay được chỉ cho thấy bản sao chính xác con ngựa của ông đặt ở trong phòng. Wesley đánh giá cao việc tập luyện và đã xem trọng việc cỡi trên lưng ngựa, vì vậy ông đã thiết kế một cái yên cong có tính đàn hồi có thể làm cho ông như nhún nhảy trên đó, mái tóc bay bay, cho tới chừng tấm lòng ông như đang chạy đua và quần áo ông đẫm đầy mồ hôi.
Ngôi nhà của Wesley cũng có một thiết bị dùng riêng cho dòng điện. Ông tin rằng những cú chập điện thường xuyên là tốt cho sức khoẻ của con người, và ông trở thành người ủng hộ mạnh mẽ về cách chữa bệnh bằng dòng điện đến nỗi bạn bè ông khi bị đau ốm, họ đến đứng xếp hàng dài tại cửa nhà ông mỗi ngày để được “điều trị”.
Căn phòng quyền lực thực sự của hệ phái Giám lý là căn phòng nhỏ dùng để cầu nguyện của Wesley, ở đấy có chiếc bàn nhỏ, cánh cửa sổ khá cao, và quyển Kinh thánh luôn mở ra. Căn phòng đó ở sát phòng ngủ của ông, và ở đây rất thích ứng với đời sống thuộc linh của Wesley.
Chính ở đây tại số 49 đường City Road tại thành phố Luân đôn, một toà nhà nhỏ bằng gạch với 5 tầng, Wesley đã nhìn biết mình sắp chết. Ông bước vào phòng rồi xin được ở riêng trong nửa giờ đồng hồ. Sứ điệp toả ra khắp Luân đôn: “Ông Wesley lâm trọng bịnh! Xin cầu nguyện”. Bạn bè đến nhóm lại, rồi vào ngày 27 tháng 2 năm 1791, ông đã viết cho họ một bài thánh ca: “Khi tôi còn thở, tôi sẽ hát ngợi khen Đấng đã dựng nên tôi / Rồi khi giọng tôi lạc mất trong bóng sự chết / Sự ngợi khen đã tận dụng hết mọi sức lực quí giá của tôi / Những ngày ngợi khen của tôi sẽ không hề qua đi”. Ông thốt ra lời nói sau cùng: “Tốt hơn hết vẫn là: Nguyện Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Tạm biệt”. Và khi ấy John Wesley, là người thường nói như thế với các thuộc viên của mình: “được chết là tốt”, cũng một thể ấy với ông.
“Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy” I Timôthê 4.8-9).
11 tháng 9
SỰ DẠN DĨ
Issac Watts đã đối mặt với sự phê phán khi ông bắt đầu viết những bài thánh ca, vì ông tin rằng chỉ có những Thi thiên mới đáng được hát lên trong giờ thờ phượng. Nhưng vị tác giả bài hát nhỏ bé kia đã thừa hưởng sự dạn dĩ từ ông nội và cha của mình.
Thomas Watts là ông nội của Issac, là hạm trưởng của một tàu chiến Anh quốc, từng bị một con hổ ở Ấn độ tấn công. Khi chạy vào dòng sông, ông quay lại nhìn thấy con hổ đang lội theo phía sau mình. Ông đã đối mặt với con vật, nắm lấy đầu của nó, rồi vật lộn với nó dưới nước cho đến khi nó bị nhận chìm ở đó.
Issac đã gặp một loại hổ khác – sự bắt bớ. Ông đã từ chối tình trạng Hội thánh của Anh quốc và hiệp với những kẻ không theo giáo hội Anh. Điều nầy bị xem là phản bội, và ông bị ném vào trong nhà tù Southampton, một nơi tăm tối, ở đó những kẻ bất đồng quan điểm ốm yếu bị trói trong những xích xiềng bằng sắt. Ông nổi bật lên ở trong tù, đồng thời cưới Sarah Tauton làm vợ vào ngày 11 tháng 9 năm 1673, nhưng đôi vợ chồng mới phải ở dưới sự canh chừng thường xuyên. Sự căng thẳng đã khiến cho Sarah cho ra đời một đứa trẻ yếu đuối, còi cọc, là Issac nhỏ. Trong vòng nhiều tuần lễ, Issac lớn lại bị bắt bỏ vào tù. Ông đã tìm được sự an ủi trong quyển Kinh thánh bỏ túi của mình, nhưng vợ ông thì lo lắng không dứt. Mỗi ngày bà bò vào trong tù, ngồi trên hòn đá ở phía ngoài, cho con của mình bú, và khóc lóc.
Sau cùng Watts lớn đã được tha, rồi một vài năm trôi qua. Một sáng kia chàng thanh niên Issac đã “cười khúc khích” trong khi gia đình lễ bái. Cha của anh nghiêm khắc đòi một lời giải thích. Chàng thanh niên ấy đáp khi chỉ vào sợi dây chuông: “Vì, con nhìn thấy một con chuột leo lên đó, và tư tưởng thoạt đến trong tâm trí con: `Có một con chuột không có cầu thang / Bám lên một sợi dây để thốt ra lời cầu nguyện của mình’”. Issac lớn, chẳng thấy ấn tượng gì, đứng dậy lấy cây roi. Cậu thanh niên quì gối xuống, nài xin khóc lóc: “Ôi cha ơi, xin thương xót / Con sẽ không còn làm thơ nữa đâu”. Nhưng anh đã làm ra rất nhiều bài thơ nữa.
Về sau anh than phiền về phần âm nhạc trong nhà thờ, cha anh bảo anh viết ra những bài hát cho riêng mình nếu anh nghĩ anh có thể sáng tác hay hơn Vua David. Vì vậy anh đã viết ra những bài hát như: Phước Cho Nhân Loại, Giờ Được Chiêm Ngưỡng, Nơi Thập Tự, Bây Giờ Tôi Tin, và 600 bài khác nữa.
Ông trở thành tổ phụ của Thánh Ca Anh Quốc.
“Hãy dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau, vì được đầy ơn Ngài nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời. Mặc dầu anh em nói hãy làm, cũng phải nhân danh Đức Chúa Jêsus mà làm mọi điều” (Côlôse 3.16b-17a).
12 tháng 9
KHÔNG, TÔI CHẲNG CHẾT ĐÂU!
Thomas Webb là quả cầu lửa béo tròn, hay quậy phá, xấu xí, ông đã giúp thiết lập hệ phái Giám lý trong nước Mỹ. Sinh ra ở Anh quốc, Webb ban đầu đã chọn sự nghiệp của một người lính và đã tham trận với quân đội Anh vào năm 1759. Ông bị thương rồi quay trở về Anh quốc, chỉ để nghỉ hưu với số lương của một viên Đại úy. Khoảng năm 1764, ông đã trở lại đạo với Đấng Christ tại Bristol dưới sự rao giảng của John Wesley, và không lâu sau đó, ông bắt đầu áp dụng đầu óc quân sự của mình vào chiến dịch truyền giáo của hệ phái vì những linh hồn. Ông đã trở thành một nhà truyền đạo năng nổ ở Anh quốc và Ái nhĩ Lan; rồi đến năm 1766 ông đến nước Mỹ trong vai trò một chiến binh cho Đấng Christ.
Ở thành phố New York, Đại úy Webb vực dậy một nhà truyền đạo ngã lòng có tên là Philip Embury, giúp đỡ cho vị nầy trong công tác rao giảng Tin lành. Dân cư của New York chỉ vào khoảng 15.000 người. Nhưng Webb đã nhìn thấy tiềm năng và tham gia cùng một số người khác trong việc xây một nhà thờ nhỏ, 42×60 feet, với sức chứa khoảng 700 người. Ngôi nhà thờ nầy được xây bằng đá, bốn phía đều là tường màu xanh. Các ghế ngồi đều không có chỗ dựa lưng. Nhiều ngọn đèn cung cấp ánh sáng. Đấy chỉ là một ngôi nhà rất đơn sơ, nhưng những người đến thờ phượng đã gọi đấy là: “sự đẹp đẽ thánh khiết”. Nhà thờ nằm trên đường John, là giảng đường Giám lý đầu tiên ở thành phố New York, đã được gọi là: “Hội thánh mẹ đẻ của hệ phái Giám Lý” ở nước Mỹ.
Sau đó, Đại úy Webb còn đi xa hơn nữa – đến Long Island, Philadelphia, Baltimore, Delaware, Jamaica, và châu Âu. Và trong khoảng thời gian dừng lại ở Anh quốc, ông tiếp tục thúc giục Wesley sai phái nhiều giáo sĩ đến các vùng thuộc địa hơn nữa.
Những người đã từng gặp Webb đều không thể quên được ông, chủ yếu là vì thanh gươm lủng lẳng và miếng che mắt trái màu xanh lá cây, là kết quả những thương tích chiến tranh của ông vào ngày 12 tháng 9 năm 1759, trong trận đánh Louisburg. Vết thương ấy được mô tả như sau:
“Một viên đạn đã trúng nhằm ông nơi xương bảo hộ con mắt phải, và đi một hướng xiên 45o, làm vỡ con ngươi, rồi đi ngang qua vòm miệng vào miệng ông, ông nuốt lấy nó. Một đồng đội của ông nói: “Ông chắc sẽ chết đấy thôi”. Webb đáp: “Không, tôi chẳng chết đâu”. Trong ba tháng, ông đã có thể quay trở lại với các đồng đội của mình. Ông không hề xấu hổ vì các vết thương của mình”.
“Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới. Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy, lại giáng trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!” (Galati 6.15-16)
13 tháng 9
NHỮNG NGƯỜI THÂN CỦA CHÚA JÊSUS
Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, không có vợ cũng chẳng có con cái. Nhưng Ngài có các em trai, em gái, cháu trai, cháu gái. Bạn có lấy làm lạ khi có việc gì đó xảy ra trong gia đình của Ngài, dòng dõi của Giô-sép và Mary không? Họ không hoàn toàn biến mất trong lịch sử. Các em của Ngài, Giacơ và Giu-đe, sau khi nhất thời từ chối chức vụ của Ngài, đã được biến đổi, đã trở thành cấp lãnh đạo trong Hội thánh đầu tiên, và đã viết các thư tín trong Tân ước mang lấy danh của họ – Giacơ và Giu-đe.
Nhưng còn nữa.
Vào ngày 13 tháng 9 năm 81 Hoàng đế La mã là Titus đã qua đời ở tuổi 40 sau khi trị vì hai năm. Em ông, Titus Flavius Domitianus, 29 tuổi, lên thay thế, đã cai trị cho đến 96 tuổi, gọi là Domitian. Khi còn thanh niên, Domitian rất đẹp trai, cao ráo, và mẫu mực lắm. Trong các năm về sau, ông mập ra, bụng phệ, hai chân như ống sậy, đầu hói (mặc dù ông đã viết một quyển sách có đề tựa là: “Chăm sóc mái tóc”).
Sử gia Pliny đã mô tả Domitian là con thú từ địa ngục lên ngồi trong cái hang của nó, đang liếm máu. Ông ta say mê trò tàn bạo độc ác. Ông ta bắt những con ruồi để có thể đâm chúng bằng con dao găm và tự mình giải trí với những trận đánh đấu vật giữa phụ nữ và các chú lùn.
Ông là Hoàng đế La mã đầu tiên tự tôn mình lên làm Giêhôva Đức Chúa Trời, và buộc những người khác phải tung hô ông với câu: “Chúa của trần gian! Không thể thấy được! Vinh hiển thay!” Người Do thái và Cơ đốc nhân đã từ chối không chịu thốt ra câu nói phạm thượng đó và bị coi là mục tiêu cho sự bắt bớ ghê gớm lắm.
Eusebius, Giám Mục Caesarea, “Giáo phụ của Lịch sử Hội thánh”, viện dẫn Hegesippus, một sử gia Hội thánh từ thế kỷ thứ hai, nói rằng giữa vòng những kẻ bị áp bức là cháu cố của Giô-sép và Mary: “Domitian đã đem từ xứ Palestine về Rome hai người thân của Chúa Jêsus, hai cháu nội của Giu-đe, là em của Chúa, nhưng sau khi thấy tình trạng nghèo khổ và quê mùa của họ, và khi nghe họ giải thích nước của Đấng Christ không thuộc về đời nầy, mà thuộc về trời, Chúa đã thiết lập vào lúc thế giới nầy tận chung, khi Ngài đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết, ông ta đã tha cho họ đi”.
“Ngài về đến quê hương, rồi dạy dỗ trong nhà hội, đến nỗi ai nghe cũng lấy làm lạ, mà nói rằng: Bởi đâu mà người nầy được khôn ngoan và những phép lạ nầy? Có phải là con người thợ mộc chăng? Mẹ người có phải là Ma-ri, và anh em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, Giu-đe chăng? Chị em người đều ở giữa chúng ta chăng? Bởi đâu mà người nầy được mọi điều ấy như vậy?” (Mathiơ 13.54-56).
14 tháng 9
LỜI NÓI BẰNG VÀNG
Trong 15 thế kỷ, ngày nầy trong lịch sử Hội thánh đã thuộc về John Chrysostom, ông qua đời vào ngày 14 tháng 9 năm 407, ở tuổi 60. Những bài giảng đầy năng quyền của ông đã cung ứng danh tiếng cho ông là một nhà hùng biện tài ba nhất trong lịch sử Cơ đốc. Thực vậy, tên Chrysostom có nghĩa là “Lời nói bằng vàng”.
John ra đời ở Antioch, Syri. Cha ông, một quan chức La mã thuộc đẳng cấp cao, đã qua đời một thời gian ngắn sau khi John ra đời. Mẹ ông là Anthusa đã dâng mình vào việc nuôi dạy John trong sự trưởng dưỡng của Chúa. Bà đã đặt John vào những ngôi trường tốt nhứt; và dưới sự dạy dỗ của nhà hùng biện nổi tiếng Libanius, John đã làm chủ được nghệ thuật hùng biện.
John trở thành một luật sư, nổi tiếng vì tài ăn nói có quyền lực. Những nghiên cứu của ông về luật đã khiến ông phải xem lại các tín điều Cơ đốc, và ông rất có ấn tượng với Kinh thánh và ông đã từ bỏ nghề luật, chịu phép báptêm, rồi muốn vào một tu viện. Khi mẹ ông khuyên ông ở lại với gia đình, yên ủi bà trong lúc tuổi già. John biến nhà mình thành một tu viện riêng, ăn uống đơn sơ, mua bán chút đỉnh, rồi dành hết thời gian vào nghiên cứu.
Sau cái chết của mẹ ông, Chrysostom đã nghiên cứu và âm thầm làm việc như một thầy tu trong 6 năm, nối theo sau là 2 năm giống như Ê-li sống trong hang động. Khi ấy, ông bắt đầu rao giảng. Các sứ điệp của ông đều rất thực tế, đầy quyền năng, và gieo rắc tiếng cười. Ông đã dẫn dắt khán thính giả của mình rất hiệu quả qua Kinh thánh theo cách chú giải. Tài hùng biện của ông có quyền năng đến nỗi khán thính giả của ông bùng lên với tiếng vỗ tay liên tục, một cách làm mà ông không ưa thích.
Năm 398, John được bầu chọn làm Tộc trưởng của Constantinople, nhưng khi các sứ điệp giảng cách đơn sơ của John làm phật lòng nhiều linh mục cùng các nhà chính trị ở đó, ông bị trục xuất đến một nơi xa xôi trong vùng Biển Đen. Ông buồn bã nói với giáo dân của mình: “Lẽ đạo của Đấng Christ không bắt đầu với tôi, và lẽ đạo ấy sẽ không chết với tôi”. Sự ra đi bị bắt buộc của ông đã gây ra một cuộc nổi loạn tại Constantinople, và vào đêm loạn lạc ấy, một trận động đất mạnh đã làm lay động cả thành phố. Các quan chức ngay lập tức sai đi tìm ông và ông trở về trong đắc thắng. Thế nhưng, những bài giảng bộc trực, theo Kinh thánh của John tiếp tục làm ray rứt những nhà cầm quyền, và một lần nữa ông bị hạ bệ và bước vào một thời kỳ chức vụ qua các bức thư và thư tín trước khi qua đời vào ngày nầy của năm 407, lời nói sau cùng của ông là: “Vinh hiển qui cho Đức Chúa Trời trong mọi sự. Amen!”
“Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, ta sai ngươi đến cùng con cái Y-sơ-ra-ên, đến các dân bạn nghịch nổi loạn nghịch cùng ta; chúng nó và tổ phụ mình đã phạm phép nghịch cùng ta cho đến chính ngày nay. Ấy là con cái dày mặt cứng lòng, ta sai ngươi đến cùng chúng nó. Khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va có phán như vậy! Còn như chúng nó, hoặc nghe ngươi, hoặc chẳng khứng nghe, vì là nhà bạn nghịch, ít nữa chúng nó cũng biết rằng ở giữa mình đã có một đấng tiên tri” (Êxêchiên 2.3-5).
15 tháng 9
GIÁO XỨ CỦA TÔI
Antoinette Brown, chào đời trong một nhà bằng gỗ ghép ở Nữu Ước, đã cảm động bởi chức vụ của Charles Finney lúc 6 tuổi và đã nhóm lại ở Hội thánh Congregational lúc 9 tuổi. Bà học rất xuất sắc ở trường. Sau khi tốt nghiệp từ Trường Oberlin vào năm 1847, bà đã tạo ra sự bất ổn giữa vòng hội đồng giáo sư khi bà trở lại để thi tốt nghiệp ở trường Thần học. Chẳng có một phụ nữ nào đến học thần học tại Oberlin cả. Gia đình bà lấy làm lo và không trợ giúp cho bà. Ở năm học cuối, bà chẳng được thi cử, và tên của bà không được ghi vào danh sách của trường đại học.
Khi đến tham dự Hội nghị thế giới không dùng rượu ở thành phố Nữu Ước, bà không được phép phát biểu. Điều nầy đã chọc tức Horace Greeley của tờ New York Tribune đến nỗi ông viết: “Hội nghị nầy đã hoàn tất ba trong số bốn phiên chính của nó, và những kết quả có thể được tóm tắt như sau: Ngày thứ nhứt – gây áp lực không cho một phụ nữ lên diễn đàn. Ngày thứ nhì – Bịt miệng người phụ nữ nầy. Ngày thứ ba – Biểu quyết cứ bịt miệng người phụ nữ đó. Thế là đã tống khứ đúng vấn đề, chúng ta xem như các phần phụ sẽ hoàn tất sáng nay”.
Lời lẽ của Greeley đã đưa Antoinette lên điểm nổi bật, và bà đã mở ra một chức vụ giảng đạo tại nhà thờ lớn ở thành phố Nữu Ước. Nhưng bà cũng cảm thấy chưa có kinh nghiệm đứng trên toà giảng quá lớn ở thủ đô, bà đã chấp nhận lời mời đến với Hội thánh nhỏ Congregational, “không có gác chuông cũng chẳng có chuông”, ở Nam Butler, Nữu Ước.
Ở đó vào ngày 15 tháng 9 năm 1853, Antoinette Brown đã trở thành nữ Mục sư được tấn phong trong nước Mỹ. Mục sư Luther Lee đã giảng sứ điệp tấn phong từ Galati 3.28: “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà…”.
Brown đã viết trong tờ báo của bà: “Đây là một Hội thánh nhỏ mà nghèo, tôi tin vì các nhu cần của tôi trong Hội thánh nhỏ nầy. Giáo xứ của tôi sẽ là một thế giới thu nhỏ ở điều thiện và điều ác. Để cho người ta tụ tập lại trong một phạm vi nhỏ hẹp hầu cho tôi có thể học biết từng người một, mở ra một chương kinh nghiệm mới. Đây là những gì tôi mong muốn…”
“vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy. Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một” (Galati 3.26-28).
16 tháng 9
BẠN HỮU CỦA ISRAEL
Việc tái dựng lại nhà nước của Israel vào năm 1948 là một sự thành tựu vinh quang của phong trào phục quốc Do thái vào thế kỷ 19 và 20. Giữa vòng những người phục quốc là nhiều Cơ đốc nhân, đặc biệt ở Anh Quốc, họ đã tin tưởng vào sự phục hưng của người Do thái tại Palestine là một phần trong chương trình của Đức Chúa Trời dành cho các chương sau cùng của lịch sử. Ngay trước khi kết thúc thập niên 1960, ít nhất 12 quyển sách đã xuất hiện ở Anh quốc biện hộ cho sự trở về của người Do thái tại xứ Palestine. Nhiều Cơ đốc nhân người Anh đã xem điều nầy là một sự ký thác của lời tiên tri và gắn nó với sự tái lâm của Đấng Christ. Vào ngày 16 tháng 9 năm 1840, Vị Mục sư người Tô cách Lan là Robert Murray McCheyne đã viết cho bạn mình là George Shaw ở Belfast:
“Anh không thể nói hết được nỗi vui mừng mà bức thư anh gửi cho tôi khi anh nói tới các anh em yêu dấu đã gặp anh vào những sáng thứ Hai, đọc Kinh thánh và cầu nguyện về Israel. Tôi cảm thấy mình được khuyên dỗ bởi lời tiên tri, thật là khó khuấy động và giữ được một sự quan tâm ấm áp và thánh khiết đối với những người Israel bị ruồng bỏ kia. Những kẻ yêu mến và biện hộ cho lý tưởng Siôn luôn luôn là rất ít. Chắc anh không nghĩ điều nầy đã được gợi ý trong Giêrêmi 30.13: “Chẳng ai lấy cớ ngươi cầu thay, để ngươi được ràng buộc; ngươi chẳng có thuốc chữa” sao? Và đây chẳng phải là một trong những lý cớ tại sao Đức Chúa Trời sẽ chiếu cố đến lý tưởng của họ ư!
“Thật là một sự khích lệ ngọt ngào khi học biết rằng mặc dù bạn bè của Siôn có lẽ sẽ rất ít, tuy nhiên luôn luôn có một số người cứ giữ sự canh chừng đối với bụi đất của Jerusalem, và biện hộ cho lý tưởng của Israel với Đức Chúa Trời và với con người. Hãy xem Êsai 62.6b, 7: “Hỡi các ngươi là kẻ nhắc nhở Đức Giê-hô-va, chớ có nghỉ ngơi chút nào. Đừng để Ngài an nghỉ cho đến chừng nào đã lập lại Giê-ru-sa-lem và dùng nó làm sự ngợi khen trong cả đất”. Ôi, hỡi anh em yêu dấu của tôi ơi, tận đáy lòng của anh em tôi tin Đức Chúa Trời đang đổ ra một sự yêu thương thuộc linh dành cho Israel, đúng là một vinh dự dành cho chúng ta, những sâu bọ của bụi đất, bởi Đức Chúa Trời trở thành những người thức canh các bức tường đổ nát của thành Jerusalem, và được lập làm những người gợi lại kỷ niệm của Đức Giêhôva, kêu nài những lời hứa của chính Ngài trong lý trí của Ngài, rằng Ngài sẽ làm ứng nghiệm chúng, và khiến Jerusalem làm nguồn phước cho cả thế giới!”
“Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta đã đặt các vọng canh trên thành ngươi; cả ngày và đêm chúng nó chẳng hề im lặng. Hỡi các ngươi là kẻ nhắc nhở Đức Giê-hô-va, chớ có nghỉ ngơi chút nào. Đừng để Ngài an nghỉ cho đến chừng nào đã lập lại Giê-ru-sa-lem và dùng nó làm sự ngợi khen trong cả đất!” (Êsai 62.6-7).
17 tháng 9
HANG CHUỘT
Không lâu sau Nội Chiến, phóng viên Oliver Dyer đã ghi lại rằng nếu tất cả những quán rượu, nhà thổ, cùng những ổ cờ bạc trong thành phố Nữu Ướcđem xếp thành một hàng dài trên một con đường, thì sẽ dài đến 30 dặm. Mỗi đêm trên con đường ấy, ông nói, cứ mỗi nửa dặm đường thì có một kẻ giết người, một tên cướp cạn cứ mỗi 200m, cứ mỗi cánh cửa đều có một kẻ vô gia cư, và 8 nhà truyền đạo đang rao báo Tin lành. Và Dyer công bố chủ quán rượu John Allen là “kẻ gian ác nhất” trong những kẻ ác của thành phố.
Một vị Mục sư, sau khi đọc câu chuyện, đã bước vào quán của Allen nằm trên đường Water để làm chứng cho ông ta. Trước sự ngạc nhiên của ông, Allen, dù không chịu trở lại đạo, đã bị nhóm người tin kính bắt lấy và hứa mở cửa quán rượu mỗi ngày cho các buổi nhóm cầu nguyện. Hàng trăm người bắt đầu tập trung lại ở đó. Các tạp chí tâng bốc câu chuyện lên, và Allen trở thành một tin giật gân. Không bao lâu sau đó, ông ta tuyên bố quán rượu của mình đã trở thành một nhà thờ phượng, phải nói thêm rằng bấy giờ ông ta đã nổi tiếng, ông ta có ý định tham gia vào một nhà thờ…một ngày kia.
Sự thành công của những lần nhóm lại khiến cho những nhà tổ chức phải thuê hang chuột gần đó tại Quán Kit Burns, một giảng đường tạm với những chỗ ngồi được dựng lên trên một cái hang những bầy chuột thoát ra từ đó. Mấy con chó được thả ra, và tiền cá độ được tính trên số chuột mà họ có thể giết trong vòng một thời gian nhất định nào đó. Con rễ của Burns thường kết thúc các buổi trình diễn bằng cách nhảy vào trong hang rồi giết những con chuột còn sống bằng hai hàm răng của mình. Kit Burns đã lau sạch máu từ sàn nhà mỗi ngày rồi cho thuê cái hang nầy làm chỗ cầu nguyện. Không lâu sau đó, những buổi thờ phượng kết thúc vào buổi trưa, những buổi biểu diễn chuột đã bắt đầu lại (để “phê chuẩn” những lời cầu nguyện, Burns châm biếm).
Đến ngày 17 tháng 9 năm 1868, John Allen, đang tắm nắng ngoài trời, ông ta sửa soạn rời khỏi quán “Lecture Tour” ở New England. Ông dựng quán ấy ở Connecticut trước khi uống say mèm để bị tống ra ngoài. Trong vòng một tháng Allen đã lấy lại quán của mình, vì chẳng khai thác lợi lộc được bao nhiêu. Còn những Cơ đốc nhân thì thuê một toà nhà khác ở cuối con đường, và nơi ấy đã trở thành ngôi nhà đầu tiên của Hội Truyền Giáo McAuley nằm trên đường Water.
Bấy nhiêu chưa hết đâu. Quán của Kit Burns đã được đổi thành một ngôi nhà dành cho các gái điếm hoàn lương, quán rượu trở thành giảng đường và hang chuột thành…một nhà bếp.
“Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được; hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần! Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào” (Êsai 55.6-7).
18 tháng 9
JERRY McAULEY
Hội truyền giáo McAuley nằm trên đường Water đã lấy theo tên của Jerry McAulay, chào đời ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1839. Cha của ông, một kẻ phạm pháp, đã bỏ nhà đi trốn luật pháp, và Jerry không hề biết mặt ông. Mẹ ông, mòn mỏi ở trong tù, và cậu bé đã được bà ngoại nuôi dạy. Khi bà không còn kềm chế ông được nữa, ông được gửi đến Nữu Ước, ở đó ông sống dưới các xưởng đóng tàu, nhậu nhẹt say sưa, đánh nhau, và ăn cắp từ những chiếc tàu để sống. Đến năm 1857, ông bị bắt rồi bị đày tới đảo Sing-Sing.
Những người lao tù ở Sing-Sing bị buộc phải sống trong im lặng trong các xà lim chồng trên 5 tầng cao. Một xà lim là một chiếc quan tài nhỏ – ba feet rộng, 6 feet cao, và 7 feet dài. Xà lim rất ẩm ước vào mùa hè; đóng tuyết vào mùa đông; luôn luôn nghiệt ngã. Chẳng có hệ thống thoát nước nào hết, chỉ có mấy cái xô mà thôi. Những cái xà lim ấy không bao giờ được tẩy uế, đầy dẫy với chấy rận, bọ chét. Những sự vi phạm sẽ bị trừng phạt bằng đòn vọt, “còng sắt”, hay “tắm bông sen” trong đó tù nhân bị nhúng nước đến ngất đi và được làm cho tỉnh lại, và cứ thế.
Một Chúa nhựt kia, McAuley bị dồn vào trong giảng đường. Ông ủ rủ và khốn khổ cho tới khi ông liếc nhìn lên bục giảng và nhận ra đấu thủ quyền anh nổi tiếng Orville Gardner. Vị võ sĩ quyền anh nầy đang nói về việc tìm gặp Chúa Jêsus, và McAuley chăm chú lắng nghe. Không lâu sau đó, ông bắt đầu đọc Kinh thánh, hết trang nầy sang trang khác, hết ngày nầy qua ngày khác. Ông đã đọc hết Kinh thánh những hai lần; thế rồi trong nỗi thống khổ đau thương, ông quì gối xuống – nhưng lại bật dậy trong sự ngượng ngùng. Ông đã làm như thế mấy lần. Sau cùng, một tối kia, sau khi quyết tâm, ông quì xuống cho tới khi ông đã tìm được sự tha thứ, ông đã cầu nguyện và khẩn nguyện. Ngay khi ấy dường như có điều chi đó siêu nhiên ở trong căn phòng của tôi. Tôi sợ không dám mở mắt mình ra, hai hàng nước mắt lăn dài trên má với những giọt thật lớn, và những lời nầy thoạt đến với tôi: “Nầy con ơi, tội lỗi con, dầu nhiều lắm, đã được tha hết rồi”.
Ông đã được trả tự do vào năm 1864, sau khi bị tù 7 trong 26 năm sống. Ông đã dâng mình vào việc giải cứu những kẻ khác khó sửa đổi được. Hai mươi năm sau, vào ngày 18 tháng 9 năm 1884, nhà thờ Broadway to lớn kia đã đầy ắp người dự tang lễ của ông, nhiều đoàn dân đông tràn ra khắp các đường phố. Hội truyền giáo của ông nằm trên đường Water, một hội tiên phong giữa vòng những hội truyền giáo của nước Mỹ, là bến cảng hy vọng cho hơn một trăm năm.
“Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít. Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng: Tội lỗi ngươi đã được tha rồi” (Luca 7.47-48).
19 tháng 9
VINH HIỂN, CA TỤNG
Vào những năm từ 700 đến 800, nhân vật lỗi lạc nhất trên thế giới là Charlemagne, là Vua của bộ tộc Frank và là Hoàng đế của La mã Thánh. Sau khi nắm được quyền điều khiển hầu hết Tây Âu, ông tự mình cải chánh các hệ thống luật pháp, toà án, và quân sự trong đế quốc của mình. Ông lập ra nhiều trường học và khuyến khích Cơ đốc giáo; và tại thủ phủ của ông, nhiều học giả và thánh đồ đã nhóm lại từ khắp châu Âu.
Giữa vòng họ là Theodulf. Ông vào khoảng 50 tuổi vào năm 800, và ông có được danh tiếng tốt là người của giáo hội, nhà thơ và là học giả. Charlemagne tôn mình làm Giám mục xứ Orleans ở Tây ban Nha, và Theodulf đã đi đó đi đây khắp nơi, dự phần vào trong các biến cố của đế quốc. Khi Alcuin qua đời, là “Cán bộ Giáo dục” của Charlemagne, Theodulf nhất quyết nắm cho được địa vị ấy. Không may, cơ đồ của Theodulf đã chết mất khi Charlemagne qua đời. Bị tố giác bởi vị tân hoàng đế về tội phản bội, ông đã bị bắt bỏ tù. Ông cứ giữ lấy tình trạng vô tội của mình và đã được tha vào năm 818; nhưng ông đã qua đời sau đó và đã được chôn cất vào ngày 19 tháng 9 năm 821.
Theodulf đã làm việc rất cật lực hầu cung ứng cho hàng giáo phẩm có được một nền giáo dục thật tốt. Giữa vòng các quyển sách của ông quyển “Kim chỉ nam của các linh mục chủ trì các giáo khu”, trong đó ông đề ra những châm ngôn đại loại như sau:
- Không một người nữ nào được phép sống trong nhà với một linh mục.
- Các linh mục không được dùng rượu hay đến quán rượu thường xuyên.
- Các linh mục phải dạy cho mọi người Bài Cầu nguyện chung và bài Tín điều các sứ đồ.
- Mỗi ngày, xưng tội với Đức Chúa Trời để được tha thứ.
- Sự nhơn đức chân thật bao gồm sự hội hiệp các việc lành với một đời sống đạo đức.
Theodulf xứ Orleans đã được ghi nhớ nhiều nhất, tuy nhiên, bài thánh ca tuyệt vời của ông “Gloria, Laud et Honor” đã được hát lên mỗi Chúa nhựt Lễ Lá trong hơn 1000 năm tại các nhà thờ trên khắp thế giới. “Tất cả vinh hiển, chúc tụng và vinh quang đều dâng lên Ngài, hỡi Vua, Đấng Cứu Chuộc. Môi miệng của những con trẻ rung động âm điệu Hôsana dâng lên Ngài. Ngài là Vua của Israel. Ngài là Con vua David. Là Đấng nhơn danh Chúa mà đến. Chúc tụng Vua có một”.
“Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường. Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! (Mathiơ 21.8-9).
20 tháng 9
THÊM 10 NGÀY NỮA
Tên của cô là Pandita Pamabai, dù không quen lắm đối với nhiều người ngày nay, đã được ghi khắc trong sự vinh hiển. Cha của cô là một thầy tế lễ thuộc bộ tộc Brahmin, ở tuổi 44, đã cưới một gái 9 tuổi làm vợ. Với ý muốn dạy học cho cô bé nầy, ông đem cô ta vào khu rừng hẻo lánh kia ở miền Nam Ấn độ, cất một ngôi nhà, sau khi dẹp bỏ hết mọi thứ tiêu khiển, đã dạy cho cô bé biết tất cả những gì ông đã biết. Ở đây, năm 1858, Pandita đã ra đời. Cha của cô cũng quyết định dạy học cho cô nữa; và khi ấy cô đã được 12 tuổi, Pandita đã học thuộc lòng 18.000 câu kinh Sanskrit và đã có thể nói, viết nhiều thứ ngôn ngữ.
Nhưng cái gia đình nhỏ ấy đã gặp phải nhiều nợ nần ngày càng cao, kế đó là đói khát. Cha của Pandita “đã giữ tôi rất chặt chẽ trong vòng tay của ông, hay vuốt đầu và gò má của tôi, ông nói ông yêu thương tôi, ông đã dạy cho tôi biết làm lành, và không hề rời khỏi đường công nghĩa”.
Thế rồi ông qua đời trong nạn đói, tiếp theo là mẹ của cô ấy. Pnadita đi dông dài trong xứ Ấn độ, ngủ ngoài trời, chịu giá lạnh, ăn những quả mọng. Cô bắt đầu hồ nghi các thần tượng của cha mình; và sau cùng tại Calcutta, cô đã học biết về Đức Chúa Jêsus Christ.
Những phụ nữ có học đều là những thứ trang sức trong xứ Ấn độ, và Pandita bắt đầu diễn thuyết đây đó, tìm cách dựng lên tiêu chuẩn sống cho nữ giới. Sau khi qua Anh và Mỹ, cô tiếp nhận Đấng Christ và đã chịu phép báptêm. Cô học môn toán và nghề y ở các trường đại học miền Tây; và cô tìm kiếm sự tài trợ tiền bạc cho những gia đình goá bụa có con mọn trong xứ Ấn độ. Vào cuối thập niên 1880, cô về lại Ấn độ rồi mở Hội Truyền Giáo Mukti (Cứu Rỗi). Hội có hàng trăm cô gái trong tình trạng thất vọng. Cô và những nhân sự của mình đã đào nhiều giếng nước, trồng nhiều cây cối, cày bừa đất, và rao giảng Tin lành. Hàng trăm người đã trở lại đạo. Hàng ngàn người được cứu ra khỏi nạn đói kém. Cô đã lập ra nhiều trường học để dạy dỗ các cô gái của mình. Khi ấy một nhà thờ đã được dựng lên với những dòng chữ nầy được khắc trên nền nhà: “Ngợi khen Đức Giêhôva. Chẳng phải bởi quyền thế, chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giêhôva vạn quân phán vậy. Vầng đá ấy chính là Đấng Christ” Ngày 20 tháng 9 năm 1899.
Những năm sau cùng của cô được sử dụng vào việc phiên dịch Kinh thánh sang tiếng Marathi. Cô gần như đã hoàn tất phần việc khi lâm trọng bịnh. Cô đã cầu nguyện xin thêm 10 ngày nữa để hoàn tất công tác của mình; và 10 ngày sau, đúng ngày 5 tháng 4 năm 1922, cô qua đời, sau khi vừa dịch xong trang cuối cùng.
“Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Xachari 4.6b)
21 tháng 9
BẤT KỲ AI TRONG CHÚNG TA
Những học giả trẻ tuổi, nhanh nhẹn thường trở thành hạng giáo sĩ lỗi lạc, giống như Coleridge Patteson, đặc biệt khi họ từ bỏ mọi sự vì Đấng Christ. Patteson, là chắt của nhà thơ Samuel T. Coleridge, “học rất giỏi” ở Oxford, ở đấy ông xuất sắc ở các bộ môn thể thao, đặc biệt là đua thuyền. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành phụ tá Mục sư trong Hội thánh Anh quốc và không lâu sau đó đã dong buồm sang Tân tây lan làm phụ tá cho người bạn của mình là Giám Mục George Selwyn.
Patteson tổ chức các trường học cho những Cơ đốc nhân vùng Melanesia, rao giảng Tin lành, và dịch thuật Kinh thánh. Ông nói 23 thổ ngữ và dịch Tân Ước sang các ngôn ngữ của địa phương. Vào năm 1861, ông được tấn phong làm Giám mục xứ Melanesia, và sau 20 năm, chỉ có 40 trong 800 người bản xứ trên hòn đảo chính là Mota, chưa chịu phép báptêm mà thôi.
Nhưng các lái buôn nô lệ người châu Âu đã làm bẩn bầu không khí bằng cách qua lại giữa các hòn đảo, bắt cóc nhiều thiếu niên bản xứ. Nói chung, có tới 70.000 thanh niên đã bị bắt đưa đi làm nô lệ. Patteson đã đấu tranh rất ác liệt; nhưng nỗi sợ hãi người châu Âu đã nổi lên giữa vòng dân cư trên các hòn đảo, và nhiều người đã xua tay với Patteson. Có thể ông cũng muốn các con cái của họ, không phải vì các mục tiêu giáo dục chúng, mà muốn bắt chúng làm nô lệ?
Vào ngày 21 tháng 9 năm 1871, Patteson đã neo tàu dọc theo một hòn đảo. Ông giảng cho các thiếu niên địa phương về Ê-tiên, là Cơ đốc nhân đầu tiên tuận đạo. Ông kết luận như sau: “Hết thảy chúng tôi đều là Cơ đốc nhân ở đây trên tàu nầy. Bất cứ ai trong chúng tôi đều được yêu cầu phó thác sự sống mình cho Đức Chúa Trời, giống như Êtiên sống trong Kinh thánh vậy. Điều nầy có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta, cho các bạn và cho tôi. Việc ấy có thể xảy ra ngay hôm nay”.
Patteson gấp quyển Kinh thánh của mình lại rồi bước lên bờ. Một loạt tên đã bắn chận ông. Một lát sau, chiếc xuồng bị đẩy trôi theo dòng nước. Nó mang theo thi thể của Patteson bị tên bắn, được phủ lên bằng những lá cọ, cho thấy rằng sinh mạng của Patteson đã bị tước đi đổi lại với 5 thiếu niên của hòn đảo đã bị bắt cóc. Ông đang ở vào tuổi tứ tuần. Cái chết của ông đã nhóm lên sự phản kháng khiến cho những sự bắt cóc ở vùng Nam Thái Bình Dương phải kết thúc; và sự tuận đạo của ông đã làm cảm động nhiều thanh niên dâng đời sống của họ cho công tác truyền giáo ở vùng Biển Nam.
“Chúng đang ném đá, thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi. Đoạn, người quì xuống, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ! Người vừa nói lời đó rồi, thì ngủ” (Công vụ các Sứ đồ 7.59-60).
22 tháng 9
NHÀ CẢI CHÁNH NGƯỜI BA LAN
Cuộc cải chánh ở ngoài mặt của Hội thánh là vô dụng trừ phi có kèm theo bởi sự cải chánh về mặt thuộc linh ở đời sống bên trong của Cơ đốc nhân. Điều nầy nhắc tới Caspar Schwencfeld, ngày nay ai cũng biết là nhà cải chánh bị lãng quên. Caspar lớn lên ở một tỉnh của xứ Ba lan. Ông có được một nền giáo dục rất tốt rồi dấn thân vào những vụ việc dân sự. Khoảng năm 1519, ông đã kinh nghiệm một “sự thăm viếng của Chúa”, như ông gọi như thế, và sau đó bắt đầu sốt sắng nghiên cứu Kinh thánh. Quyển Kinh thánh của ông, được in ở Worms, nước Đức, bởi Anton Koberger, hai bên lề đều được đánh dấu và gạch dưới rất tỉ mỉ.
Vào năm 1525, ông đi cả trăm dặm trên lưng ngựa đến Wittenberg, và đến ngày 1 tháng Chạp, ông yêu cầu Martin Luther cho một sự bổ nhiệm. (Khi) Mục sư Martin cùng đi với chúng tôi ra cửa, tôi kéo ông ra chỗ cửa sổ và xin ông chú ý tới những gì tôi đã viết cho ông…và tôi muốn ngỏ cùng ông…khi ấy, ông đáp: “Caspar thân mến ơi, tôi rất vui khi trao đổi với ông, ngày mai hãy đến sớm như ông muốn, 6, 7 hay 8 giờ. Chẳng có chi ngăn trở tôi cả…”.
Sáng hôm sau, Caspar đến thật sớm, chừng 7 giờ, nhưng không lâu sau đó ông thấy mình không thích ứng với “Mục sư Martin”. Caspar e sợ sự xưng công bình bởi đức tin, nếu bị giải thích sai, sẽ tạo ra nguy hiểm về mặt đạo đức; ông không thể tiếp thu quan điểm của Luther về tiệc thánh của Chúa; ông tin rằng Cơ đốc nhân được trưởng dưỡng bằng thịt thánh của Đấng Christ bởi đức tin; ông chống không tham gia vào chiến tranh và thề thốt, ông từ chối không làm phép báptêm cho con trẻ; ông chống lại các hệ phái.
Vì thế ông trở thành chi thể của Cuộc Cải Chánh Triệt Để rồi thấy mình bị bắt bớ bởi cả Công Giáo và Tin lành. Sau nhiều áp lực của cả giáo quyền lẫn chính quyền, ông qua đời vào ngày 10 tháng Chạp năm 1561. Nhưng các môn đồ của ông đã thêm nhiều lên qua nhiều năm tháng, đến năm 1734, một nhóm khoảng 180 người đã dong buồm từ Hà lan sang Mỹ trên chiếc tàu Saint Andrew với những chiếc rương sơn sáng chói chứa tài sản và sách báo của họ. Họ đã đến tại Philadelphia vào ngày 22 tháng 9 năm 1734, tự nhận mình là “Những Mục sư của sự vinh hiển Đấng Christ”. Những tín đồ Quaker đã chào đón họ. Những Mục sư nầy đến định cư ở ngoại ô Mennonite, và 5 nhà thờ Schwenkfelder vẫn còn tồn tại ngày nay như một phần cơ nghiệp của người Đức ở bang Pensylvania.
“Ví bằng anh em sốt sắng làm lành thì có ai làm dữ lại cho anh em? Nếu anh em phải vì sự công bình mà chịu khổ, ấy thật là có phước. Chớ sợ điều họ sợ và đừng rối trí; nhưng hãy tôn Đấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình” (I Phierơ 3.13-15a).
23 tháng 9
PHẤN HƯNG Ở ĐƯỜNG FULTON
Tình hình của nước Mỹ rất ảm đạm vào giữa thập niên 1850. Xứ sở đang loạng choạng bên bờ nội chiến, bị xâu xé bởi những giọng nói giận dữ cùng các dư luận rơi vào chỗ bế tắc. Tình thế ấy tạm thời làm dậm chân tại chỗ việc xây dựng tuyến đường sắt và sức sản xuất của xí nghiệp. Ngân hàng rơi vào chỗ phá sản, nhiều người sống trong cảnh thất nghiệp. Tình trạng ù lì thuộc linh đã lan rộng khắp xứ.
Tại thành phố Nữu Ước, Jeremiah C. Lanphier, một nhân sự Cơ đốc, đã tiếp nhận sự kêu gọi của Hội thánh North Reformed Dutch bước vào chương trình truyền giáo trọn thời gian. Ông đi thăm từng nhà một, dán những áp phích, và cầu nguyện. Nhưng công việc không có sức sống và Lanphier đâm ra nãn lòng.
Khi mùa thu đến trên thành phố, Lanphier quyết định tổ chức những buổi nhóm cầu nguyện vào lúc giữa trưa, ông nghĩ rằng giới thương gia sẽ đến dự trong giờ ăn trưa của họ. Ông giảng bài đầu tiên vào ngày 23 tháng 9 năm 1857, tại Hội thánh North Reformed Dutch nằm trên đường Fulton. Khi giờ đến, Lanphier thấy chỉ có mỗi mình ông. Ông cứ ngồi và chờ đợi. Sau cùng, có một người bước đến, rồi thêm mấy người nữa.
Nhưng qua tuần sau, có 20 người đến. Tuần thứ ba, 40 người. Có người đề nghị rằng nên tổ chức nhóm lại mỗi ngày, và trong vòng mấy tháng nhà thờ đã đầy ắp người. Cuộc phấn hưng lan rộng sang các thành phố khác. Nhiều văn phòng, cửa hiệu đã đóng cửa lại để cầu nguyện vào lúc giữa trưa. Báo chí đăng tải câu chuyện, thậm chí các phòng điện tín cũng biệt riêng giờ giấc nhất định trong khi giới thương gia nối dây với nhau thông báo tin tức phấn hưng.
Trong tất cả các thành phố nầy, những buổi nhóm cầu nguyện đã khởi sự vào lúc giữa trưa rồi kết thúc vào lúc 1 giờ. Người ta có thể đến rồi đi theo họ muốn. Buổi thờ phượng mở ra với một bài thánh ca, nối theo sau là phần chia sẻ những bài làm chứng cùng đưa ra những yêu cầu cần cầu nguyện. Một thời gian trong vòng 5 phút dành cho diễn giả báo trước bằng một tiếng chuông nhỏ, khi sắp sửa hết giờ. Đúng là chẳng có một nhà truyền đạo hay một Cơ đốc nhân nổi tiếng nào được sử dụng cả. Đây đúng là một phong trào dành cho nhân sự, được hướng dẫn bởi sự cảm thúc dịu dàng của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
Cơn phấn hưng – đôi khi được gọi là “Cơn tỉnh thức lớn thứ ba” – kéo dài gần 2 năm, và khoảng 800.000 người đã trở lại đạo. Từ cơn phấn hưng nầy đã gây được một nguồn kinh phí lớn lao nhất dành cho công tác từ thiện và lý tưởng Cơ đốc mà nước Mỹ đã từng kinh nghiệm.
“Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, Dẫn tôi đến mé nước bình tịnh. Ngài bổ lại linh hồn tôi” (Thi thiên 23.1111-3a).
24 tháng 9
CHẬN ĐƯỜNG
Đôi lúc các chương trình của chúng ta không được như ý vì Đức Chúa Trời khiến chúng ta phải đi lòng vòng, Ngài dẫn chúng ta đến một chỗ nào đó nằm trong sự tể trị khôn ngoan của Ngài.
Thomas Coke, một nhà hùng biện xứ Wales tốt nghiệp đại học Oxford, đã rời khỏi chức vụ của mình trong nhà thờ của người Anh vào năm 1777, để trở thành phụ tá chính của John Wesley trong phong trào Giám lý mới mẻ và đang phát triển cách mau chóng. Vào ngày 24 tháng 9 năm 1785, ông gói ghém sách vở, đồ đạt của mình lại rồi dong buồm sang Anh quốc, qua eo biển, vào trong Đại Tây Dương, đến Nova Scotia, ông muốn lập những người cùng đi với ông thành những giáo sĩ. Nhưng chuyến đi không gặp may, có nhiều nguy hiểm, con tàu bị lọt vào những đợt sóng cao như núi cùng những cơn gió dữ. Thuyền trưởng của chiếc tàu, quyết định rằng Coke cùng những giáo sĩ kia đã đem lại số phận không hay cho con tàu của ông ta giống như Giô-na vậy, nên định ném họ xuống biển. Ông ta cho thu thập lại các thứ tài liệu giấy má của Coke rồi quăng hết thảy xuống biển. Chuyến đi phải mất ba tháng thay vì một tháng như dự tính, rồi thay vì đến tại Nova Scotia, con tàu thảm thương kia đã đậu vào vịnh Caribbean, neo ở cảng Saint John cạnh đảo Antigua đúng vào ngày Lễ Giáng Sinh.
Coke biết rằng ít nhất một tín đồ Giám Lý sống đâu đó ở Antigua, một giáo sĩ có tên là John Baxter. Với hy vọng tìm được John, Coke và ba giáo sĩ đi hỏi thăm dọc theo bờ biển bắt từ chỗ tàu neo đậu vào lúc sáng sớm. Họ bắt đầu đi xuống đường phố của đảo Saint John, và chận người đầu tiên mà họ gặp, một người tay cầm chiếc đèn lồng, bèn hỏi thăm về Baxter.
Người ấy chính là John Baxter. Ông đang trên đường đi dự các buổi thờ phượng vào buổi sáng Lễ Giáng Sinh mà ông đã lên kế hoạch cho cả hòn đảo, và sự xuất hiện thình lình của Coke cùng các giáo sĩ từ trong bóng tối – không biết ở chỗ nào – dường như quá tốt không hẳn là thành thực. Phải tốn ba buổi thờ phượng trong ngày ấy để phục vụ cho những đoàn dân đông. Sau khi ngày lễ qua rồi, Coke cùng các bạn đồng hành mới bỏ ý tưởng đến Nova Scotia. Thay vì thế, họ cho đội truyền giáo ở lại Antigua và trên các hòn đảo lân cận rồi vào thời điểm Coke qua đời vào năm 1814 đã có hơn 17.000 tín đồ trong các Hội thánh Giám Lý tại khu vực đó.
“Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của các ngươi, Đấng tạo thành Y-sơ-ra-ên, tức Vua các ngươi. Đức Giê-hô-va, là Đấng đã mở lối trong biển và đường vượt qua dòng nước mạnh,…Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác. Ta đã chỉ mình mà thề, lời công bình ra từ miệng ta sẽ chẳng hề trở lại: mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, mọi lưỡi sẽ chỉ ta mà thề” (Êsai 43.15-6; 45.22-23).
25 tháng 9
NAN ĐỀ Ư?
Giáo Hoàng Clement VII, con trai của Giuliano de’ Medici, đã có mặt giữa vòng những kẻ sở hữu không thành đạt Toà thánh Vatican. Ông dong dỏng cao, và đẹp trai, dù khoác vẽ bề ngoài “hơi gắt gỏng”. Ông sống ngay thẳng và khôn khéo, nhưng chưa chuẩn bị tốt để sống trong cái tổ ong Giáo Hoàng kia. Khi đối diện với các quyết định khó, ông hay do dự. Đặc sứ thành Venis viết: “Giáo Hoàng 48 tuổi là người có ý thức tốt nhưng chậm chạp trong quyết định, cho thấy tính do dự của ông trong hành động”.
Clement, sau khi thấy mình sắp bị phá sản, đã lấy làm tủi đến nỗi không một chủ nhà băng người Ý nào tin cậy ông nữa. Cư dân thành Rome cũng chẳng ưa thích ông. Và Clement đau khổ vì sự thất bại không ngăn chặn được Công cuộc cải chánh và đẩy mạnh cải tổ bên trong nhà thờ của Luther. Đồng thời, ông bị giằng xéo giữa hai cánh tay xung khắc của Vua nước Pháp và Vua nước Tây ban Nha. Mọi nổ lực của ông hướng vào con đường trung lập đã mời chào sự cướp phá Rome vào năm 1527. Khi Clement đứng quan sát một cách bất lực từ một ngọn tháp, thành phố của ông đã bị cướp phá, cưỡng hiếp, tàn sát, và bị đốt cháy.
Một lần nữa, ông bị ray rứt giữa hai vì vua – Henry VIII của nước Anh và Charles V của Tây Ban Nha, là Hoàng đế của La mã thánh, Vua Henry không có con trai kế tự muốn hủy bỏ khế ước cưới Catherine xứ Aragon để cưới Anne Boleyn. Giáo Hoàng Clement có đặc quyền gạt bỏ cuộc hôn nhân. Nhưng ông phải chịu dưới quyền của Charles – cháu của Catherine. Phê chuẩn sự hủy bỏ khế ước là mời đón tai hoạ, kể cả sự ghét bỏ của Đế quốc thánh La mã của Giáo hội Công giáo. Còn từ chối thì đón lấy sự giận dữ của Henry VIII và có thể phải mất cả Anh quốc.
Clement tìm cách lánh xa con đường trung lập đó, cứ phải lòng vòng mãi, rồi cuối cùng ông phải lo lắng không biết việc gì sẽ xảy ra: “Giáo hội không tránh được sự sụp đổ hoàn toàn”. Ông đã phạm vào những sai lầm rất nặng. Vua Henry đã chiếm hết các tu viện của xứ sở ông, tách ra khỏi Vatican, rồi thiết lập Công cuộc cải chánh trong nước Anh bởi đạo luật tối cao.
Vào ngày 25 tháng 9 năm 1534, sau khi sống sót qua những rủi may trước đó của mình, ông đã đối mặt với phần may rủi sau cùng – một cái chết đáng thương khi ăn phải một chén nấm độc.
“Vì trước khi ăn, tôi đã than siếc, Tiếng kêu vang tôi tuôn tôi như nước. Vì việc tôi sợ hãi đã thấu đến tôi; Điều tôi kinh khủng lại xảy ra cho tôi. Tôi chẳng được an lạc, chẳng được bình tịnh, chẳng được an nghỉ; Song nỗi rối loạn đã áp đến!” (Gióp 3.24-26).
26 tháng 9
BÀI GIẢNG NẦY GIẾT BÀI GIẢNG KIA
Ở tuổi 18, đang khi học ở một thành phố gần nhà mình, Aeneas Sylvius de’ Piccolomini đã nghe một nhà tu Công giáo thuyết giảng. Ông thấy có ấn tượng rồi bước vào sinh hoạt với giáo hội, song không bỏ đi các tật xấu của mình. Aeneas cứ thế mà leo lên nấc thang tôn giáo, rồi được bầu làm Giáo Hoàng Pius II ở tuổi 53. Ông hiểu rõ chính trị thế giới như một số người hiểu, và ông nổi bật lên. Ông là một chuyên gia về ngữ pháp, địa lý, lịch sử, tiểu thuyết, và hùng biện. Nhưng ông không tin kính. Ông đã viết nhiều câu chuyện tình, làm cha của nhiều đứa con đây đó, và đã dạy cho lớp người trẻ nhiều cách thức biết “chìu chuộng” mình.
Ông cũng có nhiều chuyện để nói với bậc vua chúa. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1460, Pius triệu tập các cấp lãnh đạo Âu châu nhóm lại ở Mantua để bàn bạc về giấc chiêm bao của ông – một cuộc thập tự chinh mới chống lại Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã giảng ba tiếng đồng hồ trong phần khai mạc, nói cho các vua chúa biết họ phải làm tốt hoặc hơn Êtiên, Phierơ, và Anhrê là những người đã bằng lòng phó mạng sống của họ trong các cuộc thánh chiến. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã cướp nhiều tài sản quan trọng của Cơ đốc giáo, ông nói – Jerusalem, nơi Đấng Christ đã sinh sống; Bếtlêhem, nơi Ngài giáng sinh; sông Giôđanh, nơi Ngài chịu phép báptêm; Đồi Gôgôtha, nơi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá; Antiốt, nơi các môn đồ lần đầu tiên được gọi là Cơ đốc nhân. Giô-suê đã đánh trận vì mãnh đất nầy. Cũng một thể ấy với Ghi-đê-ôn, Giép-thê, và Sam-sôn. Những cuộc thập tự chinh trước đó đã đạp đổ các đồn lũy của Hồi giáo và giải phóng các bối cảnh Cơ đốc. “Ồ! Godfrey từng có mặt, và Baldwin cùng nhiều tay anh hùng khác đã phá vỡ hàng ngũ quân Thổ và đã chiếm lại thành Jerusalem”.
Sứ điệp của ông đã khuấy đảo cả hội chúng, và trong một phút các bậc vua chúa dường như muốn chạy ùa ra khỏi phòng để tham dự vào cuộc thập tự chinh mới. Thế nhưng có một nhà truyền đạo khác giảng tiếp sau bài giảng của Giáo Hoàng, Cardinal Bessarion, ông nầy đã giảng ba tiếng đồng hồ khác. Khi đến chiều tà, các bậc vua chúa thấm thía bài giảng đến nỗi họ quên bẳng đi lý tưởng kia.
Hội chúng bị sa lầy trong sự ganh đua về mặt chính trị, và những lời hứa được lập ra ở đó đã không được lưu giữ; và ngày giờ của cuộc thập tự chinh đã qua đi. Tuy nhiên, Giáo Hoàng Pius cứ mơ một giấc mơ khác, và lời lẽ của ông trong lúc hấp hối đã được ghi lại như sau: “Xin cầu thay cho tôi, vì tôi là một tội nhân. Hãy ra lịnh cho anh em tôi tiếp tục các chiến dịch thánh nầy”.
“Hãy xem những chiếc tàu: dầu cho lớn mấy mặc lòng, và bị gió mạnh đưa đi thây kệ, một bánh lái rất nhỏ cùng đủ cạy bát nó, tùy theo ý người cầm lái. Cũng vậy, cái lưỡi là một quan thể nhỏ, mà khoe được những việc lớn” (Gia-cơ 3.4-5a).
27 tháng 9
NHÌN VÀO GƯƠNG
Khi Vua Louis XIV tung tăng bước vào giảng đường được trang hoàng thật đẹp để thờ lạy và được thờ lạy, ông thường nghe Jacques Benigne Bossuet giảng, một trong những nhà hùng biện Công giáo rất xuất sắc. Bossuet, chào đời ở Dijon vào ngày 27 tháng 9 năm 1621, đã gặp được Kinh thánh, mở Kinh thánh ra ở sách Êsai và bị thu hút lấy. Khi chạy về gặp cha mình, ông đọc cho cha nghe hết chương nầy đến chương khác. Khi ấy, Bossuet đã hết lòng tiếp thu gần hết quyển Kinh thánh.
Bossuet cũng tìm được tiếng tăm là một nhà hùng biện, luôn giữ những sinh viên trong thái độ chăm chú suốt cả bài giảng. Thế rồi ông được chỉ định làm truyền đạo ở Versailles. Các bài giảng của ông đúng là “xuất sắc trên thế gian”. Người ta nói: “Bossuet là một diễn giả quyền lực, thực sự hùng biện nhất mà ngôn ngữ của chúng ta từng nhìn biết”.
Ông cũng rất thẳng thắn. Trong một số bài giảng, ông nói đến tên của nhà vua; và trong một cơ hội ông thành khẩn nài vua Louis tha cho những lần phạm tội tà dâm rồi trở về lại với vợ mình. Không may, tài hùng biện của Bossuet không còn hiệu qủa mấy. Giới quí tộc ngồi lắng nghe, đội tóc giả, mang giày cao gót, và trang phục loè loẹt. Họ đã bật khóc khi nghe sứ điệp của Bossuet, nhưng không thay đổi gì cả. Thí dụ, đây là một đoạn trích từ một trong các bài giảng của ông đã tạo được một cái chạm. Đúng như vậy, giới quí tộc đã lắng nghe, kêu khóc và gật đầu rồi sống y như trước đó:
“Sự vinh hiển của thế gian khiến cho chúng ta phải lao vào mọi sự mà chúng ta đang làm, rồi kết thúc bằng cách đặt mình trên cái bệ giống như những vị thần nho nhỏ. Phải, hỡi linh hồn kiêu ngạo và tự mãn kia, tự coi mình là thần thánh bởi sự vinh hiển của thế gian, hãy nhìn xem Đức Chúa Trời hằng sống, đời đời đã tự hạ mình xuống để đối chất với quí vị! Con người tự xem mình là Đức Chúa Trời qua sự kiêu ngạo, Đức Chúa Trời khiến Ngài trở thành người qua sự hạ mình. Con người tự gán cho mình những gì thuộc về Đức Chúa Trời; và Đức Chúa Trời, trong trình tự dạy dỗ con người phải biết hạ mình, đã nắm lấy những gì thuộc về con người! Đây là phương cứu chữa cho sự láo xược. Chỉ sự hạ mình nầy mới có thể đương diện với sự vinh hiển của thế gian – đồi Gôgôtha ấy, thập tự giá xấu hổ kia, Đức Chúa Jêsus Christ Đức Chúa Trời hoá thân thành nhục thể, là Khuôn Mẫu, là Thầy, và là Vua của chúng ta”.
“Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào” (Gia-cơ 1.22-24) .
28 tháng 9
VUA WENCESLAS
Chúng ta biết Vua nhơn đức Wenceslas chủ yếu là vì ông hay nhìn ra cửa sổ thấy “bữa tiệc của Êtiên, đang khi tuyết rơi dày đặc xung quanh”.
Chắc chắn là chúng ta không dám chắc về cái thấy đó.
Wenceslas chào đời ở Bohemia, trong xứ Czechoslovakia, vào đầu thập niên 900. Cha của ông, nhà cai trị xứ Czech, Duke Ratislav, đã cung ứng cho ông một nền giáo dục rất tốt với sự giám sát của bà nội ông, Ludmilla. Ludmilla, một phụ nữ tin kính, đã làm một công việc rất mỹ mãn.
Ông đã lên ngôi vua. Khi cha ông qua đời, Wenceslas, nhìn thấy mẹ ông đã quản lý không xuể các vụ việc của quốc gia, đã bước vào và nắm lấy chính quyền. Nhưng ông đã cầm quyền theo những giới hạn của ông. Từ ban đầu, Vua Wenceslas là một vị vua rất khác biệt. Ông tìm kiếm những quan hệ tốt với các nước chung quanh, đặc biệt với nước Đức. Ông thực hiện các bước cải tổ hệ thống pháp luật, giảm hẳn số án tử hình cùng quyền lực độc đoán của quan toà. Ông đã khuyến khích việc xây dựng nhiều nhà thờ. Trên hết mọi sự, ông quan tâm sâu sắc đến người nghèo. Ông dành củi cho trẻ mồ côi và người goá bụa, người ta thuật lại rằng, ông thường mang đồ tiếp trợ trên đôi vai băng qua tuyết – điều nầy đã tạo ra bài hát Giáng Sinh của J. M. Neale.
Sự trị vì ngắn ngủi của Wenceslas đã kết thúc một cách đột ngột. Em của ông Boleslav, theo tà giáo và loạn nghịch, đã mời ông đến dự tiệc, rồi giết ông chết vào sáng hôm sau, ngày 28 tháng 9 năm 929, khi ông rời khỏi đó để đến nhà thờ. Không có một chứng cớ trực tiếp nào, trừ ra tiếng tăm đạo đức tốt của ông, Wenceslas là một Cơ đốc nhân chân chính, vì ông chẳng để lại sau lưng một chứng tích thành văn nào cả. Phần nhiều thông tin chúng ta có về ông đều đến từ truyền thuyết. Nhưng dân sự của ông tôn kính ông như một kẻ tuận đạo, và ngày nay ông là vị thánh đỡ đầu của xứ Czechoslovakia.
Vì lẽ đó, người Cơ đốc dám chắc
Giàu có hay đẳng cấp
Người nào làm phước cho người nghèo
Sẽ tìm được phước cho chính mình
“Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian” (Giacơ 1.27).
29 tháng 9
NGỌN ĐÈN THẮP SÁNG
Nhà truyền đạo George Whitefield ao ước được chết trong khi giảng đạo, và ông đã được như thế. Vào năm 1770, trên chuyến lưu hành qua các thuộc địa của Mỹ, ông đã bất chấp lời khuyên phải nghỉ ngơi của các y bác sĩ và bạn bè. Khi quá mệt không giảng được nữa, ông càng cất tiếng mình lên. Khi những chứng lạnh do hen suyển gây ra hơi thở đứt đoạn, ông đã bất chấp chúng. Ông cho rằng “giọt mồ hôi trên toà giảng” là rất có ích. Nhưng khạc nhổ, tiêu chảy, và chứng run rẩy càng tăng thêm khi mùa thu vừa đến.
Đến ngày thứ Bảy, 29 tháng 9 năm 1770, Whitefield cỡi ngựa đến Exeter, New Hamsphire, ở đó có người nhìn thấy bộ dạng của ông, đã nói cho ông biết ông nên vào giường nằm nghĩ hơn là đứng giảng. Whithfield đáp khi ông thốt ra lời cầu nguyện: “Đúng vậy, Lạy Chúa, con rất mệt trong công việc của Ngài, nhưng không phải mệt vì công việc ấy. Nếu con không hoàn tất cuộc chạy của mình, xin cho con nói thay Ngài một lần nữa, trở về nhà rồi qua đời”.
Một đám đông nhóm laị và Whitefield đứng bấp bênh trên cái thùng phuy. Ông trưng dẫn II Côrinhtô 13.5 – chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng – rồi bắt đầu giảng luận. Một người chứng kiến cho biết: “Ông đứng dậy uể oải, mệt mỏi, như rất kiệt sức bởi công việc của mình” Gương mặt ông dường như sưng lên, giọng nói khàn khàn, cách phát âm rất nặng nề. Nhưng rồi lý trí ông dậy lên, giọng nói ông giống như sư tử, gầm lên tới với những khán giả ngồi ở đàng xa”. Ông nói cho đám đông biết ông muốn trèo lên mặt trăng bằng sợi dây kết bằng cát hơn là đến thiên đàng bằng những việc làm. Whitefield cứ thu hút khán giả của mình trong hai tiếng đồng hồ. Khi ấy đột nhiên ông kêu lên: “Tôi đi đây! Tôi đã sống nhiều ở trên đất nhưng họ không thể sống lâu hơn tôi trên thiên đàng. Thân thể tôi qua đi, linh hồn tôi đang trải rộng ra”.
Sau khi xong bài giảng, ông được đỡ xuống khỏi cái thùng phuy lên lưng ngựa của mình và ông tiếp tục đi qua Newburyport. Buổi tối đó, một nhóm bạn bè nhóm lại, họ yêu cầu Whitefield giảng cho họ nghe. Ông xin thôi, vì lên cơn suyển. Nhưng kế đó ông chổi dậy, tay cầm ngọn đèn đã thắp sáng, khởi sự những bước chân. Khi xây lại, ông phát ra một bài giảng ngắn nhưng rất cảm động. Lúc ngọn đèn sắp tắt, ông tiếp tục bước lên cầu thang, đi hướng về giường nằm, ở đó khi bóng đêm phủ xuống, ông trút hơi thở cuối cùng.
“Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao? miễn là anh em không đáng bị bỏ. Song tôi mong anh em nhận biết rằng chúng tôi chẳng đáng bị bỏ” (II Côrinhtô 13.5-6).
30 tháng 9
KẺ NGƯỢC NGẠO
Chúa thường sử dụng những người trong lịch sử Hội thánh, những kẻ mà chúng ta chẳng ưa thích nếu chúng ta sống vào thời của họ. Thí dụ, Jerome. Ông có lý trí rất nổi bật, một cái lưỡi sắc nét, bầu máu nóng và làn da mỏng. Ông là một kẻ rất ngược ngạo, được ghi nhớ là một trong những học giả dễ bị kích thích nhất và là người đầu tiên giữa vòng các nhà dịch thuật Kinh thánh xuất sắc, những người truyền bá Tin lành rộng khắp.
Jerome là người Nước Ý, ra đời khoảng năm 330, ông yêu đương với nhiều phụ nữ và sách vỡ. Sau khi hưởng thụ với người nầy, ông tham gia nhóm tu hành khổ hạnh để thưởng thức người kia; nhưng miếng giấy nhám nhân cách của ông đã khiến cho cả nhóm phải tan rả. Khi Jerome phấn đấu để điều khiển khả năng tình dục của mình, ông bắt đầu nhắm vào lẽ đạo đồng trinh trọn đời của Mary. Ông tin rằng sau khi sinh Chúa Jêsus, Mary tiếp tục sống đời sống của một nữ đồng trinh; và mọi nổ lực như Hercule của chính ông để sống độc thân dẫn tới chỗ ca ngợi tính đồng trinh đến nỗi ông xem hôn nhân chỉ có lợi vì nó đưa những nữ đồng trinh vào trong thế gian.
Có lẽ câu trả lời cho ông là đời sống của một ẩn sĩ trong sa mạc, thực hành nghiêm khắc việc tự kỷ luật. Đời sống nầy không hiệu quả. Ông hãy còn mơ tới những nữ vũ công thành Rôma. Trở về lại Rome, ông đối diện với những cám dỗ như trước và đã tránh né những nữ vũ công đó. Nhưng ông không tránh được. Paula, một goá phụ hãy còn trẻ, cô nầy đã trở thành, không phải bạn tình, mà là một bạn tâm giao trọn đời. Tại Rome vào đầu thập niên 380, ông đã tìm được công việc cho đời sống mình. Giáo Hoàng Damasus đề nghị ông soạn một bản mới tiếng Latinh các sách Tin lành và Thi thiên. Jerome bắt tay vào làm việc, và trong 22 năm kế đó, ông đã lao động miệt mài trong vai trò dịch giả Kinh thánh.
Cái lưỡi sắc nét của ông đã gây ra rắc rối tại thành Rome, vì vậy ông và Paula chuyển sang Bethlehem vào năm 386. Gần nơi giáng sinh của Chúa Jêsus, họ đã lập ra nhiều chủng việc phân biệt dành cho những người đàn ông, đàn bà, ở đó Jerome cân đối nhu cần tình bạn của mình với nhu cần hiện tại về việc sống một mình, nghiên cứu, và tu khổ hạnh. Ông lao vào việc dịch thuật Kinh thánh sang tiếng Latinh, là thành tựu cao nhất của đời sống ông. Ông qua đời, mái tóc bạc trắng mang nhiều nếp nhăn, đúng vào ngày 30 tháng 9 năm 420.
“Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy. Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!” (Rôma 7.22-25a).

