1 Tháng Chạp
CỨ KỂ HẾT CHO TÔI
Tôi nhớ lúc còn nhỏ ngồi trong nhà thờ, lắng nghe vị Mục sư Chủ Toạ trau chuốt tỉ mỉ câu gốc nầy. Ông đã mô tả tên nô lệ Ônêsim, hắn đã phạm tội, hắn đã xưng tội và hắn đã làm hoà như thế nào với chủ mình qua cách đối đãi của Phaolô.
“Há đây không phải là một bức tranh của tin lành sao? Tôi nghĩ tôi đang nhìn thấy Ngài khi Ngài đem tội nhân khốn khổ vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, rồi nói: “Lạy Cha, người nầy đã làm buồn lòng Ngài; người mắc nợ Ngài rất nhiều, song hết thảy xin cứ kể cho con. Xin để cho người đi tự do”.
Thế mà mấy năm sau, tôi lại khám phá ra vị Mục sư của tôi đã giảng một trong các bài giảng đáng nhớ nhất của Harry Ironside với đề tựa nầy: “Cứ kể hết cho tôi”.
Đúng vậy, không có gì là nguyên thủy hết. Chính Ironside đã lấy ý tưởng từ Daniel Curry, người kỵ mã thuộc phái Trưởng Lão. Một tối kia, trên thảo nguyên Nebraska, Curry đã nhóm lửa trại và nằm xuống ngủ, ông đã lấy yên ngựa làm vật gối đầu. Đêm hôm ấy ông nằm mơ thấy mình đã chết và được lên thiên đàng, ở đấy có một thiên sứ đến gặp ông, rồi hỏi lý do nào ông có mặt ở đây!?!
Nhà truyền đạo bèn trả lời: “Tên tôi là Daniel Curry, và tôi đến đây đòi cung điện mà Chúa Jêsus hứa cho tôi lâu lắm rồi”. Nhưng thiên sứ không chịu để cho ông bước vào, thế rồi họ bước vào một cuộc tranh luận. Sau cùng, Curry đòi bàn bạc trường hợp của mình trước mặt chính Đấng Toàn Năng. Nhưng sau khi đến trước ngai, ông đã lặng người đi vì sợ hãi. Bầu trời ở đó chói lói với thứ ánh sáng làm mù mắt tương đương với hàng ngàn mặt trời, và Curry phủ phục trước mặt Đức Giêhôva, mắt của ông sụp đóng kín lại. Một giọng nói nghiêm nghị cất lên: “Ngươi là ai?” Ngươi tìm chi?” Curry cố ngước mặt lên, nhưng ông quá kinh khiếp không thể thốt ra một lời.
Thình lình ông nghe thấy tiếng chơn bước lại gần. Một bàn tay chạm đến ông và kéo ông đến gần Ngài. Daniel nhận ra những vết sẹo trong lòng bàn tay của Người, và ông nghe Ngài phán ra những lời nầy: “Lạy Cha, đây là Daniel Curry. Ông ta đã xưng Con trước mặt người ta, và giờ đây Con xưng ông ta ở trước mặt Ngài. Vô luận ông ta có phạm tội gì, vô luận những quá phạm có ghi đầy trong bản thành tích của ông ta, vô luận mọi ô uế làm vấy bẩn quá khứ của ông ta – xin cứ kể hết cho Con. Xin cứ kể hết cho Con”.
“Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hãy cứ kể cho tôi” (Philêmôn 1.18).
2 Tháng Chạp
“ÔNG WHITEFIELD ĐÃ CHẾT!”
Benjamin Randall, nhà lãnh đạo hệ phái và là nhà truyền đạo lỗi lạc ở New England, chào đời vào năm 1749 cho hai vợ chồng thuyền trưởng, trên hòn đảo nhiều rặng đá ở bờ biển New Hampshire. Sau đó, ông trở thành một thợ may và là thợ may buồm.
Vào tháng 9 năm 1770, nhà truyền đạo George Whitefield đến giảng tại Portsmouth, New Hampshire. Randall đến dự các buổi nhóm song chẳng có chút ấn tượng nào hết. Whitefield tiếp tục truyền giảng lưu động. Nhưng một vài ngày sau, có một người cỡi ngựa như bay đến thị trấn với các tin tức không hay như sau: “Ông Whitefield đã chết rồi! Đã chết sáng nay tại Newburyport, khoảng 6 giờ!”
“Khi tôi nghe thấy tin tức nầy, như có một mũi tên xuyên thủng trái tim tôi. Ông Whitefield là một người của Đức Chúa Trời, và tôi đã phát biểu không hay về ông ấy. Giọng nói ấy không câm nín trong sự chết đâu. Khi về tới nhà, tôi bước vào phòng nằm khóc một mình về tình trạng của tôi. Tôn giáo trước đây của tôi dường như chẳng có ích chi hết.
“Vào ngày 15 tháng 10, trong khi trầm ngâm về tình trạng của mình, tôi ngã theo con tàu tư tưởng sau đây: “Tôi từng có nhiều bè bạn, mà giờ đây chẳng có ai. Tôi vốn ưa thích trần gian nầy, nhưng giờ đây chẳng có gì còn lại. Mọi thứ đều nhạt nhẻo hết”. Trong khi trầm ngâm như thế, Hêbơrơ 9.26 hiện đến trong lý trí tôi: “Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi”. Tôi đã ở trong sự suy gẫm ấy đến nỗi lời lẽ qua đi rồi mà chẳng có một sự chú ý nào đặc biệt hết. Tuy nhiên, lời ấy lại đến lần thứ hai; thế rồi tôi bắt đầu suy nghĩ: “Câu Kinh thánh ấy có nghĩa gì vậy?”Trong khi suy nghĩ về câu Kinh thánh đó gánh nặng của tôi đã lăn rớt ra, để lại trong tôi một tấm lòng bình tịnh.
“Khi đức tin tôi nắm được ý nghĩa của câu Kinh thánh đó, tôi đã dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Và đúng là một sự vui mừng đã đầy dẫy tấm lòng tôi! Tôi có thể nhìn thấy ngay Đức Chúa Jêsus Christ là một của lễ phước hạnh vì cớ tội lỗi. Trong một khoảng thời gian ngắn tôi không thể làm chi được, chỉ có lặp đi lặp lại danh của Chúa Jêsus mà thôi. Jêsus! Jêsus! Đối với tôi, dường như là nếu tôi có một ngàn linh hồn, tôi sẽ giao thác hết chúng trong tay Ngài”.
“Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi” (Hêbơrơ 9.26).
3 Tháng Chạp
BÀI GIẢNG ĐÊM LẠNH GIÁ
Tối Chúa Nhật ngày 13 tháng 2 năm 1889, là một đêm lạnh giá. Nhiệt kế chỉ 22 độ dưới 0, và hầu hết dân chúng đều túm tụm với nhau quanh ngọn lửa để cố giữ hơi ấm. Nhưng Eugene Sallee, một sinh viên xuất sắc của Trường Georgetown ở Kentucky, đề nghị với bạn cùng phòng của mình nên đến dự buổi thờ phượng tối. Anh nói: “Chúng ta hãy đi nhà thờ tối nay. Vị Mục sư nói chắc sẽ không có nhiều người đến dự đâu”.
Anh đã nói đúng. Hội chúng gồm có Sallee, bạn cùng phòng với anh, cùng một ít người đã xem thường hiện tượng khí tượng. Mặc dù ít người nhóm lại, Mục sư Z. T. Cody đã làm hết sức mình, giảng về đề tài: “Sự Chọn Lựa Khôn Ngoan Của Môise”, từ Hêbơrơ 11.24. Vì một vài lý do nào đó, từng câu giống như búa bổ đã chạm đến chàng trai trẻ Eugene. Cody đã mô tả thể nào Môise, người mà triều đình Pharaôn rất trân trọng, đã học được mọi sự khôn ngoan của Ai cập. Sự giàu có và địa vị đều thuộc về ông. Thế nhưng, khi Đức Chúa Trời kêu gọi, ông liền vâng theo, chọn “cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi”.
Cho tới thời điểm đó, Sallee đã hoạch định chọn lấy sự nghiệp về môn luật, nhưng bài giảng của Tấn sĩ Cody đã làm cho anh xao xuyến khi anh lê bước qua giá lạnh nguy hiểm trở về phòng. Anh rất đỗi ngạc nhiên không biết Chúa có kêu gọi anh bước vào chức vụ hay không!?! Vào công cuộc truyền giáo? Anh gạt mọi tư tưởng qua một bên rồi, sau khi tốt nghiệp từ Trường Georgetown, anh đã nộp đơn vào Trường Luật Colunbia ở New York.
Sallee qua mùa hè sau khi tốt nghiệp ở Missouri cỡi ngựa khắp xứ đi thu mua hàng nhôm. Nhưng bài giảng của Cody từ Hêbơrơ 11 không ngừng nắm bắt lấy linh hồn anh. Rốt lại, ngày kia khi anh cỡi ngựa ra đi, Eugene ra đến một dòng suối yên tĩnh. Sau khi cột con ngựa vào gốc cây nọ, anh đi thơ thẩn vào trong rừng cây dày đặc, tìm một chỗ để cầu nguyện, rồi ở đó đem đời sống mình đầu phục sự phục vụ Cơ đốc trọn thời gian.
Cùng lúc đó, Chúa đã đưa anh đến Trung quốc, ở đây anh đã dâng 27 năm vào công cuộc truyền giáo và mở mang Hội thánh. Có lần anh phát biểu như sau: “Vì lý tưởng nầy mà tôi đã vào trong thế gian, và tôi ra đời vì cứu cánh nầy, ấy là giảng Tin Lành tại Trung hoa”.
“Bởi đức tin, Môise lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pharaôn, đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi” (Hêbơrơ 11.24-25).
4 Tháng Chạp
KHI BẦY SÓI RÊN RỈ
Phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay cho chúng ta biết làm cách nào để thắng cuộc thi chạy marathon, phải chạy nhẫn nại ra sao!?! Muốn thắng trong cuộc đua Cơ đốc, chúng ta phải (1) bỏ đi từng tội lỗi giống như vận động viên loại bỏ cách ăn mặc không cần thiết; và (2) tập trung vào Chúa Jêsus, giống như vận động viên chạy nước rút để ý vào đường băng vậy.
Khi gạt bỏ đi tội lỗi …
Vào ngày 24 tháng 8 năm 1662, 2.000 vị Mục sư lỗi lạc của nước Anh đã bị đuổi khỏi toà giảng vì đã kháng cự lại Sắc lệnh Uniformity. Giữa vòng họ là Thomas Manton, trong bài giảng cuối cùng của mình, giảng từ phân đoạn Kinh thánh nầy, đã đưa ra 5 phương thức gạt bỏ tội lỗi. Ông bảo dân sự phải:
- Đừng cố ý phạm tội và hứa với Đức Chúa Trời đầu phục Ngài không vâng phục giả vờ. Không làm buồn Đức Thánh Linh.
- Tỉnh thức với một ít thánh khiết. Canh giữ ý thức của mình.
- Kháng cự và chống đối mạnh mẽ những dấy lên đầu tiên của xác thịt và những động lực tinh vi và khoái lạc của tội lỗi .
- Hãy than khóc những sự lầm lẫn và sa ngã vô ý với những giọt lệ ăn năn. Sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời được sử dụng để gạt bỏ tội lỗi giống như muối loãng giết chết côn trùng vậy.
- Phục hồi từ những lần sa ngã, tiếp tục lại cuộc chiến.
Khi nhìn xem Đấng Christ …
Lúc thương gia Allan Emery còn trong nghề buôn len, có lần ông để ra một buổi tối với người chăn chiên trên thảo nguyên của bang Texas. Suốt cả đêm, tiếng rú thật dài của bầy sói xuyên thủng bầu không khí. Bầy chó của người chăn gầm gừ và tách ra trong bóng đêm. Bầy chiên, vốn đang ngủ say, đã bật dậy trên chân của chúng, hốt hoảng, kêu be be rất đáng thương. Người chăn ném thêm mấy khúc gỗ vào trong đám lửa, và ngọn lửa đã bừng sáng lên. Trong ánh sáng lửa ấy, Allen nhìn lên và thấy hàng ngàn ngọn đèn nhỏ. Ông mới nhận ra đấy là những hình ảnh phản chiếu của ngọn lửa trong mắt của bầy chiên.
Ông lưu ý: “Ở giữa hiểm nguy, bầy chiên không nhìn vào bóng tối, mà chỉ hướng mắt nhìn về hướng an toàn của chúng, chúng nhìn vào người chăn. Tôi không thể làm chi khác hơn là suy nghĩ tới Hêbơrơ 12: “nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin…”
“Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, nhìn xem Đức Chúa Jêsus,…” (Hêbơrơ 12.1-2).
5 Tháng Chạp
TUAN CHANGE
Ernie Presswood là một trong hàng ngàn giáo sĩ, chức vụ của họ bị đứt quãng do Đệ II Thế Chiến, thế nhưng ông đã thiết lập một công việc của Đấng Christ cứ tiếp tục cho đến ngày nay.
Ra đời trong một gia đình dân nhập cư người Anh trên vùng thảo nguyên Canada, Ernie đã dâng lòng mình cho Đấng Christ trong Lớp Trường Chúa nhật và sau đó dâng mình vào sự hầu việc Cơ đốc ở một buổi nhóm của Gypsy Smith. Đến năm 1930, ông được Hội Phước Âm Liên Hiệp phái đến quần đảo Sunda ở Đông Nam Á. Ở đó cách trình bày Tin lành rất hoạt bát của Ernie đã đem lại cho ông một danh xưng đặc biệt giữa vòng bộ tộc Murut – ấy là Tuan Change, vì danh xưng nầy có ý nói: “người đã làm thay đổi những người bản xứ gian ác và giảng họ sẽ có một đời sống mới”.
Đến giữa thập niên 1930, Presswood đã cưới Laura Harmon, và trong đồng vắng xa xôi Laura đã có thai. Thế nhưng, có nhiều biến chứng theo sau lần sẩy thai đã cất đi mạng sống của nàng, và Ernie đã chôn cất nàng trong một cổ quan tài làm bằng mấy tấm ván mà ông dùng để cất nhà cho họ. Một trận lụt quét sạch số gỗ còn lại của Ernie, phá hủy ngôi nhà ông chưa dựng xong; và trong sự tan vỡ Ernie đã thắc mắc không biết Đức Chúa Trời có còn yêu thương ông nữa hay không!?! Trong lúc khó khăn ấy, Hêbơrơ 12.6 đã bắt lấy tư tưởng của ông: “Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu”. Về sau Ernie nói, lời lẽ nầy đã đem lại sự yên ủi, lòng can đảm, và sức lực để đối diện với tương lai. Trong những ngày nối theo sau, ông đã chứng kiến một cơn phấn hưng giữa vòng bộ tộc Murut ở đảo Borneo. Trong vùng rừng núi mà ông càng vào sâu hơn, thiết lập nhiều Hội thánh, làm thay đổi nhiều đời sống.
Ông đã ở trên quần đảo Celebes khi cuộc xâm lược của người Nhật đã nhận chìm ông. Ông bị bắt và bị đánh đập, bị nhốt trong cái chuồng heo, bị bỏ đói, và buộc phải lao động khổ sai trong một trại tù, ở đó ông đã nhìn thấy nhiều vị giáo sĩ ngã chết trong khi Đệ II Thế Chiến diễn ra ác liệt khắp vùng Thái Bình Dương.
Đến năm 1945, sau cùng khi có quyền trở lại đảo Borneo, Ernie dường như mang lại nhiều hiệu quả nhất. Cơn phấn hưng mới mẻ lan rộng giữa vòng bộ tộc Murut. Nhưng khi đi đó đi đây bằng đường sông, thuyền của ông bị lật úp và ông bị kéo đi dưới làn nước khoảng 300 m. Ông đã tự xoay sở để vào đến bờ, nhưng tình trạng ướt sũng đã tàn phá thể tạng cùng kiệt của ông, rồi vào ngày 1 tháng 2 năm 1946, ông qua đời.
Ông mới được 38 tuổi.
“Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, Hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt” (Hêbơrơ 12.6).
6 Tháng Chạp
LOẠI YÊN ỦI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Vào ngày 25 tháng Giêng năm 1949, Giáo sĩ của Thượng Viện Hoa Kỳ, Peter Marshall, đã tỉnh thức với những cơn đau ngực khắc nghiệt. Ông nói: “Catherine, anh bị đau nhiều lắm. Em nên gọi bác sĩ dùm anh!” Đến khi bác sĩ đến, Peter đã cảm thấy khoẻ khoắn đủ để được chuyển đến bịnh viện. Với tánh khăng khăng của ông, Catherine đã ngần ngại ở lại nhà để đưa bé Peter đến trường.
Đến 8 giờ sáng, chuông điện thoại reo vang. Peter đã chết. Đầu óc Catherine quay cuồng và hai chân bà rung lên. Bé Peter, đang đứng gần đó, bật khóc sụt sùi khi Catherine quay sang nó với cái nhìn sững sờ và nói: “Peter, bác sĩ vừa nói cho mẹ biết Bố đã chết rồi”.
Trong quyển “To Live Again” do bà viết, Catherine Marshall mô tả những tuần lễ, những ngày đau khổ nối theo sau, trong thời gian đó bà đã kinh nghiệm những sâu thẳm của giận dữ, ngã lòng, sợ hãi, và tự thương hại. Bà đã đổ thừa cho bản thân vì đã không làm một việc gì để cứu lấy Peter, và bà đã đổ lỗi cho Đức Chúa Trời: “Tại sao phải kết thúc như thế nầy?”
Thế rồi một ngày kia, bà nhận ra rằng Đức Chúa Trời thường yên ủi chúng ta, không phải chìu theo tánh tự thương hại của chúng ta, mà bằng cách quở trách nó. “Sự yên ủi của Đức Chúa Trời không bước đi rón rén như trong một phòng bịnh; sự yên ủi ấy đi theo nhịp quân hành. Có thép ở trong bộ xương của nó. Nó khiến cho chúng ta nhớ lại từ “yên ủi” được rút ra từ chữ fortis – có nghĩa là mạnh mẽ. Tôi mở quyển Tân ước ra rồi tìm thấy ở đó đúng quan niệm yên ủi: “Thật các sự sửa phạt lúc đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui mừng; nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã chịu luyện tập như vậy.Vậy, hãy dở bàn tay yếu đuối của anh em lên, luôn cả đầu gối lỏng lẻo nữa” (Hêbơrơ 12.11-12).
“Đức Chúa Trời đang yêu cầu tôi phải tấn tới, phải dở bước mới tiến tới sự trưởng thành”.
Catherine bắt đầu bình tỉnh lại, đòi hỏi những lời hứa trong Kinh thánh, và trong quá trình ấy bà đã học được một bài học để đời khi xử lý với đau khổ: “Đức Chúa Trời không thích thú gì trong việc chìu theo chúng ta, nhưng Ngài thích thú trong việc giải phóng chúng ta vì sự sáng tạo sâu sắc hơn, vì sự sống mới mà buộc phải hình thành nơi chúng ta”.
“Thật các sự sửa phạt lúc đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui mừng; nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã chịu luyện tập như vậy” (Hêbơrơ 12.11).
7 Tháng Chạp
MUÔN VÀN TƯ TƯỞNG
Nghiên cứu Kinh thánh lâu dài, kỉnh kiền có những lãi suất rời rộng nhất trên giường hấp hối, vì chỉ có uy quyền của Lời Đức Chúa Trời mới có thể khích lệ linh hồn cất cánh bay cao lên. Đối với Richard Baxter, phân đoạn Kinh thánh đem lại sự yên ủi chính là Hêbơrơ 12.22-24.
Baxter là một người theo Thanh Giáo vào thế kỷ thứ 17, các bài giảng và những tác phẩm của ông đã khiến cho ông trở thành một trong số những người có quyền năng nhất trong thời ấy. Quyển sách: “Sự Yên Nghỉ Đời Đời của Thánh Đồ” (The Saint’s Everlasting Rest) do ông viết, đã được yêu thích mãi cho đến ngày nay. Thế nhưng Baxter rất hay bị bịnh, vào nằm 1662 ông đã bị bắt bỏ tù ở Tháp Luân Đôn vì các quan điểm Thanh giáo của mình. Nhà tù đã làm thiệt hại cho sức khoẻ của ông ngày càng thêm, và Baxter trở về nhà với sức lực yếu ớt.
Ông còn tiếp tục đảm nhiệm chức vụ một cách tạm thời, thế rồi tình trạng yếu đuối đã giam hẳn ông ở tại ngôi nhà thuê, ở đó theo một quyển hồi ký xưa, không có đề ngày tháng: “ông mở rộng cửa nhà mình, cả sáng và chiều, để mọi người đến hiệp với ông thờ phượng lễ bái; ông đọc Kinh thánh cho họ nghe rồi dạy dỗ những việc có quan hệ tới Đức Chúa Jêsus Christ. Nhưng, than ôi, những chứng bịnh ngày càng thêm của ông cùng mọi nỗi yếu đuối không bao lâu sau đó cũng ngăn cấm nốt các sự nhóm hiệp nầy, chúng giam hẳn ông ở trong buồng, rồi sau hết là trên giường. Ở đó, do đau đớn và bịnh tật, thân thể ông bị tàn phá; nhưng linh hồn ông thì cứ mạnh mẽ luôn.
“Phần trình bày ở Hêbơrơ 12.22-24 rất có sinh khí đối với ông, ông sắp sửa hiệp với đoàn đông vô số các thiên binh thiên sứ, và với hội chúng chung và Hội thánh của Đấng Sanh Lại Trước Tiên, tên tuổi của họ đã được ghi trên thiên đàng; với Đức Chúa Trời, là Quan Án của mọi người, và với linh của những người công bình đã được làm cho trọn vẹn, và với Chúa Jêsus Đấng Trung Bảo của giao ước mới. Ông nói: “Phần Kinh thánh ấy, đáng có muôn vàn tư tưởng”.
Đến Thứ Hai, ngày 7 tháng Chạp năm 1691, Baxter bị một cơn run rẩy, lạnh lẽo bắt lấy, ông bắt đầu kêu xin Đức Chúa Trời thương xót; “những tiếng kêu cầu, đau khổ cứ tiếp diễn trong một thời gian, cho đến khi ông dừng lại không còn kêu xin nữa, và nằm đấy nhẫn nhịn trông mong cơ hội của mình”.
Khoảng bốn giờ sáng hôm sau, Richard Baxter đã lên đỉnh Núi Siôn, thành của Đức Chúa Trời hằng sống, đến với Jerusalem trên trời, và với Sự Yên Nghỉ Đời Đời của Thánh Đồ.
“Nhưng anh em đã tới gần núi Siôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giêrusalem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại” (Hêbơrơ 12.22).
8 Tháng Chạp
BOM HẸN GIỜ CẦM TAY
Tôi từng nghe Warren Wiersbe nói ông rất thích đọc sách vì niềm vui gặp gỡ nhiều người mà ông luôn luôn muốn biết. Ông dí dỏm: “Nếu nghe nói Hudson Taylor hay Charles Spurgeon sẽ giảng luận ở một nhà thờ kia, Cơ đốc nhân từ mọi nơi trên thế giới sẽ đến nghe. Thế nhưng khi tôi mở quyển sách của tôi ra, thì Hudson Taylor mở miệng của ông ta. Chúng ta có nhiều thời gian với nhau, và hạng người nầy đều là bạn hữu của tôi”.
Haddon Robinson nói thêm: “Qua một cuốn sách, chúng ta có thể đấu vật với các tư tưởng của Augustine, rùng vai với Calvin, tiến bước với chuyến lữ hành của Bunyan, nếm trải tài ba của C. S. Lewis, và lắng nghe các bài giảng của John Chrysostom”.
Những quyển hồi ký Cơ đốc thường chỉ ra những quả bom hẹn giờ cầm tay, khi được làm nổ qua việc đọc, có thể làm lệch con đường sự sống của một người. Thí dụ, Đức Chúa Trời đã sử dụng hồi ký của Elizabeth Elliot nói tới chồng bà là Jim, tuận đạo ở bộ tộc Aucas người Ecuador, đã dẫn dắt nhiều thanh niên bước vào sự phục vụ trong công trường truyền giáo.
Thật là thú vị, sở thích riêng của Jim trong công cuộc truyền giáo đã đem lại sự kích động trong khi đọc một quyển hồi ký. Trong quyển “Bóng của Đấng Toàn Năng”, Elizabeth đã trưng dẫn từ tờ báo của ông, đề ngày 24 tháng 10 năm 1949: “Tôi nhìn thấy giá trị của quyển hồi ký Cơ đốc tối nay, khi tôi đọc Nhật ký của Brainerd rất lâu hôm nay. Quyển sách ấy khuấy động tôi rất nhiều, tôi phải cầu nguyện và lấy làm lạ ở chỗ vô tình của mình trong khi tôi không có quyền năng đến từ Đức Chúa Trời. Tôi đã xem lại Hêbơrơ 13.7 ngay lúc đó, xem lại ký ức của những con người đã rao giảng Lời của Đức Chúa Trời, “xem lại kết quả của đời sống họ, rồi bắt chước theo đức tin của họ”. Giờ đây tôi nhớ lại sự thách thức của quyển `Đời Sống Goforth’, đọc vào mùa hè năm 1947, sự khích lệ của quyển `Bí Quyết Thuộc Linh của Hudson Taylor’. Có nhiều điều dạy dỗ tôi từ việc đọc quyển hồi ký của J. G. Paton vào mùa đông vừa qua. Và bây giờ là lịch sử do Đức Thánh Linh tác động của Brainerd. Ôi Chúa, xin cho con được ơn để `học đòi theo đức tin của họ’”
Tôi rất đỗi ngạc nhiên không biết Jim Elliot có từng mơ quyển hồi ký của chính ông một ngày kia sẽ kích động nhiều đoàn dân đông hay không nữa!?!
“Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào, và học đòi đức tin họ” (Hêbơrơ 13.7).
9 Tháng Chạp
CÂU GỐC CỦA CAREY
Nếu Nước Anh không bị thua trong cuộc chiến với những kiều dân Mỹ, William Carey sẽ không hề nghe được Hêbơrơ 13.13, câu Kinh thánh dẫn tới sự ông trở lại đạo. Carey ra đời vào năm 1761 trong một gia đình nghèo khổ thuộc một ngôi làng tăm tối nước Anh. Ông là một đứa trẻ hay bịnh tật, mẫn cảm với mặt trời và bị khổ sở với nhiều dị ứng. Đến năm 14 tuổi, ông thường gặp rắc rối, “hay thề thốt, nói dối, và ăn nói rất lỗ mãng”, bỏ nhóm ở nhà thờ, và chạy theo một lũ bụi đời.
Nhưng ông theo học nghề với người thợ sửa giày có tên là John Warr, một Cơ đốc nhân sốt sắng, là người quyết định đưa ông đến với Chúa. Carey chẳng muốn điều đó, song Warr, là người không phục theo nhà thờ chính thống, cứ khăng khăng trong việc gieo ra lẽ thật của Tin Lành vào tấm lòng của chàng thanh niên trẻ tuổi nầy. Đồng thời, Cuộc Chiến Tranh Cách Mạng đã nổ ra, và nước Anh cảm thấy họ đã ở về phía thua cuộc. Vua George III, hy vọng Chúa sẽ làm đảo lộn cuộc chiến, đã tuyên bố một ngày cả nước cầu nguyện và kiêng ăn vào Chúa nhật ngày 10 tháng 2 năm 1779, và Warr đã khuyên Carey nên hiệp tác với ông tại buổi thờ phượng cầu thay đó.
Thomas Carter đã giảng vào ngày đó từ Hêbơrơ 13.13, ông giục giã khán thính giả của mình nên dâng đời sống của họ cho Đấng Christ. Khi ông trưng dẫn câu gốc nầy – “Vậy nên chúng ta hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục” – câu Kinh thánh nầy đã phán trực tiếp với chàng William mới 17 tuổi. Ông đã ý thức được Đức Chúa Trời đang bảo ông phải chiếm lấy một chỗ đứng cho Đấng Christ bằng cách lìa bỏ tình trạng hình thức mà nhà thờ đặt để ra rồi trở thành một người không theo nhà thờ chính thống và là một Cơ đốc nhân Tin Lành. Tấm lòng của ông từ từ đưa ra quyết định của nó, và điều nầy được gọi là kinh nghiệm trở lại đạo của Carey. Kể từ ngày ấy, hướng đi của đời sống ông đà thay đổi. Bốn năm sau, ông trở thành một người Báptít. Mười bốn năm sau, là một giáo sĩ. Khi ấy, William không những đã mở ra mọi cánh cửa cho công cuộc truyền giáo có tổ chức, chính mình ông đã dịch Kinh thánh trọn bộ ra 6 ngôn ngữ, và các phân đoạn Kinh thánh thành 29 ngôn ngữ khác nữa. (Chúng ta nhìn nhận rằng ông luôn luôn dành sự chú ý đặc biệt vào phần dịch thuật Hêbơrơ 13.13). Carey không hề trở lại Anh quốc, nhưng đã làm việc cật lực cho Chúa trong gần 41 năm, cho tới khi ông qua đời ở Ấn độ ở tuổi 73. Người ta gọi ông là: “Cha đẻ của Công cuộc Truyền giáo Hiện đại”.
“Vậy nên chúng ta hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục” (Hêbơrơ 13.13).
10 Tháng Chạp
DẦU ĐỔ RA TRÊN LÀN NƯỚC RỐI RẮM
Larry Miley lớn lên ở góc Đông Bắc của Bờ Biển Ngà, cha của Larry là y sĩ giáo sĩ ở đây. Khi Larry lên 14 tuổi, thì bị bịnh sốt rét hành hại, và cha Larry đã tiêm cho Larry một mũi thuốc. Lúc đầu mọi sự dường như tốt đẹp, và Tấn sĩ Miley trở về bịnh viện của ông, không biết mũi thuốc đã tạo ra một phản ứng nghiêm trọng có thể ưa Larry tới bên bờ mồ mả.
Bà Miley đang sửa soạn việc may vá của mình cùng lớp học Kinh thánh ngoài hành lang khi tiếng thét kinh hoàng vang dội cả ngôi nhà. Chạy nhanh qua cánh cửa, bà nhìn thấy đứa con gái mình là Lynette đang đứng đấy gần như là động kinh trước mặt Larry, dường như Larry đang mất phương hướng, rối loạn, đôi mắt của Larry co giật thụt vào hai hốc mắt của chúng.
Larry gào lên: “Cứu con! Có việc gì không đúng với đôi mắt của con”.
Khi Lynette chạy tìm cha nó, Bà Miley đẩy Larry vào giường rồi lấy chiếc khăn ướt đậy lên hai con mắt trông rất kỳ cục của Larry. Ngay khi bác sĩ đến nơi, thân thể của Larry uốn cong lại co thắt trông nặng nề lắm. Giống như người đờn bà đang trong cơn đau đẻ, những lần co thắt đều đặn đó làm cho Larry rất khốn khổ, khiến cho Larry phải vặn vẹo thân mình, đe doạ cắt đứt hơi thở của Larry. Tim của Larry ngày càng yếu đi. Nhiều giờ khắc trôi qua. Những lần vặn vẹo của thân thể càng mạnh hơn thêm, và Larry yếu ớt càng thêm. Tấn sĩ Miley vốn biết rõ sự sinh tồn của Larry ở một nơi xa vắng như thế là khó có thể nghĩ được.
Thình lình ông nhớ lại Giacơ 5.14 chép: “Hãy mời các trưởng lão Hội thánh đến”. “Các trưởng lão” chính là những giáo sĩ đồng lao đang sinh sống gần đó, và họ đã được mời đến ngay tức khắc. Eddie và Sandra Payne, Howard và Willie Gage, Lynette và em của bà là Lynn. Khi họ đến quì gối bên cạnh giường mà cầu nguyện, Tấn sĩ Miley đã xức cho Larry bằng dầu gió.
Bà Miley nhớ lại: “Từ từ, giống như dầu đổ ra trên làn nước rối rắm, một sự bình tịnh sâu sắc thế chỗ cho nỗi sợ đến nghẹt thở kia. Chúng tôi ý thức như thế trước khi chúng tôi nhướng mắt lên nhìn thấy cơn khủng hoảng trôi qua. Larry cảm thấy buồn ngủ rồi ngủ thiếp đi trong sự bình an qua đêm hôm đó.
“Ngày sau, khi tôi sửa soạn bữa ăn trưa, Larry vừa đi vừa nhún nhảy bước vào bếp. Anh vui vẻ nói: “Con khoẻ rồi, con nghĩ là con nên đi săn đây”.
“Trong anh em có ai đau ốm chăng? hãy mời các trưởng lão hội thánh đến, sau khi nhơn danh Chúa xức dầu cho người bịnh đoạn, thì các trưởng lão hãy cầu nguyện cho người” (Giacơ 5.14).
11 Thánh Chạp
VỀ NHÀ ĐỂ VỀ QUÊ
Tôi lấy làm lạ sao Larry Miley còn sống, và Eunice Glass thì không.
Wiley và Eunice Glass là giáo sĩ Báptít Nam Phương ở Hwanghsien, Trung Hoa, vào các năm đầu của thế kỷ 20. Họ đã sống trong một ngôi nhà có hai tầng ở Hwanghsien, với phòng ngủ ở tầng hai, với một phòng khách, phòng ăn, và phòng học ở tầng dưới. Không có hệ thống nước sạch. Đèn thì chỉ có ngọn đèn dầu, nước thì xài bằng nước giếng, đi lại thì bằng ngựa.
Eunice đã sanh được một cháu trai rất kháu khỉnh, nhưng nó lâm trọng bịnh rồi chết đi. Khi đứa con trai khác chết, bà lại lo âu cho Bently, đứa con trai còn sót lại của họ, và hai đứa con gái nhỏ nữa. Nhưng chính Eunice là người kế tiếp mắc bịnh. Bà bị ướt đẩm khi băng qua cái vịnh kia, và Wiley đưa bà lên núi để chữa bệnh. Những phụ nữ địa phương đem đến trứng và sữa, và thời tiết thì rất tốt. Mấy đứa trẻ chơi đùa vui vẻ bên sườn núi. Còn Eunice ngày càng yếu đi.
Tình trạng của bà sau cùng được chẫn đoán là lao phổi, và khi mùa đông buộc họ phải trở về lại chính ngôi nhà cũ của họ, Eunice nói cho họ biết rằng bà “trở về nhà để về quê”. Bà chỉ cho chồng mình biết cách chăm sóc mấy đứa con và thỉnh thoảng bà tập trung sức lực để lựa ra những đồ vật lưu niệm. Bà càng ốm hơn, thoi thóp chỉ nhờ ăn mấy quả trứng sống. Rồi sau đó bà đã được chôn cất bên cạnh hai đứa con trai của bà tại Nghĩa Trang Quốc Tế ở Chefoo.
Wiley đã chịu đựng nổi hoàn cảnh đó bằng cách nào? Bằng cách nếm trải I Phierơ 1.13. Câu Kinh thánh nầy đã trở thành câu gốc chủ lực của ông và đã cung ứng cho ông sức lực đủ cho các ngày tháng nầy. Ông bám chặt lấy câu Kinh thánh đó, và ông không hề chao đảo dưới gánh nặng ấy.
Tại sao một vị giáo sĩ nầy thì sống, còn vị kia thì không vậy? Chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng – là Đấng sắp xếp mọi sự vì ích cho chúng ta – đang nắm giữ mọi giải đáp cho loại thắc mắc ấy. Cơ đốc nhân, dường như không sống bằng những cách giải thích, nhưng sống bằng các lời hứa. Phierơ nói: “Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra”.
Một đức tin chưa bị thử nghiệm thì không đáng tin cậy.
“Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra” (I Phierơ 1.13).
12 Tháng Chạp
ĐỪNG ĐỂ Ý TUỔI TÁC CỦA TÔI
Khi Charlie dọn tâm trí mình để bước vào chức vụ, anh run rẩy với sự phấn chấn. Viết thư cho cha mình, anh nói: “Con đã ao ước trong một thời gian dài khi đẹp lòng, nguyện Đức Chúa Trời khiến con, giống như bố, là cha của con, trở thành một nhà truyền đạo Tin Lành thành công. Ôi! Ước gì con nhìn thấy một tội nhân chạy đến với Chúa Jêsus! Gần như con ganh tỵ với bố về ơn mà bố đã có”.
Không lâu sau đó, anh và một người bạn được mời đến dự buổi thờ phượng vào tối Chúa nhật tại làng Taversham. Khi đi đường đến đó, Charlie quay sang bạn mình rồi ước ao phước hạnh của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên bài giảng. Người bạn quay lại trong hốt hoảng, nói một câu về tác dụng nầy: “Nhưng tôi có giảng đâu! Tôi nghĩ là anh giảng mà. Tôi chưa hề giảng trước đây bao giờ, không thể giảng được chi hết, và sẽ không giảng đâu. Nếu anh không giảng, thì sẽ chẳng có bài giảng nào hết”.
Tấm lòng của Charlie rộn lên, và tâm trí anh đã lần tìm cho ra một giải pháp. Anh chưa hề giảng trước đây một bài nào và chưa sửa soạn để giảng trong lúc nầy. Khi đó, hai người càng đi đến gần làng hơn, và giờ thờ phượng đã đến. Hai chàng trai cúi mình lẫn nhanh vào ngôi nhà, ở đấy đã có mấy gia đình đến nhóm lại. Các thủ tục bắt đầu. Không lâu sau đó, thì đến giờ giảng luận. Charlie đứng dậy và “đem theo câu gốc nền tảng của mình” – I Phierơ 2.7: “vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí”.
Trước sự ngạc nhiên của mỗi người – hầu hết mọi người, chính anh nữa – đó là một bài giảng thật kỳ diệu. Lời lẽ nói ra chẳng có ai tranh cãi chi hết. Anh không ngắt ngang, không dừng lại ở giữa, không lúng túng trong lời nói. Những tư tưởng tuôn ra như nước chảy qua đập tràn. Khán thính giả của anh lấy làm ngạc nhiên, rồi sau đó đã xúm lại xung quanh anh, họ hỏi tuổi tác của anh.
Charlie nói (anh mới có 16 tuổi): “Đừng để ý tuổi tác của tôi mà chi, hãy nghĩ tới Đức Chúa Jêsus Christ và sự quí báu của Ngài”.
Mấy gia đình nông dân đơn sơ kia vừa thưởng thức đặc ân nghe được bài giảng đầu tiên – của Charles Haddon Spurgeon.
“vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí” (I Phierơ 2.7).
13 Tháng Chạp
“TÔI BẰNG LÒNG”
Điều đã gây ấn tượng cho tôi về Chet là tánh tỉnh bơ của ông, chủ yếu chỉ tỏ ra trong một nụ cười gần như là một nụ cười tự mãn rất hay. Ông đã thò cái đầu qua cánh cửa phòng tôi ở Trường Kinh thánh Columbia, nhe hàm răng ra cười, hỏi thăm xem có chuyện gì xảy ra hay không, rồi biến đi mất thật mau y như lúc ông đến vậy.
Ông luôn luôn đi làm sớm lắm, và đôi lúc hay ngó lại sau.
Khi ông biết rõ Đức Chúa Trời kêu gọi ông làm giáo sĩ với Hội Dịch Thuật Kinh Thánh Wycliff ở Mỹ Latinh, Chet Bitterman đã viết câu nầy trên tờ báo của mình: “Có thể đây là một thứ tự giác tuận đạo phức tạp, nhưng tôi gặp được tư tưởng hay trở đi trở lại nầy, có lẽ Đức Chúa Trời kêu gọi tôi phải tuận đạo cho Ngài trong sự phục vụ Ngài ở Colombia. Tôi bằng lòng”.
Tám tháng sau, Chet và Brenda đã vào Colombia để dịch Kinh thánh sang ngôn ngữ Carijona. Ông đã bị những tên khủng bố bắt cóc tống tiền vào ngày 19 tháng Giêng năm 1981, và 7 tuần sau đã bị bắn chết, một viên đạn bắn vào lồng ngực.
Trước khi bị bắt cóc, Chet đã học thuộc lòng I Phierơ, một quyển sách mô tả cách thức Cơ đốc nhân có thể sống đắc thắng giữa cơn bắt bớ và chịu khổ. Trong khi bị cầm tù, Brenda đã cầu nguyện xin cho ông luôn ghi nhớ những câu Kinh thánh ấy.
Ông đã ghi nhớ chúng. Trong một bức thư gửi cho Brenda hai tuần sau khi bị bắt cóc, Chet viết: “Việc khó nhất đối với tôi là đã suy nghĩ làm sao ông có thể cầm cự được mọi hoàn cảnh nầy. Hoàn cảnh nầy giúp cho tôi nhiều hơn bất cứ điều chi khác để biết rằng ông vẫn cứ mạnh mẽ …”
Ông tiếp tục viết đầy bức thư với các phân đoạn đầy sự khích lệ, kế đó ông kết thúc bằng cách trưng dẫn phân đoạn nầy, I Phierơ 4.1-2: “Vậy, vì Đấng Christ đã chịu khổ trong xác thịt, thì anh em cũng phải lấy sự đó làm giáp trụ, vì người nào đã chịu khổ trong xác thịt, thì đã dứt khỏi tội lỗi, hầu cho còn sống trong xác thịt bao lâu thì chớ lại theo những sự người ta ưa thích, một phải theo ý muốn Đức Chúa Trời”.
Và đấy đúng chính xác là những gì Chet Bitterman đã làm theo.
“Vậy, vì Đấng Christ đã chịu khổ trong xác thịt, thì anh em cũng phải lấy sự đó làm giáp trụ, vì người nào đã chịu khổ trong xác thịt, thì đã dứt khỏi tội lỗi, hầu cho còn sống trong xác thịt bao lâu thì chớ lại theo những sự người ta ưa thích, một phải theo ý muốn Đức Chúa Trời” (I Phierơ 4.1-2).
14 Tháng Chạp
KHI TIN TỨC ĐẾN
Chet Bitterman là một trong nhiều người. Qua nhiều thế kỷ, hàng ngàn Cơ đốc nhân và giáo sĩ đã chịu khổ và chịu hư mất vì cớ Đấng Christ và Vương quốc của Ngài.
Thí dụ, Alexander Mackay và 7 người khác được uỷ thác vào công cuộc truyền giáo ở châu Phi vào ngày 25 tháng 4 năm 1876, bởi Hội Truyền Giáo của Hội thánh, là cánh tay của Hội thánh Anh quốc. Có nhiều người đã mơ đến chỗ làm ứng nghiệm mặc khải của Henry Stanley muốn đến tại Uganda.
Trong buổi thờ phượng cảm động vào buổi tối đó, Mackay, một kỹ sư người Tô cách Lan, đã nói với đám đông: “Tôi muốn nhắc cho hội đồng nhớ trong vòng 6 tháng, có lẽ họ sẽ nghe thấy có ai đó trong vòng chúng ta sẽ ngã chết. Phải, sự thể sẽ giống như tám người Anh khởi sự tại Trung Phi và hãy còn sống sáu tháng sau đó? Ít nhất một người trong chúng ta – có thể là như thế – chắc chắn sẽ ngã gục trước công việc đó. Khi tin tức đến, đừng nãn lòng, nhưng hãy sai ai đó ngay lập tức trám vào chỗ trống liền”.
Và sự việc đã xảy ra y như vậy. Năm người trong số đó đã ngã chết trong năm đầu tiên, và đến cuối năm thứ hai, chỉ còn có Mackay ở lại, lo dịch thuật và phát thanh tin lành. Ngay lúc ông sắp sửa lên một tờ báo nhỏ, ở đó ông đã sửa soạn một sứ điệp dành cho các môn đồ của ông, họ đang có lòng nặng nề. Ở mặt nầy Mackay nói: “Từ thuở xa xưa, Cơ đốc nhân đã bị thù ghét, bị săn bắt, bị xua đuổi, và bị bắt bớ vì cớ Chúa Jêsus, và cũng một thể ấy cho hôm nay. Hỡi anh em yêu dấu, đừng chối bỏ Chúa Jêsus chúng ta và Ngài sẽ không chối bỏ anh em trong những ngày sau rốt nầy. Đừng thôi cầu nguyện cho anh em chúng ta, là những người đang ở trong cảnh khó và cho những kẻ chưa nhận biết Đức Chúa Trời”.
Mackay đã in xong sứ điệp của mình, ngay khi ấy, ông quay sang trang kia, ông chọn một câu Kinh thánh để in ở mặt sau. Đó là I Phierơ 4.12-13, câu Kinh thánh nầy đã tóm tắt mọi sự ông muốn nói, và câu Kinh thánh đó đã tóm tắt cuộc sống của ông: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót”.
“Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót” (I Phierơ 4.12-13).
15 Tháng Chạp
HY VỌNG BỊ ĐÓNG KÍN
Keith và Sarah Fletcher đã thành hôn, họ mơ đến việc ổn định trong một công tác trọn đời cho Đấng Christ, nhưng họ vạn sự khởi đầu nan. Sarah nhớ lại: “Một Hội Thánh nhỏ ở Bắc California đã bầu chọn Keith làm Chủ Tọa của họ – và chín tháng sau họ không chọn anh ấy nữa. Chúng tôi sống vô nghề nghiệp, vô gia cư, đã trông đợi sinh đứa con đầu lòng và bị từ chối. Một Hội Thánh ở Oklahoma kế đó đã thuê Keith. Chúng tôi đến đấy, sanh con đầu lòng, bắt tay vào công việc. Chín tháng sau, Hội Thánh không còn tiền bạc và không thể cung lương cho chúng tôi. Chúng tôi lại sống lang thang trên đường phố. Keith tìm được chân ban trị sự ở một Hội Thánh Indianapolis, và lần nầy chúng tôi trải qua ở đó được chín tháng, nhưng chỉ đủ sống. Một ngày nọ, anh đi làm và vị Mục sư Chủ toạ nói: “Tôi không nghĩ là anh vừa lòng ở đây. Anh nên tìm một công việc khác”. Hiển nhiên là Keith không vừa lòng, nhưng dù sao thì chúng tôi cũng đã bị thải hồi.
“Tôi lại mang thai, và rất nãn lòng. Mọi niềm hy vọng kỳ diệu của tôi về cuộc hôn nhân và chức vụ ổn định đã bị đóng kín và bị chà nát ở Ryders và U-Hauls; chúng tôi sẵn sàng rời khỏi chức vụ trọn thời gian mà trở về với gia đình, trong khi chúng tôi chưa biết đích xác nhà mình ở đâu nữa. Thế rồi một ngày kia, khi tôi đọc Kinh Thánh, tôi khám phá ra I Phierơ 5.10: “Đức Chúa Trời ban mọi ơn… thì sau khi anh em tạm chịu khổ, chính Ngài sẽ làm cho anh em trọn vẹn, vững vàng…”.Trước khi Chúa làm cho chúng tôi vững vàng, tôi nghĩ, đôi khi Ngài để cho chúng tôi trải qua những thời kỳ chịu khổ. Chắc là như thế. Chúa luyện lọc chúng tôi, dạy dỗ chúng tôi sự bền đỗ. Hơn thế nữa, Ngài muốn chúng tôi nhìn biết rằng không một nơi nào ở trên đất là địa chỉ thường trực của chúng tôi cả. Thay vì thế, chúng tôi phải vững vàng và ổn định Ở TRONG NGÀI.
“Trải qua nhiều tháng và nhiều lần di chuyển nối theo sau, tôi bám chặt lấy lời hứa ấy, và lớp sương mù bắt đầu trong sáng hơn. Bốn tháng sau lần di chuyển từ gia đình chúng tôi tại Indianapolis, lớp sương ấy tàn lụi dần, chúng tôi thấy dễ thở hơn. Với cái rùng mình, tôi bắt đầu hiểu ra những đường lối mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Những cánh cửa mới, tốt đẹp hơn đã mở ra, dẫn chúng tôi đến với chức vụ hiện tại đây. Keith giờ đây sẵn sàng nhìn nhận rằng một phần hiệu quả của anh trong việc phát triển các nguồn lực Cơ đốc để sử dụng khắp cả nước đến từ chỗ chúng tôi biết sống ở nhiều nơi khác nhau…như Bắc Carolina, Oklahoma và Indiana”.
“Đức Chúa Trời ban mọi ơn đã gọi anh em đến sự vinh hiển đời đời của Ngài trong Đấng Christ, thì sau khi anh em tạm chịu khổ, chính Ngài sẽ làm cho anh em trọn vẹn, vững vàng, và thêm sức cho” (I Phierơ 5.10).
16 Tháng Chạp
HÃY XEM TÔI PHÁ TÁN KINH THÁNH LÀ DƯỜNG NÀO
Một số người dường như có sức lực như Samsôn để phục vụ Nước Trời. Thí dụ, R. A. Torrey. Sau khi trải qua một thời gian sống trong nỗi hồ nghi, ông đã đầu phục Đấng Christ và đã theo học ở Đức. D. L. Moody liên lạc với ông vào năm 1889, nhờ ông đến giám sát Học Viện Moody, và ông cũng phục vụ trong vai trò Chủ tọa của Hội Thánh Moody Memorial nữa. Giữa năm 1902 và 1906, ông đi khắp thế giới mở ra những chiến dịch truyền giảng Tin lành cùng với Charles M. Alexander, rồi từ năm 1912 đến 1924 ông phục vụ trong vai trò Hiệu trưởng Học Viện Kinh Thánh ở Los Angeles (Biola). Ông đảm nhiệm rất cả chức vụ nầy trong khi giảng dạy ở các kỳ hội nghị Kinh Thánh và viết 40 tác phẩm.
Sức lực của ông có được ở chỗ ông đã phó mình cho Kinh Thánh.
Có một người đến gặp ông, Tấn sĩ Congdon, than phiền rằng ông ta chẳng tiếp thu gì được qua sự học hỏi Kinh Thánh cả. Kinh Thánh dường như khô hốc như bụi đất vậy. “Làm ơn nói cho tôi biết phải học Kinh Thánh như thế nào để Kinh Thánh truyền đạt cho tôi được chút gì!?!”
Tấn sĩ Torrey đáp: “Hãy đọc Kinh Thánh đi”.
“Tôi đang đọc Kinh Thánh đây!”
“Hãy đọc thêm một chút nữa đi”
“Sao chứ?”
“Hãy chọn một sách rồi đọc sách đó 12 lần một ngày trong một tháng”.
“Tôi có thể đọc sách nào nhiều lần trong một ngày, đọc nhiều giờ như tôi đang đọc đây?”
Torrey đáp: “Hãy thử đọc II Phierơ xem!”
“Vợ tôi và tôi đã đọc II Phierơ ba hay bốn lần vào buổi sáng, hai hay ba lần vào buổi trưa, rồi hai hay ba lần vào buổi tối. Không bao lâu sau đó, tôi đã nói về II Phierơ với mọi người mà tôi đã gặp. Dường như các ngôi sao ở trên trời đang cất tiếng hát truyện tích của II Phierơ. Tôi đọc II Phierơ trên hai đầu gối của mình, đánh dấu nhiều câu gốc. Những giọt nước mắt pha trộn với màu mực của cây bút chì, và tôi nói với vợ tôi: “Hãy xem tôi đã phá tán phần nầy của Kinh Thánh là dường nào!”
“Vợ tôi đáp: `Phải đấy, nhưng khi các trang Kinh Thánh đó đã trở màu đen, đời sống của ông đã đổi thành màu trắng’”.
“Simôn Phierơ, làm tôi tớ và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những kẻ cậy sự công bình của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đã lãnh phần đức tin đồng quí báu như của chúng tôi” (II Phierơ 1.1).
17 Tháng Chạp
MỘT TÍ HY VỌNG
Kinh Thánh là một khẩu súng máy với 31.173 viên đạn, vì Kinh Thánh chứa từng ấy câu. Một trong những viên đạn nầy có khắc tên của Mark Sloan trên đó.
Mark đã kết hợp rượu và ma túy với số lượng sử dụng có thể gây chết người, dù đã từng cố gắng hết sức để từ bỏ. Sau một lần ở lại trung tâm phục hồi, chúng tôi mời anh đến sống với chúng tôi, cứ tưởng rằng chúng tôi sẽ khuyên được anh biết điều độ. Trong nhiều tháng trời, mọi sự tiến triển tốt đẹp, thế rồi một buổi sáng kia, anh ta biến mất. Chúng tôi chưa chuẩn bị cho sự tái phát của anh ta, và sự thể giống như có ai đó mới vừa mất đi đứa con trai vậy. Tôi tìm gặp anh ở những chỗ thật là thấp hèn, say sưa, ngã lòng cao độ, tổn thương nặng nề. Rồi vài tháng trời trôi qua không có một lời nào ra từ phía anh hết.
Ngày kia, tôi nghe nói anh có mặt ở tầng hầm ngang thị trấn. Tôi tìm đến nơi và đập mạnh cửa cho tới khi anh miễn cưỡng mời tôi vào. Anh ta đang ở trong tình trạng nãn lòng cực kỳ. Tôi tìm cách khuyên anh nên vào lại chương trình cai nghiện, song anh đã từ chối. Anh cho biết, đã đến lúc phải chết thôi. Anh đã cố chịu khó để thắng hơn các tật xấu, mà không thể được. Đôi mắt anh đờ đẫn, giọng nói thì lắp bắp, và chẳng một điều gì tôi nói ra làm cho anh phải bối rối.
Anh nói: “Có đủ ma túy trong căn hộ nầy để giết chết một con voi, và cơ thể tôi không còn đứng vững được nữa. Một hay hai ngày nữa thôi, thì xong đời tôi rồi. Trong vài tuần ông sẽ quên tôi thôi; chúng ta đến tại chung điểm rồi. Từng đấy thôi…chừng ấy thôi. Thế là hết”.
Tôi xoay người ra tính đi về, nuốt nước mắt, khi một câu Kinh Thánh đột ngột thoát ra khỏi miệng tôi mà không suy nghĩ trước. Tôi nói: “Mark ạ, không phải thế là hết đâu. Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời không bằng lòng để cho ai đó phải chết mất đâu, mà muốn cho mọi người đều ăn năn” . Một tia hy vọng mong manh thoáng qua trong ánh mắt của Mark. Tia hy vọng ấy tuy rất yếu ớt, song không thể lầm lẫn được. Tôi nhắc lại câu Kinh Thánh đó, và anh lắng nghe giống như thể tìm cách nắm bắt ngọn gió nhẹ thổi ngang qua anh vậy. Rồi nhiều năm trời trôi qua kể từ dạo đó, tôi nhắc cho Mark nhớ lại giây phút ấy vài lần. Anh không còn nhớ tới nữa, nhưng tôi không bao giờ quên giây phút đó. Tôi tin chắc rằng câu Kinh Thánh đã cứu lấy sự sống của anh và hiển nhiên đã đưa anh đến chỗ trở thành một Cơ đốc nhân dịu dàng, tin kính như hiện nay.
“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (II Phierơ 3.9).
18 Tháng Chạp
BỊ LIỆT
Anh nghe thấy cổ mình bị gãy lúc anh thực hiện cú chận bóng. Khi ấy các cầu thủ không kéo đến, anh không thể cử động được; và Van Johnson, 15 tuổi, thấy mình đã bị liệt hoàn toàn. Van đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa khi còn nằm liệt, và anh bắt đầu tấn tới trong vai trò một Cơ đốc nhân. Sự tấn triển thuộc linh của anh được đánh dấu bằng những lúc nguy ngập. Một trong những thời điểm đó đã xảy ra ngày nọ khi Van, đang nằm trên giường, bị đánh trúng bởi một tên lửa ngã lòng và tự thương hại phóng đi từ địa ngục.
“Giận dữ sôi trào trong tôi với những làn sóng mạnh mẽ. Tôi cảm thấy mình như sắp chết đuối đến nơi. Tôi muốn đá, muốn quật hai tay, muốn la hét. Hai hàng nước mắt giận dữ và thương hại bắt đầu tuôn ra từ mắt tôi. Tôi nhũ thầm: `Ngươi không thể lau được nước mắt của mình nữa là’. Tôi đập đầu ngược xuống tấm nệm. Tôi lý luận: `Mình sẽ ngã xuống sàn nhà, là nơi mình mong muốn’”.
“Mẹ nghe thấy tiếng động nên chạy đến phòng tôi để yên ủi tôi: `Van, có chuyện gì thế?’ Tôi không muốn nhìn thấy bà, tôi không muốn nghe bà nói hay trả lời bà. Bị kiệt sức hoàn toàn, tôi nằm bất động ở đó”.
“Cơn giận của Van vơi dần đi thành nỗi đau khi anh nhìn biết cơn giận sôi trào của mình là không khôn ngoan, không hay ho chi hết và cũng chẳng làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời. “Lời lẽ của 1 Giăng 1.9 hiện đến trong lý trí tôi: `Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta,…”. Còn đây là lời cầu nguyện của tôi: `Lạy Chúa, xin tha cho con về tội ngu ngốc. Con đã phạm tội nghịch lại Ngài qua tánh giận dữ và tự thương hại của con. Con xưng tội với Ngài”.
“Sự hiện diện ngọt ngào của Ngài đến cùng tôi, và tôi cảm nhận được một sự bình an rất tươi mới. Tôi cảm thấy thanh sạch, vì tôi biết rõ Chúa Jêsus vốn có lòng quan tâm, mọi sự rồi cũng qua – Ngài không còn nhớ tới một chút gì nữa.
“Kinh nghiệm ấy dạy cho tôi rất nhiều về cuộc sống. Tôi nhìn biết Cơ đốc nhân không hề cần giữ lấy sự ngã lòng hay chán nãn, vô luận là cảnh ngộ nào. Từ ngày đó trở đi, tôi quyết định trong lòng rằng tôi sẽ không nhìn đến nan đề của mình nữa, mà chỉ nhìn xem Chúa Jêsus. Đây mới đúng là sự chọn lựa của tôi”.
“Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (1 Giăng 1.9).
19 Tháng Chạp
BÌNH AN, VÀO LÚC SAU CÙNG
Cái điều không may của Max Federmann khi là một đứa trẻ Do thái sinh sống trong nước Đức của Hitler. Anh nhớ lại nỗi kinh khủng trong đêm tháng 11 vào năm 1938, khi quân Phát xít như cơn giông bão kéo qua ngôi làng của anh, chúng hủy diệt mọi thứ của người Do thái. Anh nhớ cha và người anh kế của mình bị đưa đến một trại tập trung. Mẹ anh, cũng bị đưa đến trại Auschwitz, bà đã qua đời tại đó. Bản thân Max, mới 16 tuổi, đã trốn sang Nam Tư, rồi sang nước Ý.
Sau chiến tranh, Max lấy một cô gái Ý tên là Leda làm vợ, và họ đã có một cháu gái. Sau khi sang định cư ở California, hai đứa con trai được thêm vào gia đình nầy. Nhưng tai họa lại đến nữa. Đứa con trai lớn của anh ngã chết trong một tai nạn xe hơi, và lần nầy Max đã kêu la với Đức Chúa Trời: “Làm sao Ngài là một Đức Chúa Trời nhơn từ là đưa nỗi đau đớn nầy đến với tôi chứ!”
Một thời gian ngắn sau đó, Bernard, 14 tuổi, được mời dự trại của Hội Thánh tổ chức, và trước cú sốc của Max, cháu trở về nhà sau khi đã tiếp nhận Chúa Jêsus. Leda được mời tới nhà thờ, và nàng cũng trở thành một Cơ đốc nhân nữa.
Lúc đầu, Max cảm thấy giận dữ và thấy mình như bị chối bỏ vậy; nhưng anh quyết định nghiên cứu đức tin mới mẻ của họ theo ánh sáng của quyển Kinh Thánh tiếng Hêbơrơ của mình, anh tìm hiểu xem Kinh Thánh nói gì về Đấng Mêsi. Anh cũng bắt đầu đọc Tân ước. Anh lấy làm kinh ngạc khi thấy những lời tiên tri trong quyển Kinh Thánh tiếng Hêbơrơ đều hoàn toàn được Chúa Jêsus làm ứng nghiệm cả. Anh tiếp tục đọc Tân ước, và “tôi quì gối xuống khi tôi đến với 1 Giăng 2.23 và hiểu rõ lẽ thật: “Ai chối Con, thì cũng không có Cha: ai xưng Con, thì cũng có Cha nữa”.
Tôi kêu la với Đức Chúa Trời cầu xin sự tha thứ, và thình lình tấm lòng tôi tràn ngập với tình yêu dành cho Đức Chúa Cha và Con của Ngài, là Chúa Jêsus, Đấng Mêsi.
Tối phải mất hết một năm trời trong cuộc tìm kiếm nầy. Nhưng từ giây phút tôi quì trên hai đầu gối, tôi có thể hết lòng, hết linh hồn và hết ý mà yêu mến Chúa Jêsus, Đấng Mêsi của tôi. Ngay cả tôi cũng có thể yêu thương những kẻ đã bắt bớ nghiệt ngã dân tộc tôi. Sau cùng, tôi đã hiểu được ý nghĩa của “bình an”.
“Ai chối Con, thì cũng không có Cha: ai xưng Con, thì cũng có Cha nữa” (1 Giăng 2.23).
20 Tháng Chạp
TÁM GIỜ KÉM NĂM
Ông để lại một cái bóng thật dài – một nhà truyền đạo trong 67 năm, một giáo sư thần học trong 60 năm, một Hiệu Trưởng Thần Học Viện trong 13 năm. Ảnh hưởng của John R. Sampey đã chạm đến nhiều thế hệ.
John chào đời ở Alabama đúng vào ngày sinh nhật của mẹ ông, ngày 27 tháng 9 năm 1863. Một trong những ký ức sớm sủa nhất của ông đã diễn ra mấy năm ngắn ngủi sau đó, khi còn là một đứa trẻ, ông đã thấy mẹ mình chịu phép báptêm. Khi bà biến mất dưới làn nước, ông đã kêu la hốt hoảng và không bao giờ quên được cảnh tượng đó.
Ông đã trở lại đạo khi còn là một thiếu niên.
“Khi tôi nằm trên chiếc giường có bánh xe đẩy vào buổi tối ngày 3 tháng 3 năm 1877, tôi không thể ngủ được. Chúng tôi vừa trải qua giờ gia đình lễ bái, và Bố đang đọc sách, còn mẹ thì ngồi đan áo. Đứa em kế của tôi đã ngủ vùi bên cạnh tôi; nhưng tôi cứ mãi trăn trở về tội lỗi của mình. Trong nỗi thất vọng, tôi bắt đầu thì thầm: “Lạy Chúa Jêsus, con không biết phải làm gì đây. Con đã cầu nguyện, nhưng chẳng thấy khuây khoả chút nào. Con đã đọc Kinh Thánh, nhưng tội lỗi con đang là một gánh nặng cho linh hồn con…Nếu con bị hư mất, con sẽ không còn tin cậy Ngài nữa”. Thế rồi có một việc đã xảy ra. Dường như có một Sự Hiện Diện quan trọng đầy dẫy căn phòng và phán với tôi bằng những lời lẽ gần như nghe thấy được: “Con trai ta, ta đã chờ đợi con nói ra những điều con mới vừa nói đó. Con có thể trông mong ta giải cứu con”. Tôi ngước mắt nhìn lên chiếc đồng hồ cũ của gia đình treo ở phía trên lò sưỡi, và khi ấy là tám giờ kém năm”.
Sampey không công bố sự ông trở lại đạo cho tới tháng 7, khi ông tiến lên phía trước nhà thờ, ông nói giờ đây ông yêu mến Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời như chưa hề có trước đây bao giờ. Vị Mục sư hướng sang hội chúng rồi nói: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình”.
Câu ấy trở thành câu gốc của Sampey, vì câu ấy gây ấn tượng trên ông như một dấu ấn của một Cơ đốc nhân. Lời lẽ của câu ấy đã dẫn dắt ông trong nhiều năm trời hầu đến, góp phần to lớn vào tâm linh nhẫn nại cùng sự sẵn lòng phục vụ của ông. Câu Kinh Thánh đó đã được nhân cách hoá ở trong ông, và chẳng một người nào biết ông mà có lòng ngờ rằng ông đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì ông đã yêu anh em mình.
“Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết” (I Giăng 3.14)
21 Tháng Chạp
NGỌN GIÓ NGỢI KHEN
Kỹ thuật y khoa phần lớn cướp khỏi chúng ta những cảnh đắc thắng bên giường chết, ở đó kết thúc truyện ký của nhiều vị anh hùng Cơ đốc trong quá khứ. Khi sự cuối cùng đến, chúng ta thường thấy trống vắng, bình tỉnh, và được kết nối với nhiều thứ máy móc.
Đối với John Fletcher thì không phải như thế đâu, ông là bạn của Wesley. Vào ngày Chúa nhật, 7 tháng 8 năm 1785, ông bắt đầu bài giảng của mình ở nhà thờ, nhưng gương mặt ông ủ rủ, yếu ớt, giọng nói ông ngập ngừng, và gần như ông đã ngất đi rồi. Những tiếng xì xào lo lắng dậy lên khắp hội chúng, và vợ ông là Polly chạy đến bên cạnh để khuyên ông đừng tiếp tục nữa. Thế nhưng Fletcher đã ý thức đây chính là bài giảng sau cùng của mình, và ông đã giảng tiếp, tập trung sức lực để giảng về tình yêu thương và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Sau đó, ông được người ta giúp đưa về nhà và đưa vào giường, “không còn đi lại trên thế gian nữa”. Ông đã ngủ rất nhiều sau đó, nhưng trong những giây phút tỉnh táo của ông, Polly đã đọc Kinh Thánh và cầu nguyện cùng với ông.
Về sau bà viết: “Đến thứ Tư, ông cho tôi biết ông đã nhận được một sự tỏ ra đầy đủ ý nghĩa của câu nầy: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”, dường như là ông không được phép nói ra vậy. Ông nói: “Tình yêu ấy đầy dẫy tấm lòng anh, từng giây phút một. Ôi Polly, Đức Chúa Trời là sự yêu thương! Hãy hô lớn lên đi, hãy hô lớn lên! Anh muốn cỡi gió để đi đến các đầu cùng đất”.
Rồi ông nói cho bà biết điều đó, giọng nói không còn nghe rõ nữa, ông gõ nhẹ vào bà hai lần bằng ngón tay của mình ra dấu sự họ cùng nhau làm chứng về tình yêu của Đức Chúa Trời.
Qua ngày sau, giọng nói của ông đã mụ đi nhiều, còn Polly thì nghiêng mình qua thì thầm: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”. “Ngay lập tức, giống như sức lực của ông được vực dậy, ông bật dậy ráng nói: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương! Yêu thương! Yêu thương! Ôi, nguyện xảy có một ngọn gió ngợi khen!”
Polly cứ ở lại bên cạnh ông. Ông khó mà thốt ra được một lời nào nữa, thế nhưng ông cứ giữ việc dùng ngón tay gõ vào bà. Sau cùng đôi môi ông nhấp nháy lại, và bà nghe thấy ông cầu nguyện; “Hỡi Đầu của Hội Thánh, xin làm đầu của vợ tôi”. Ông hôn mê ngay sau đó rất nhanh, thế mà tay vẫn cứ gõ vào Polly theo dấu hiệu của họ, cho tới chừng “linh hồn quí báu của ông đã bước vào sự vui mừng của Chúa, không có một sự vật vã hay than phiền nào hết, trong lúc ông được 56 tuổi”.
“Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (I Giăng 4.8).
22 Tháng Chạp
MÁU LẠNH
Tha thứ cho những tên phát xít chuyên bắt giam người quả là không dễ dàng cho Corrie ten Boom chút nào, vì chúng đã hành hạ bà ở trại Revensbruck. Chúng đã làm cho bà phải gánh chịu đau khổ rất khủng khiếp. Thậm tệ hơn nữa, chúng đã gây ra cái chết của chị bà là Betsy. Mười năm sau lần bà được cứu thoát, Corrie chạy theo một phụ nữ, người nầy chẳng dám nhìn thẳng vào mắt của bà. Sau khi hỏi thăm về bà ta, người ta cho Corrie biết người phụ nữ đó là y tá trong một trại tập trung. Thình lình mọi ký ức đều quay trở lại. Corrie nhớ lại chuyện đưa Betsy đến bịnh viện thì gặp người đờn bà nầy. Hai chân của Betsy đã bị liệt và bà đã ngã chết. Cô y tá kia rất độc ác và có giọng nói rất đanh thép.
Sự thù hận của Corrie giờ đây quay trở lại với lòng muốn báo thù. Cơn giận dữ của bà sụt sôi lên đến nỗi bà chỉ còn biết có một việc phải làm mà thôi. Bà đã kêu la với Chúa: “Xin tha thứ cho tánh thù hận của con, ôi Chúa ơi! Xin dạy con biết yêu thương kẻ thù mình”. Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ dường như làm nguội đi tấm lòng cay đắng của bà cách đột ngột, và Corrie cảm thấy cơn giận dữ đã được thay thế bằng tình yêu thiêng liêng mà bà không thể giải thích được. Bà bắt đầu cầu nguyện cho người đờn bà ấy, và ngày kia, một thời gian ngắn sau, khi bà gọi đến bịnh viện, nơi cô y tá kia làm việc, và bà mời người phụ nữ nầy đến dự một buổi nhóm mà bà sẽ rao giảng ở đó.
Cô y tá kia đáp: “Sao chứ! Bà muốn tôi đến dự à?”
“Phải, đấy là lý do tôi gọi cho cô”.
“Thế thì tôi sẽ đến!”
Buổi tối hôm ấy, cô y tá nọ đã lắng nghe chăm chú Corrie làm chứng, và sau khi Corrie ngồi xuống bên cạnh cô, bà mở quyển Kinh Thánh của mình ra, rồi giải thích I Giăng 4.9: “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống”. Người đờn bà kia dường như khát khao những lời lẽ bình dị, đầy lòng tin cậy của Corrie nói về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, là kẻ thù của Ngài. Rồi buổi tối hôm ấy, một cựu tù nhân đã dẫn dắt kẻ từng bắt bớ mình đi đến một: “quyết định từng khiến cho hàng thiên sứ phải cất tiếng ca hát”. Đức Chúa Trời đã cất bỏ những cảm xúc thù hận trong tiềm thức của Corrie, về sau bà giải thích, và biến đổi chúng, sử dụng chúng như một cánh cửa sổ qua đó ánh sáng của Ngài sẽ chiếu vào tấm lòng tăm tối.
“Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống” (I Giăng 4.9).
23 Tháng Chạp
CỬA THIÊN ĐƯỜNG
William Tyndale là một học giả sáng chói, rất lôi cuốn, cuộc đời ông đã được câu gốc ngày hôm nay (trong bản Tân ước tiếng Hy lạp của Erasmus) làm thay đổi. Ông gọi câu Kinh Thánh nầy là: “cánh cửa thiên đường mà qua đó tôi đã bước vào Nước Trời. Tôi thường nghĩ rằng sự cứu rỗi không phải là để dành cho tôi, một khi tôi không yêu mến Đức Chúa Trời; thế nhưng lời lẽ quí báu đó đã chỉ cho tôi thấy rằng Đức Chúa Trời không yêu chúng ta vì chúng ta đã yêu Ngài trước. Không, không; chúng ta yêu Ngài vì Ngài đã yêu chúng ta trước. Điều nầy làm cho mọi sự ra khác biệt!”
Tyndale đã ra đời vào một thời điểm không hay lắm. Christopher Columbus đã khám phá ra tân thế giới; ngành in ấn đã xuất bản nhiều loại sách báo; và Sự Cải Chánh của Luther đã tái khám phá thần học Tin lành. Là một thanh niên, Tyndale cảm thấy thời gian đã chín muồi cho việc dịch Kinh Thánh ra thành nhiều thứ ngôn ngữ phổ thông, và ông đã bắt đầu mơ đến việc dịch Kinh Thánh sang Anh ngữ.
Thế nhưng ý kiến của ông đã bị Hội Thánh và Chính phủ Anh quốc tiếp thu một cách nghèo ngặt. Vua Henry III đã ủy thác cho Sir Thomas More bác bẽ lại Tyndale, và hai người đã lao vào một cuộc khẩu chiến. Ở một lần biện bác, Tyndale đã cho in một bức thư vào năm 1531 từ Antwerp, là nơi ông đang ẩn náu. Bức thư ấy bắt đầu: “Tình cảm và việc làm của chúng ta không làm cho Đức Chúa Trời yêu chúng ta trước, cũng không thay đổi Ngài từ ghét sang thương. Không, tình cảm và việc làm của Ngài khiến cho chúng ta phải yêu thương, và làm thay đổi chúng ta từ ghét sang thương. Vì Ngài yêu chúng ta khi chúng ta còn là người có tội, và là kẻ thù của Ngài; và Ngài chọn chúng ta để khiến cho chúng ta biết làm lành và đã tỏ ra cho chúng ta tình yêu thương rồi kéo chúng ta đến với Ngài, để chúng ta biết yêu thương. Nếu ông có thể xem qua mọi điều đã được chép trong thơ I Giăng, dù có gạt qua một bên tất cả mọi phần Kinh Thánh khác, ông sẽ nhìn thấy mọi điều nầy…”
Tyndale đã qua đời ở tuổi 42, nhưng ông đã cho xuất bản một bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh chính xác đến nỗi hơn 90% mọi lời lẽ của ông đã hiện hữu gần 100 năm sau đó trong bản King James. Người ta gọi ông là “Cha đẻ của quyển Kinh Thánh Anh ngữ”.
“Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (I Giăng 4.19).
24 Tháng Chạp
DUNG DỊCH 66 XU
Các giáo sĩ Dick Hillis và Margaret Humphrey lập gia đình vào ngày 18 tháng 4 năm 1938, trong một ngôi nhà nhỏ ở Hankow, Trung quốc. Tiếng nhạc đám cưới duy nhất là tiếng bom dội của quân Nhật bản ở một khoảng xa xa. Họ dời vào một ngôi nhà có vách trét bằng rơm trộn bùn rồi dấn thân vào một sự nhộn nhịp của sinh hoạt truyền giáo.
Bảy tháng sau, Margaret tỏ ra có những triệu chứng bị sốt rét. Căn bịnh nầy ngày càng tệ hại thật nhanh chóng, và Dick khổ sở càng thêm khi nhiệt độ lên tới 103oF, rồi tới 105o. Trong làng chẳng có y bác sĩ và chẳng có một phương tiện chuyên chở nào hết, bịnh viện thì ở rất xa. Dick đã cầu nguyện, nhưng ý thức được rằng chẳng có một lời đáp trả nào đến từ Đức Chúa Trời cả. “Tại sao vậy? Sao Đức Chúa Trời không đáp lời? Ngài có quyền cất nàng ra khỏi tôi, Ngài biết rõ tôi rất cần nàng, không những cho bản thân tôi, mà còn cho công việc nữa”.
Khi anh quì gối bên cạnh giường của Margaret nắm lấy bày tay nóng như đốt của nàng, có một câu hiện đến trong trí từ bức thư mà cha anh đã viết trước khi đám cưới của anh: “Hãy nhớ, Dick, nếu con thực sự biết yêu rồi, con sẽ đối diện với mối nguy hiểm của việc yêu tặng phẩm nhiều hơn là yêu Đấng Ban Cho đấy”.
Dick kêu lên: “Ôi Chúa, Ngài đã ban cho con biết yêu thương thật là nhiều nơi Margaret. Lẽ nào con đã yêu nàng quá nhiều sao?” Những lời lẽ kết thúc của thơ I Giăng loé lên trong trí: “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!”
Với sự nhận biết Chúa đang vận hành sâu sắc trong tấm lòng mình, Dick quì gối thật lâu, anh cầu nguyện: “Lạy Chúa, con dâng Margaret lại cho Ngài. Nếu Ngài đòi hỏi điều đó, con sẽ đi đến ngôi mộ của nàng, song vẫn tin cậy Ngài. Nhưng nếu Ngài đỡ nàng dậy, con sẽ luôn luôn tìm cách đặt Ngài ở trên hết”.
Sự bình an đến trên anh, cho phép anh yên nghỉ. Sáng hôm sau khi nhiệt độ của Margaret vẫn lảng vảng ở 105oF, Dick quyết định đi thăm viếng cửa hàng dược của người Trung hoa ở địa phương. Người chủ đứng tuổi ở đó tìm ra một lọ nhỏ bằng thủy tinh mà một người bán thuốc dạo đã bán cho ông ta cách đấy hai năm. Ông kia nói thuốc nầy có thể làm giảm cơn sốt. Dick mua ngay dung dịch 66 xu đó, rồi vội vã trở về nhà và tiêm ngay cho Margaret một mũi. Thân nhiệt của nàng bắt đầu hạ thấp dần, và hai tuần lễ sau đó nàng đã mạnh khoẻ như thường vậy.
“Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!” (I Giăng 5.21).
25 Tháng Chạp
KHI NGÀI ĐẾN…
Đức Chúa Jêsus Christ đã vào trong thế gian với một việc trong trí: Yêu thương chúng ta và dùng huyết Ngài thanh tẩy chúng ta khỏi mọi tội. Ngài hiện hữu vì lý do đó làm một con trẻ trong xứ Bếtlêhem, một thiếu niên tại Nazarét, một nhà truyền đạo trong xứ Giuđê, một chiên con trên đồi Gôgôtha. Vào năm 1846, Ngài chìa tay ra với lẽ thật đó và chạm đến một thiếu niên người Tô cách Lan có tên là James Geddie. Và Geddie, với sự ham muốn chạm đến nhiều người khác, đã ra đi để đến tại South Seas vào năm 1848. Khi chiếc tàu của anh ì ạch hướng tới New Hebrides, Geddie đã suy gẫm luôn về câu nầy, Khải huyền 1.5, được viết trên tờ báo của anh: “Lúc nầy là lúc tốt nhất để tận hưởng, và triển vọng của tôi nằm ở bên kia mồ mả, tựu trung vào thập tự giá, là biểu tượng của tình yêu cứu chuộc”.
James chẳng có chuẩn bị gì về điều ác mà anh đã gặp gỡ trong khi định cư trên đảo Aneityum. Dân cư trên đảo đã xem thịt người là món ăn mặn ngon nhất trong các thứ thức ăn, và tục ăn thịt người vốn cực kỳ phát triển. Cha mẹ thường giết và ăn thịt con ruột của họ. Bạo lực, trộm cướp, và xung đột đã xảy ra rất thường. Geddie viết: “Nếu chúng tôi thắng hơn những cư dân trên đảo đang sống trong vòng tối tăm nầy, chúng tôi phải kéo họ bằng những sợi dây yêu thương. Tôi biết không có một năng lực nào xứng đáng trừ ra quyền năng của Đấng Christ hằng sống là Đấng `yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta’”. Anh đã chiến đấu với sự tối tăm bằng cách thường xuyên rao giảng từ Khải huyền 1.5: “Đừng sử dụng một thứ vũ khí nào khác hơn thứ vũ khí mà Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã sử dụng, ấy là vũ khí yêu thương. Chúng ta phải thường giữ lòng nhìn xem Ngài là Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”.
Tờ báo của anh ghi ngày 9 tháng 2 năm 1849 đăng: “Trong chỗ tăm tối, đê hèn, và cùng cực chung quanh tôi, tôi nhìn thẳng bằng đức tin vào thời điểm khi một số cư dân trên đảo hiệp nhau hát bài ca đắc thắng của những linh hồn được chuộc: `Hãy đến với Ngài là Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta”. Anh đã sống để nhìn thấy điều đó xảy ra. Geddie đã qua đời ngay trước ngày Lễ Giáng Sinh năm 1872, và một tấm bảng sau đó được đặt trong nhà thờ của anh trên đảo: “Ghi nhớ James Geddie…Vị giáo sĩ đến từ Nova Scotia đến Aneityum trong 24 năm. Khi ông đến đảo vào năm 1848, không có một Cơ đốc nhân nào ở đây, rồi khi ông ra đi vào năm 1872, không có một người nào theo dị giáo hết”.
“Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” (Khải huyền 1.6).
26 Tháng Chạp
NGĂN CHẶN CÁI CHẾT
Ở tuổi 15, George T. B. Davis đã quyết định dâng mình cho sự hầu việc Chúa; và, được thúc giục bởi một số nhà tư vấn dạn dày kinh nghiệm như D. L. Moody, R. A. Torrey, và Charles M. Alexander, anh quyết tâm trở thành một người chinh phục linh hồn. Anh tự hứa với lòng phải nói với ai đó mỗi ngày về việc tiếp nhận Đấng Christ.
“Có đôi lúc tôi quên nói với ai đó trong ngày, và sau khi tôi trở về nhà thì đột nhiên nhớ lại mình chưa nói với ai ngày đó về việc tiếp nhận Đấng Christ. Tôi bật dậy, mặc quần áo rồi bước ra đường ngay. Có lẽ người đầu tiên tôi gặp đã bước đi quá nhanh và tôi không thể trao đổi với ông ta được, nhưng tôi cũng tìm được một cơ hội và nắm lấy cơ hội đó”.
Khi Đệ I Thế Chiến nổ ra, Davis bắt đầu làm việc giữa vòng các binh lính dưới sự bảo trợ của Hội Tân ước bỏ túi (The Pocket New Testament League), anh lo phân phát Kinh Thánh cho những người đồng ý nhận lấy và đọc sách .
Trong khi duy trì các buổi nhóm trong một trại lính tại căn cứ Matilda ở Scotland, David gặp một người, ông nầy cho anh thấy một quyển Kinh Thánh của Hội Tân ước bỏ túi, quyển sách nầy đã cứu lấy mạng sống em của ông ta. Người em đã giữ quyển sách trong túi áo jacket ở trên bên trái. Thình lình một viên đạn Đức có mũi nhọn, bằng thép xuyên thẳng vào tim của anh, nhưng thay vì trúng tim, viên đạn đã ghim vào quyển sách nhỏ đó. Nó cày hết trang nầy sang trang khác rồi sau cùng nó dừng lại tại Khải huyền 3.6: “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!”
Người lính đã lắng nghe và đã sửa soạn về mặt thuộc linh cho cái chết khi, một tháng sau đó, anh ta đã trúng đạn trái phá. Trong nỗi đau đớn, anh ta rên rỉ trong sợ hãi. Một người bạn thân nghiêng mình qua nói: “Jack, đừng rên như vậy nữa”.
Anh ta đáp: “Tớ biết mình đang rên rỉ, và đau đớn lắm , nhưng hãy nghĩ xem Cứu Chúa đã chịu khổ thể nào cho chúng ta trên đồi Gôgôtha”.
Davis đã được tặng cho quyển Tân ước có viên đạn xuyên qua đó, và anh đã dùng phần còn lại của cuộc chiến để gây ấn tượng cho các binh lính với sự khẩn cấp của ơn cứu rỗi, anh nói: “Ai có tai, hãy nghe lời…”.
“Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (Khải huyền 3.6).
27 Tháng Chạp
DÂNG BAO CA KHÚC GIA QUANG TÔN NGÀI
Giờ đây khi quí vị gạt bản “Phước cho nhân loại” qua một bên để sửa soạn đón năm mới, hãy thử một vài bài trong số 600 bài thánh ca khác của Isaac Watts, tỉ như bài: “Giờ được chiêm ngưỡng”, “Jêsus cai trị”, “Đấng xưa giúp chúng tôi”. Khi quí vị thử hát, hãy nhớ rằng bài thánh ca đầu tiên của Watts đã dựa theo Khải huyền 5.
Việc viết các bài thánh ca bởi một thanh thiếu niên mới lớn là một sự kích động rất táo bạo, vì trong những năm tháng sau Cuộc Cải Chánh, những người Tin Lành bị phân chia ra trước thắc mắc về những bài thánh ca. Những người thuộc hệ phái Luther và Moravians rất thích các bài hát ấy. Nhưng hầu hết các Hội Thánh Anh quốc, đặc biệt theo truyền thống của hệ phái Calvin, họ luôn hát các bài phổ từ Thi thiên mà thôi.
Một Chúa nhật kia, vào năm 1692, Isaac Watts, mới 18 tuổi, không hát trong suốt buổi thờ phượng. Khi bố ông quở trách ông, Isaac trả treo rằng âm nhạc không đáng hát, rằng Thi thiên không có gì hay, trong hình thái và cấu trúc câu, chúng rất vụng và thô.
Bố Watts nói: “Những bài thánh ca đó đủ hay cho Ông và Cha của con, và chúng cũng đủ hay cho con nữa đấy!”
“Thưa Bố, những bài hát đó chưa đủ hay đối với con, dù Bố và Ông có nghĩ như thế nào về chúng”.
“Nếu con không thích các bài ca thánh mà chúng ta đang hát, thế thì hãy viết ra những bài hay hơn đi”.
“Thưa Bố, con đã viết nhiều bài hay hơn thế, và nếu Bố thấy thoải mái và muốn nghe, con sẽ đọc một bài cho Bố nghe”. Isaac đã nói cho Bố mình biết anh đã học thuộc bài hát của các thiên sứ trong Khải huyền 5.6-10, và đã viết lại bài hát đó, ông gieo vần cho bài hát ấy.
“Lời cầu nguyện luôn nghi ngút trước ngai, dâng bao ca khúc gia quang tôn Ngài. Phương danh Christ cùng của lễ ban mai, mùi hương thơm ngát toả lên thiên đài”.
Bố ông rất kinh ngạc, ông đem phần sáng tác của con trai mình lên nhà thờ, và Chúa nhật sau cả hội chúng đều thích bài hát ấy nhiều lắm đến nỗi họ yêu cầu Isaac đem bài hát khác vào Chúa nhật tới nữa, và cứ thế, trong hơn 222 tuần lễ liên tục. Ngày nay Isaac được gọi là cha đẻ của sự hát thánh ca của người Anh hiện đại. Quả thực ông đã đem lại thật nhiều ơn phước cho nhân loại.
“Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giuđa, tức là Chồi của vua Đavít, đã thắng…”(Khải huyền 5.5).
28 Tháng Chạp
HỌP ĐÀN
Tại trường Đại học bang Louissiana, Ricky McAlister kiếm được một quyển Tân ước nhỏ màu xanh lá cây do hội Gideons phát, nhưng quẳng nó qua một bên không đọc. Sau đó, khi đang gói đồ chuẩn bị dự một chuyến đi câu, anh bỏ quyển sách vào túi hành lý để cầu may. Với hai người bạn thân, anh lái xe đi thâu đêm, rồi đến địa điểm câu cá vào sáng sớm thứ Hai. Thời tiết nắng nóng, cá không cắn câu, và Ricky chẳng bắt được con nào, trừ ra ánh mặt trời thiêu đốt. Sau cùng, mấy người bạn đành chịu thua rồi rút vào phòng để uống bia.
“Chúng tôi đang ngồi ở đấy chờ tiết trời mát mẻ hơn, khi ấy bạn tôi hỏi: “Anh có đem theo tờ báo nào không?” Tôi đáp: “Ừ có đấy, để ở ngoài xe, nhưng tôi không ra lấy đâu”. Người bạn nói: “Trời nóng quá đi thôi. Hãy ném cho tôi quyển Kinh Thánh nhỏ màu xanh đó đi”.
“Anh ta khởi sự lật qua Tân ước, rồi nói: “Nầy, hãy nghe câu nầy xem”. Anh ta đang đọc từ sách Khải huyền. Tôi chưa bao giờ nghe nói về sách Khải huyền. Anh ta khởi sự đọc về bầy châu chấu khỗng lồ sẽ xuất hiện và cắn con người. Anh ta càng đọc, tôi càng thấy run sợ hơn. Tôi ngồi đấy và đặt ly bia xuống. Mọi sự tôi có thể suy nghĩ tới là việc mà tôi thù ghét tệ hại hơn bất cứ cái gì khác, vì một con nhện hay một con rắn đã bò qua người tôi. Đôi lúc tôi đã có những giấc chiêm bao có những thứ bò qua người tôi hay cắn phải tôi, và tôi lấy làm sợ hãi lắm”.
“Anh ta cứ đọc, và tôi bắt run rẩy trong sợ hãi. Chúa đã xử lý với tôi trong suốt thời gian nầy và tôi cứ chối bỏ mãi thôi. Phải, tôi bắt đầu suy nghĩ tới bầy châu chấu đó và tôi nói: “Sao chúng ta không trở về nhà kìa?” Trong khi hai người bạn của tôi ra kéo chiếc thuyền, tôi lấy quyển Kinh Thánh nhỏ đó rồi khởi sự đọc”.
Tối hôm sau, Ricky đến dự một buổi thờ phượng truyền giảng Tin lành với bạn gái của mình, rồi ở đó anh đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ. Về sau anh hầu việc Chúa ở Bolivia, làm Mục sư Chủ Toạ ở Louisiana, đã dẫn hết người thân nầy tới người khác đến với Đấng Christ, và làm chứng cho khán thính giả của mình biết bằng cách nào anh đã đến với Chúa — bởi một bầy châu chấu.
“Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy” (Khải huyền 9.3).
29 Tháng Chạp
AMEN! VÀ HALÊLUGIA!
“Amen” và “Halêlugia” là những từ kết hiệp Cơ đốc nhân trên khắp thế giới, vì chúng giống nhau trong từng thứ ngôn ngữ, như đã được minh họa qua câu chuyện hấp dẫn mà Daniel Christiansen kể lại về một người lính Rumani trong Đệ II Thế Chiến, có tên là Ana Gheorghe.
Khi ấy là năm 1941, và các tốp lính Nga đã tràn qua địa phận Bessarabia của người Rumani mà vào Moldavia. Ana cùng các đồng chí của anh lấy làm sợ hãi lắm. Đạn rít lên ở quanh họ, và những quả đạn cối nã vào làm rung chuyển cả đất. Lúc ban ngày, Ana tìm cách giải khuây bằng việc đọc Kinh Thánh, nhưng đến tối anh chỉ nằm sát xuống mặt đất và nhớ lại những câu gốc đã học thuộc lòng khi còn nhỏ.
Ngày kia, trong làn đạn tung toé của quân thù, Ana bị tách ra khỏi các đồng đội của mình. Trong nỗi sợ hãi, anh đã bỏ chạy vào sâu trong rừng, cho tới khi, tất tả đến dưới bóng một cây thật lớn kia, anh nằm xuống ngủ vì quá kiệt sức. Qua ngày sau, khi đang thử tìm kiếm các đồng chí của mình, anh cẩn thận di chuyển về phía trước, nép mình trong bóng cây rừng, gặm từng mẫu bánh mì nát, dùng nước suối mà uống. Khi nghe trận đánh tan dần rồi, anh cảnh giác vác lấy khẩu súng trường của mình, mở chốt an toàn, rồi quan sát phía địch, thần kinh anh tới gần điểm phải vỡ ra. Cách đấy hơn 20m, một tên lính Nga thình lình xuất hiện.
“Lý trí tôi nhẫm lại về lòng dũng cảm cũng không giúp gì được cho tôi. Tôi hạ súng xuống đất rồi quì gối xuống, úp mặt mình vào lòng bàn tay đẫm đầy mồ hôi và bắt đầu cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện, tôi chờ đợi cái chạm lạnh giá của khẩu súng Nga chỉa vào đầu mình.
“Tôi cảm thấy như mình bị chạm nhẹ vào vai phía dưới cổ. Tôi từ từ mở mắt ra. Kẻ thù cũng đang quì gối ở trước mặt tôi, khẩu súng của hắn để nằm kế khẩu súng của tôi giữa các đoá hoa dại. Hai mắt của hắn cũng nhắm nghiền lại trong sự cầu nguyện. Chúng tôi không hiểu một lời nào của nhau, vì lạ ngôn ngữ, nhưng chúng tôi đã cầu nguyện. Chúng tôi kết thúc lời cầu nguyện của mình với hai từ ngữ mà chẳng cần một sự dịch thuật nào hết: “Halêlugia!…. Amen!”
“Thế rồi, sau một vòng tay ôm đầm đìa nước mắt, chúng tôi mau mau đi theo hai hướng ngược lại rồi biến mất sau những rừng cây”.
“Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn nọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: Amen, Alêlugia!” (Khải huyền 19.4).
30 Tháng Chạp
“MỘT LẦN CUỐI”
Người tình nguyện của Hội Thông Công Nhà Tù tên là Bob McAlister tìm gặp Rusty Woomer đang ngồi trong xà lim của mình như vô giác, mặt thì trắng bệt ra, hàng tá mẫu thuốc lá nằm vung vải xung quanh anh ta. Bob tìm cách nói chuyện với anh ta, nhưng tên tù vẫn không đáp ứng chi hết. Sau cùng, Bob nói: “Rusty, chỉ nói chữ Jêsus thôi”. Với nhiều cố gắng, Rusty cử động đôi môi rồi thì thào: “Jêsus!” Khi Bob hỏi Rusty không biết anh có muốn tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa hay không, hai hàng nước mắt lăn dài trên má, và anh ta gật đầu. Ngày thứ Hai sau đó, Bob thấy choáng bởi có sự khác biệt. Xà lim nhốt Rusty không còn một vết bẩn, mẫu thuốc lá nào nữa. Cũng một thể ấy với loại sách báo khiêu dâm. Rusty nói: “Tôi đã để những ngày nghỉ cuối tuần ra mà làm sạch xà lim của mình, tôi nghĩ rằng đấy là những gì Chúa Jêsus mong muốn tôi làm đó”.
Trong bốn năm, hai người vui hưởng với nhau một mối thông công sâu sắc hơn, cùng nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện, trao đổi. Sau cùng, mọi lời kêu nài của Rusty bị bác bỏ và án tử hình là chắc chắn. Vào ngày cuối cùng của Rusty ở trên đất, anh nói một lời vĩnh biệt đầy tình cảm với bố, anh chị em của mình. Mọi người đều đã ra về hết, hai người bạn cùng ngồi trong mối tương giao buồn rười rượi, chờ đợi điều cuối cùng.
Khi đầu và chân phải của Rusty bị cạo, anh nói: “Hãy đọc cho tôi nghe Kinh Thánh một lần cuối đi”. “Tôi mở quyển Kinh Thánh ra ở Khải huyền 21. Tôi đọc: “…Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa…”. Một chùm tóc của Rusty rơi xuống trúng vạt áo tôi; một số rơi trên quyển Kinh Thánh. Tôi ngước nhìn lên, và với cái đầu mới cạo có phân nửa, Rusty mĩm miệng cười – một nụ cười đượm đầy nét bình an mà tôi chưa hề nhìn thấy nơi một ai khác.
“Đến 12giờ55 trưa, họ đến dẫn Rusty đi. Sau khi đọc cho anh nghe bản án tử hình, Warden George Martin hỏi: “Anh sẵn sàng chưa?” Anh đáp ngay: “Chúng ta đi nào!” Tôi đi theo Rusty đến phòng hành quyết và lời nói sau cùng của tôi với anh là: “Rusty, hãy nhìn xem Chúa Jêsus”. Rusty bị đẩy vào chiếc ghế, và một chiếc mũ bằng da được gắn vào đầu của anh. Tôi nghe thấy lời nói sau cùng của anh: “Tôi xin lỗi. Tôi xưng Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa của tôi. Ao ước duy nhất của tôi: ấy là nguyện mọi người trên thế gian đều cảm nhận được tình yêu mà tôi cảm nhận từ nơi Ngài”.
Năm phút sau đó, Rusty đã có mặt trên thiên đàng.
“Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa” (Khải huyền 21.1).
31 Tháng Chạp
KẺ NÀO MUỐN
Giờ đây bạn cũng đã biết phần cuối của câu chuyện rồi. James Chalmers đã bị dân trên đảo Goaribari ở Biển Nam ăn thịt vào ngày 4 tháng 4 năm 1901. Nhưng cái chết của ông xứng hợp với sự sống của ông – cả hai đều được đầu tư vào việc mời gọi những linh hồn bị giam hãm trong bóng tối hãy tự do chạy đến với Đấng Christ.
Chalmers đã nghe thấy lời kêu gọi bước vào công việc truyền giáo của Đức Chúa Trời khi còn là một thiếu niên. Vị Mục sư người Tô cách Lan của anh đã đọc một lá thư gửi từ quần đảo Fiji vào sáng Chúa nhật kia, thuật lại quyền phép của Tin lành làm biến đổi giống dân ăn thịt người kia.
Sự trở lại đạo của James đã diễn ra ba năm sau đó, lúc được 18 tuổi, khi hai vợ chồng nhà truyền đạo người Ái nhĩ Lan đến rao giảng trong khu vực. “Trời mưa nặng hạt, nhưng tôi đã chuẩn bị; khi đến cuối chân cầu thang, tôi nghe họ đang hát bài: “Muôn Dân Đang Ở Trên Đất” theo điệu “Old Hundredth”, và tôi nghĩ mình chưa bao giờ nghe hát như thế trước đây – trang trọng, và đầy sự vui mừng. Tôi lên cầu thang và bước vào. Có một hội chúng rất đông đang nhóm lại trong sự sốt sắng. Nhà truyền đạo trẻ trong số họ là người giảng luận đầu tiên. Ông đọc lên câu gốc của mình: “Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không”. Ông nói thẳng đến tôi. Tôi cảm thấy như thế; nhưng vào lúc kết thúc, tôi vội vã đi ra, về lại thị trấn”.
James đã đau khổ về tình trạng thuộc linh của mình trong mấy ngày, tự mô tả mình như “bị đâm thấu vào, và mất hết mọi hy vọng được cứu”. Sáng hôm sau, vị Mục sư của anh, Tấn sĩ Gilbert Meikle, đến làm chứng với anh về huyết của Đấng Christ, bảo đảm cho anh về tình yêu thương của Đức Chúa Trời, rồi hướng dẫn anh đến dòng sông sự sống.
Gần như là James đã bắt đầu sửa soạn để đến vùng Biển Nam, không nghi ngờ gì tới sự kêu gọi bước vào công cuộc truyền giáo trước đây. Khi ấy, ông đã thiết lập 130 trạm truyền giáo khắp xứ New Guinea, và hàng ngàn người đã chạy đến với Đấng Christ, trong đó có 64 người đã trở thành Mục sư, Truyền đạo và Giáo sĩ.
“Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Khải huyền 22.17).

