TÙ TRƯỞNG DEN: ĐƯỢC CHỌN BỞI ĐỨC CHÚA TRỜI
. . . trước khi dựng nên thế gian
Alice Gibbons
Ngôi Lời đã lan thật nhanh giống như ngọn lửa hoang trên khắp vùng đồng bằng Ilaga. Vào ngày Chúa nhật 26 tháng 5 năm 1957, Tù trưởng Den dự định hướng dẫn đồng bào thuộc bộ tộc Damal của mình trong việc đốt bỏ những bùa chú thiêng liêng của tổ phụ họ. Trong nhiều thế kỷ, bộ tộc Damal và những bộ tộc láng giềng của họ đã sống trong vùng đồi núi New Guinea thuộc địa của người Hà lan (giờ đây là Papua, Indonesia) đã tin cậy mọi sự trong cuộc sống nơi các thứ bùa chú nầy cùng sự nhân nhượng đối với các tà linh.
Học ngôn ngữ

Tám tháng trước, hai vị giáo sĩ, Don Gibbons và Gordon Larson, đã lặn lội vào vùng đồng bằng Ilaga. Gần ba năm trước, hai người đã thám hiểm, đã bị đột kích rồi trở đi trở lại nhiều lần với nổ lực đem Tin Lành cho bộ tộc Damal và Dani — bộ tộc vẫn còn sống theo Kỷ Nguyên Đồ Đá, họ tin họ là hạng người sống bằng thịt và huyết duy nhứt ở trên đất.
Khi đến đó, Gordon đã dựng túp lều nhỏ trên phần đồng bằng của bộ tộc Dani, và Don đã chọn khu vực của bộ tộc Damal. Dân chúng thuộc địa phương bắt đầu giúp đỡ hai người dựng lên đường băng để cho vợ con của họ có thể bay đến đồng bằng để hiệp cùng với họ.
Hai ngày sau, hai người đã đến vùng Ilaga, một thiếu niên người Damal đã chào đón Don bằng tiếng Indonesia, thứ ngôn ngữ thương mại mà nhà cầm quyền đã sử dụng. Anh ta nói: “Cha tôi, Tù trưởng Den, mời các ông đến tại làng nầy”. Don giật mình! Ông hiểu tiếng Indonesia nhưng không thể nói được một lời nào theo ngôn ngữ địa phương của bộ tộc Damal. Họ cùng nhau trao đổi.
Khi họ cùng bước đi, Don đã học theo cậu thiếu niên, về sau được đặt tên là Sam, mới vừa trở về nhà sau khi dự một khóa học của nhà cầm quyền ở nơi xa trong hai năm trời. Tù trưởng Den mời Don đến dựng nhà ở cuối ngôi làng. Trong việc đổi lấy một miếng đất, Don đã trao cho tù trưởng một cây búa bằng thép, một món quà quí báu cho bộ tộc chuyên sử dụng những công cụ bằng đá.
Don đã thuê Sam làm người trợ giúp về ngôn ngữ và bắt đầu học hỏi, ghi nhớ và sử dụng từ ngữ của ngôn ngữ rất phức tạp của bộ tộc Damal. Bộ tộc Damal chẳng có một từ nào chỉ về Đức Chúa Trời cả. Khi sử dụng động từ “sáng tạo”, ungkate, rồi đổi nó thành một danh từ “nhân vật dựng nên”, một từ mới đã hình thành: “Ungkangam Me”, Đấng Tạo Hóa. Giờ đây, Don có thể bắt đầu dạy cho dân sự ở đó về Đức Chúa Trời.
Bộ tộc Damal chẳng có một quan niệm nào về các tuần lễ hay tháng hoặc năm. Sử dụng các ngón tay của mình để đếm như người Damal làm, Don giải thích rằng mỗi ngày thứ Bảy, công việc sẽ dừng lại trên đường băng hầu cho mọi người có thể nhóm lại tại làng của Den để nghe kể những câu chuyện nói tới Đấng Tạo Hóa và Con của Ngài là Chúa Jêsus. Trong cả tuần lễ, Don và Sam cùng nhau làm việc lo phiên dịch truyện tích chọn lọc trong Kinh thánh. Đến ngày Chúa nhật, Don đã nói song hành bằng tiếng Indonesia và Sam lặp lại bằng tiếng Damal. Số lượng tham dự vào ngày Chúa nhật tăng lên mỗi tuần.
Tù trưởng Den quyết định
Vào ngày Chúa nhật đầu tiên của tôi ở Ilaga, tôi (vợ của Don), đã hiệp cùng 500 người Damal trong nhà thờ. Tôi nhìn thấy có hai người đứng dậy hát một bài thánh ca tiếng Damal thuật lại Tin Lành trong 20 dòng ngắn ngủi khi đám đông hát đáp lại theo từng dòng một. Tôi cũng thấy dân sự ngồi hai bên lề không thể nghe giọng hát của Sam, vì vậy tôi khích lệ Don bắt đầu giảng bài giảng của mình trực tiếp bằng tiếng Damal. Trong suốt tuần lễ, Don đã làm việc với Sam, viết ra câu chuyện và phần ứng dụng theo tiếng Damal. Với Don rao giảng vào những sáng Chúa nhật, mọi người đều nghe thấy.
Don nói vào một sáng Chúa nhật: “Các bạn phải đưa ra một sự lựa chọn. Các bạn sẽ đi theo con đường nào? Con đường của Chúa Jêsus dẫn tới thiên đàng và sự sống đời đời. Còn con đường kia, con đường của Satan và sự nhân nhượng đối với tà linh, mà các bạn, người Damal đã luôn bước theo, nó dẫn tới sự chết và địa ngục. Các bạn không thể bước đi trên cả hai con đường cùng một lúc được, vì chúng đi theo hai hướng đối ngược nhau”.
Dân chúng đã hiểu được phần thách thức. Tù trưởng Den cùng nhiều vị lãnh đạo khác đã đến gặp Don với nhiều thắc mắc.
Họ thắc mắc: “Nếu chúng tôi hủy diệt những đồ vật thiêng của chúng tôi và đi theo con đường mới nầy, ai sẽ bảo hộ chúng tôi trong chiến trận nếu kẻ thù tấn công chúng tôi?” Don đáp: “Đấng Tạo Hóa sẽ bảo hộ cho. Đức Chúa Trời thì mạnh hơn bùa chú và các tà linh kia”.
“Ai sẽ giúp đỡ chúng tôi trong bịnh tật? Ai sẽ khiến cho vườn tược của chúng tôi mọc lên?” Don đã đáp lại bằng cách thuật lại cho họ nghe những truyện tích Kinh thánh để khẳng định rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ cho mọi nhu cần của họ.
Tù trưởng Den đưa ra quyết định của mình. Ông công bố rằng ngày Chúa nhật kế ông sẽ đốt hết các bùa chú của tổ phụ, cắt đứt quan hệ với những tà linh. Sáng hôm ấy, 700 người thuộc bộ tộc Damal đã đến nhảy múa và ca hát khi họ đổ vào chỗ sân làng. Các chiến binh bộ tộc Dani cũng đến nữa, họ đứng với sự chú ý quanh đám đông của bộ tộc Damal. Mỗi người bộ tộc Dani mang theo một mũi giáo mà họ chỉ sử dụng trong khi đánh cận chiến với kẻ thù. Họ đã phản đối việc đốt bỏ ấy và sợ những điều các tà linh sẽ chống lại tất cả họ.
Den đặt cũi trong tư thế chéo nhau và dựng lên một cấu trúc ở giữa sân. Ngọn lửa đã sẵn sàng được thắp lên. Khi ai nấy đều ngồi xuống, Don đã rao giảng. Ông giải thích một lần nữa quyết định mà dân sự cần phải đưa ra. Từng người đưa ra quyết định bước theo “con đường Jêsus” sẽ đứng và di động đến gần đống lửa.
Trước khi có ai đó cử động, Den chạy về lều của mình, lấy một nhánh cũi rồi thắp lửa lên. Nhiều người bắt đầu vừa chạy vừa hô lớn khi họ ném những nắm bùa chú vào trong ngọn lửa hừng kia. Nhiều phụ nữ tháo bùa ra khỏi cánh tay và quanh cổ của họ, rồi ném chúng vào trong ngọn lửa. Làn khói đen bốc lên. Ngọn lửa hừng biến thành than lấp lánh và rồi thành tro có màu xám. Từ thứ bụi tro nầy, chương trình chủ đạo của Đức Chúa Trời đã dấy lên.
Ngọn đuốc được trao tay
Tù trưởng Den và bộ tộc Damal ở Ilaga đã có mặt ở trọng tâm dịch chuyển của dân sự, một sự xây lại với Đức Chúa Trời của dân sự thuộc bộ tộc đã quét qua khắp vùng đồi núi xứ New Guinea. Bộ tộc Damal ở Ilaga đã tin cậy Đức Chúa Trời và bắt đầu chia sẻ đức tin của họ tại các làng mạc khác về phía Bắc, phía Nam và phía Tây, trước tiên với các bộ tộc Damal khác, rồi với bộ tộc Ndugas và Monis. Người Danis ở Ilaga đã nhìn thấy ơn phước của Đức Chúa Trời mưa xuống trên những người Damal lân cận của họ trong 18 tháng trời trước khi họ đưa ra quyết định không còn nhân nhượng với các tà linh nữa.
Những tín đồ người Dani khi ấy đưa ngọn đuốc sang phía Đông. Sứ điệp đã được dân chúng nhiều bộ tộc và các thứ ngôn ngữ tiếp nhận, ra đến các khu vực xa xôi, những nơi nhóm truyền giáo của Hội Phước Âm Liên Hiệp cũng như các nhóm khác đang hoạt động. Mặc dù các giáo sĩ đã có mặt tại chỗ xây dựng đường băng và học hỏi các thứ ngôn ngữ, dân chúng vẫn không đáp ứng cho tới chừng người bộ tộc từ khu vực Ilaga đưa ra phần làm chứng của họ. Trong 10 năm kế đó, 100.000 người đã tiếp nhận Tin Lành.
Gia đình tôi tiếp tục sống với bộ tộc Damal và học theo ngôn ngữ của họ. Không bao lâu sau đó, một người biết nhiều thứ tiếng đến hiệp cùng chúng tôi, và ông ấy đã phát triển các mẫu tự của tiếng Damal rồi bắt đầu phiên dịch Tân Ước. Bộ tộc Damal được dạy học đọc. Chồng tôi và tôi đã thiết lập một trường Kinh thánh trong bốn năm để đào tạo nhiều Mục sư cho các hội thánh đang lớn lên trong làng mạc ở khắp nơi.
Con đường đến Thiên Đàng
Tại sao Tù trưởng Den khuyến khích công cuộc truyền giáo và sứ điệp của ông? Don đã không học câu trả lời cho tới chừng mấy năm sau đó. Den đã chào đời nơi sự xoay chiều của thế kỷ — khoảng năm 1900. Bố của ông cũng là một vị Tù trưởng, và cả hai đều là những người gìn giữ các thứ bùa chú, nhân nhượng các tà linh. Những món đồ thiêng liêng nầy được chuyển giao từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
Gần thời điểm qua đời, bố của Den đã nói cùng ông: “Có lẽ đến đời của con, có người từ bên ngoài đến và trao cho con chìa khóa vào hai” (tiếng Damal nói tới thiên đàng). “Người nầy sẽ nói cho con biết con đường dẫn tới thiên đàng”.
Đức Chúa Trời trong ý định đời đời của Ngài đã chọn Tù trưởng Den trước sự sáng tạo. Đức Chúa Trời đã đặt sự khao khát về thiên đàng vào tấm lòng của bố Den với lời tiên tri cho rằng ai đó sẽ đến nói cho bộ tộc Damal biết con đường ấy. Cũng là chính Đức Chúa Trời là Đấng đã đặt Don vào trong làng của Den với sự yễm trợ của tất cả các bạn trong Hội Phước Âm Liên Hiệp.

Alice Gibbons và Don chồng của bà, là nhân sự quốc tế của Hội Phước Âm Liên Hiệp ở Indonesia trong hơn 40 năm. Alice đã viết hai quyển sách, Where the Earth Ends và The People Time Forgot. Hãy viếng qua trang web của bà ở địa chỉ: www.donandalicegibbons.com.

