1 Tháng 10
CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG ĐẮC THẮNG
Trong Đệ II Thế Chiến, nhiều người Đức đã hoảng sợ về tương lai và không thể tiếp xúc với người thân, họ đã hướng sang các thầy bói. Sau chiến tranh, Corrie ten Boom, bà đã sống sót từ trại tập trung Ravensbruck, đã đi khắp xứ và thấy có nhiều người vẫn bị ma thuật mê hoặc. Trong những lần trao đổi, bà thường xử lý với tội lỗi phù phép, xem bói, xem tử vi, tin theo ma quỉ, và sự thờ lạy hình tượng.
Nhưng lúc nào bà nói tới các đề tài đó, bà bị mệt mỏi rất bất thường, mệt đến nỗi bà không tới gần giường ngủ được. Một cảm xúc bệnh tật phủ lên bà, và quả tim của bà đôi khi nó đập rất bất thường.
Thế rồi bà đem tất cả mọi sự nầy dâng cho Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện, bà than thở rằng bà không thể tiếp tục sống trong tình trạng như vậy. Sự kiệt lực khi đánh trận với ma quỉ rất lớn, và bà ngại rằng bà sẽ không còn tiếp tục được nữa. Corrie thưa với Chúa: “Có lẽ một hay hai tháng nữa, thì trái tim con sẽ ngừng đập thôi”.
Nhưng ngày đó trong khi đọc quyển sách Kinh Thánh tiếng Đức của mình, bà đến với Công vụ các sứ đồ 18.9-10: “Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy”. Theo sau đó là mấy câu nầy:
“Cho dù hết thảy quyền lực của địa ngục tấn công. Đừng sợ, Chúa Jêsus là Đấng đắc thắng”.
Trái tim bà đầy dẫy với niềm vui khi bà nhận lấy mấy lời nầy như một câu trả lời trực tiếp cho nhu cần của bà. Bà bắt đầu cầu nguyện nữa, lần nầy bằng sự ngợi khen, xưng ra lời hứa về sự hiện diện và bảo hộ của Đức Chúa Trời, rồi nài xin Ngài che chở bà bằng huyết của chính Ngài tránh khỏi cuộc tấn công của ma quỉ.
Ngay giờ phút ấy, bà ý thức được sự chữa lành đang tuôn tràn trong trái tim bà, và nó bắt đầu đập đều đặn trở lại. Từ ngày ấy, bất cứ khi nào Corrie ten Boom rao giảng chống lại xem bói và xem tử vi, bà cảm thấy mạnh mẽ và luôn luôn khoẻ khoắn. Và sau đó, sứ điệp của bà khi đối diện với sự thờ lạy hình tuợng đều là: Chúa Jêsus là Đấng Đắc Thắng!
“Ban đêm, Chúa phán cùng Phao lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy” (Công vụ các sứ đồ 18.9-10).
2 Tháng 10
LỬA MỪNG
Tôi có một người bạn, người nầy đến than phiền với tôi về thái độ thờ ơ về mặt thuộc linh. Bạn tôi là một tân tín hữu, nhưng cảm thấy chẳng có một sự tấn tới nào diễn ra trong đời sống của ông ta cả. Khi chúng tôi trao đổi với nhau, tình cờ ông ta nhắc: “Tôi không còn xem đống sách báo khiêu dâm để dưới giường tôi nữa”. Tôi hốt hoảng nói: “Để dưới giường của ông à. Sao ông không đốt hết đống ấy đi?”.
“Đúng thế, tôi không còn xem đến nữa, song tôi ghét hủy bỏ vì tôi đã tốn nhiều tiền để mua chúng – sách báo, phim ảnh… Chắc là tôi sẽ đem bán hay dẹp nó qua một bên thôi!” Tôi nói: “Thứ ấy chỉ thích hợp với lửa, chứ chẳng thích ứng với một thứ nào khác”, với lòng tin chắc rằng sự tấn tới về mặt thuộc linh của ông ta sẽ bị ngăn trở cho tới chừng nào ông ta chịu dẹp hết các thứ ở dưới giường ngủ của ông ta.
Vance Havner hỏi: “Đời sống bạn có cần tới một ngọn lửa mừng không? Tấm lòng và ngôi nhà của bạn có đầy những thứ làm phật lòng Chúa không? Lời của Ngài không thể lớn lên và đắc thắng cho tới chừng nào ngọn lửa mừng đã nhóm lên rồi”.
Clint Morgan, một người bạn ở Châu Phi, thuật cho tôi nghe khi các làng mạc đến với Đấng Christ, họ thường nhóm những người lân cận lại để công khai đốt bỏ các vật thờ và các hình tượng giả dối của họ.
Một trong các ngọn lửa mừng nổi tiếng nhất trong lịch sử đã được nhóm lên vào năm 1520, khi Giáo hoàng La mã ban ra một tối hậu thư thật dài dứt phép thông công Giáo sư Martin Luther của Đại học đường Wittenberg. Vào buổi sáng 10 tháng Chạp, thông báo sau đây đã được dán tại trường đại học: “Bất cứ ai gắn bó với lẽ thật của tin lành hãy có mặt lúc 9 giờ sáng tại nhà thờ Holy Cross – nơi các sách báo tài liệu của Giáo hoàng và lý thuyết của hàng học giả sẽ bị đốt, theo cách xử trí xưa kia của các sứ đồ. Hãy đến, hỡi các bạn thanh niên có lòng sốt sắng và kỉnh kiền, hãy đến với chiến dịch tôn giáo và tin kính nầy:.
Các sinh viên không bao lâu sau đó đã nhóm lại rồi nhóm lên một ngọn lửa. Luther đã ném bản tối hậu thư dứt phép thông công ông vào đấy rồi nói: “Vì ngươi đã gây đồi bại lẽ thật của Đức Chúa Trời, nguyện Đức Chúa Trời hủy diệt ngươi trong ngọn lửa nầy”. Khi ánh lửa bùng lên, các sinh viên đã ném hết chồng sách nầy đến chồng báo khác của Giáo hoàng từ những kệ sách của riêng họ và từ thư viện của Trường đại học vào ngọn lửa. Ngọn lửa cứ tiếp tục cháy cho tới khi màn đêm buông xuống – và Công Cuộc Cải Chánh đã bừng bừng nổi lên với khí thế.
“Có lắm người trước theo nghề phù pháp đem sách vở mình đốt trước mặt thiên hạ; người ta tính giá sách đó, cộng là năm muôn đồng bạc” (Công vụ các sứ đồ 19.19).
3 Tháng 10
KHO BÁU QUAN TRỌNG
Trong Công vụ các sứ đồ 20.2-3, sứ đồ Phaolô đến miền Nam nước Hy Lạp rồi tự mình lo liệu vào mùa đông năm 56 – 57 SC trong ngôi nhà của bạn ông là Gai-út. Ở đây ông nghỉ ngơi, cầu nguyện và vạch chiến lược, hình dung một chuyến hành trình truyền giáo mới qua phía Tây Âu đến tận Tây Ban Nha. Nhưng ông cũng làm ra một sự bất ngờ. Trong biến cố sự chết của ông, ông muốn các lẽ đạo chính của ông được đề ra theo một cung cách có hệ thống và phương pháp, đặt trong Hội thánh ngay trung tâm của Đế quốc La mã. Và vì thế, trong khoảng thời gian ba tháng, ông đã sáng tác ra sách Rôma. Trong khi sáng tác sách nầy, ông đã làm thay đổi cả thế giới. Tới ngày hôm nay, bất cứ lúc nào sách Rôma được rao giảng và dạy dỗ, nhiều linh hồn đã được cứu, cơn phấn hưng xảy ra, và dân sự của Đức Chúa Trời được khích lệ.
Chính sách Rôma đã làm thay đổi Thánh Augustine từ kẻ thờ lạy hình tượng thành nhà truyền đạo.
Chính sách Rôma đã nung nấu và khiến cho nhà Cải Chánh lỗi lạc Martin Luther trở lại đạo.
Chính lời tựa của Luther đặt cho sách Rôma đã làm cho tấm lòng John Wesley ấm áp và đặt tấm lòng ấy lên trên ngọn lửa.
Sách Rôma cũng tác động nhà dịch thuật người Anh tên là William Tyndale đến nỗi ông đã viết như thế này về sự tác động đó: “Thư tín nầy là phần chủ yếu và xuất sắc nhất trong Tân ước, và là quyển sách thanh sạch nhất, sách nầy đưa ra những tin tức tốt lành và những gì chúng ta gọi là Tin lành, và cũng là một ngọn đèn, một con đường xuyên suốt cả Kinh Thánh, tôi nghĩ sách ấy làm cho từng người Cơ đốc hài lòng, không những biết sách ấy như vẹt mà chẳng cần cầm lấy quyển sách, mà người ta còn tự mình luyện tập theo đó một cách liên tục, như là bánh hàng ngày của linh hồn. Chẳng ai có thể đọc hay nghiên cứu sách ấy thường xuyên được; vì càng nghiên cứu càng thấy dễ chịu hơn, càng nghiền ngẫm sách ấy người ta càng thấy thoả lòng thêm, và càng tìm kiếm người ta càng tìm thấy nhiều vật báu quí giá hơn có trong đó, kho báu quan trọng những việc thuộc linh như thế đang nằm kín trong đó”.
- I. Packer đã viết: “Khi sứ điệp của sách Rôma nhập vào tấm lòng của con người, chẳng cần phải thuật lại có điều chi sẽ xảy ra”.
“về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa vít sanh ra, theo thần linh của thánh đức, thì bởi sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rôma 1.3-4).
4 Tháng 10
ĐÓNG VAI CON NGƯỜI
Ngày nọ, vào năm 1742, nhà truyền đạo người Anh George Whitefield được một lái buôn than theo hệ phái Quaker đến mời giảng tại phiên chợ ở Marylebone Field phía Tây Luân đôn. Người của Quaker hứa: “Tôi sẽ dựng cho ông một diễn đàn”. Khi Whitefield cùng với vợ ông là Elizabeth đến tại phiên chợ, mặt trời đã lặn rồi và đám đông dường như rất hỗn loạn. Những võ sĩ lực lưỡng chuyên đấu lấy tiền đứng thách thức mọi người đến đó thi đấu không mang găng tay trên võ đài. Những trò tiêu khiển rất nhiều giống như bầy đom đóm, và người ta uống rượu thoải mái. Whitefield đôi khi tỏ ra sợ hãi, song tối đó ông rất căng thẳng khi leo lên bục giảng nhỏ của người Quaker. Khi ông cất tiếng sang sảng của mình, nhiều tốp người bắt đầu tụ lại. Các đám đông ở chỗ tiêu khiển gần đó thưa thớt dần, rồi trống trơn khi tiếng của Whitefield nghe lớn hơn. Sau khi nhập đề ngắn ngủi, ông nhìn thấy một tốp người ở trần đang tiến về phía ông, ánh mắt họ đỏ ngầu lên. Giọng nói ông bắt đầu ấp úng, song thình lình ông cảm thấy như có ai đó giật mạnh chiếc áo choàng của ông. Elizabeth nhìn ông nói: “George, hãy đóng vai người của Đức Chúa Trời”.
Sự dạn dĩ như trào sôi lên khắp người Whitefield. “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu”, ông nói lớn tiếng lên, giọng nói của ông vang lên qua tiếng ồn của đám đông và cảnh hỗn loạn: “vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin”. Ông khoanh tay mình lại trong một tư thế gây ấn tượng sâu sắc, và bục giảng như muốn sụp xuống dưới chân ông.
Mấy tay võ sĩ để ý thấy bục giảng của ông đang rung lên, và họ bắt đầu xúm lại, hy vọng làm cho cái bục ấy ngã đi. Nhưng một nhóm Cơ đốc nhân hình thành một vòng tròn quanh nhà truyền đạo, và Whitefield được công kênh lên, cứ giảng như đứng trên boong của chiếc tàu đang chòng chành vậy. Một hòn đá ném trúng ông nơi mặt, kế đó là một quả trứng thối, rồi một nắm phân nữa. Ông vẫn cứ giảng, lời lẽ của ông bay thẳng như chiếc hỏa tiển lao vào đám đông. Có người bắt đầu cầu nguyện và nhiều người khác đã đổ nước mắt. Ông vẫn cứ giảng.
Sau cùng, công việc của ông đã xong, nhà truyền đạo 27 tuổi rời khỏi bục giảng, được bạn bè hộ tống, đã cố gắng ra tới chỗ xe ngựa của mình. Một thanh niên nhào tới bên ông vung thanh kiếm lên, nhưng đường kiếm đó đã bị đánh lệch đi bởi cây gậy của một người bạn.
Whitefield đã đóng vai người của Đức Chúa Trời.
“Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu đa, sau là người Gờ réc” (Rôma 1.16).
5 Tháng 10
CUỘC PHẤN HƯNG Ở SHANTUNG
Một buổi tối ở Trung Hoa, vị giáo sĩ Báp tít Nam Phương C. L. Culpepper còn nán lại để gia đình lễ bái, nhưng khi ông cố gắng cầu nguyện, ông cảm thấy nặng nề giống như đá vậy. Sau cùng, ông hỏi: “Lạy Chúa, có chuyện gì thế?”
“Tôi mở quyển Kinh Thánh ra ở Rôma 2.17. Dường như sứ đồ Phaolô đang phán trực tiếp với tôi khi ông nói: “Còn nếu ngươi xem mình là một Cơ đốc nhân, nương cậy vào Tin lành, khoe khoang về mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời, biết rõ ý muốn Ngài, tán thưởng điều chi hay nhất; và nếu người dám chắc ngươi là người dẫn đường cho kẻ mù, ánh sáng cho kẻ ở trong tối tăm, một sự chỉnh sửa cho kẻ dại dột, một giáo viên cho con cái – vậy thì ngươi đang dạy nhiều người khác, ngươi không dạy được chính mình ngươi sao?”
“Đức Thánh Linh đã sử dụng mấy câu nầy như một thanh gươm cắt thật sâu vào tấm lòng tôi. Ngài phán: “Ngươi là một kẻ giả hình! Ngươi xưng mình là Cơ đốc nhân! Thực sự ngươi đã làm gì cho Đấng Christ? Chúa phán: “Người nào tin nơi Ngài sẽ có sông nước sự sống tuôn chảy ra từ tấm lòng người đó! Ngươi có loại năng lực đó chưa?”
Culpepper đánh thức vợ mình dậy, rồi họ đã cầu nguyện thâu đêm. Sáng hôm sau trong một nhóm cầu nguyện với các bạn đồng sự của mình, ông đã xưng ra sự kiêu ngạo và sự bất lực về mặt thuộc linh, tấm lòng ông tan vỡ khi ông nói ra. Đức Thánh Linh bắt đầu thuyết phục nhiều người khác về tội lỗi đến nỗi họ khó mà mang nỗi nó.
“Tôi thấy gương mặt của họ tái nhợt đi, rồi họ bắt đầu kêu khóc và quỳ gối phủ phục xuống sàn nhà. Các vị giáo sĩ đến với nhau xưng ra những cảm xúc sai lầm đối với nhau. Các nhà truyền đạo người Trung quốc phạm tội ganh tỵ, tranh cạnh, thù hận, đã xưng ra tội lỗi họ với nhau”.
Cơn phấn hưng rải khắp thần học viện, trường học, bệnh viện, và các khu nhà thờ.
“Ấn tượng cơn phấn hưng ở Shantung đã viết lên linh hồn tôi, nó còn bám theo tôi cho đến ngày nay. Suốt cả chiều rộng và chiều dài của tỉnh Shantung, tôi đã nhìn thấy các dấu hiệu của cơn phấn hưng. Các Hội thánh đều đông người mà trước đây chưa hề có. Buổi nhóm lại càng đông thêm lên. Vô số người đã lìa bỏ thần tượng của họ.
Cho tới ngày hôm nay, tấm lòng tôi thường trở lại với Shantung”.
“vậy ngươi dạy dỗ kẻ khác mà không dạy dỗ chính mình ngươi sao!” (Rôma 2.21).
6 Tháng 10
DÒNG SUỐI
Nếu sách Rôma là cốt lõi của Tin lành, Rôma 3.21-26 là cốt lõi của sách Rôma. Lẽ thật của phân đoạn nầy đầy quyền lực, súc tích đã đem lại cho Đấng Christ nhiều đoàn dân đông, và đã cung ứng sự tái bảo đảm cho nhiều người nữa.
Một trong các thi sĩ lỗi lạc của nước Anh là William Cowper (đọc là Cooper). Song ông đã sống một đời sống dằn vặt đau khổ, tan nát do ngã lòng, có nhiều lúc ông đã tính tự vẫn. Những nan đề đã khởi sự trong trường nội trú, trong thời gian ấy chàng thanh niên William nhút nhát, bẽn lẽn đã bị bắt nạt rất tàn nhẫn, thần kinh của anh đảo điên. Sau đó anh đã vào ra dưỡng trí viện vì mất trí, nhưng anh đã học biết trao đổi cảm xúc của mình qua thi ca.
Ngày kia anh tìm gặp một quyển Kinh Thánh trên băng ghế ngồi ở trong vườn, và anh đã mở ra ở chương 11 sách Giăng rồi đọc về việc Chúa Jêsus làm cho Laxarơ sống lại từ kẻ chết. Tư tưởng bồng bềnh đến với William, có lẽ là quyền năng và sự nhân lành của Chúa Jêsus đã chạm đến đời sống của anh. Anh mở quyển Kinh Thánh ra một lần nữa và lần nầy đọc ở Rôma 3.21-26. Câu 25 đặc biệt nói với anh, và ngay lập tức Cowper cảm thấy gánh nặng rơi ra khỏi vai mình. Anh thấy sôi nổi ngay về cuộc gặp gỡ của anh với Đấng Christ trong mấy câu nầy, anh đã xuất khẩu thành bài thơ 13 câu bắt đầu như sau:
Lập tức xiềng xích dứt bỏ ngay
Chiếc cùm nơi chơn tôi rớt bật ra
Trong sự thương xót đạo được giảng rao
Chụp lấy tôi ra khỏi hàm răng của địa ngục.
Mặc dù Cowper vẫn chịu đựng ảnh hưởng của sự ngã lòng, đức tin của anh nơi Đấng Christ (và tình bạn của anh với John Newton, tác giả của bài thánh ca “Ân điển”) dẫn tới việc anh viết một số bài thánh ca Cơ đốc đáng yêu nhất. Giữa vòng chúng là: “Đức Chúa Trời vận hành trong một phương thức kín nhiệm” (God moves in a Myterious Way), “Đồng đi với Đức Chúa Trời” (O For a Closer Walk with God), và …
Kìa, trông suối thiêng huyết báu tuôn đầy
Từ hông Jêsus phát nguyên
Tội nhân tắm mình dưới suối huyết nầy
Sạch hết mọi gian ác liền! (TC 181).
“là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia” (Rôma 3.25).
7 Tháng 10
NGÀI ĐANG TỂ TRỊ
Cách đây nhiều năm khi còn ngồi ghế đại học, tôi đã làm việc trong vài chiến dịch của Billy Graham như một kẻ hay “lằm bằm”. Một trong các phần việc dễ chịu của tôi là phục vụ như một tài xế cho diễn viên Jeannette Clift, người đã đóng vai Corrie ten Boom trong phim “Nơi ẩn náu”. Tôi thấy cô ta rất tử tế và dễ thương đến nỗi sau đó tôi siêng đọc bài làm chứng cá nhân của cô khi Jeannette tìm gặp Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình.
Jeannette đã lớn lên trong một gia đình Cơ đốc, nhưng đến ở tại Broadway với một ít ảnh hưởng Cơ đốc. Cô hay đặt quyển Kinh Thánh nhỏ màu trắng ở trên bàn trong phòng thay y phục khi cô chuẩn bị trình diễn. Mặc dù cô rất ít đọc Kinh Thánh, cô lấy làm lo khi cô không nhìn quyển Kinh Thánh đó. Thế rồi, không biết sao cô đã khởi sự đọc quyển sách ấy. Cô đọc tới sách Lêvi ký, rồi cầu xin Chúa tỏ cho cô thấy Ngài có sứ điệp gì cho cô hoặc điều chi đó phải làm theo khi đọc tới chỗ con bò của người hàng xóm té lọt xuống cái mương.
Vài tuần lễ sau đó, cô ta đang đứng chờ ở bến xe bus trên đường đi thử giọng thì có một trận mưa đổ xuống đường phố như trút nước. Cô ta vào đụt mưa trong một cửa hàng gần đấy, rồi khi cơn mưa tạnh dần, Jeannette bước ra đi thẳng tới phòng thử giọng. Có người đang thử giọng, và Jeannette vốn không thích nghe, đã bước ra phía sau đúng dưới mái hiên trên đường phố. Nhưng người ta đã cuốn mái hiên bằng vải bạt đó thụt vào trong. Jeannette lại bước vào trong phòng thử đúng lúc diễn giả Major Ian Thomas đang nói thật sôi nổi. Cô ta đứng lắng nghe, và tấm lòng của cô chịu mở ra một ít.
Sau đó ít hôm, Jeannette khám phá ra Rôma 5.8, và đột nhiên cô cảm thấy mình là một tội nhân mà Đức Chúa Trời rất yêu thương và Đấng Christ đã chịu chết thay cho. Một mình trong căn hộ, cô ta đã kêu lên: “Đủ rồi! Lạy Đức Chúa Jêsus Christ, thật Ngài đang tể trị”.
Ngài đã tể trị.
“Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rôma 5.8).
8 Tháng 10
BÀI GIẢNG CỦA CHRISTMAS
Christmas Evans chào đời vào dịp ngày Lễ Giáng Sinh năm 1766, và 18 năm sau đó đã trở lại đạo. Anh là một thanh niên sống phóng túng, thất học, và băng nhóm cũ của anh đã nổi giận khi biết anh ấp ủ một niềm tin mới, họ đã tấn công anh trên con đường vòng núi, đánh đập, rồi đâm thủng một con mắt của anh. Nhưng sự anh nắm bắt tin lành và khả năng rao giảng tin lành của anh khiến anh có mặt giữa vòng những nhà truyền đạo nổi tiếng nhất xứ Wales. Một trong các bài giảng hay nhất của anh lấy câu gốc từ Rôma 5.15. Khi mô tả tình trạng của một người không có Đấng Christ, Evans nói:
“Nầy tạo vật sa ngã đáng thương kia! Ôn dịch theo đuổi người. Bịnh phung bám lấy người. Sự hủy diệt tàn phá người. Sự thiêu đốt ăn nuốt tính mạng người. Cơn sốt nắm bắt mọi nguồn sự sống người. Thiên sứ hủy diệt bắt lấy tội nhân trong tội lỗi của người. Bàn tay của Đức Chúa Trời giáng trên người. Những ngọn lửa thạnh nộ nhen lên chung quanh người, đốt cháy từng điều yên ủi và đốt hết mọi hy vọng người ra tro bụi. Lương tâm cắn rứt người với bò cạp. Hãy xem người đang quằn quại là dường nào! Hãy nghe người đang kêu cứu kia! Phải chăng không còn có sự thương xót? Phải chăng chẳng có một phương tiện cứu rỗi nào sao? Hãy nghe đây! Ở giữa khúc dạo dầu của thạnh nộ và tàn phá nầy, có một giọng nhỏ nhẹ nói như vầy: ‘ân điển của Đức Chúa Trời còn nhiều hơn, và sự ban cho ân điển, chỉ bởi một người, là Đức Chúa Jêsus Christ, có dư dật cho mọi người. Bởi ân điển, ngươi được yêu thương, được chuộc tội, và được xưng công bình. Bởi ân điển ngươi được kêu gọi, được biến đổi, được phục hoà, và được nên thánh. Sự cứu rỗi hoàn toàn là ân điển’. Chương trình, quá trình và tuyệt đích hết thảy đều là ân điển. Nơi nào tội lỗi dư dật, ân điển còn dư dật hơn, đã tỏ ra nơi sự ban cho Đức Chúa Jêsus Christ. Tội lỗi của chúng ta đã bị triệt tiêu tại thập tự giá của Ngài và bị đem chôn trong mộ địa của Ngài. Sự sống lại của Ngài đã mở mồ mả của chúng ta ra và ban cho chúng ta một sự bảo đảm về tính bất tử.
“Công việc đã xong rồi. Giá đã trả rồi. Nước thiên đàng đã mở ra cho mọi người tin. Hãy ngước đầu các ngươi lên mà vui mừng đi! Chẳng có một món nợ nào mà chưa trả cả, không ma quỉ nào mà không bị bắt phục, không một kẻ thù nào trong chính tấm lòng của các ngươi mà chưa nhận lãnh một vết thương hay chết! Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho chúng ta sự đắc thắng qua Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
“Song tội lỗi chẳng phải như sự ban cho của ân điển. Vì nếu tội lỗi của chỉ một người mà mọi kẻ khác đều phải chết, thì huống chi ơn của Đức Chúa Trời và sự ban cho trong ơn Ngài tỏ ra bởi một người là Đức Chúa Jêsus Christ, chan chứa cho hết thảy mọi người khác là dường nào!” (Rôma 5.15).
9 Tháng 10
NGAY KHI ẤY
Những tay lái thành công NASCAR mắc nợ nhiều đối với nhóm trợ giúp, họ làm mọi việc thật nhanh và khéo léo ở đàng sau tay lái. Một trong các trưởng nhóm xuất sắc nhất trong vòng đua NASCAR là David Smith, người có kỹ năng cao ở các trạm trợ giúp cho các tay lái như Dale Earnhardt.
Vào thập niên 1960, David đã lao mình vào bối cảnh híp pi cùng với rượu và ma tuý. Thế nhưng bố của anh, một tân tín hữu đã bắt đầu làm chứng cho anh.
David nói: “Bố ơi, khi con già giống như bố, con sẽ nghĩ tới tôn giáo”.
“Sẽ ra sao nếu con ngã chết ngay hôm nay? Sẽ ra sao nếu con đi dự một bữa tiệc tối nay, rồi bị bắn chết? Sẽ ra sao nếu con đụng xe? Con nghĩ là con sẽ ở đâu chứ?”
“À, con nghĩ là con sẽ ở với loài côn trùng”.
Bố anh đáp: “Không đâu, con có một linh hồn. Linh hồn ấy, một là bước vào cõi đời đời trên thiên đàng với Chúa, hoặc là ở trong địa ngục”.
Vào ngày kỷ niệm sinh nhật lần thứ 25 của anh, mẹ anh đã trao cho anh quyển Kinh Thánh, anh đem cất vào trong ngăn kéo rồi quên phứt nó đi. Nhưng rồi… “Tôi nhận ra có nhiều việc không còn lý thú nữa. Tôi đã uống rượu nhiều quá, tôi đã hút quá liều, tôi đã dùng nhiều viên thuốc kích thích, nhưng dường như chẳng có gì vui thú hết. Có cái gì đó gây ấn tượng cho tôi phải lấy quyển Kinh Thánh ra khỏi ngăn kéo. Tôi ngồi xuống rồi khởi sự đọc. Mẹ tôi đã gạch dưới một số câu gốc Kinh Thánh – Giăng 3.16, Rôma 3.23, và Rôma 6.23: “vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
Buổi chiều hôm ấy David đã đọc Kinh Thánh cho tới tối, rồi anh thấy không ngủ được. Sáng hôm sau lúc 6 giờ 30 anh gọi mẹ mình dậy, chỉ thấy bà cũng không ngủ được đang quỳ gối mà cầu nguyện cho anh thâu đêm.
David xây khỏi tội lỗi mình quay trở lại với Đấng Christ. “Và tôi biết ngay giây phút ấy mọi tội lỗi đã qua đi, gánh nặng chất trên vai tôi đã rớt xuống. Ngay lúc ấy một niềm vui mừng, sự ấm áp và một sự bình an trọn vẹn đã bước vào đời sống của tôi. Ngay khi ấy”.
“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (Rôma 6.23).
10 Tháng 10
NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG TRỞ VỀ
Suốt các năm tháng thiếu thời, Franklin Graham, con trai của Billy và Ruth Graham đã loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời, biểu đồ đường lối riêng và cuộc mạo hiểm của anh ngày càng lún sâu vào “xứ xa” làm cho bố mẹ anh phải lo lắng và cầu nguyện. Thế nhưng đến năm 1974, “đời sống tội lỗi không làm cho thoả lòng. Có một sự trống rỗng – một cái hố thật to… Sự thật là, tôi cảm thấy đau khổ vì cuộc sống của tôi chẳng hiệp nghi với Đức Chúa Trời”.
Ngày nọ ở Thụy Điển, Franklin, 22 tuổi, và cha của anh cùng nhau đi dạo. Billy cảm thấy bồn chồn, ông nói: “Franklin, mẹ của con và bố nhận thấy có một sự tranh chiến đang diễn ra trong đời sống của con. Con phải đưa ra một sự lựa chọn, một là tiếp nhận Đấng Christ hoặc chối bỏ Ngài. Con không thể tiếp tục chơi ở khu giữa sân mãi được”.
Một thời gian ngắn sau đó ở Rome, Franklin đến thăm David Hill đang đọc Rôma 7, ở đây Phaolô đang mô tả cuộc vật lộn với tội lỗi. David đọc thật lớn tiếng. Và Franklin đang lắng nghe, “bật cười khi mồ hôi vả ra, anh đốt một điếu xì gà để xoa dịu sự căng thẳng. David chẳng nói một lời nào khác trong giây phút ấy – anh ấy chỉ liếc nhìn tôi. Tôi xin lỗi bước ra ngoài, song tôi không thể quên được những lời David mới vừa đọc. Tôi nhìn biết lần đầu tiên tội lỗi đã cai trị đời sống tôi. Tôi quay trở về phòng, tìm chiếc túi xách lấy quyển Tân ước rồi mở ra ở Rôma 8.1: “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
Franklin đã tranh chiến trong mấy ngày, bị ám ảnh bởi lời nói của cha mình và bởi lời lẽ trong Rôma 7. Anh đã đọc đi đọc lại Rôma 8.1, cho tới sau cùng, trong khi du lịch ở Israel, “tôi quăng điếu xì gà đi rồi quỳ xuống bên cạnh giường. Tôi không biết mình đã cầu nguyện cái gì, nhưng tôi biết rằng tôi đã dốc lòng ra cùng Đức Chúa Trời và đã xưng tội mình. Tôi thưa với Ngài là tôi lấy làm tiếc và xin Ngài lấy đi những mảnh đời của tôi rồi không cứ cách nào đó ghép chúng lại với nhau, tôi đã thuộc về Ngài”.
“Những năm tháng phiêu bạt và loạn nghịch của tôi đã kết thúc”.
“Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ… họ không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh” (Rôma 8.1, 9).
11 Tháng 10
VẢ, TÔI TƯỞNG RẰNG
Điều gì có trong trí khi bạn nghĩ tới sự thành tín của Đức Chúa Trời? Ngài thành tín như thế nào? Với điều gì? Với ai? Kinh Thánh chép: “Đức Giêhôva thành tín với các lời hứa của Ngài”. Sau khi cho chép thật nhiều lời hứa trong Lời của Ngài, Chúa mong mỏi làm ứng nghiệm từng lời hứa đó.
Khi nghĩ tới đức tin, thì trong trí bạn có gì? Theo Rôma 4.21, đức tin là: “tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được”. Phaolô nói: “hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Đức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy” (Công vụ các sứ đồ 27.25).
Vậy nên, chúng ta đối diện và làm chủ cơn khủng hoảng của cuộc sống như thế nào đây? Bằng cách ấn ngón tay sâu vào các lời hứa của Đức Chúa Trời và bám chặt lấy chúng. Hudson Taylor từng nói rất chua cay trong lúc bị thử thách: “Chúng ta có 25 xu – cùng mọi lời hứa của Đức Chúa Trời”.
Charles Spurgeon đã nói rằng khi gặp rắc rối, ông sẽ tìm một lời hứa của Đức Chúa Trời, đập dẹp lời hứa ấy thành “chiếc lá vàng” rồi “mạ lên đấy cả đời sống vui mừng”.
Khi cha tôi nằm lặng lẽ ở khu săn sóc tập trung trong tình trạng hấp hối, tôi cố gắng ngủ qua đêm trong phòng đợi gần đó. Thế nhưng bác sĩ cứ đi ra đi vào luôn làm cho tôi phải bối rối. Những làn sóng sợ hãi cứ chọc vào tôi từ mọi hướng, và tôi đâm lo đến nỗi ngã bệnh. Nhưng câu Kinh Thánh nầy bắt đầu hiện lên trong trí tôi: “Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta”.
Tôi vốn biết đối với cha tôi, là một Cơ đốc nhân tin kính, thậm chí điều tệ hại nhất sẽ xảy ra – sự chết – sẽ không thể sánh với sự vinh hiển đời đời của ông trong Đấng Christ. Tôi biết rõ đối với những người trong chúng ta còn ở lại, nỗi đau đớn của việc ông qua đi chỉ là tạm thời mà thôi, và sự tái hội hiệp theo sau mới là đời đời.
Tôi không thể quên được quyền phép trấn an của lời hứa ấy, lời đó đã giúp tôi yên nghỉ trong đêm và qua ngày sau mọi cảm tính của tôi được phục hồi.
“Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín” (Hêbơrơ 10.23).
“Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta” (Rôma 8.18).
12 Tháng 10
NHỮNG QUẶNG MỎ TỐI TĂM
Tôi từng lo mình đang nương vào một câu từ sách Rôma quá nhiều và thuờng nhắc tới nó. Thế nhưng tư tưởng thoạt đến với tôi rằng Rôma 8.28 không thể bỏ qua được. Chúng ta đừng làm suy giảm câu Kinh Thánh đó.
Sự tán thưởng của tôi về Rôma 8.28 càng lúc càng tăng thêm khi tôi nghiên cứu nội dung của nó. Không màng về tương lai, chúng ta thường không biết phải cầu nguyện như thế nào là đúng. Nhưng Đức Thánh Linh, là Đấng vốn biết cả tương lai lẫn tâm trí của Đức Chúa Trời, Ngài cầu thay cho chúng ta “với sự than thở không thể nói ra được”. Cha thiên thượng nghe và đáp lại những lời cầu thay của Đức Thánh Linh, và như một kết quả, các sự cố xảy ra trong đời sống chúng ta đang bày tỏ ra việc lành của chúng ta.
Đây là sự thực đã ủng hộ Barnard Gilpin khi ông chìm sâu vào mối nguy hiểm chính trị. Gilpin được gọi là “Sứ đồ phương Bắc” phù hợp với chức vụ đầy năng quyền của ông ở phía Bắc nước Anh trong thế kỷ 16. Ông rất ưa thích Rôma 8.28, và trở nên nổi tiếng vì đã trưng dẫn câu Kinh Thánh đó trong nhiều cơ hội. Thế nhưng khi Nữ hoàng Mary khát máu lên ngôi, cuộc sống ông rơi vào tầm nguy hiểm. Ông được triệu về Luân Đôn để bị xét xử và bị hành hình, trên đường đi ông đã bị gãy chân. Có người đã chế giễu ông, họ hỏi không biết ông có nghĩ tai nạn ấy có xảy ra vì ích cho ông chăng!?! Ông đáp: “Phải, mọi sự!”
Và tai nạn ấy đã xảy ra vì ích cho ông. Chuyến đi của ông bị chậm trễ khi ông chờ bình phục trong một quán ăn kia, và trước khi ông đến Luân Đôn cùng nhà tù đáng ngại, và những đe dọa của nó, có người đến báo tin Nữ hoàng Mary đã băng hà. Ông trở về quê ở Houghton-le-Spring và hầu việc Chúa thêm ¼ thế kỷ nữa.
Charles Spurgeon nói: “Từ những đám mây đầy đe dọa, chúng ta nhận được các trận mưa rào. Trong những quặng mỏ tối tăm, người ta tìm được những hạt ngọc sáng chói; và từ những rối rắm tệ hại nhất, nhiều ơn phước tốt lành nhất đã đến cùng chúng ta”.
“Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rôma 8.28).
13 Tháng 10
NHỮNG CÂU KINH THÁNH LÀM VUI SỐNG
Thử nghiệm có kết quả rất rõ ràng, cô đã có thai, và dường như giống như tận thế vậy. Jane Frank 18 tuổi rời khỏi phòng mạch bác sĩ với sự sững sờ và tìm kiếm người bạn trai của mình, với nỗi lo sợ anh ta sẽ bỏ rơi cô. Thay vì thế, anh ta đã áp sát và ôm lấy cô. Anh ta nói: “Anh xin lỗi, đừng lo, em yêu ạ, mọi việc rồi sẽ qua thôi”.
Jane nói cho anh ta biết bác sĩ đã khuyên lơn về việc phá thai. Hai người ngồi yên lặng, liếc nhìn qua cửa sổ, bàng hoàng bởi tình trạng khó xử lớn lao nhất trong cuộc sống son sẻ của họ. Jerry sau cùng lên tiếng: “Cha mẹ chúng ta sẽ giết chúng ta mất nếu họ biết em có thai”.
Sáng hôm sau, Jane đã tâm sự với bạn đồng sự, người nầy cũng khuyên nên phá thai, thậm chí còn khen ngợi một bệnh viện có thể “giải quyết” nan đề của nàng. Jane đưa ra một quyết định rồi bị đưa vào một phòng xét nghiệm nhỏ sơn toàn trắng. Người kia nói: “Chúng tôi đã tiếp nhiều cô gái giống như cô. Cô hãy còn trẻ, chưa có gia đình, và chẳng có phương tiện gì để lo cho một đứa con”.
Việc nạo thai xảy ra trong ngày Thứ Sáu sau đó. Nhưng cơn đau cứ đeo bám mãi, và khi nhiều năm tháng trôi qua, Jane nhìn biết rằng sự phá thai của cô “không phải là dời đi miếng mô đó, nhưng người ta đã nói với tôi: việc ấy đã giết đi một em bé”.
Có nhiều lúc, nỗi đau của cô gần như không thể mang nỗi, nhưng sau cùng qua sự giúp đỡ của trung tâm trị liệu cho người khủng hoảng vì mang thai. Jane tìm được sự khuây khoả qua Đức Chúa Jêsus Christ. Một vị tư vấn khôn ngoan và một nhóm chuyên giúp đỡ đã trợ giúp cho cô. Jane đã để cho cái vòng đau khổ tự nhiên kia tự nó hoàn tất, khi nhìn biết cô “một là đắm mình trong quá khứ để cho các thất bại nhận tôi chìm xuống thật sâu, hoặc là để cho Đức Chúa Trời sử dụng tôi cho công việc của Ngài”.
Một phân đoạn trong Kinh Thánh cung ứng phương thuốc thuộc linh thật hay cho linh hồn cô. Đó là Rôma 8.33-39, mô tả tình yêu đắc thắng, phủ lút, nhuần gội của Đức Chúa Trời: “vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta”.
Jane nói: “Rôma 8.33-39 đã trở thành những câu làm cho tôi vui sống”.
“Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rôma 8.37).
14 Tháng 10
20.000 CÂU
Cần phải học thuộc lòng nhiều phân đoạn Kinh Thánh đã được viết ra, như Thi thiên 119 và Thi thiên 145 là những Thi thiên đã được viết ra dựa theo thể thi ca Hêbơrơ dùng mẫu tự ở đầu câu. Nhà dịch thuật Kinh Thánh William Tyndale đề nghị sách Rôma là phần chính cần phải học thuộc lòng: “Tôi nghĩ sách ấy làm thoả mãn từng Cơ đốc nhân nào hiểu rõ sách ấy qua cách học vẹt mà không cần tới sách”. Học thuộc lòng Kinh Thánh tích lũy trong trí với dữ liệu dành cho sự suy gẫm vô tận, đổi lại học thuộc lòng làm cho công tác dịch thuật được nhanh thêm. Học thuộc lòng Kinh Thánh giữ tấm lòng không phạm tội, và giúp cài đặt tâm tình của Đấng Christ vào tấm lòng của chúng ta. Trong quyển “Người bề trong”, Mục sư Leslie Flynn kể lại về sự ông trở lại đạo với Đấng Christ trong một chiến dịch truyền giảng Tin lành được lãnh đạo bởi Mục sư Oscar Lowry, là tác giả quyển “Học thuộc lòng Kinh Thánh hầu thành công trong chứng đạo”. Lowry nhìn nhận rằng ông đã bước vào buổi thờ phượng Cơ đốc khi còn trẻ với một tâm ý vô kỷ luật. Sau khi nghĩ mình không thể học thuộc lòng Kinh Thánh, ông đã ghi đầy tờ giấy trắng ở gần bìa quyển Kinh Thánh của mình với những lời dạy dỗ hữu ích cho việc chứng đạo, nhưng làm vậy cũng cho thấy chẳng có ích gì khi muốn chấm dứt những lần trao đổi của ông bằng một câu Kinh Thánh đúng. Sau cùng, ông quyết định phải thành công bằng việc học thuộc lòng Kinh Thánh.
Ông nói: “Nếu tôi có thể học thuộc một câu, tôi sẽ học thuộc thêm một câu nữa, và rồi 10 câu, rồi thậm chí cả trăm câu”. Ông thức dậy sớm vào sáng hôm sau rồi chọn Rôma 10.9-10, đối với ông đây dường như là một phân đoạn khó. Ông bước vào phòng, nhũ thầm rằng: “Ta sẽ làm việc nầy”. Ông đã phấn đấu trong nửa giờ đồng hồ, nhưng sau cùng đã thành công trong việc học thuộc lòng trọn vẹn phân đoạn ấy. Sáng hôm sau, ông ôn lại cho chắc mấy câu đó trong trí mình, rồi học thuộc thêm một câu mới. Ông cứ ôn đi ôn lại các phân đoạn được chọn rồi thêm các phân đoạn mới, cho tới chừng mặt trời lặn. Một ngày kia ông có thể lặp đi lặp lại cả trăm câu Kinh Thánh mà chẳng cần nhìn vào quyển Kinh Thánh của mình nữa. Đến gần cuối đời mình, ông đã học thuộc hơn 20.000 câu, và ông có thể nói rõ số câu số chương mà không cần tới quyển Kinh Thánh. Không có gì phải ngạc nhiên khi thấy đời sống Cơ đốc của ông là một đời sống đầy dẫy vui mừng, tâm trí ông đầy dẫy sự khôn ngoan, và mọi nỗ lực chứng đạo của ông đầy dẫy sự thành công.
“Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (Rôma 10.9).
15 Tháng 10
LÀM VINH HIỂN CHỨC VỤ MÌNH
Mặc dù không được đào tạo chính quy về mặt thần học. B. H. Carroll đã trở thành một nhà lãnh đạo Báptít đầy năng lực, ông đã giúp dựng nên Thần Học Viện Báptít Nam Phương – thần học viện lớn nhất của thế giới ngày nay – vào năm 1910.
Một trong các bài giảng đầy năng quyền nhất của Carroll đã được giảng từ Rôma 11.13 cho các vị Mục sư Báptít ở Belton, Texas vào năm 1982. Ông đã nói tới sự kêu gọi cao cả về việc rao giảng Ngôi Lời, dù ở các toà giảng lớn hay nhỏ. Ông nói: “Chỉ nghĩ tới tầm quan trọng của công việc ấy. Khi chúng tôi đứng lên rao giảng, chúng tôi thường chú trọng vào ba lĩnh vực – con người, thiên sứ và ma quỉ. Những lợi ích có tính cách đời đời xoay quanh bài giảng”. Ông tiếp tục nói rằng từng câu trong bài giảng hoặc là: “viên đạn bắn ra gây chết chóc hay là sứ điệp mang sự cứu ra khỏi bản án tử hình”.
Sau khi chăm chú lắng nghe, Tấn sĩ S. P. Brooks là người đã từng cưu giận cả đời về việc lớn lên trong gia đình của một Mục sư ở vùng nông thôn, là con trai của một vị Mục sư lúc nào cũng thấy phải chịu đựng, phải làm việc khó nhọc. “Cả đời tôi tức tối vì những việc nặng nhọc dính liền với cuộc sống của cha tôi, là một nhà truyền đạo ở vùng nông thôn, đã lao động ở nông trại và trong phòng học cho một cuộc sống trong khi ông đã dâng đời sống mình vì tha nhân. Tôi lớn lên trong sự loạn nghịch vì thấy mẹ tôi, một người đờn bà có học đã chịu đựng mọi sự nặng nhọc của vị Mục sư vùng nông thôn. Thế rồi bài giảng của Mục sư Carroll đã đến. Ông đã nói bằng những từ ngữ khiến tôi bắt đầu nhìn thấy ý nghĩa trong chức vụ Mục sư, tôi từng là khách lạ đối với chức vụ đó.
Tâm linh tôi tan vỡ. Tấm lòng tôi bị nghiền nát, tôi vào giường ngủ đêm hôm ấy với đôi mắt không ngủ được. Tôi kêu la suốt đêm. Tôi không thể hình dung nổi bức tranh mà Mục sư Carrol đã vẽ ra. Trời lại sáng. Cùng với buổi sớm mai đó, một niềm vui mừng trước đây tôi chưa hề biết tới. Tôi rất vui sướng vì cha tôi là một nhà truyền đạo”.
Tấm lòng của Brooks đã được chữa lành, rồi từ ngày đó trở đi ông đã mang trong lòng mình niềm tự hào về cha mẹ mình – và một sự cảm tạ đối với Đức Chúa Trời vì sự dạy dỗ – mà ông hằng luôn mơ ước.
“Tôi nói cùng anh em là người ngoại; bấy lâu tôi làm sứ đồ cho dân ngoại, tôi làm vinh hiển chức vụ mình” (Rôma 11.13).
16 Tháng 10
TẦNG THỨ MƯỜI
Một ngày Chúa nhật kia, Corrie ten Boom 80 tuổi đã giảng từ sách Rôma, bà giục giã khán thính giả của mình dâng thân thể họ cho Đấng Christ làm của lễ sống và thánh. Sau khi tan lễ, có hai nữ hộ sinh trẻ tuổi đến mời bà dùng bữa trưa tại căn hộ của họ, và Corrie cùng đi với họ – thì mới khám phá ra họ sinh sống trên tầng thứ mười, và chẳng có một thang máy nào hết.
Bà không nghĩ là bà có thể leo lên các nấc thang, nhưng khi hai nữ hộ sinh kia sốt sắng mong bà đến thăm viếng, nên bà mới quyết định đi thử xem. Đến tầng năm, tim của Corrie đập thình thịch, bà thở hắt hơi, hai chân của bà muốn quỵ xuống. Bà ngồi sụp trên chiếc ghế đặt ở đầu cầu thang, lòng thầm nghĩ mình không còn bước nỗi nữa, và bà cay đắng than phiền với Chúa. Ngước mắt nhìn lên, các bậc thang dường như bắc lên tận vô cực vậy, và Corrie lấy làm lạ không biết bà có ngã chết trên đường đi hay không nữa!?! Bà nghĩ: “Có lẽ ta sẽ lìa đất mà lên trời quá”.
Nhưng Chúa dường như thầm thì có một phước hạnh đặc biệt chờ đợi bà trên tầng thứ mười, vì vậy bà dạn dĩ tiến bước, một nữ hộ sinh đi trước và người kia theo phía sau bà.
Sau cùng khi đến với căn hộ, Corrie thấy bố mẹ của một trong hai cô gái nầy đang có mặt ở đó. Không bao lâu bà khám phá ra bố mẹ họ không phải là Cơ đốc nhân, nhưng cả hai đều sốt sắng lắng nghe Tin lành. Mở quyển Kinh Thánh ra, Corrie cẩn thận giải thích chương trình cứu rỗi. Bà nói: “Tôi đã đi đó đi đây hơn 60 nước rồi và chưa hề thấy có ai nói họ lấy làm tiếc khi dâng lòng mình cho Chúa Jêsus. Hai ông bà cũng sẽ chẳng lấy làm tiếc đâu!”
Ngày ấy cả hai người cầu nguyện mời Đấng Christ ngự vào đời sống họ.
Kh bà đi xuống cầu thang, Corrie nói: “Cảm tạ Chúa, vì khiến cho con đi lên các nấc thang nầy. Và lần tới, lạy Chúa, xin giúp cho Corrie ten Boom lắng nghe bài giảng của chính mình về việc bằng lòng đi bất cứ đâu Ngài bảo con phải đi – thậm chí đi lên mười nấc thang lầu”.
“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rôma 12.1).
17 Tháng 10
LỚN TIẾNG VÀ RÕ RÀNG
Khi cậu bé có cặp mắt to, lúc nào cũng thấy kinh hãi ở xứ Phi luật Tân trong Đệ II Thế Chiến. Fred Magbanua lấy làm lạ không biết có hy vọng gì ở bên kia sự chết không!?! Sau chiến tranh, cậu bắt đầu nghe Đài Phát Thanh Cận Đông (FEBC) và tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình. Về sau cậu trở thành một kỹ sư dân sự và cảm thấy mình nên đem tài năng sử dụng chỉ cho Chúa, cậu bắt đầu làm việc cho FEBC.
Ngày kia cậu nhận được một bức thư hiến cho cậu một công việc thuộc ngành kỹ sư nhiều lợi lộc ở New York. Ngay lập tức cậu thấy cuốn hút với tiền bạc, còn vợ cậu thì bối rối lắm. Há cậu chưa dâng mình duy nhất cho công việc của Đấng Christ sao? Nhưng bất chấp sự bất an của vợ mình, Fred bắt đầu mơ tới nước Mỹ.
Đêm hôm ấy, chương trình của FEBC phát thanh từ Rôma 12.1-2. Cậu ghi lại chương trình phát, rồi rời khỏi phòng thu âm. Bên ngoài toà nhà, cậu nhìn thấy một ánh chớp xẹt ngang đỉnh cột ăng ten trên cao rồi quyết định thay đổi ý định ngay lập tức. Cậu ấn công tắc, không biết rằng điện cao thế không tiếp lấy mặt đất, và cậu trèo lên đỉnh tháp cao 300 foot.
Thình lình điện trường dòng tần số phát thanh mạnh tới 10.000 watts bắt lấy rồi khởi thiêu sống cậu. Khi cậu lắc lư cần cổ, quặn đau, trong bóng đêm tối thui như thế, cậu bị sốc khi nghe thấy giọng nói của mình: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh…”. Chương trình riêng của cậu tan biến theo cột ăng ten, và cái đầu của cậu bị dòng điện phát thanh kia khoá chặt lấy, như một nguồn dẫn điện vậy.
Fred mất ý thức và thân thể cậu ngã xuống đất. Thật lạ lùng thay, cậu chỉ rơi có 8 feet thì chụp được thanh lan can. Khi ấy cầu chì bị đứt đã cứu cậu không bị thiêu cho tới chết. Nhưng một vết bỏng sâu nung qua đầu vào tới hộp sọ của cậu, và những tia X quang cho thấy có một vết đen trong màng óc của cậu. Trong ba tháng điều trị tại bệnh viện, Fred đã chịu một cơn đau khôn tả xiết. Nhưng khi có nhiều Cơ đốc nhân khắp thế giới cầu thay cho, cậu đã hồi phục. Cậu rời bệnh viện quyết định làm của lễ sống và thánh cho Chúa, và phục vụ nhiều năm tháng với FEBC.
Cậu đã nhận lãnh sứ điệp thật lớn tiếng và rõ ràng.
“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rôma 12.1).
18 Tháng 10
HAY NÓI KINH THÁNH
Bắt bớ xảy đến với đủ hình thức kích cỡ, và nó tấn công con người ở mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh; thậm chí ở nước Mỹ – và có lẽ ngay trên đường phố của bạn nữa. Phản ứng của chúng ta đối với tấn công và ngược đãi có thể làm chứng một cách hùng hồn cho những ai đang xem xét Cơ đốc giáo cho chính họ.
Barbara Robidoux bắt suy nghĩ tới một trong những người hàng xóm của mình, một Cơ đốc nhân có tên Michelle, bà đặt tên cho Michelle là “Người hay nói Kinh Thánh”. Michelle đã tỏ ra thái độ sốt sắng vui vẻ đến nỗi vui lây cả đường phố. Mỗi mùa hè trong lớp Thánh Kinh hè, cô trổ tài lãnh đạo bầy trẻ nhỏ và dấn thân vào các sinh hoạt với chúng trong nhà thờ, đem lại sự yên tâm cho các bậc phụ huynh và các bà nội trợ, là những người khó quản lý được con cái của họ trong suốt mùa hè.
Barbara xét nét Michelle theo cách phê phán, tìm kiếm những chỗ hở, tìm cách khám phá ra các yếu điểm của Michelle. Thay vì thế, những gì bà tìm thấy chỉ là thương xót, tử tế, khiêm nhường, dịu dàng, và kiên nhẫn.
Rồi một buổi trưa kia, con trai của Michelle bị một lũ nhóc lối xóm hay bắt nạt tấn công. Nó chạy a vào cửa, hai hàng nước mắt, nhiều cục đá liệng theo xối xả, kèm theo là nhiều lời chế giễu: “Giêxu quái đản! Giêxu quái đản”. Barbara quan sát khi Michelle bình tĩnh yên ủi con mình, và khi cô cầu thay cho linh hồn của lũ trẻ kia. Khi Barbara hỏi làm sao cô có thể giữ bình tĩnh được như thế, Michelle đáp: ”Tôi giận không nói được, nhưng Rôma 12.14 dạy chúng tôi: “Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em; hãy chúc phước, chớ nguyền rủa”.
Sự việc ấy đã làm cho Barbara bị ám ảnh trong nhiều ngày, và khi thời gian trôi qua, bà đến hỏi Michelle về niềm tin của cô, và lắng nghe chăm chú những câu trả lời của Michelle.
Barbara nói: “Tôi không biết có đứa trẻ nào đã tìm gặp Đấng Christ vào mùa hè đó vì cái chạm của Michelle hay không, nhưng tôi biết tôi đã gặp rồi, tôi đã gặp Ngài vì một gia đình đã sống theo Kinh Thánh mỗi ngày”.
“Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em; hãy chúc phước, chớ nguyền rủa” (Rôma 12.14).
19 Tháng 10
HÃY CẦM LẤY MÀ ĐỌC
Có giọng nói: “Hãy cầm lấy mà đọc”. Ông đã làm theo; ông tìm được một câu trong sách Rôma; và câu Kinh Thánh ấy đã làm thay đổi cả đời sống và mọi sự tới sau trong lịch sử Cơ đốc.
Ông là thánh Augustine ở Hippo, ra đời vào năm 354 SC ở Bắc Phi, có một người cha theo dị giáo và người mẹ rất tin kính. Partricius, người cha được mô tả là một người “có tính khí nóng nảy và nhiều thói tật ăn chơi phóng đảng”, và Augustine đã bước thẳng theo con đường ấy. Chàng thanh niên lúc nào cũng quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ. Ông thưởng thức cuộc sống với mọi thói hư tật xấu của nó, và mẹ ông, những lời cảnh tỉnh của Monica chống lại sự thông dâm và tà giáo đã rơi trên hai lỗ tai đã bị điếc. Chớm ở tuổi trưởng thành, ông đã làm cha một đứa bé, bám vào sự thờ lạy hình tượng, rồi trở thành một giáo sư dạy môn hùng biện và triết học.
Nhiều năm tháng trôi qua, Monica mẹ của Augustine không hề ngừng cầu nguyện cho đứa con lầm đường lạc lối của bà. Có ít người bị ảnh hưởng bởi những lời cầu nguyện của một người mẹ. Bà đã bám theo ông qua Biển Địa Trung Hải, cầu thay cho ông và nài xin ông dâng đời sống mình cho Đấng Christ. Bà theo sát gót chân ông như một người thợ săn của thiên đàng vậy. Ở Milan, bà đã nài khuyên ông nên nghe theo Giám mục Ambrose, rồi từ từ đứa con hoang đàng bắt dầu suy gẫm về Cơ đốc giáo. Một ngày kia khi Augustine ngồi trong vườn của một người bạn, ông nghe thấy tiếng đứa trẻ hát: “Hãy cầm lấy mà đọc”.
“Nén lại dòng lệ, tôi đứng dậy, quyết định rằng tôi sẽ mở quyển Kinh Thánh ra rồi đọc chương đầu tiên mà tôi gặp. Tôi cầm lấy Kinh Thánh, mở ra và lập tức yên lặng đọc phân đoạn mà mắt tôi vừa đập vào: “… Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét. Nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó”. Ngay khi đến cuối câu Kinh Thánh đó, như thể có một luồng sáng nhập vào tấm lòng tôi, mọi sự tối tăm nghi ngờ của tôi bèn biến đi đâu mất”.
Augustine mau chóng thuật lại cho người mẹ quá đỗi vui mừng của mình nghe về sự biến đổi ấy. Monica không bao lâu sau đó đã qua đời trong sự thoả lòng, những lời cầu nguyện của bà đã được nhậm, công việc của bà đã lo xong. Còn người con trai nổi tiếng của bà tiếp tục trở thành một trong các học giả lỗi lạc nhất trong lịch sử Hội thánh.
“Nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Rôma 13.14).
20 Tháng 10
ĐẾN VỚI KẺ GIẾT ANH MÌNH
Giữa vòng những nhà tuận đạo ai cũng biết trong thế kỷ thứ 20 là 5 vị giáo sĩ trẻ tuổi bị bộ tộc Aucas đâm bằng giáo cho tới chết vào năm 1956 trong ngục tù của người Ecuador – Jim Elliot, Nate Saint, Pete Fleming, Ed McCulley, và Roger Youderian. Mấy người nầy đã bay sang lãnh thổ Auca rồi thiết lập một căn trại trên bờ cát của dòng sông Curaray, hy vọng thực hiện một cuộc tiếp xúc với bộ tộc dã man nầy.
Rachel, chị của Nate Saint đã hầu việc Chúa với Hội dịch thuật Kinh Thánh Wycliffe ở Peru. Khi em của cô đến tại Ecuador, cô cũng cưu mang một gánh nặng đối với bộ tộc Aucas và sau đó một thời gian ngắn, nhiều cánh cửa mở ra cho Wycliffe hoạt động tại Ecuador. Đến tháng hai năm 1955, Rachel đến một căn cứ gần lãnh thổ Auca rồi bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ.
Rachel đã ra khỏi Ecuador vào năm 1956 khi các tin tức không hay cho biết em cô đã bị giết chết. Khi cô lo suy gẫm Kinh Thánh, Chúa đã gây ấn tượng nơi cô bằng những lời lẽ của sứ đồ Phaolô trong Rôma 15.21, và cô cảm thấy như chúng được viết ra là để riêng cho cô vậy: “Những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài”. Cô cảm thấy Đức Chúa Trời kêu gọi cô đến gánh vác công việc và đưa người Auca đến với Đấng Christ.
Vào cuối thập niên 1950, sau nhiều năm tháng cầu nguyện và chuẩn bị, Rachel Saint và Elisabeth Elliot mạo hiểm vào lãnh thổ Auca và sống giữa những làng mạc, học biết cung cách sống của họ và hoàn tất việc nắm bắt ngôn ngữ. (Sự việc về sau cho thấy rằng bộ tộc Aucas đã chấp nhận sự có mặt của họ vì sự tò mò và lấy làm lạ không biết tại sao có 5 thanh niên không vũ trang và chẳng tìm cách bảo vệ bản thân mình). Hảng thu băng Gospel Recording đã gửi các băng tin lành đến Auca, và hội dịch thuật Wycliffe đã hoạt động ráo riết lo dịch sách Tin Lành Mác. Bộ tộc Aucas dựng lên một phi đạo cho máy bay, và các phi công của hội truyền giáo Missionary Aviation Fellowship bắt đầu chạm mặt đất ở đó.
Không lâu sau đó người sắc tộc Auca đã đến với Đấng Christ – giữa vòng họ có những kẻ đã giết chết các vị giáo sĩ. Một trong những kẻ giết người nầy là Kimo đã trở thành Mục sư của bộ tộc, và chính ông đã làm phép báptêm cho Steve và Kathy Saint, hai đứa con của người mà ông và đồng bào ông đã đâm chết bằng ngọn giáo.
“Những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài” (Rôma 15.21).
21 Tháng 10
QUYẾT ĐỊNH CỦA TÔI
Từ thời của Thánh Luca, một số các nhà truyền đạo lỗi lạc nhất của lịch sử đã được đào tạo trong vai trò bác sĩ y khoa. Một trong những người tôi ưa thích nhất là Martyn Lloyd-Jones, ra đời và lớn lên ở xứ Wales, ông dời sang Luân Đôn vào năm 1914 ở tuổi 14. Ông được nhận vào bệnh viện Thánh Bartholomew khi còn là sinh viên y khoa, tốt nghiệp vào năm 1921. nhưng khi ông xử lý với các nhu cần về phần xác của người ta, ông càng nhận thức rõ nhu cần thuộc linh của họ, và ông cảm nhận được một sự kêu gọi da diết phải bước vào chức vụ giảng đạo. I Côrinhtô 2.2 nung nấu con tim ông: “Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”.
Đến năm 1927, ông bắt đầu giảng đạo ở Wales, xứ sở của ông. Bài giảng đầu tiên của ông là từ I Côrinhtô 2.2. Mười năm sau, ông dời sang Thánh đường Westminster ở Luân Đôn làm phụ tá cho G. Campbell Morgan. Khi Morgan về hưu năm 1943, Lloyd-Jones làm chủ tọa ở đó trong 30 năm trời, ông đã giảng “Đức Chúa Jêsus Christ và Ngài bị đóng đinh trên cây thập tự”, mổ xẻ và phân tích Kinh Thánh tỉ mỉ với độ chính xác của con dao mổ của nhà giải phẩu.
Vào ngày 6 tháng 2 năm 1977, ông trở về lại Hội thánh trước kia ở xứ Wales để dự lễ kỷ niệm lần thứ 15 chức vụ của ông. Sau khi tuyên bố câu gốc I Côrinhtô 2.2, ông nói: “Tối nay tôi có một số lý do kêu gọi quý vị lưu ý đến câu nói đặc biệt nầy. Một lý do trong số đó – và tôi nghĩ quý vị sẽ tha thứ cho tôi vì lý do ấy – đấy là câu gốc mà tôi hay giảng luôn, vào tối Chủ nhật đầu tiên tôi tới viếng nhà thờ nầy. Tôi kêu gọi sự chú ý tới câu Kinh Thánh đó không những vì lý do ấy, mà đúng hơn vì câu Kinh Thánh đó vẫn còn là quyết định của tôi.
Hỡi các bạn yêu dấu của tôi ơi, chúng ta đang sống trong sự chết ở giữa cuộc đời nầy. Đây không phải là thần học; điều nầy rất cá nhân, điều nầy rất thực tế. Quí vị đang sống như thế nào? Quí vị có thoả lòng không? Quí vị đối diện với tương lai ra sao? Có hoảng sợ không? Có kinh khủng không? Quí vị sẽ có gì khi sự cuối cùng đến? Quí vị sẽ chẳng có chi hết, nếu quí vị chưa nhìn biết Đức Chúa Jêsus Christ và Ngài đã bị đóng đinh trên cây thập tự”
Khi Lloyd-Jones qua đời bốn năm sau đó, những lời lẽ nầy đã được khắc trên bia mộ của ông: “Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”.
“Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (I Côrinhtô 2.2).
22 Tháng 10
KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT
Lẽ thật trong I Côrinhtô 2.14 đôi khi được minh họa bởi một câu chuyện kể về hai nhà quý tộc người Anh. William Wilberforce – cấp lãnh đạo trong phong trào bỏ đi tình trạng nô lệ, và William Pitt – Thủ tướng đương kim. Cả hai đều là hạng người ưu tú, cả hai đều là chính trị gia, và họ là đôi bạn rất thân. Thế nhưng Wilberforce là một Cơ đốc nhân, trong khi Pitt, dù là người hay đi nhà thờ song chưa thực được biến đổi.
Wilberforce nầy là người có lòng quan tâm, và ông hay khuyên Pitt cùng đi với ông đến nghe nhà truyền đạo nổi tiếng Richard Cecil giảng, ông hiện đang giảng tại Luân Đôn. Wilberforce thấy cảm động, và buổi tối hôm ấy Cecil đã giảng thật hết lòng. Vị truyền đạo đã giảng Tin Lành với tài hùng biện, sứ điệp của ông trong sáng như pha lê, giọng nói của ông vang đến tận từng góc sảnh đường. Wilberforce được cất cao lên các từng trời, không thể kìm hãm được mình; nhưng ông lấy làm lạ không biết Pitt bạn ông có đáp ứng hay không!?!
Không bao lâu sau đó ông đã nhận ra. Khi họ rời nhà thờ, Pitt xây lại nói: “Wilberforce ơi, bạn biết không, tôi không có một ý niệm gì, dù nhỏ nhất về mọi điều mà ông truyền đạo kia nói”.
William Wilberforce nhận biết ngay người có tính xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự đồ dại. Sứ điệp đã mang ông lên tới các từng trời, lại lách qua người bạn chưa được cứu của mình. Sứ điệp vô nghĩa đối với ông ta, vì Pitt không có khả năng phân biệt đối với sự thuộc linh. Richard Cecil có sức mạnh đủ dể giảng cho một người điếc.
Chỉ có Thánh Linh của Đức Chúa Trời mới có thể mở lòng của một người ra cho lẽ thật của Đức Chúa Trời. Có lẽ đấy là lý do tại sao Phaolô cầu xin Chúa ban cho độc giả ông “thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em, để nhận biết Ngài, lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao, và biết quyền vô hạn của Ngài, đối với chúng ta có lòng tin, là lớn dường nào…” (Êphêsô 1.17-19).
“Vả, người có tánh xác thị không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng” (I Côrinhtô 2.14).
23 Tháng 10
TẢNG ĐÁ KHỐI
Một câu thơ trong I Côrinhtô cung ứng nền tảng cho một bài thánh ca đã làm rung động nhiều Hội thánh hơn 150 năm qua:
Hồn tôi chỉ quyết neo luôn
Trong nơi công nghĩa với huyết Jesus mà thôi
Thật tôi không dám ỷ sở năng tôi,
Duy đứng vững chắc trên Jesus thôi
Nương trên Jesus như tảng đá khối,
Các chỗ đứng khác dường cát lún thôi
Thật bao nơi kia giống như sa bồi
Trước tiên bài thánh ca xuất hiện trong hình thức mảnh giấy rời ở giữa thập niên 1830, rồi nó được in trong quyển ca thánh do Edward Mote đặt đề tựa là: “Nền tảng bất biến cho sự trông cậy của tội nhân”. Bài hát nầy rất được ưa chuộng, và khi tìm hiểu về tác giả của nó, người ta cảm thấy sôi nổi ngay, Mote đã xưng nhận đấy là bài của riêng mình. Ông nói bài hát đã đến với ông trên con đường ông đến sở làm.
“Tôi bắt đầu suy gẫm về kinh nghiệm đầy ơn của một Cơ đốc nhân. Không bao lâu sau đó khổ thơ và phần xướng âm hiện đến trong lý trí tôi. Đến Chúa nhật kế đó, khi tôi đến dự nhóm tại đường Lisle, anh King mời tôi vào nhà tìm cách khích lệ người vợ có chứng bịnh hay chỉ trích. Tôi đã dùng trà sớm trong ngày đó; rồi tôi đến nhà của King. Anh King nói: “Tôi luôn hát một bài thánh ca, đọc Kinh Thánh, và cầu nguyện. Mong ông hiệp với tôi chứ?” Anh ta tìm, nhưng không thấy quyển thánh ca đâu hết. Tôi bèn nói: “Tôi có mấy câu trong túi đây, anh King ạ! Nếu anh thích, chúng ta sẽ cùng hát chúng”. Tấm lòng của chị King đã đáp ứng lại với bài hát ấy, và anh King yêu cầu tôi cho phép để lại cho bà vợ.
Trở về nhà, tôi ngồi bên lò sưởi đăm chiêu về phản ứng của chị King đối với bài thánh ca; và không bao lâu toàn bộ bài hát hiện ra rõ ràng trong lý trí tôi. Tôi ghi lại mấy lời ấy trên giấy, làm một bản mới cho chị King. Về sau tư tưởng thoạt đến với tôi rằng mấy câu nầy đã làm thoả mãn mọi nhu cần của người đờn bà đã về chiều, có lẽ chúng sẽ còn giúp được cho nhiều người khác nữa. Vì vậy tôi đã in thành cả ngàn tờ truyền đạo đơn rồi đem mà phân phát”.
“Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ” (I Côrinhtô 3.11).
24 Tháng 10
TIA CHỚP LÀM QUÁNG MẮT
Khi Anny Carmichael qua đời năm 1951, bà đã để lại một di sản hiện vẫn còn chạm đến thế giới. Anny đã phục vụ trong vai trò giáo sĩ ở Ấn độ trong Hội thánh Anh quốc. Công việc đặc biệt của bà là lo phục hồi những cô gái từng bị coi là có đời sống làm nô lệ và xấu hổ trong các đền thờ Hindu, và lo thiết lập nơi cư trú cho trẻ em ở miền Nam Ấn độ, và là một tác giả của nhiều sách báo tin kính.
Toàn bộ chức vụ của bà xuất phát từ một sự cố xảy ra cho bà khi còn là một đứa trẻ lớn lên trên đường phố Belfast. Vào một sáng Chúa nhật không khí ẩm thấp, bà từ nhà thờ cùng với gia đình đi về nhà. Họ gặp một bà cụ lưng khòm cúp xuống run rẩy dưới cái bao nặng đè trên lưng. Lòng thương xót dậy lên, Anny và các anh chị em của mình đến phụ giúp bà cụ khốn khổ nầy. Một người lo đỡ cái bao nặng trong khi những người khác nắm lấy bàn tay bà cụ rồi khởi sự giúp cho bà ngồi xuống.
“Sự việc nầy khiến cho nhiều người đáng kính nhìn thấy, giống như chúng tôi, họ đang trên đường trở về nhà. Giây phút ấy thật là khó chịu. Chúng tôi chỉ có hai đứa con trai và một đứa con gái mà thôi, và cả thảy đều không tâng bốc Cơ đốc nhân đâu! Chúng tôi ghét việc tâng bốc đó. Tất cả đều thấy thẹn thùng (ít nhất là chúng tôi đã cảm thấy thẹn thùng), chúng tôi đi một quãng đường, một cơn gió ẩm thổi ngang qua chúng tôi, và cũng thổi vào bộ quần áo rách mướp của bà cụ khốn khổ đó. Nhưng khi chúng tôi đi ngang qua một ống nước phông tên, câu Kinh Thánh nầy thình lình loé lên khi bầu trời nhỏ xuống những giọt mưa phùn: “Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy, thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra. Ví bằng công việc của ai xây trên nền ấy được còn lại…”.
“Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại…” – “Tôi tìm xem tiếng nói ấy đến với tôi từ đâu. Vòi nước phông tên, con đường lầy lội, những kẻ qua lại với bộ mặt học thức lắm kinh ngạc kia của họ., tôi nom thấy hết mọi sự nầy, nhưng chẳng thấy được gì hết. Tia chớp làm quáng mắt loé lên rồi đi mất. Tôi chẳng nói gì với ai, nhưng tôi biết rõ ràng có điều chi đó đã xảy ra, nó làm thay đổi các giá trị của cuộc sống. Chẳng có gì là quan trọng hết, trừ việc có tính cách đời đời”.
“… Lửa sẽ chỉ ra” (I Côrinhtô 3.13).
25 Tháng 10
LƯỠI DAO CẠO VÀ THANH GƯƠM
Eli Fangidae – thương gia người Indonesia vốn có tánh cờ bạc. Đây là một căn bệnh trầm kha đã khiến cho ông ta ngày càng suy sụp thêm. Sau cùng, khi thua bạc lớn, ông quyết định tự tử. Vào ngày 12 tháng Chạp năm 1971, ông đã tự treo cổ mình trong phòng ngủ.
Người em rễ của ông tìm thấy ông đang treo trên sợi dây, liền cắt dây, và Eli rơi uỵch xuống sàn nhà rồi bắt đầu thở lại. Sau khi hồi phục, ông đã mắng nhiếc gia đình và cấm họ không được can thiệp vào các chương trình tự tử của ông. Họ tìm một viên cảnh sát, và Eli bị đặt trong vòng kiểm sát chặt chẽ.
Viên cảnh sát lột đồ đạc của Eli, và bất cứ thứ chi có thể dùng để tự tử, nhưng họ lại quên một lưỡi dao cạo râu nhỏ mà ông đã giấu gần toilet. Đêm hôm ấy khi các vị cảnh sát đều đã ra về rồi, Eli lấy lưỡi dao cạo ra, ngồi bên cạnh bàn, và xoắn cổ tay áo bên trái lên. Các đường gân hiện lên rất rõ, với sự nóng nảy bực dọc, Eli cầm lấy lưỡi dao bằng bàn tay mặt tập trung vào.
Thình lình ông chú ý tới một quyển sách nhỏ đặt trên bàn, quyển Tân ước Gideon. Với sự tò mò, ông mở quyển sách ra và mắt ông đập vào hàng chữ: “Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Ví có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ”.
“Làm sao trang giấy ấy lại mở ra ngay phút tôi sắp sửa tự tử chứ? Chẳng có làm dấu riêng gì ở đây, mấy câu ấy cũng chẳng có gạch dưới nữa. Khi tôi suy nghĩ tới mấy câu Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời vừa ban cho đó, tôi không còn kềm chế được nữa. Tôi quỳ gối xuống và gào lên: “Lạy Chúa, xin tha thứ cho con. Xin thương xót con”. Tôi cứ lặp đi lặp lại mấy lời nầy nhiều lần cho tới chừng viên cảnh sát làm nhiệm vụ mời một Mục sư đến để cầu thay cho tôi. Hôm ấy là ngày 15 tháng Chạp năm 1971, và tôi không còn sống như thế nữa”.
Năm sau, Eli đã nhập học trường Kinh Thánh Batu ở Malang, Đông Java, rồi sau đó đã trở thành Mục sư của Hội thánh Tin lành Timor ở Kupang, Timor, Indonesia.
“Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trờiở trong anh em sao? Ví có ai phá huỷ đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ” (I Côrinhtô 3.16-17).
26 Tháng 10
ĐỜI SỐNG ĐƯỢC DỰNG NÊN MỚI
Nàng cảm thấy quan trọng khi được giới mày râu chú ý. Brooke Ball đã nấu ăn cho họ, lắng nghe từng lời họ nói, mua các thứ quà cho họ, và đi theo họ “giống như một con búp bê được dạy dỗ kỹ lưỡng” vậy. Thế nhưng một loạt các vụ việc và các mối quan hệ tan vỡ đã khiến cho nàng phải thắc mắc: “Tại sao những người tôi yêu mến lại lìa bỏ tôi?”
Ngày nọ, khi nàng đang ngồi trong công viên, lòng nao nao, đang chuẩn bị một gói quà cho một người quen. Khi ấy bạn nàng đến gần, đây là người mà nhiều năm rồi nàng đã không gặp mặt. “Khi chúng tôi trò chuyện, mọi rối rắm của tôi được chị ấy phát hiện. Chị ấy vốn biết rõ Đức Chúa Trời có thể giúp đỡ cho tôi và đề nghị tôi đến dự một buổi học Kinh Thánh tại thành phố gần đó cùng với chị”.
Brooke đến dự buổi nhóm đó, mặc dù với thái độ rất dè dặt. Ấy thế mà sứ điệp đã thấm vào lòng. “Tôi không thể nhớ chính xác từng chữ: Tôi chỉ nhớ giảng viên nói về tình trạng phi đạo đức và sự Đức Chúa Trời không chấp nhận tình trạng đó. “Chớ tự dối mình: phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc… đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu” (I Côrinhtô 6.9-10).
Brooke đã dâng lòng mình cho Đức Chúa Jêsus Christ, và Ngài đã dần dần giúp nàng thay đổi các thói hư tật xấu. “Ngày kia, sau khi tôi đang mặc quần sọt và áo thun loại chữ T, thì có tư tưởng nầy thoạt đến trong lý trí tôi: “Nếu ngươi muốn được đối xử giống như một công nương (là điều tôi rất muốn), thì ngươi nên ăn mặc như một công nương”. Đây là một tư tưởng rất êm dịu mà tôi biết đã đến từ Chúa Jêsus. Hãy tưởng tượng xem Đức Chúa Trời của vũ trụ đang quan tâm đến y phục mà tôi đang mặc!
Thêm vào sự thay đổi cách tôi ăn mặc, Đấng Christ bắt đầu thay đổi mọi ao ước của tôi về giới mày râu. Thay vì muốn đi theo một người đờn ông, tôi lại muốn đi theo Đấng Christ. Thí dụ, với một người đờn ông điển trai ngày nọ, tôi bị cám dỗ tái phạm lại. Tuy nhiên, lần nầy tôi đã nói “không”. Khi tôi đưa ra thêm nhiều sự lựa chọn giống như vậy, một việc khá bất ngờ đã xảy ra: tôi kiếm được sự tự trọng và tin kính. Sống theo đời sống mà Đức Chúa Trời mong muốn đã bảo hộ tôi tránh khỏi bị lợi dụng và bị chối bỏ. Vì cớ tình yêu mà Đấng Christ đã bày tỏ ra cho tôi, tôi đã học biết yêu mến chính bản thân mình”.
“Chớ tự dối mình: phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chưởi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu” (I Côrinhtô 6.9-10).
27 Tháng 10
THEO ẢNH TƯỢNG NGÀI
Bill Borden bắt đầu đi nhà thờ ở Chicago cùng với mẹ mình sau khi bà trở thành một Cơ đốc nhân. Khi cậu được 8 tuổi, bà đã trao cho cậu một câu Kinh Thánh làm quà cho ngày sinh nhật: “anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em…? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời” (I Côrinhtô 6.19-20). Theo hồi ký của cậu, mấy lời ấy đã trở thành nguyên tắc chủ đạo trong đời sống của cậu.
Trong khi học tại đại học đường Yale, Bill – một vận động viên đẹp trai có giá 50 triệu đôla đã cảm nhận được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào công cuộc truyền giáo. Cậu đã dâng sự nghiệp mình cho các lý tưởng Cơ đốc rồi hiệp tác với Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa, hy vọng tiếp cận với những người theo đạo Hồi ở Trung Quốc. Ở Ai cập, lúc trên đường đi, Bill bị nhiễm viêm màng não và qua đời.
Mẹ cậu dến tại Cairo ngay lúc cậu qua đời và gửi sứ điệp nầy về nhà: “Tôi không muốn quí vị nghĩ chúng tôi bị ức chế, vì chúng tôi không bị ức chế đâu. Lòng quan tâm đầy tình thương và sự thương xót của Đức Chúa Trời rất rõ ràng ở từng phương diện; và quả là một sự vui mừng khi có mặt tại chỗ mà William, trong một vài tuần lễ ngắn ngủi đó rất được người ta kính nể và yêu thương.
Mọi sự như một giấc mơ vậy. Chúng tôi đã sống trong những mối ngổn ngang, không biết có nên đến bịnh viện để thăm nó hay không!?! Nó có qua khỏi hay không!?! Song cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng tôi đã đến đấy. Người ta cho chúng tôi biết đừng đến gần giường bệnh, nhưng nên đứng cách một khoảng cho an toàn. Cánh cửa mở ra, và ngay lập tức chúng tôi đã ở trong sự hiện diện của mọi sự dành cho William.
Tôi bị sốc khi thấy sự thay đổi, nhưng Joyce nói: “Mẹ ơi, hãy xem kìa, anh ấy giống hệt như hình ảnh của Đấng Christ vậy!”. Tôi nhìn thật kỹ, và quả thực như tôi đã thấy. Dường như William đã được biến đổi giống như ảnh tượng của Đấng Christ, dù có vẻ đau đớn lắm. Cái nhìn ấy dường như là chúng ta được phép nhìn thẳng vào lẽ mầu nhiệm của sự chịu khổ, người và Trời, và nhìn thấy rằng qua đó Đấng Christ đã ban ra những cái chạm sau cùng vào đời sống của William, phải nói như thế”.
“Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em sao” (I Côrinhtô 6.19).
28 Tháng 10
CON CHÓ SỐNG TRONG ĐỐNG RÁC
Sau khi Frank Graham tự mình đầu phục Đấng Christ, anh rất đỗi ngạc nhiên khi thấy cơn thèm xì gà trong anh mạnh hơn trước rất nhiều. Anh quyết định bỏ hút, song ba ngày sau, anh nhận ra “một cơn thèm dữ dội – thèm kinh khủng – một điếu xì gà. Tôi thèm hút đến nỗi tôi không thèm nghĩ đến một cái gì khác nữa. Cơn thèm ấy càng tăng thêm nhiều với từng phút đồng hồ trôi qua. Suốt cả ngày, cơn thèm một điếu xì gà ngoạm lấy tôi giống như hai hàm răng của một con chó sống trong đống rác vậy”.
Sau cùng anh đã chia sẻ cơn vật vã nầy với người bạn tên là Roy Gustafon. “Roy nầy, tôi muốn bỏ thuốc, nhưng tôi không nghĩ mình có thể bỏ được. Tôi không nghĩ tôi có đủ sức để nói không nữa rồi”.
Roy đáp: “Ồ, anh không bỏ được à?”, anh ngước nhìn lên trần nhà và nối tiếp: “Sao anh không quỳ gối xuống rồi nói với Đức Chúa Trời rằng Ngài là kẻ nói dối?”
“Sao chứ? Tôi không thể làm như thế được đâu!”
Roy trưng dẫn I Côrinhtô 10.13 cho Franklin, rồi đáp: “Anh cần phải gọi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối. Anh đã xưng ra câu Kinh Thánh ấy mà chẳng có hiệu lực chi hết”.
“Tôi sẽ không gọi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối đâu”, Franklin nói: “Hơn nữa, tôi chưa xưng ra câu Kinh Thánh đó”.
Roy nói với giọng như bị sốc vậy: “Anh chưa xưng câu Kinh Thánh đó à! Sao không xưng câu ấy ra!”
Trở về phòng mình, Franklin quỳ gối bên cạnh giường mình rồi cầu nguyện: “Lạy Chúa, suốt ngày hôm nay con thèm một điếu xì gà. Con không muốn hút lại, nhưng con không biết phải làm sao để cơn thèm khát ấy ra khỏi con?”
Mặc dù cơn thèm chưa dứt hẳn, khả năng chống cự của Franklin càng lúc càng tăng lên. Có một lần anh sơ xuất, trên chuyến bay đến Athens ngày hôm sau: “Tôi bật hộp quẹt lên, hít một vài hơi thuốc. Thay vì cảm thấy thoải mái như thường lệ, điếu xì gà đã để lại mùi hôi trong miệng của tôi. Tôi dập tắt điếu thuốc, gói lại, rồi ném nó qua một chiếc ghế trống”.
Đó là lần hút thuốc sau cùng của Franklin.
“Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi để anh em có thể chịu được” (I Côrinhtô 10.13).
29 Tháng 10
HAI CẬU BÉ VÀ CON ONG
Kinh Thánh đã ảnh hưởng nhiều vào tư tưởng trong cuộc đời của M. R. Dehaan – nhà sáng lập chương trình phát thanh Kinh Thánh (The Radio Bible Class). Trong những năm gần đây, Tấn sĩ Dehaan có giữ mấy con ong, và ngày nọ hai đứa con trai của ông là Marv và Richard cùng đi với ông để lấy tổ ong. Một con ong đã tấn công thẳng vào Richard, nó tấn công giống như phi công lái máy bay bổ nhào xuống vậy, chích thẳng vào phía trên mắt của Richard. Cậu bé đập mạnh vào con ong, rồi ngã xuống đất la hét, đá đạp tứ tung, có vẻ đau đớn lắm.
Cũng con ong đó nhắm thẳng vào Marv và bay vù vù quanh đầu của nó. Cậu bé kinh khủng quá cũng vội ngồi xuống đất, lăn lộn và la hét, vùi cái đầu mình trong đám cỏ rồi kêu la cầu cứu.
Tấn sĩ Dehaan vội vã chạy về phía Marv, ẳm nó lên, rồi bảo nó thôi đừng la khóc nữa. Ông nói: “Con ong đó vô hại mà. Nó mất cái nọc rồi”. Rồi cả hai quay sang kiểm tra Richard. Ngay phía trên chân mày, cắm ở đấy là một cái nọc nhỏ màu đen. Dehaan rứt cái nọc ra rồi xem xét vết thương của con mình.
Ông nói với hai đứa con: “Khi con ong để cái nọc lại trên nạn nhân, từ đó trở đi nó không có quyền làm hại con được nữa. Con ong vẫn bay vù vù và làm cho con hoảng sợ, song nó chẳng còn có quyền làm hại nữa. Anh con đã rứt bỏ cái nọc chích vào da thịt rồi”.
Không thể kềm được một bài giảng, Dehaan tiếp tục trưng dẫn I Côrinhtô 15.55: “Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?”
Ông nói: “Chúa Jêsus, người anh cả của chúng ta đã bị treo trên thập tự giá và đã rứt bỏ cái nọc sự chết. Và sự chết, chỉ có một cái nọc, không còn gây hại cho chúng ta nữa. Nó có thể lượn chung quanh và làm cho chúng ta hoảng sợ, nhưng cái nọc của nó không còn nữa”.
Hai cậu bé không bao giờ quên được bài học ấy – mặc dù Richard không bao lâu đó đã học được bài học nầy theo một phương thức khác.
“Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?” (I Côrinhtô 15.55).
30 Tháng 10
BẤT CỨ ĐÂU
Ảnh hưởng Cơ đốc dễ lây lan trong vai trò Giáo sĩ, Mục sư, Hiệu trưởng trường Đại học của ông đã chạm đến hàng ngàn đời sống, và các tác phẩm của ông viết về Đời sống Cơ đốc Đắc thắng đã làm cảm động hơn hàng triệu người. V. Raymond Edman đã để lại dấu ấn sau lưng mình – lan truyền, được xem trọng và nổi bật lên. Ở phần đầu sự nghiệp, Edman gần qua đời vì chứng bệnh nhiệt đới khi làm giáo sĩ tại Ecuador. Sau khi tìm lại được sức lực, ông làm một cuộc hành trình qua Đại Tây Dương vào năm 1928 trên boong chiếc tàu chở hàng của Hà lan, chiếc Boskoop. Ông rất nhớ tới công việc của mình, và thậm chí trong lúc còn yếu không rời khỏi được phòng làm việc, ông đã cố gắng hết sức hoàn thành các tác phẩm mà ông hy vọng trình làng tại Trường Thần Học của người Ecuador. Khi ông tóm tắt sách II Côrinhtô, ông đến với chương 2, và đọc câu: “Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn…”. Ông bắt giật mình. Ông đã đọc câu nầy đến mấy lần, từ từ, khẩn nguyện, từng mệnh đề một. Thình lình ông nhận ra một sự đối chiếu rất hay giữa câu đó với tình trạng của ông. Ở đây ông không có đầy đủ sức khoẻ, tương lai không chắc chắn, đầy lo toan về công tác truyền giáo của mình, chỉ cách cánh cửa sự chết không xa mấy. Còn đối với Phaolô, cuộc sống như đắc thắng luôn! Edman bước lại gần bàn giấy rồi khởi cầu nguyện xin có được một tâm linh đắc thắng. Một cách thầm lặng và mau chóng, dường như Chúa đang thì thầm bên tai của ông: “Nhưng có phải ngươi sẵn lòng đi bất cứ đâu vì Ta chăng?”
Edman chầm chậm đáp với tấm lòng run rẩy: “Dạ, lạy Chúa, bất cứ đâu ở Ecuador. Nguyện Ngài sai phái con”.
“Ta không nói ở Ecuador đâu!”
Trong một lát khá lâu, Edman liếc nhìn qua Đại Tây Dương, ý thức được rằng Chúa đang đứng bên cạnh ông, Ngài đang chờ một câu trả lời. Sau cùng, với lòng thành thật sâu sắc nhất, Edman đáp: “Dạ, lạy Chúa, bất cứ đâu Ngài phán, con sẽ đi, đời sống con luôn luôn bày tỏ ra sự đắc thắng trong Ngài mà thôi”. Ông đứng ở đó rất lâu, suy gẫm về chứng cớ của George Muller, là người từng nhắc tới giây phút khi ông chết đối với bản ngã, với tham vọng, với lời khen ngợi hay tán tụng của con người, chỉ khi ấy ông mới sống cho Đấng Christ. Giờ đây ông cũng lìa bỏ mọi sự – thậm chí cả các mục tiêu truyền giáo của mình – vì cớ Đấng Christ. Kể từ ngày đó, Đức Chúa Trời bắt đầu sử dụng V. Raymond Edman theo một phương thức chưa từng có.
“Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn!” (II Côrinhtô 2.14).
31 Tháng 10
NHÀ TẠM CHÚNG TA DƯỚI ĐẤT
Thomas Jonathan Jackson đã thắng hơn nhiều khó nhọc trong cuộc sống. Bị mồ côi rất sớm, ông đã làm lụng khó nhọc và đã tranh thủ nắm bắt được bất cứ điều chi có ở trường lớp. Qua sự vượt khó, ông đã thi vào trường Võ Bị Mỹ và đã đậu rất cao. Khi phục vụ trong các lực lượng Mỹ đồn trú ở Trung Mỹ, ông bắt đầu nghiên cứu Cơ đốc giáo, đã dâng mình cho Đấng Christ, và đã chịu báptêm lúc được 25 tuổi.
Đến năm 1857, Thiếu Tá Jackson cưới Mary Anna Morrison làm vợ, và ngay lập tức hai vợ chồng trẻ khởi sự dâng phần mười và có giờ gia đình lễ bái nữa. Jackson đã sử dụng giờ ăn trưa của mình cho việc nghiên cứu Kinh Thánh. Hai vợ chồng gia nhập vào Hội thánh Trưởng Lão, Jackson đã khởi sự lớp Trường Chúa Nhật Nergo ở đó. Ông viết: “Cha tôi ở trên trời đã chiếu cố sử dụng tôi làm một công cụ trong việc dấy lên một trường Sabát lớn cho bộ tộc người Nergo. Ngài đã chúc phước nhiều cho bộ tộc ấy”.
Khi Virginia ly khai ra khỏi cộng đồng, Jackson đã đứng một phía với những người miền Nam đồng hương với ông; rồi đến ngày Chúa nhật 21 tháng 4 năm 1861, ông cùng với đồng đội của mình được lịnh sung vào Quân Ly Khai. Không lâu sau đó, Jackson cùng với vợ mình quỳ gối trong phòng ngủ cầu nguyện. Họ mở Kinh Thánh ra và Jackson đọc lớn tiếng lời bảo đảm nầy: “Vả, chúng ta biết rằng nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra”.
Khi đọc xong phân đoạn nầy, ông đứng dậy và ra đi, không bao giờ trở lại nữa.
Jackson đã giữ đời sống tin kính của mình trong đơn vị, và người của ông không bao lâu sau đó học biết rằng khi họ nhìn thấy ông khom mình trên các vầng đá, không phải là ông say rượu đâu! Ông đang cầu nguyện với hai con mắt nhắm lại lúc ông đi bộ. Jackson lái xe giữa các toán quân phân phát chứng đạo đơn và thường dự phần vào việc gây dựng đức tin đang lan khắp đoàn quân Ly Khai.
Đến tháng 5 năm 1863, Tướng Jackson “Bức Tường Đá” ra ngoài dọ thám rồi bị người của ông bắn nhầm.
Ông nói: “Tôi luôn luôn muốn chết vào ngày Chúa nhật” và ông đã được chết y như thế. Nhà tạm dưới đất của ông đã bị phá hủy.
“Vả, chúng ta biết rằng nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra” (II Côrinhtô 5.1).
***

