1 Tháng 1
CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG ĐẮC THẮNG
Sau những năm tháng thi hành chức vụ, Charles Simeon của trường Đại học Cambrige đang nằm trên giường hấp hối. Khi bạn bè ông đến thăm, ông mỉm cười hỏi họ: “Các bạn có biết câu Kinh Thánh nào yên ủi tôi trong lúc này không?”.
Họ đáp: “Không. Xin nói cho chúng tôi biết”.
Ông nói: “Tôi tìm gặp sự yên ủi vô biên trước sự thật ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.
Niềm yên ủi sâu sắc chính là một Đức Chúa Trời vô hạn.
Quyền phép sáng tạo của Đức Chúa Trời không những ban cho chúng ta niềm yên ủi trong lúc sắp qua đời, mà còn là niềm yên ủi hàng ngày nữa. Một đêm kia, vào ngày rằm trăng thật tròn, tôi ngồi ở cổng sau nhà thật lâu, qua ống dòm nhìn xem “vì sáng nhỏ hơn” của Đức Chúa Trời. Tôi phát hiện ra những mép núi chập chùng và nhiều đỉnh núi thật nhọn, rồi tôi tra xét lại sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời khi phác họa ra vũ trụ với những quần thể và thiên thể, nhơn đó ban cho chúng ta nhiều cơ hội không dứt có được những khởi đầu mới.
Trái đất trở thành một quả cầu quay chung quanh trục của nó. Mặt trời có hình tròn cung ứng cho quả đất một quỹ đạo. Kết quả như thế nào? Mỗi 60 giây, chúng ta có một phút mới. Mỗi 60 phút, chúng ta được một giờ mới. Mỗi 24 giờ, chúng ta có một ngày mới. Và cứ mỗi 365 ngày, chúng ta có ngày 1 tháng Giêng mới, một khởi đầu mới.
Đây là lý do tại sao nhà soạn nhạc thánh ca Frances Ridley yêu mến Ngày Đầu Năm và thường biến ngày ấy thành lời chào thăm bạn hữu của bà với những vần thơ thật đặc biệt. Thí dụ, vào ngày đầu năm 1874, Frances 36 tuổi đã cho in bài thơ sau đây vào tấm thiệp chúc mừng được trang trí rất đặc biệt rồi gửi tấm thiệp nầy đi với đề tựa: “Chúc Mừng Năm Mới! Nguyện mọi sự đều được mới luôn”.
Mỗi năm bài hát ấy được hát chỉ có một lần thôi, vì vậy tôi cũng hay dùng bài nầy để hát chúc mừng trong ngày sinh nhật của tôi.
Lạy Chúa, một năm khác đang bắt đầu, nó đang đến
Dù đang làm việc hay đang chờ đợi, một năm khác dành cho Ngài
Một năm khác đang đến, một năm khác cho sự ngợi khen
Một năm khác sẽ minh chứng sự hiện diện của Ngài suốt cả năm
“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng thế ký 1.1)
2 Tháng 1
“CON Ở ĐÂY, MẸ ƠI!”
Hết thảy ba anh em nhà Wesley đã khởi sự cuộc sống một cách kỳ lạ. John đã được cứu ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy, một “khúc củi được rút ra khỏi lửa”. Charles, thai sanh non, bị quấn thật chặt trong mấy tấm tả. Còn Samuel?
Samuel sinh ngày 10 tháng 2 năm 1690 đã làm cho bố mẹ ông lo lắng ngay từ lúc ban đầu do không phát âm được. Khi ông lớn lên, không một sự dụ ngọt nào khiến cho ông nói được, dù chỉ một từ. Bạn bè đều cho rằng ông đã bị câm. Nhưng một ngày kia được năm tuổi, Samuel đang trốn dưới gầm bàn. Mẹ ông, Susanna đã hoảng sợ khi bà không tìm được ông, và điều đó đã thúc giục Samuel nói ra câu đầu tiên: “Mẹ ơi! Con ở đây nè!”
Sau đó, không một điều chi có thể ngăn chặn được ông. Không bao lâu Susanna nhận ra Samuel là một đứa trẻ sớm phát triển. Bà đã dạy cho Samuel đọc các mẫu tự bằng loại bài snap, rồi bà tiến hành dạy cho ông biết đọc. Bà đã chọn sách Sáng thế ký để dạy cho ông.
Bằng cách ráp vần, Samuel đã tự mình đọc hết Sáng thế ký 1.1. Rồi mười câu đầu tiên. Kế đó ông học thuộc lòng cả chương. Kết thúc với câu cuối: “Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu”.
Đó là một nền tảng vững chắc. Samuel trở thành Mục sư, một thi sĩ và là nhà giáo, ông đã có một ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người – kể cả hai người em của mình là Charles và John (mặc dù ông chống đối hệ phái Giám lý của họ).
Nhưng cuộc đời của Samuel lại rất ngắn ngủi. Ông đi ngủ với một sức khoẻ lành mạnh vào ngày 5 tháng 11 năm 1739 ở tuổi 49 chỉ để thức dậy lúc ba giờ sáng. Không may, đến gần bảy giờ, ông đã qua đời. Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông còn sống lâu hơn ông và trên bia mộ của ông là hàng chữ:
Ở đây di hài của Tấn sĩ Mục sư Samuel Wesley, A. M. được mai táng, vì sự thông minh và học vấn hiếm có của ông được nhiều người kính trọng. Một nhà truyền đạo: Nhưng bài giảng hay nhất của ông là tấm gương của một đời sống đem lại sự gây dựng luôn luôn.
“Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu (Sáng thế ký 1.31).
3 Tháng 1
CHLOROFORM (Chất gây mê)
Hãy tưởng tượng khoa giải phẩu trước thời buổi có chất gây mê xem. Các bịnh nhân bị cột bằng những sợi dây da thật chặt trong khi mổ và nhìn thấy con dao cắt qua mô và xương, từng lát mỏng và sự đổi chiều của con dao gây ra đau đớn không sao kể cho xiết.
Một y sĩ Cơ đốc đã quyết định làm một việc gì đó về vấn đề nầy. James Young Simpson (1811-1870) đã hành nghề y khoa tại Scottland. Ông đã trở thành chủ tịch danh dự của Hội đồng y học hoàng gia ở Edinburgh lúc mới chỉ có 24 tuổi, và khi ấy đã nhận lãnh nhiều địa vị danh dự lắm. Ông đã mơ đến việc tìm thấy một phương thức làm cho bịnh nhân ngủ mê trong khi chịu giải phẩu. Vào các buổi sáng Thứ Hai, Simpson hay mời các nhóm nhỏ y bác sĩ đến nhà ông để làm thử nghiệm với các hoá chất, tinh thể cùng những loại bột, gồm các thứ đặt trên lò nung bằng thau trong khi các bác sĩ hít lấy các hơi khói bốc lên. Chẳng một điều gì thành công cho tới ngày 4 tháng 11 năm 1847. Một trong những người ấy đã mua loại tinh thể gọi là cloroform ở Paris. Khi ấy các y bác sĩ ngửi mùi hương xông lên, họ đã ngã xuống sàn nhà bất tỉnh.
Simpson đã có câu trả lời cho mình, nhưng không bao lâu sau đó ông phải đối diện với một nan đề khác. Ông đã bị những Cơ đốc nhân đồng thời công kích, họ cho rằng đau đớn là một phần đã được Đức Chúa Trời ấn định trong cuộc sống. Sự tự do không còn đau đớn nữa chỉ đến từ trời mà thôi, và trái đạo đức khi nghĩ ra những phương thức để lẫn tránh nó khi còn ở trên đất, chúng rất nguy hiểm.
James bèn đến với Kinh Thánh, tìm kiếm những giải đáp. Không bao lâu sau khi ông mở quyển Kinh Thánh ra, ông được câu nầy: “Giêhôva Đức Chúa Trời làm cho Ađam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế nào”. Nghiên cứu cẩn thận câu Kinh Thánh nầy, Simpson liền viết một bài có đề tựa: “Giải đáp cho mọi nhân vật tiến bộ theo tôn giáo chống đối lại việc sử dụng các nhân tố gây mê trong sản khoa và giải phẩu”. Ông đã kết thúc bài viết của mình bằng câu nói: “Chúng tôi dám chắc một cách trọn vẹn rằng vô luận có như thế nào đi nữa trong việc sử dụng thuốc gây mê, chúng tôi sẽ không bị xét đoán trong Lời của Đức Chúa Trời”.
Những kẻ chỉ trích phê bình ông đều im lặng hết, và một ngày mới vừa hé rạng cho ngành y khoa.
“Giêhôva Đức Chúa Trời làm cho Ađam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi đấp thịt thế vào” (Sáng thế ký 2.21)
4 Tháng 1
PHẢN ỨNG DÂY CHUYỀN
Nhà thờ All Souls ở Luân đôn có hình dáng thật kỳ dị, nổi tiếng khắp thế giới nằm trên đường Regent gần đài phát thanh BBC. Vị mục sư khả kính của nhà thờ nầy là Richard Bewes, ông đã tin Chúa khi nghe Sáng thế ký 3.9, câu Kinh Thánh nầy đã được nhà truyền đạo D. L. Moody giảng cách đây lâu lắm rồi.
Vào năm 1882, Moody 45 tuổi đã chỉ đạo một chiến dịch truyền giảng Tin lành khắp nước Anh. Vào buổi tối Thứ Ba ngày 26 tháng 9, ông đã dùng câu Kinh Thánh nầy rao giảng. Về phía khán giả, Tommy Bewes 14 tuổi – đứa con nhỏ nhất trong 12 đứa con của gia đình một vị Mục sư, nó ngồi chú ý nghe thật say sưa. Ba ngày sau, Tommy viết thư cho chị mình là Evie: “Em vết thư kể cho chị nghe những tin tức tốt lành mà chị sẽ vui sướng khi nghe kể lại. Em đã đi dự một trong những buổi nhóm của Sanky và Moody vào ngày Thứ Ba và em đã được cứu ở đó. Ông đã giảng từ câu thứ chín đoạn ba sách Sáng thế ký. Đó là: ‘Ngươi ở đâu?’ Ông nói rằng đấy là câu hỏi đầu tiên mà Đức Chúa Trời từng hỏi con người trong Kinh Thánh, và đấy cũng là câu hỏi đầu tiên mà con người nên tự hỏi mình…”.
Đời sống của Tommy đã được thay đổi hẳn, và về sau ông trở thành một vị Mục sư truyền giáo xuất sắc lắm. Con trai ông – Cecil kế tục ông cũng bước vào chức vụ và đã sử dụng 20 năm trời trong công cuộc truyền giáo ở Kenya trước khi trở về lãnh đạo Hội Truyền Giáo lớn nhất Anh quốc.
Đổi lại, Cecil có bốn người con. Một đã trở thành giáo sĩ bác sĩ phẩu thuật ở Châu Phi. Một người khác là thương gia Cơ đốc ở Luân đôn. Còn người con gái trở nên vợ của một vị Mục sư truyền giáo. Và người thứ tư – Richard Bewes ngày nay là Mục sư Chủ Toạ của Hội thánh All Souls ở Luân đôn.
Hết thảy các vị nầy, có hơn 100 con, cháu, chắt lưu xuất ra từ đời sống của Tommy, hầu hết trong số họ đều có liên quan tới một vài chức vụ trong sự phục vụ Cơ đốc. Richard nói: “Gia đình chúng tôi ngày nay, có một vài thế hệ vẫn còn cảm thấy những tiếng phản hồi vang dội của sứ điệp đơn sơ nầy. Mọi sự vinh hiển đều thuộc về Đức Chúa Trời; danh vọng phải thuộc về Ngài. Và tôi dám chắc đó là phương thức Moody đã có được tiếng tăm ấy!”.
“Giêhôva Đức Chúa Trời kêu Ađam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?” (Sáng thế ký 3.9)
5 Tháng 1
THẤT BẠI Ư?
Dwight L. Moody đã không hình dung nổi dây chuyền được tạo ra bởi bài giảng của ông như đã được mô tả ở bài học ngày hôm qua. Trong đời nầy, những nhân sự Cơ đốc đôi khi nhìn thấy thành công của họ như tan vỡ ra thành từng mảnh vụn. Nhiều nhà truyền đạo như thất vọng hoàn toàn trong thất bại của mình, không nhận biết rằng một lời nói, một câu Kinh Thánh, một bài giảng hay một việc làm, giống như hột giống đã được đem chôn, chắc chắn một ngày kia sẽ tạo ra một mùa gặt to lớn lắm. Thậm chí chính Moody thỉnh thoảng đã chào thua trước sự ngã lòng. Theo con trai của ông là William Moody, có lần ông đã nói:
Một Chúa nhật kia tôi đã rao giảng và dường như chẳng có một kết quả nào hết. Qua ngày Thứ Hai tôi rất ngã lòng. Tôi ngồi thừ trong phòng, suy gẫm lại ý muốn thành công của mình, khi ấy có một thanh niên, người nầy hướng dẫn một lớp học Kinh Thánh đến gọi tôi. Khi anh ta đến, tôi có thể thấy anh ta như đang ở trên một đỉnh núi, còn tôi thì như đang ở dưới thung lũng vậy. Anh ta nói: “Mục sư nghĩ ngày hôm qua thế nào?”
“Rất thảm hại; tôi đã không có một sự thành công nào, và tôi cảm thấy nản lòng hoàn toàn. Còn anh thấy sao?”
“Ồ, rất hay đấy chứ! Tôi chưa bao giờ thấy ngày nào tốt hơn hôm qua”
“Anh muốn nói gì vậy?”
“Tôi vốn có đời sống và bản tánh của Nôê. Mục sư từng giảng về Nôê chưa? Mục sư có nghiên cứu qua đời sống của ông ta không? Mục sư nên làm điều đó ngay bây giờ. Làm thế sẽ giúp cho Mục sư được thoải mái hơn đó”
Khi thanh niên ấy đi ra rồi, tôi mở quyển Kinh Thánh của tôi ra và một số tài liệu khác nữa, rồi đọc hết những gì có liên quan tới Nôê. Tôi chưa đọc được bao nhiêu thì tư tưởng chợt thoáng qua trong tôi: Đây là một con người đã lao động cần cù trong 120 năm và chưa hề làm biến đổi được ai trừ ra gia đình mình. Thế mà ông không ngả lòng”.
Moody nói tiếp: “Tôi xếp quyển Kinh Thánh của tôi lại, đám mây đã trôi qua mất rồi; tôi chưa bao giờ treo cây đàn của mình trên nhành liễu tơ rủ kia kể từ ngày hôm ấy”.
“Nôê làm các đều nầy y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn” (Sáng thế ký 6.22)
6 Tháng 1
SÔĐÔM ĐƯỢC BIẾN ĐỔI
Trong khi học luật tại Adams – Nữu ước, Charles Finney có mua một quyển Kinh Thánh, và trong hai hay ba năm đã xem xét cẩn thận sứ điệp của Kinh Thánh. Một buổi sáng mùa thu vào năm 1821, khi đi tới văn phòng làm việc của mình, thình lình ông đổi hướng đi vào khu rừng gần đó rồi mạo hiểm đi sâu vào. Ở đó, giữa những hàng cây nghiêng ngả, ông đã quỳ gối xuống cầu nguyện. Lúc đầu ông lấy làm bối rối vì sợ có ai đó nhìn thấy mình. Nhưng sau cùng: “ý thức độc ác sợ hãi có người nhìn thấy mình đang quỳ gối cầu nguyện như vậy không còn nữa, tôi dạn dĩ hơn và kêu la lớn tiếng rằng cho dù hết thảy mọi người trên thế gian và ma quỷ đang đứng chung quanh tôi đi nữa, tôi sẽ không rời khỏi chỗ ấy”.
Finney cứ cầu nguyện cho tới khi sự bình an của Đấng Christ đầy dẫy tấm lòng ông.
Trong những ngày tháng nối theo sau, hầu hết mọi người Finney gặp gỡ đều bị tác động mạnh với sự thuyết phục về tội lỗi và đã trở lại đạo. Một cơn phấn hưng quét qua vùng Adams, và không bao lâu Finney đã thấy rõ mình đang sửa soạn cho chức vụ.
Một trong những bài giảng khác thường nhất của tôi đôi khi đã được giảng trong một ngôi làng gần Evans Mills – Nữu ước. Trong buổi thờ phượng, Finney là người đã soạn các bài giảng của mình ngày càng khá hơn đã cầu xin Đức Chúa Trời ban cho ông một câu gốc. Thình lình ông nhớ lại câu chuyện nói về thành Sôđôm – thành của Lót. Sáng thế ký 19.14 gợi lại trong trí: “Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Đức Giêhôva sẽ hủy diệt thành”.
Trong bài giảng, Finney đã phác họa ra tình trạng của thành Sôđôm trước khi Đức Chúa Trời hủy diệt nó. “Tôi không giảng về sự căng thẳng nầy hơn 15 phút khi một sự trang nghiêm khủng khiếp dường như đang phủ trên họ; hội chúng bắt đầu rời khỏi chỗ ngồi rồi quỳ gối mỗi người theo mỗi hướng khác nhau kêu la cầu xin được thương xót. Nếu tôi có mỗi tay cầm thanh gươm, tôi không thể chém vào họ nhanh như họ đang quỳ gối xuống. Ai có thể nói được, họ đều quỳ gối xuống cầu nguyện”.
Sau đó, Finney hay được rằng ngôi làng mà đã đến giảng, họ đã sinh sống y như thành Sôđôm vậy, và người đã mời ông đến đấy có thể được gọi là Lót.
“Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Đức Giêhôva sẽ hủy diệt thành” (Sáng thế ký 19.14)
7 Tháng 1
NHỮNG DÒNG CHỮ VÀNG
Cô Laura Belle Barnard – còn trẻ, người miền nam và rất đẹp đã làm cho gia đình và bạn bè phải choáng váng khi cô tuyên bố cô sẽ đi Ấn độ với vai trò một giáo sĩ. Thậm chí cả hệ phái của cô, những người Báptít Ý Chí Tự Do đã bị sốc vì họ chẳng có một chương trình truyền giáo nào hết.
Nhưng Laura Belle, đúng như lời nói của mình đã đi Ấn độ, lần nghỉ phép đầu tiên của cô gần thời điểm Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra. Cô rất bối rối về việc ra đi và về những viễn cảnh của cô khi quay trở lại. Nhưng… “Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một lời và đã khẳng định điều đó hai lần. Tôi có đọc từ Kinh Thánh, và buổi sáng hôm đó đặc biệt tôi cầu xin Đức Chúa Trời ban cho tôi sự thông hiểu rõ ràng tôi có nên rời Ấn độ lúc bấy giờ hay không!?! Đây là câu mà tôi đã đọc được trong ngày đó: ‘Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi’ (Sáng thế ký 28.15)”.
Sau đó một thời gian ngắn, một người bạn bất ngờ dùng ngay câu Kinh Thánh ấy thúc giục cô. Rồi một người bạn khác nữa gửi đến cho cô một lá thư ghi ở ngoài bìa như sau: “Hãy mở thư khi bạn ra khỏi bờ biển Ấn độ”. Trên boong tàu, Laura Belle đã mở lá thư ra và đọc được những dòng chữ sau: “Tôi đã xin Chúa ban cho tôi một lời khích lệ dành cho bạn như là một sứ điệp tạm biệt của tôi. Câu Kinh Thánh nầy như tôi đã đọc Kinh Thánh sáng nay, dường như có ý nghĩa dành cho bạn đấy. Tôi trao cho bạn câu Kinh Thánh ấy với lòng tin chắc rằng đó là Lời của Chúa phán với bạn ngay bây giờ”.
Đó là Sáng thế ký 28.15
Chiến tranh đã làm cho chuyến trở lại Ấn độ của Laura Belle Barnard phải trễ tới những năm năm ròng. Thế nhưng cô không hề mất lòng tin cậy vì Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa mà ba lần Ngài đã đưa ra, Ngài quan phòng và đưa cô một lần nữa trở lại với xứ sở nầy.
“Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi” (Sáng thế ký 28.15)
8 Tháng 1
KHÓ CHỊU HAY LẠC QUAN
Có một số nan đề không luôn luôn đến ba lần đâu. Đôi khi chúng đến bốn, năm, hay sáu lần. Hãy nhìn tộc trưởng Giacốp xem. Ông đã lạc mất một người con. Một người con khác bị tố cáo là gián điệp và đã bị bắt bỏ tù. Bây giờ Bêngiamin yêu dấu của ông đang ở trong tầm nguy hiểm. Những vấn nạn của gia đình càng tăng thêm lên, nạn đói đang hoành hành, và cả gia đình đang loạng choạng bên bờ đói kém. Giacốp tuổi đã cao và cảm thấy thất vọng, ông lên tiếng than phiền: “Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!”.
Thái độ của ông thật là dễ hiểu, nhưng ông đã đánh giá thấp sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Ông không biết lẽ thật có trong bài thơ ngắn của Hudson Taylor:
Tôi dám chắc ơn phước của Đức Chúa Trời
là tốt lành cho chúng ta
Và bịnh tật là một thứ chẳng tốt lành gì
Rồi cái gì đúng tưởng chừng là sai hết
Nếu đó là ý muốn kỳ diệu của Ngài.
Trong quyển A Turtle on a Fencepost, Allan Emery thuật lại về thương gia Ken Hansen, ông đến thăm một nhân viên đã vào nằm viện. Bịnh nhân nằm yên lặng, đôi mắt đượm nét lo âu. Ca mổ của ông ta phải mất những tám giờ đồng hồ, và sự hồi phục chắc là lâu lắm và không có gì chắc chắn hết.
Ken bình tĩnh gọi: “Alex, ông biết là tôi đã chịu mấy lần giải phẫu nặng đấy nhé. Tôi biết rõ nỗi đau của việc ráng nói. Tôi nghĩ tôi biết rõ ông sẽ đưa ra những thắc mắc nào. Có hai câu tôi muốn nói với ông – Sáng thế ký 42.36 và Rôma 8.28. Chúng ta có quyền chọn lựa hai thái độ nầy. Chúng ta cần quan điểm của Rôma 8.28”.
Hansen mở hai câu Kinh Thánh ấy ra, rồi đọc chúng, cầu nguyện xong, ông ra về. Còn người kia, Alex Bale nhận lấy sứ điệp vào lòng. Sau đó ông ta đã thưởng thức sự phục hồi thật trọn vẹn.
Mỗi ngày chúng ta chọn một trong hai thái độ nầy giữa những trăn trở của cuộc sống – khó chịu hay lạc quan. Muốn phát biểu giống như Giacốp trong Sáng thế ký 42.36: “Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!”.
Hãy cùng nói với Phaolô trong Rôma 8.28: “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yên mến Đức Chúa Trời…”.
“Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!” (Sáng thế ký 42.36)
9 Tháng 1
GIÚP CHO SỰ NÊN THÁNH
Giacốp vốn chẳng biết Rôma 8.28, nhưng con ông thì biết rõ. Ít nhất, những lời lẽ của Giôsép trong Sáng thế ký 50.20 là bản sao của Rôma 8.28 trong Cựu ước. Và đấy chính là những lời lẽ đã yên ủi Samuel Logan Brengle khi cái đầu ông bị nện bằng một cục gạch.
Brengle, cha ông đã bị giết chết trong cuộc nội chiến, mẹ ông đã nuôi dưỡng ông trong một nông trại của người da đỏ. Dưới sự dạy dỗ của bà, ông đã trở thành một Cơ đốc nhân, rồi sau khi bà qua đời, ông đã bán nông trại đầu tư vào việc ăn học của mình, ông đã sửa soạn cho chức vụ. Brengle vốn có lòng cưu mang đối với hạng người đói khát và vô gia cư, ông đã sang Luân Đôn gia nhập Đội Cứu Thế Quân.
Ở đó Brengle gặp Tướng William Booth – nhà sáng lập Đội, vị tướng nầy nhìn chàng thanh niên trẻ trung người Mỹ nầy rồi nói: “Brengle, tôi không nghĩ là anh sẽ chịu phục kỷ luật của Đội Cứu Thế Quân. Chúng tôi là một Quân Đội, và chúng tôi mong muốn sự vâng lời”.
Anh ta nắm lấy cơ hội, và anh đã xuất sắc về sự khiêm nhường và phục vụ. Rồi một thời gian sau đó ở Boston, cuộc tấn công xảy đến. Anh đang phục vụ trong một khu ổ chuột, và một tên say rượu đã nện một cục gạch vào đầu anh. Cục gạch đó gần giết chết anh ta. Song đang khi hồi phục, Brengle đã đưa trường hợp của mình đăng trên tạp chí của Đội Cứu Thế Quân, bài viết có đề tựa là War Cry. Bài viết của anh được nhiều người thích nên họ tuyển chọn và đem in với đề tựa là Giúp Cho Sự Nên Thánh. Sau đó có nhiều người đến nói cho Brengle biết quyển sách nhỏ của anh có ý nghĩa thật nhiều đối với họ. Đáp ứng của anh luôn bất biến: “Đúng, nếu không có một viên gạch nhỏ, thì sẽ không có một quyển sách nhỏ nào hết!”.
Vợ ông đã giữ lấy viên gạch khó chịu kia, và trên đó bà đã chạm Sáng thế ký 50.20 làm bằng chứng cho họ: “Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi…”.
“Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm đều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người…” (Sáng thế ký 50.20)
10 Tháng 1
BẢNG LƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Samuel Logan Brengle và Billy Sunday có nhiều điểm rất giống nhau. Cả hai đều được những người tin kính nuôi dưỡng ở vùng nông trại miền Trung Tây sau khi cha của họ tử trận trong cuộc Nội Chiến. Cả hai đều trở thành những nhà truyền đạo nổi tiếng, họ làm vinh hiển cho Chúa và cho mẹ của họ. Và cả hai đều rất quen thuộc với các khu nhà ổ chuột. Brengle đã rao giảng ở đó. Còn Sunday thì đã sinh sống ở đó một thời gian.
Billy Sunday lúc ban đầu đã nổi tiếng là một cầu thủ cho đội Chicago White Sox, nhưng sự nghiệp của ông đã bị thất bại do uống rượu. Một tối kia, khi đang loạng choạng ngoài đường phố, ông đã nghe một nhóm Cứu Thế Quân đang hát một bài mà mẹ ông thường hay hát: “Đứa con hoang đàng của tôi tối nay ở đâu?”. Sau đó vào một buổi tối ở Hội Truyền Giáo Pacific Garden, Sunday đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ. Không bao lâu ông đã lìa bỏ sân bóng chày để đến với toà giảng.
Giữa những bài giảng thật hay của ông là bài giảng từ Xuất Êdíptô ký 2.9 về người mẹ của Môise: “Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền công cho”. Khi suy nghĩ về người mẹ của mình, Sunday nói: “Là một vì vua, một vì hoàng đế, hay một tổng thống chỉ là những củ khoai tây nhỏ khi đem sánh với làm một người mẹ. Ra lịnh cho một đội quân quét dọn một con đường chẳng hạn, không có gì xứng đáng khi đem so sánh với việc dạy dỗ một đứa con trai hay gái. Người mẹ của Môise đã làm thật nhiều cho thế gian hơn hết thảy những vì vua mà Ai cập đã từng có. Ồ, quý vị hãy chờ đợi cho tới chừng quý vị lên tới những đỉnh núi của cõi đời đời, rồi hãy đọc tên tuổi của những người mẹ có ghi trong Đại Sảnh Danh Vọng của Đức Chúa Trời. Tôi muốn nói cho quý vị, những người phụ nữ biết: bỏ phí thì giờ, cứ mãi ôm chặt và hôn lấy hôn để con chó xù, uống một ly nước rau quả, và chơi bài, đấy chỉ là những công việc nhỏ nhoi khi đem sánh với việc nắn đúc đời sống của một đứa con.
‘Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền công cho’. Đức Chúa Trời trả công trong niềm vui mừng được thử thách bằng lửa, bằng đói kém, và bởi ma quỷ.
‘Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền công cho’. Nếu quý vị chưa từng làm như thế, hãy điền tên của quý vị vào bảng lương của Đức Chúa Trời đi”.
“Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền công cho” (Xuất Êdíptô ký 2.9)
11 Tháng 1
CHẠM ĐƯỜNG BIÊN NGANG
Brian Pruitt luôn quỳ gối ở cuối sân sau khi dành được điểm thắng – và anh làm bàn nhanh như bất kỳ cầu thủ nào khác trong môn bóng đá. Thí dụ, trong ván đầu tiên của một trận cầu mới đây tại Đại Học Đường Central Michigan, Brian đã ghi bàn khi chạy nước rút trước cái tích tắc 90 của đồng hồ trận đấu. Đó là một tiêu biểu. Một huấn luyện viên nói: “Quý vị không thể nói sao cho đủ về những cái giỏi của Brian Pruitt. Tài năng, sức khoẻ và tốc độ trong một thân thể chắc nịch. Anh đúng là một kết hợp hoàn chỉnh”.
Nếu thực vậy, cần phải có thời gian cho sự kết hợp ấy phát triển. Trong năm đầu Đại Học của Brian, lúc nào cũng thấy anh trống vắng và hay nản lòng. Anh tính tự tử một ngày kia khi cầu thủ Jett Mostek đưa anh về nhà. Jett làm chứng cho Brian và đã mời anh đến dự một buổi nhóm truyền giảng. Khi lời kêu gọi được đưa ra từ phía bàn thờ, Brian đã bước tới phía trước giống như chạy ùa đến đường biên ngang vậy.
Nhưng đức tin mới mẻ của Brian mau chóng bị đưa vào thử nghiệm. Giấc mơ chơi bóng đá cho nhà trường đã phai dần đi khi anh bị loại không được thi đấu suốt năm đầu ở Central Michigan vì có những điểm quá yếu. Trong thời gian nầy, Brian rút tỉa sức lực từ Xuất Êdíptô ký 4, anh lưu ý thể nào Đức Chúa Trời đã bảo Môise quăng cây gậy của ông xuống đất. Khi Môise nhặt cây gậy, nó liền có một năng lực mới.
Đó là tài năng của tôi, nhưng năm đó Đức Chúa Trời phán: “Hãy bỏ nó đi”, tới một điểm mà tôi không còn quan tâm nữa nếu tôi còn thi đấu. Tôi thưa rằng: “Lạy Chúa, xin làm bất cứ chi Ngài muốn nơi đời sống con”. Khi tôi sử dụng lại tài năng ấy, đó không còn là tài năng của tôi nữa, mà đó là tài năng của Đức Chúa Trời. Mặc dù tôi có nản chí, Đức Chúa Trời đã dùng năm ấy, và Ngài đã sửa soạn tôi cho mọi điều sẽ xảy đến. Tôi không nghĩ mình sẽ được quảng cáo rầm rộ như thế nếu tôi không bỏ năm ấy ra cho sự sửa soạn.
Bây giờ Brian nói: “Tôi không phải là một cầu thủ bóng đá. Tôi là một Cơ đốc nhân thích chơi bóng đá”.
“Đức Giêhôva bèn phán cùng Môise rằng: Hãy giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó. Người giơ tay ra nắm, thì nó hườn lại cây gậy trong tay. Đức Giêhôva phán rằng: Ấy để cho chúng nó tin rằng Giêhôva Đức Chúa Trời của tổ phụ mình… đã hiện ra cùng ngươi” (Xuất Êdíptô ký 4.4-5)
12 Tháng 1
BÀI GIẢNG CHO NĂM MỚI
Thời gian thật kỳ quặc đã quên đi Roland Hill, sống vào thế kỷ thứ 18 ở Anh quốc, ông được nhiều người mến thích. Ông đã sáng lập và xây dựng Nhà thờ Surrey nổi tiếng ở Luân Đôn bằng tài sản thừa kế của mình, và ở đó ông đã giảng đạo cho vô số khán thính giả từ năm 1773 cho tới khi ông qua đời 55 năm sau. Khi ông trở về già, giọng nói của ông vẫn còn sang sảng băng qua những hàng ghế, dân sự của ông nói: “Còn tốt hơn nữa nếu chúng ta chỉ cần nhìn xem ông”.
Vào ngày đầu năm mới lần cuối cùng của ông, Roland Hill đã chọn Xuất Êdíptô ký 12.2 làm câu gốc cho bài giảng của ông. Ông đã 89 tuổi và sẽ qua đời vào giữa tháng Tư. Nhưng bài giảng của ông vẫn rõ ràng, sâu sắc và đầy quyền năng. Mục đích của bài giảng rất đơn sơ: Giống như việc giết Chiên Con Lễ Vượt Qua trong Xuất Êdíptô ký 12 đóng vai trò như khởi đầu cho bộ lịch người Hêbơrơ, cũng một thể ấy kinh nghiệm của chúng ta với Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jêsus Christ, khởi đầu một đời mới cho mỗi một người chúng ta. Sau đây là vài câu nói sứ điệp của ông vào ngày Chúa nhật đầu tiên năm 1833:
“Hỡi anh em, thời gian trôi qua thật là nhanh. Chúng ta hiện đang bắt đầu một năm mới – ai trong chúng ta sẽ còn sống khi năm nay đi tới chỗ kết thúc? Những ngày tháng lữ hành của tôi sắp sửa chấm dứt rồi… Nhưng hỡi anh em yêu dấu của tôi ơi, chúng ta không hề bắt đầu sống cho tới khi chúng ta biết sống cho Đức Chúa Trời. Tôi nhớ có lần đối diện với một cụ già, tôi nghĩ ông ta đã 70 hay 80 tuổi rồi; và tôi có hỏi ông có già lắm không!?! Ông nhìn thẳng vào tôi trong một lúc, rồi ấp úng trong giọng nói, hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má. Ông nói: ‘Tôi mới có hai tuổi thôi’. ‘Hai tuổi à?’ Ông đáp: ‘Thưa ông phải, mới đây thôi, tôi còn sống nếp sống của con người cũ; và tôi chưa hề biết đời sống nào khác cho tới khi tôi gặp gỡ cuộc sống: ‘đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời’ (Côlôse 3.3)”.
“Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng giêng trong quanh năm” (Xuất Êdíptô ký 12.2)
13 Tháng 1
VIỆN ÊLIM
Carey Falwell đã lớn lên buôn bán rượu whiskey lậu trong khi có Luật cấm nấu và bán rượu [1920-1933], được trợ giúp bởi người em trai là Garland – một người rất dễ thương với nụ cười toe toét có thể làm cho tảng băng kia mòn đi. Nhưng hai anh em đều là những nhân vật nổi tiếng, Garland sống hoang đàng và buông thả, phóng xe đua chạy như bay dọc theo con đường trên núi, uống rượu say mèm, hay gây rối. Một ngày kia, Garland mang theo bên mình hai khẩu súng lục và nhắm thẳng chúng vào Carey trong khi say sưa giận dữ. Một trò chơi mèo vờn chuột rất nguy hiểm diễn ra, song Carey sau cùng đã khai hoả để tự vệ, ngay lập tức giết chết người em ruột của mình.
Carey không hề hài lòng với tai hoạ. Hết buổi sáng nầy đến buổi sáng khác, ông đến viếng mộ của Garland, đầu gục xuống, tay nắm chặt lấy cái nón. Hết đêm nầy tới đêm khác, không sao ngủ được, ông cứ suy nghĩ bên bàn làm việc hoặc trong kho thóc, tay nâng niu chai rượu, cố tìm quên. Những tâm trạng tăm tối đã bắt lấy ông và càng ngày ông càng uống nhiều thêm. Thời gian trôi qua, vì ông càng cay đắng hơn. Sau cùng, ông ngã chết vì bệnh xơ gan.
Chống lại mọi sự không hay, con trai của Carey là Jerry lớn lên trở thành một vị Mục sư, và đó là Jerry Falwell – người đã hướng dẫn Hội thánh Báptít Thomas Road mua một nông trại rồi thiết lập ở đó một trung tâm điều dưỡng dành cho những kẻ nghiện rượu. Người đầu tiên bước vào đó là Earl Thompson – người đã từng giúp đỡ Carey Falwell buôn rượu lậu và uống say sưa.
Nhưng trung tâm mới sẽ được đặt tên là gì đây? Khi Jerry nghiên cứu Xuất Êdíptô ký 15, ông đọc thấy dân Ysơraên đi từ Biển Đỏ đến sông Mara rồi tới suối nước Êlim. Có nhiều bài học ở mỗi chặng dừng chân, và khi ấy Đức Giêhôva đã đổi cay đắng thành phước hạnh. Không bao lâu sau đó nhiều Viện Êlim mọc lên khắp trong xứ, phỏng theo kiểu Viện điều dưỡng ở tại Lynchburg.
Một ngày kia, khi Jerry Falwell đưa mẹ ông đến tham quan Viện Êlim, bà đặt tay lên vai ông với đôi mắt ươn ướt, bà nói: “Con có biết không, Jerry, nếu cha con không chết, con sẽ không quan tâm đến tha nhân đủ để xây dựng nên Viện Điều Dưỡng như thế nầy”.
“Đoạn, dân sự đến đất Êlim; nơi đó có mười hai suối nước, và bảy mươi cây chà là; dân sự đóng trại tại đó, gần bên suối nước” (Xuất Êdíptô ký 15.27)
14 Tháng 1
YÊN NGHỈ TRÊN LỜI ẤY
Giữa vòng các vị anh hùng nhỏ bé của Hội thánh ít ai biết đến là người có tên là Ebenexer Erskine, lần đầu tiên ông cảm động với Xuất Êdíptô ký 20.2 lúc được 10 tuổi khi cha ông là Tấn sĩ Henry Erskine đang giảng dạy về cách đối đáp ngắn gọn. Câu thứ 43 hỏi: “Điều chi là dẫn nhập cho 10 Điều răn?”. Câu trả lời: “Dẫn nhập cho 10 Điều răn là: Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Êdíptô,…”. Chàng thanh niên Ebenexer sớm học biết về cách đối đáp ngắn gọn, nhưng câu hỏi nầy chiếm lấy vị trí trung tâm trong mọi tư tưởng của ông.
Mười tám năm sau ông đã theo gót cha mình bước vào chức vụ Mục sư. “Nhưng tôi đã khởi sự chức vụ của mình không có sốt sắng, năng nổ nhiều, bị sự vô tín lấn lướt”. Một ngày kia vợ ông bị sốt cao, và trong cơn mê sảng, bà đã kêu la về tấm lòng nguội lạnh của chồng mình. Ebenexer ngồi bên cạnh bà nhức nhối lắm, và câu gốc xưa lại thoạt đến với ông: “Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi”. Một lúc sau, ông tự nguyện rằng: “linh hồn và thân thể dâng lên cho Đức Chúa Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Tôi tìm nơi ẩn náu trong huyết của Chúa Jêsus. Tôi sẽ sống cho Ngài; tôi sẽ chết cho Ngài”.
Mười năm sau, bây giờ là một vị Mục sư 38 tuổi, ông đã giảng một bài đầy quyền năng với câu gốc cũ của mình: “Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi”. Bài giảng ấy gây ấn tượng sâu sắc trên hội chúng của ông và quét qua khắp xứ Tô cách Lan nhờ phương tiện sách báo.
Nhiều năm tháng trôi qua, và Erskine đã vào tuổi 73. Một trong các trưởng lão của ông đến thăm viếng bên giường bệnh nói: “Ông thường cung ứng cho chúng tôi lời khuyên tốt, thưa ông Erskine, như những điều chúng tôi cần phải lo liệu cho linh hồn mình khi sắp sửa qua đời; tôi xin hỏi trong lúc nầy ông mong muốn điều chi với linh hồn mình?”.
Nhà truyền đạo đầy kinh nghiệm kia lên tiếng đáp: “Tôi sẽ làm điều tôi đã làm trong bốn mươi năm qua. Tôi yên nghỉ trên lời ấy: Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi”.
“Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi khỏi xứ Êdíptô, là nhà nô lệ” (Xuất Êdíptô ký 20.2)
15 Tháng 1
NHỮNG NGỌN ĐÈN
Vào ngày 19 tháng 8 năm 1991, những nhân vật Cộng sản trung kiên ở Moscow giận dữ với việc mất mát của họ ở Đông Âu đã nắm lấy quyền điều khiển chính phủ Sôviết, trong khi Makhail Gorbachev hãy còn ở trong điện Crimea, Boris Yeltsin và Quốc hội Nga bị kẹt trong toà nhà quốc hội, khi hàng ngàn công dân dũng cảm nhóm lại ở bên ngoài, họ hình thành một rào cản con người. Những chiếc xe tăng và binh lính bao vây lấy toà nhà, và cả thế giới dõi theo từng hơi thở của nó.
Sau đây là những gì mà báo chí không có đăng tải. Theo Barbara Von Der Heydt trong quyển sách Candles Behind the Wall [Những ngọn đèn ở đàng sau bức tường] do bà viết khi tin tức nói về hành động táo bạo nầy nổ ra. Iven Kharlanov và Anatoly Rudenko của Hội Kinh Thánh tại Moscow đã bàn bạc phải tìm cách thuyết phục binh lính dừng bắn vào những người phản kháng ở đó. Họ đã kêu gọi các hội Kinh Thánh trên khắp thế giới cầu thay cho, và họ sắp xếp một kế hoạch thật dũng cảm.
Khi trận bão của quốc hội sắp sửa nổ ra, họ liền xuất hiện với một chiếc xe tải chất đầy Kinh Thánh Cựu ước. Những Cơ đốc nhân đi từ người lính nầy đến người lính khác, và từ chiếc xe tăng nầy đến chiếc xe tăng khác, họ mở quyển Kinh Thánh ra và trưng dẫn Xuất Êdíptô ký 20.13. Có một phụ nữ – Shirinai Dossova đi tới một trong chiếc xe tăng rồi dùng khuỷu tay mình gõ mạnh vào cạnh sườn của xe. Bà cứ làm như thế cho tới chừng người lái xe mở nắp ra. Bà vừa nói vừa ném quyển sách về phía anh ta: “Trong quyển sách nầy chép rằng anh không nên giết người, anh có định giết chúng tôi không?”.
Người lính trẻ kia với bộ mặt trông bối rối lắm. Anh chụp lấy quyển Kinh Thánh, rồi nói: “Chúng tôi không có ý giết ai cả”.
Hầu hết binh lính đều nhận lấy quyển Kinh Thánh đã được biếu cho. Một vài người nhét chúng vào túi áo trong khi những người khác mở ra đọc ngay khi đó. Có nhiều người luôn trông mong có được một quyển Kinh Thánh mà chưa hề nhìn thấy được một quyển. Và cùng với quyển Kinh Thánh câu hỏi cứ vang lên: “Các anh không thực sự muốn giết chúng tôi chứ, có phải không? Quyển sách nầy chép: ‘Ngươi chớ giết người đấy’”.
Hành động táo bạo bị gãy vỡ, đế quốc Cộng sản sụp đổ tan tành trên đất – và nhiều sử gia vẫn còn kinh ngạc không biết tại sao cuộc tấn công vào toà nhà quốc hội mà ai cũng mong đợi đã không thành hiện thực.
“Ngươi chớ giết người” (Xuất Êdíptô ký 20.13)
16 Tháng 1
MỘT CÂU BẤT NGỜ
Jim Elliot chưa biết rõ rồi đây mình sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp từ Trường Wheaton vào năm 1949. Ông đã dùng cả mùa hè để cầu nguyện xin sự dẫn dắt, rồi vào ngày 29 tháng 10, ông đã nhận được một thư mời về nhu cầu cần nhân sự ở Ecuador. Jim cảm thấy có một sự “thúc giục” theo chiều hướng đó. Đến ngày 25 tháng 11, hồi ký của ông ghi lại xu hướng nhắm vào Peru và Ấn độ. Đến ngày 1 tháng Chạp, British Guinana đã bước vào bức tranh. Bốn ngày sau đó, ông đã viết: “Lại thấy bị kích thích phải phục vụ giữa vòng bộ tộc Quichuas người Ecuador một lần nữa”.
Đến ngày 17 tháng Chạp, các chương trình truyền giáo của ông thu hẹp lại chỉ còn có Ấn độ hay Ecuador mà thôi. Vào ngày 31 tháng Chạp, ông viết: “Lạy Chúa, nếu Ngài thấy có điều chi trong con ngăn trở sự khải thị của ý chỉ Ngài về Ecuador, nguyện Chúa tỏ nó ra. Một bức thư gửi đến từ Ấn độ hôm nay có lời kết như sau: ‘Tôi rất vui khi nghĩ Đầu Năm nay sẽ gặp ông ở đây’. Tôi vẫn đang chờ đợi”.
Đầu năm 1950, ông được thư mời gửi từ trại nghiên cứu của Hội dịch thuật Kinh Thánh Wycliffe ở Oklahoma. “Tưởng chừng như Chúa muốn tôi có mặt ở đó, dù tôi có đi Nam Mỹ hay Ấn độ”. Elliot đã đến tại trại, trong khi vẫn còn tranh chiến giữa hai quốc gia nầy. Vị giảng viên đã xem ông là một giáo sĩ đến từ Ecuador, và từ ông nầy, Jim lần đầu tiên học biết bộ tộc Aucas hoang dã.
Nhưng Ấn độ vẫn còn nung cháy bên trong ông. Đến ngày 14 tháng 7, ông viết: “Tôi cầu xin một vài lời đến từ Đức Chúa Trời cách đây 10 ngày sẽ khích lệ cho việc tôi đến Ecuador. Lời ấy đến sáng nay thật không ngờ. Tôi đang đọc trong Xuất Êdíptô ký 23 khi câu 20 nổi bật lên: ‘Đây nầy, ta sai một thiên sứ đi trước mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường, và đưa ngươi vào nơi ta đã dự bị’. Tin tưởng vào lời hứa đó cùng với cảm xúc trước đây, khi câu Kinh Thánh đem lại cho tôi nhiều sự cảm động, tôi xem đây là một sự dẫn dắt tôi đến tại… Ecuador”.
Đây là câu Kinh Thánh đã đưa Jim Elliot đến với cái chết, đến với sự tuận đạo, và đến với sự vinh quang của ông – và cái chết ấy đã đem bộ tộc Aucas theo thì thuận tiện của Đức Chúa Trời đến với đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ.
“Đây nầy, ta sai một thiên sứ đi trước mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường, và đưa ngươi vào nơi ta đã dự bị” (Xuất Êdíptô ký 23.20).
17 Tháng 1
URIM VÀ THUMIM
Harry A. Ironside là một học viên rất cố công đối với Kinh Thánh, ông vốn chịu khó tìm cách lý giải và giảng dạy Lời của Đức Chúa Trời sao cho thật chính xác. Tuy nhiên, có một trường hợp khi sử dụng một câu chuyện, lúc suy diễn ý nghĩa của câu gốc, ông đã rơi vào chỗ tắt nghẽn. Nhưng dù vậy, ông đã giải thích đúng.
Đó là một bài giảng luận từ Lê vi ký 8.8 về Urim và Thumim. Đồ vật khó hiểu nầy được đeo nơi ngực của thầy tế lễ và không cứ cách nào, nó đóng vai trò bày tỏ ý chỉ của Đức Chúa Trời trong một số vấn đề nhất định nào đó. Có người tin đây là cái túi nhỏ chứa hai hòn đá: một chỉ ra: “Được”, còn viên đá kia hàm ý “Không”. Nhiều người khác thì tin đấy là loại trang sức được đặt ra đeo vào ngực thầy tế lễ và nó biểu thị cho ý chỉ của Đức Chúa Trời trong những vấn đề khác nhau.
Ironside cung ứng cho một vị Mục sư trẻ tuổi người Anh rất giỏi trong mọi vấn đề về thần học một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt theo cách chơi chữ. Trong Hội thánh của ông có một người thợ sửa giày, dù ông nầy vốn ít học, nhưng hiểu biết Kinh Thánh rất thấu đáo. Một ngày nọ, vị Mục sư mong muốn gây ấn tượng trên người thợ nầy, nên hỏi: “Ông có thể nói cho tôi biết Urim và Thumim là gì không?”.
Người thợ sau một lúc suy nghĩ đã đáp như sau: “Tôi không biết chính xác đâu. Tôi hiểu mấy chữ ấy được dùng cho cái túi đeo trên ngực của thầy tế lễ thượng phẩm. Tôi biết nhờ Urim và Thumim thầy tế lễ thượng phẩm có thể phân biệt tâm trí của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi lại thấy rằng mình có thể tiếp thu tâm ý của Chúa trong thời buổi nầy chỉ bằng cách thay đổi hai từ mà thôi”.
Vị Mục sư liền hỏi: “Bằng cách thay đổi hai từ à?”.
“Phải, tôi cầm lấy quyển sách phước hạnh nầy, và chỉ [usin’ and thumin’] mở [use] nó ra rồi lật [thumb] từng trang sách, tôi sẽ tiếp thu được tâm ý của Chúa ngay thôi”.
Ironside bật cười, tán thành ngay quan điểm của người thợ sửa giày. Hãy mở Lời của Đức Chúa Trời ra mỗi ngày, ông nói với khán thính giả của ông. Hãy thường xuyên lật từng trang sách, vì nó bày tỏ ra tâm ý của Đấng Christ.
“Người cũng đeo bảng đeo ngực và gắn vào bảng urim và thumim”(Lê vi ký 8.8)
18 Tháng 1
10 CÒN 2
Cách đây mấy năm, một nhóm sinh viên sắp ra trường đến ngồi quanh chiếc bàn gỗ cũ trong căn bếp của Ruth Bell Graham lắng nghe cô kể chuyện. Họ là những người cô độc và nhớ quê nhà. Đời sống học đường lại rất khô khan hơn là họ tưởng. Đôi mắt của Ruth sáng rực lên khi cô kể cho họ nghe những lần đọ sức của bản thân cô với sự đơn độc trong khi còn là một sinh viên ở trọ tại Hàn Quốc, và một lần nữa trong khi chồng cô vắng nhà vì bận đi giảng. Nhưng niềm vui của sự Đức Chúa Trời hiện diện lúc học Kinh Thánh đã giúp làm dịu đi nỗi đau, cô nói: “Học viên Kinh Thánh là những lữ khách có con mắt rộng mở ở giữa những điều kỳ diệu”.
Cô cho họ xem những quyển sổ tay nhỏ của cô, nhiều lần cô nói câu nầy: “Tôi đã tìm được một thợ đóng sách, ông ta bảo có thể đóng lại quyển sách này cho tôi khi cần thiết”, cô giải thích thêm: “Đây là những thu thập trên báo chí, những câu chuyện mà tôi đã nghe kể lại, cùng những bài học thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã dạy dỗ tôi. Khi các em ghi lại những bài học Kinh Thánh của mình, qua nhiều năm tháng chắc chắn các em sẽ sưu tập được nhiều điều quý giá cho phần giảng luận Kinh Thánh của riêng các em”.
Qua ngày sau, một trong những sinh viên đến mở lòng mình ra cùng cô theo cách riêng, thừa nhận thất bại trong đời sống Cơ đốc. Sự khôn ngoan sâu sắc được giấu kín trong cách nói năng thật đơn sơ của cô. Cô thuật lại cho anh sinh viên nầy về mười hai thám tử trong Dân số ký 13. Môi se đã sai họ đi dò thám Đất Hứa. Đất ấy dành cho họ trong việc chiếm lấy, vì Đức Chúa Trời đã bảo đảm với họ về sự hiện diện của Ngài và về quyền phép thắng hơn của Ngài. Nhưng mười trong số các thám tử đã đánh mất khí phách của họ, chỉ còn nhìn thấy mấy tên khổng lồ, các thành phố có tường vây bọc, và những kiểu phòng thủ mạnh mẽ. Mặt khác, Giôsuê cùng Calép thì ngoan cường và đầy dẫy lòng tin. “Ca-lép bèn làm cho dân sự, đang lằm bằm cùng Môi-se nín lặng đi, mà nói rằng: Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi…”, họ nói: “vì Đức Giêhôva Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”.
Ruth hỏi: “Bây giờ đâu là sự khác biệt giữa hai nhóm thám tử kia chứ? Vậy…”. Cô dừng lại một chút: “Mười người kia đã so sánh họ với các nan đề, còn hai thám tử nầy đã so sánh mọi nan đề của họ với Đức Chúa Trời”.
Và tôi sẽ không bao giờ quên được lời nói của cô trong ngày đó, hay nụ cười lặng lẽ đã thúc họ trở về nhà.
“Calép bèn làm cho dân sự, đương lằm bằm cùng Môise nín lặng đi, mà nói rằng: Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta sẽ thắng hơn” (Dân số ký 13.30)
19 Tháng 1
NHÌN XEM VÀ SỐNG
Robert Murray McCheyne đã qua đời lúc 29 tuổi, song cứ sống mãi qua những bài giảng cùng các bức thư vô đối của ông. Một trong những bức thư đó đề ngày 20 tháng 3 năm 1840 bắt đầu như vầy: “Tôi không biết tên tuổi của ông, nhưng tôi nghĩ tôi biết đôi điều về tình trạng của linh hồn ông. Người bạn của ông đã nói cho tôi biết một ít về ông; và tôi viết vài hàng mời ông hãy nhìn xem Chúa Jêsus mà sống. Hãy xem Dân số ký 21.9, và ông sẽ nhìn thấy tật bệnh và phương cứu chữa của ông ngay. Ông đã bị một con rắn độc cắn phải. Nọc độc là tội lỗi đang xâm phạm vào cả tấm lòng ông, nhưng Đấng Christ đã bị treo trên thập tự giá để ông có thể nhìn xem và được sống”.
- L. Moody đã cưu mang sứ điệp nầy. Trong trận đánh ở Murgreesboro, ông đến bên giường của một binh sĩ nằm hấp hối. Moody đã chia sẻ Tin lành, nhưng người lính ấy đã lắc đầu đáp: “Ngài không thể cứu tôi đâu. Suốt cuộc đời nầy tôi đã phạm tội”. Moody đã thử hết câu nầy đến câu khác, nhưng chẳng một câu nào có hiệu lực cho tới chừng: “Tôi đã đọc từ chương 3 sách tin lành Giăng. Khi tôi đang đọc, đôi mắt anh ta gắn chặt vào tôi, và dường như anh ta muốn nuốt chửng lấy từng âm đọc một vậy. Khi tôi đọc đến chỗ: ‘Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời’, anh đã chặn tôi lại rồi hỏi: ‘Có thực thế không?’
Tôi đáp: ‘Thực đấy!’
‘Vậy à, tôi chưa hề biết trong Kinh Thánh có ghi lại sự thực đó. Xin đọc lại phân đoạn ấy cho tôi nghe’”. Moody đọc lại phân đoạn ấy nhiều lần, giải thích thể nào con rắn đồng trong Dân số ký 13 đã nói trước hình bóng về sự chết của Đấng Christ tại đồi Gôgôtha.
“Sáng sớm hôm sau tôi đến bên chiếc giường ấy, nhưng nó trống trơn. Nhân viên phục vụ kể lại cho tôi biết người lính ấy đã qua đời một cách an bình, tự mình lặp lại lời tuyên bố thật vinh hiển: ‘Hễ ai tin đến Ngài không bị hư mất, đều được sự sống đời đời’’.
“Vậy, Môise làm một con rắn bằng đồng, rồi treo lên một cây sào; nếu người nào đã bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng, thì được sống” (Dân số ký 21.9)
20 Tháng 1
ĐIỀU NGÀI ĐÃ NÓI?
Tin Lành Cải Chánh, phong trào khởi sự vào năm 1517 tạo ra tình trạng chẳng có một giáo sĩ nào được Hội thánh sai đi cho tới khi có hai người Moravia là Leonard Dober và David Nitschmann lìa bỏ cộng đồng náo nhiệt của họ ở Herrnhut rồi mạo hiểm tới vùng St Croix vào năm 1732.
Chính cấp lãnh đạo vùng Herrnhut – Bá Tước Nicholaus Ludwig von Zinzendorf đã khích lệ sự ra đi của họ. Zinzendorf đã đến thăm Copenhagen năm trước diễn biến vấn đề chính trị xảy ra. Trong khi còn ở đó, ông có gặp một người da đen đến từ St Thomas, người nầy nài xin ông sai người đến chia sẻ tin lành cho các thành viên gia đình ông ta hãy còn là nô lệ trong vùng Indies Tây Đan Mạch.
Trở về lại Herrnhut, Zinzendorf đã chia sẻ gánh nặng nầy, và gặt hái được nhiều sự ủng hộ. Một năm sau, vào ngày 18 tháng 8 năm 1732, trong một buổi thờ phượng khó quên có tới hàng trăm bài thánh ca đã được hội chúng hát lên, hai thanh niên được sai phái ra đi trong vai trò giáo sĩ. Leonard Dober và David Nitschmann không lâu sau đó đã rời Herrnhut đi Copenhagen tìm đường ra các hòn đảo.
Nhưng Copenhagen tỏ ra chẳng có gì thân thiện, và hai người phải tất tả với nhiều ngăn trở. Hết thất vọng nầy đến thất vọng khác, và nhiều sự chống đối dậy lên đối với sứ mệnh của họ. Chẳng một ai muốn giúp đỡ họ. Không một tàu thuyền nào chịu chở họ đi. Tấm lòng của họ bị suy sụp.
Trong lúc gian nguy như thế, Dân số ký 23.19 được mở ra hàng ngày trong quyển sách thánh của họ: “Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?”. Được mấy lời này thúc đẩy, Dober và Nitschmann cứ quyết định bền chí tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ làm ứng nghiệm mọi điều Ngài đã khởi sự qua họ.
Một nhóm người ở Copenhagen bắt đầu giúp đỡ họ, và xu thế dư luận của công chúng đổi chiều. Hai vị tuyên uý của hoàng gia góp phần trợ giúp, và ngay cả Nữ Hoàng của Đan Mạch cũng đã khích lệ họ. Công chúa Charlotte đã đóng góp về mặt tài chánh. Một viên chức toà án bảo đảm chuyến đi của họ trên một con tàu của người Đức, rồi đến ngày 8 tháng 10 năm 1732, họ dong buồm đến vùng West Indies mở ra kỷ nguyên truyền giáo hiện đại.
Chúa đã phán với họ, và Ngài đã làm ứng nghiệm lời phán ấy.
“Đức Chúa Trời chẳng phải là người dễ nói dối, cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?” (Dân số ký 23.19)
21 Tháng 1
MẬT MÃ CỦA MORSE
“Siêu xa lộ thông tin” và “Ngôi Làng Toàn Cầu” ngày nay đã khởi sự với một nhà hoạ sĩ trẻ có tên là Samuel Morse. Con trai của một vị Mục sư, Morse dong buồm đến Luân Đôn ở tuổi 19 để học về hội hoạ. Ông hay nhớ nhà lắm, ông viết: “Tôi muốn trong khoảnh khắc thôi để báo cho người nhà mình biết mình đã đến nơi an toàn, nhưng chúng tôi ở cách xa nhau những 3000 dặm và phải đợi đến bốn tuần lễ mới biết được tin tức của nhau”.
Morse đã trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng và là nhà họa sĩ vẽ chân dung, nhưng cuộc đời ông đột ngột chuyển hướng vào năm 1832 khi ông quay trở về Mỹ trên chiếc tàu Sully. Một đêm kia cuộc trao đổi nơi bàn ăn tối đổi sang việc gửi những sứ điệp bằng điện dọc theo chiều dài của dây thép. Morse bị ý niệm ấy bắt lấy, và sau khi về tới nhà đã lấy một phòng trên đỉnh toà soạn nhà báo của người anh rồi sử dụng từng phút đầu tắt mặt tối vào “máy điện báo” [telegraph] của mình.
Sau nhiều năm tháng thử nghiệm và sai sót, Morse đã sửa soạn một minh chứng quan trọng. Ông đặt hai dặm dây thép không thấm nước bên dưới Cảng Nữu Ước. Không may mỏ neo của một chiếc tàu đã kéo sợi dây thép và làm hư hỏng nó, đám đông quan sát đã bỏ đi với không ít lằm bằm.
Song Morse hoạch định thêm một minh chứng quan trọng cho Quốc Hội Mỹ thấy. Vào ngày 24 tháng 5 năm 1844, trước khi giới chức sắc nhóm lại, ông đã gửi một sứ điệp từ Thủ đô Hoa kỳ cho ga xe lửa ở Baltimore. Bức điện báo đầu tiên gồm có bốn từ trong Dân số ký 23.23: “What Hath God Wrougght” (“Việc Đức Chúa Trời làm lạ là dường nào!”, theo bản Kinh Thánh Việt ngữ).
Hết thảy châu Mỹ và châu Âu không bao lâu sau đó đã được nối kết bằng những trạm và mạng điện báo.
Morse sau đó đã nói: “Mọi sự đấy thuộc về Đức Chúa Trời. Ngài đã sử dụng tôi như bàn tay của Ngài trong mọi sự nầy. Tôi không thể dửng dưng trước mọi phần thưởng của thế gian và lời ngợi khen của các bạn đồng sự tôi, nhưng tôi rất hài lòng với sự thật: ấy là Cha tôi ở trên trời đã cho phép tôi làm một việc lớn cho Ngài và cho cả thế giới của Ngài. Sự vinh hiển không quy về cho chúng ta, mà là cho Đức Chúa Trời. Con người không thể làm được việc lạ, nhưng việc Đức Chúa Trời làm lạ là dường nào!”.
“Việc Đức Chúa Trời làm lạ là dường nào” (Dân số ký 23.23)
22 Tháng 1
CHO CON CHÁU CỦA HỌ
Trong một trăm năm trước khi thiết lập nước Ysơraên ngày nay, nhiều Cơ đốc nhân đã làm việc bên cạnh người Do thái trong việc đưa ra Chủ Nghĩa Phục Quốc Do thái [Zionism], nhưng không có gì tạo ra được tình trạng đồng tình cho sự khai sinh quốc gia Do thái hơn những bản báo cáo nổi bật nói tới sự tàn sát hàng loạt sau Đệ Nhị Thế Chiến. Tổng Thống Harry Truman vốn lo lắng về mối đe doạ xung đột giữa Ảrập và người Do thái, ông đã ngần ngại trong việc công nhận quốc gia mới. Vào ngày 12 tháng 5 năm 1948, vài vị cố vấn đã tập họp lại quanh ông để cùng thảo luận vấn đề. Ngoại trưởng George C. Marshall đã chống lại sự công nhận, ông cảnh cáo rằng người Do thái sẽ đối mặt với chiến tranh từ mọi phía. Nhưng đối với sự Marshall không có đủ tinh thần như vậy, Clark Clifford là cố vấn chính trị của Truman đã thúc giục Tổng Thống phải công nhận Israel ngay lập tức.
Marshall gắt lên: “Tôi không biết tại sao Clifford lại có mặt ở đây. Đây không phải là cuộc họp về mặt chính trị đâu”.
Truman nói: “Ông ta có mặt ở đây, vì tôi đã mời ông ấy đến”.
Clifford đưa ra trường hợp của mình cách bình tĩnh và quả quyết. Ông nhắc cho hai người kia nhớ đến 6 triệu người Do thái đã bị quân Phát xít giết chết, và về những người còn sống sót hiện chẳng biết sống ở đâu. Một quốc gia Do thái riêng biệt không thể không có được. Clifford phát biểu như thế. Rồi ông trưng dẫn Phục truyền luật lệ ký 1.8 – “Kìa, ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hãy vào và chiếm lấy xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ các ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, cùng cho con cháu của họ”.
Marshall nổi giận đến độ ông đe doạ bỏ chiếu chống lại Truman trong kỳ bầu cử tới, khiến cho buổi họp đi đến chỗ kết thúc lạnh như băng. Nhưng hai ngày sau đó, quốc gia Ysơraên được khai sinh, và Tổng Thống Harry Truman trở thành người đứng đầu nhà nước đầu tiên đã dành cho quốc gia nầy sự công nhận chính thức.
Về sau, khi Thủ lãnh các Rabi của quốc gia Ysơraên là Issac Herzog đến thăm Nhà Trắng, ông đã nói với Truman: “Đức Chúa Trời đã đặt ông vào trong lòng mẹ ông, để ông trở thành công cụ đem lại sự tái sinh cho nước Ysơraên sau 2000 năm”.
Một quan sát viên nói: “Tôi nghĩ ông ta đã nói quá lố, song khi tôi nhìn sang Tổng Thống, hai hàng nước mắt đang lăn dài xuống đôi gò má của ông”.
“Kìa, ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hãy vào và chiếm lấy xứ Đức Giêhôva đã thề ban cho tổ phụ các ngươi, là Ápraham, Ysác, Giacốp, cùng cho con cháu của họ” (Phục truyền luật lệ ký 1.8)
23 Tháng 1
SỰ KHÔN NGOAN CỦA SOLOMON
Solomon Ginsburg dường như có ý đồ bước theo các dấu chân của cha mình là một rabi cộng đồng Do thái Balan bị áp bức. Nhưng trong suốt thời kỳ trưởng thành, trước sự ghê tởm của cha ông, Solomon đã trở thành một Cơ đốc nhân.
Sự ông trở lại đạo đã đưa ông đến chỗ bị bắt bớ khủng khiếp. Trong một cơ hội ông đã bị đánh đập chẳng chút thương xót, bị đá cho đến bất tỉnh, rồi bị bỏ cho đến chết trong một thùng rác, nhiều cái xương bị gãy, quần áo đẫm những máu. Về sau ông nói: “Ồ, nhưng đó là khoảng thời gian rất vinh hiển đấy!”.
Solomon đã trở thành một nhà truyền giáo năng nổ ở cả hai nơi châu Âu và Nam Mỹ. Vào năm 1911, khi cần phải nghỉ ngơi, ông quyết định qua Mỹ để nghỉ phép. Con đường đưa ông tới Lisbon, ở đây ông hoạch định băng qua vịnh Biscay đến Luân đôn, rồi từ đó sang Mỹ.
Sau khi tới Luân đôn, Ginsburg thấy nhiều tấm bảng thông báo dán đầy với những tờ điện báo về thời tiết cảnh cáo trước những trận bão kinh khủng đang gào thét ngoài vịnh Biscay. Đó là một chuyến đi nguy hiểm, và ông được người ta khuyên nên hoãn chuyến đi một tuần lễ. Vé tàu của ông cho phép ông làm như thế, và ông đã cầu nguyện về điều nầy thật thành khẩn.
Song khi ông cầu nguyện rồi, ông mở lại lịch cầu nguyện W.M.U, và thấy câu gốc trong đó là Phục truyền luật lệ ký 2.7: “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho mọi công việc làm của tay ngươi; Ngài đã biết cuộc đi đường ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao nầy. Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết”. Dường như Chúa khẳng định với ông rằng những chuyến lữ hành lâu dài, khắp thế giới của ông đều ở dưới quyền bảo hộ thiêng liêng. Ginsburg lên tàu ngay lập tức, qua biển mà chẳng gặp điều chi rắc rối, và ông đã đi trên chiếc Majestic tại Luân đôn. Cuộc hành trình vượt Đại Tây Dương đầy sự yên tĩnh và bình an.
Chỉ sau khi đến tại Hoa kỳ rồi Solomon mới hay rằng ông đã trễ chuyến tàu ở Lisbon, nếu không ông đã đến tại Luân đôn đúng lúc…
…đúng lúc phải lên con tàu Titanic.
“Vì Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho mọi công việc làm của tay ngươi; Ngài đã biết cuộc đi đường ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao nầy. Trong bốn mươi năm nầy, Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết”(Phục truyền luật lệ ký 2.7)
24 Tháng 1
KHÁ ÂN CẦN DẠY DỖ
Phục truyền luật lệ ký 6 chứa ba ý hay nhất của Đức Chúa Trời trong việc nuôi dạy con cái. Là cha mẹ, chúng ta phải: [1] Hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giêhôva Đức Chúa Trời – câu 5; [2] Để Lời Đức Chúa Trời ngự trong lòng chúng ta – câu 6; [3] Khá ân cần dạy dỗ Lời ấy cho con cái chúng ta – câu 7. Nếu tôi có thể khởi sự một lần nữa những tháng năm làm cha mẹ, tôi sẽ dẫn dắt bầy con của tôi học thuộc lòng Kinh Thánh càng hơn nữa.
Cũng một thể ấy đối với Mayo Mathers.
Mayo là một người vợ, người mẹ, nhà văn, và là đồng sở hữu một công ty thương mại tại Oregon. Khi đứa con trai là Tyler mới học lớp 5, nó đã được giao cho thời gian hai tuần lễ để học thuộc lòng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Mayo rèn luyện cho con mình thật kỹ, in bản văn vào mấy tấm thiệp và gắn chúng ở chung quanh nhà, thậm chí ngay trên đầu giường của đứa con nằm nữa. Họ cùng nhau ôn lại mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối, rồi gần cuối khoảng thời gian đó, mọi người trong gia đình đều biết rõ việc được giao đã hoàn tất rồi.
Qua ngày sau trong giờ gia đình lễ bái, Mayo xem qua Phục truyền luật lệ ký 6.7 – “khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chổi dậy”.
“Tôi đã nhận ra đấy là những việc tôi đã làm với việc học thuộc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, nhưng không làm với việc học thuộc câu Kinh Thánh. Và đã xem trọng phần việc ở trường của Tyler hơn phần việc ở Lớp trường Chúa nhật, tôi đã dạy nó tìm kiếm những phần thưởng theo đời nầy hơn phần thưởng ở trên trời”.
Thật là dễ dàng chễnh mãng đối với việc học thuộc lòng Kinh Thánh, đấy mới là việc quan trọng cho con cái chúng ta. Và không có thời gian nào tốt hơn để khởi sự cho bằng chính hôm nay!
“Khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chổi dậy” (Phục truyền luật lệ ký 6.7).
25 Tháng 1
NHỚ
Trên chuyến đi mới đây đến Luân đôn, tôi để ý thấy một ngôi nhà thờ nhỏ nằm yên tĩnh giữa những toà nhà chọc trời, rộn ràng trong khu vực tài chính của Luân đôn. Cánh cửa không khoá, và tôi mạo hiểm bước vào ngôi nhà thờ không mấy sáng sủa, với toà giảng trên cao cùng mấy hàng ghế. Trên bức tường bên trái là tấm bảng tôi nhìn thấy, một vật biếu tặng cho vị Mục sư tiền nhiệm của Hội thánh, hài cốt của ông được chôn cất bên dưới chân tôi trong tầng hầm của nhà thờ. Tôi đọc lớn tiếng mấy hàng chữ, giọng đọc mạnh khoẻ của tôi dội vào các bức tường bằng đá: “John Newton, Mục sư, từng sống phóng đãng, không theo đạo, tôi tớ của hàng nô lệ ở châu Phi, được định biệt riêng, được phục hồi, được tha thứ, và được chỉ định rao giảng đức tin mà ông đã hoạt động lâu dài để phá diệt”.
Là một thanh niên, Newton là một thuỷ thủ và là nhà buôn nô lệ, môi miệng ông là một cái ổ bẩn thỉu chuyên phạm thượng, và là người tự cứu mình ra khỏi những nữ nô mà ông đã chuyên chở đi. Nhưng ông cũng là một lính đào ngũ, bị Hải quân Anh truy bắt, ông đã sống chui rúc làm nô dịch cho một người đờn bà có tánh dâm đãng, bà ta là một nô lệ ở châu Phi.
Từ hoàn cảnh như thế mà ông đã được cứu. Và ông đã trở thành một trong những nhà truyền đạo lỗi lạc nhất của Anh quốc, tác giả của bài thánh ca rất hay có đề tựa là Ơn Lạ Lùng [Amazing Grace].
Khi ông bước vào chức vụ, ông đã cho in Phục truyền luật lệ ký 15.15 bằng những hàng chữ đậm trên một tấm bảng và gắn chặt vào bức tường đối ngang chỗ có đèn sáng, và trước ánh sáng của câu nầy ông đã ngồi soạn từng bài giảng một: “Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi; bởi cớ ấy, ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều nầy”.
Khi trở về già, lúc tâm trí ông bắt đầu suy kém đi, ông nói với người bạn của mình là William Jay: “Trí nhớ tôi gần như không còn nữa; nhưng tôi nhớ hai việc, tôi là một tội nhân và Đấng Christ là Cứu Chúa vĩ đại”.
Chúa đã phán: “Hãy nhớ rằng…”.
Newton nói: “Tôi nhớ chứ! Tôi từng bị hư mất, nhưng giờ đây tôi đã được tìm gặp, tôi đã mù mà bây giờ lại sáng”.
“Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xú Êdíptô, và Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi…” (Phục truyền luật lệ ký 15.15)
26 Tháng 1
JOY
Gia đình Ridderhofs có tiền bạc rất ít, song họ lại rất giàu có về sự ca ngợi, thờ phượng, và tình yêu thương. Con gái của họ là Joy từ lúc 13 tuổi đã biết rõ về Tin lành, cô đã biết dâng tấm lòng mình cho Chúa Jêsus. Cô liên tục học hành tại Đại học đường Los Angeles để chuẩn bị trở thành một nhà giáo. Cũng trong thời gian ấy, Joy rất bận rộn trong việc lãnh đạo các câu lạc bộ Kinh Thánh, làm chứng cho người lân cận, và ca ngợi trong tốp ca bốn người. Bạn bè cô không hề nghĩ rằng cô đang vật lộn với nỗi lo sợ. Những kỳ thi, phát biểu giữa công chúng, và sự bất ổn về tương lai cứ xoay cô quay quanh hết tình trạng lo âu nầy đến nỗi lo âu khác, hầu hết đều kín giấu nhưng thực sự chúng đang ăn luồn từ bên trong.
Thế rồi cô đến dự Hội Nghị Sống Đắc Thắng Cơ Đốc tại Hội thánh của cô. Diễn giả Robert C. McQuilkin tuyên bố: “Lo lắng là tội lỗi. Nó dẫn tới chỗ thiếu đức tin nơi sự quan phòng của Đức Chúa Trời”. Tuần lễ ấy đã làm thay đổi thái độ của Joy, và không bao lâu sau đó cô đã tìm cách ghi danh mình vào Trường Kinh Thánh McQuilkin ở South Carolina.
Bốn năm sau, cô quay trở lại Los Angeles, đã được đào tạo cho chức vụ truyền giáo, nhưng lại không chắc về bước kế tiếp. Cô cầu nguyện: “Lạy Chúa, bất cứ cánh cửa nào mở ra, con sẽ bước vào đấy!”. Không lâu sau đó một thư mời của hội truyền giáo gửi đến cô về Honduras. Joy có ý định hầu việc Chúa tại châu Phi, nên chần chừ. Rồi trong lúc ăn cơm trưa tại nhà của một người bạn, cô tình cờ rút ra một tấm thiếp từ cái hộp nhỏ đựng những câu gốc Kinh Thánh. Đó là Phục truyền luật lệ ký 28.8: “Đức Giê-hô-va sẽ khiến phước lành ở cùng ngươi tại trong kho lúa và trong các công việc của ngươi; Ngài sẽ ban phước cho ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi”.
Câu gốc đã phán trực tiếp với cô trong một phương thức không thể chối cải được, và Joy ý thức ngay sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời đưa cô đến Honduras. Khi cánh cửa mở toang ra, Honduras là chặn dừng chân đầu tiên trên một chức vụ lâu dài, xuyên khắp thế giới dành cho Joy Ridderhofs – nhà sáng lập Gospel Recordings, Inc, một công ty đã phủ lên quả đất với những băng ghi âm tin lành gần 5000 thứ tiếng.
“Đức Giêhôva sẽ khiến phước lành ở cùng ngươi tại trong kho lúa và trong các công việc của ngươi; Ngài sẽ ban phước cho ngươi trong xứ mà Giêhôva Đức Chúa Trời ban cho ngươi” (Phục truyền luật lệ ký 28.8)
27 Tháng 1
MỘT QUANG CẢNH MỚI LẠ
Trong hơn 200 năm các lớp Trường Chúa nhật đã quy tụ thật nhiều người, hàng triệu người nam, người nữ và con trẻ, họ nhóm lại để nghe, học hỏi và nhận xét những lời luật pháp của Đức Chúa Trời. Nhiều ảnh hưởng đến tận tại Robert Raikes – một chủ nhà báo vào thế kỷ 18 ở Gloucester, Anh quốc. Raikes là một người rất giàu có và tự đắt với một ít từ tâm dành cho những đứa trẻ sống đầu làng cuối chợ. Ông quyết định khai trương một trường học dành cho chúng trong những khu nhà ổ chuột ở Gloucester. Khi nhiều em thiếu nhi đến sinh hoạt từ những ngày thứ hai đến thứ bảy, ông đã chọn những ngày Chúa nhật, và trong năm 1780 trường Chúa nhật đầu tiên của ông bắt đầu trong căn bếp của bà Meredith ở Sooty Alley. Thiếu nhi đến học, đọc và viết, sử dụng Kinh Thánh làm sách học. Sau vài năm, cuộc thử nghiệm của Raikes thành công đủ để công khai hoá trên tờ báo của ông.
Rồi ông có một ý kiến khác nữa. Một kỳ lễ hàng năm được tổ chức gần Gloucester, và luôn luôn trong kỳ lễ nầy có nhiều đám đông đến uống say sưa, và sinh hoạt thật náo nhiệt. Raikes đã phân phối những thư mời số người dự tiệc đến chứng kiến một “quang cảnh mới lạ”. Vào ngày Chúa nhật ngày 24 tháng 9 năm 1786, nhiều đoàn dân đông lũ lượt kéo đến. Ở đấy, đứng trước Hội thánh là 331 thiếu nhi Lớp Trường Chúa nhật ăn mặc sạch sẽ. Có nhiều người trong đám đông chưa hề nhìn thấy một đứa trẻ ăn mặc sạch sẽ đàng hoàng bao giờ.
Raikes đã thuyết phục người bạn của ông là Tấn sĩ Samuel Glasse chuẩn bị cho một địa chỉ thật đặc biệt. Glasse đứng dậy, nhìn thẳng vào đám đông, rồi giảng một bài từ Phục truyền luật lệ ký 31.12-13: “Ngươi phải nhóm hiệp dân sự, nào người nam, người nữ, nào con trẻ và khách lạ ở trong các thành của ngươi, để chúng nghe, tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy. Những con cái của dân sự chưa biết việc ấy, sẽ nghe, tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, trọn lúc các ngươi sống…”.
Bài giảng của Tấn sĩ Glasse đã quét qua khắp Anh quốc bằng tài liệu in ấn dưới đề tựa: “Sự trung thành, sự khôn ngoan và sự sắc bén của việc thúc đẩy Trường Chúa nhật”. Và phong trào Trường Chúa nhật không bao lâu đã được thiết lập.
“Ngươi phải nhóm hiệp dân sự, nào người nam, người nữ, nào con trẻ và khách lạ ở trong các thành của các ngươi, để chúng nghe, tập kính sợ Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, và cẩn thận làm theo các luật pháp nầy. Những con cái của dân sự chưa biết việc ấy sẽ nghe, tập kính sợ Giêhôva Đức Chúa Trời các ngươi, trọn lúc các ngươi sống…”
28 Tháng 1
CƠN THẠNH NỘ HẦU ĐẾN
Câu Kinh Thánh đáng ngại ngày hôm nay là một phần lịch sử nổi tiếng ở Tây phương, vì nó làm loé lên Cơn Tỉnh Thức quan trọng đem lại sự phục hưng cho châu Mỹ thuộc địa. Vào ngày Chúa nhật tháng Bảy năm 1741, Jonathan Edwards đến giảng đạo tại Enfield, Connecticut. Trong đêm trước đó, một nhóm phụ nữ tin kính đã bỏ ra cả đêm cầu nguyện xin Đức Chúa Trời thăm viếng thị trấn của họ. Sử dụng câu gốc nầy, Edwards bình tĩnh nói ra những lời sau đây: “Trong câu gốc cảnh báo trước sự báo thù của Đức Chúa Trời giáng trên những người Ysơraên vô tín gian ác, họ là dân sự của Đức Chúa Trời nhìn thấy được bằng mắt thường, và họ đã sống dưới các phương tiện của ân điển; nhưng họ, bất kể mọi công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời đối cùng họ, đã cố tình tránh né sự khuyên lơn, nơi họ chẳng có chút hiểu biết gì hết”.
Edwards cứ tiếp tục nói: “Hạng người không tin theo đạo bước vào hố sâu địa ngục qua lớp vỏ bọc mục nát, và có vô số những chỗ nơi lớp vỏ bọc nầy yếu ớt đến nỗi không cưu mang nổi sức nặng của họ, và những chỗ đó người ta không trông thấy được. Những mũi tên vô hình của sự chết bắn ra lúc giữa trưa, thị lực sắc bén nhất cũng không phân biệt được chúng. Đức Chúa Trời có nhiều phương thức khác nhau không ai hiểu thấu được để bắt lấy kẻ ác ra khỏi thế gian rồi bỏ vào địa ngục… họ xứng đáng với hồ lửa sâu thẳm ấy, và bị án ở trong đó rồi… ma quỷ đang chờ đợi họ, địa ngục đang hả miệng ra ngoạm lấy họ, những ngọn lửa hừng lên chớp lấy họ…”.
Khi Edwards còn đang giảng luận, khán thính giả bị một làn sóng sợ hãi bắt lấy. Số người mạnh mẽ co rúm lại trên chỗ họ ngồi, run rẩy, kêu la. Số phụ nữ ngã lăn ra sàn nhà. Có nhiều người trong đám đông nài xin sự tha thứ của Đức Chúa Trời, và đến cuối ngày, 500 người trong ngôi làng đã trở lại đạo. Cơn phấn hưng quét qua nhiều thị trấn gần đó, rồi hết thành phố nầy đến thành phố khác. Dưới chức vụ rao giảng của Edwards và George Whitefield cùng nhiều người khác, hàng ngàn người đã bước vào Nước Trời, làm biến đổi cục diện đạo đức và thuộc linh ở châu Mỹ.
Edwards phát biểu ở phần kết thúc bài giảng nổi tiếng của ông: “Vì lẽ đó, hãy giúp cho mọi người hiện còn ở ngoài Đấng Christ biết tỉnh thức đặng tránh khởi cơn thạnh nộ hầu đến”.
“Khi chân chúng nó xiêu tó, sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta. Vì ngày bại hoại của nó hầu gần, và những tai họa buộc phải xảy ra cho chúng nó đến mau” (Phục truyền luật lệ ký 32.25)
29 Tháng 1
DỰA VÀO
Tôi lớn lên trong vùng núi Appalachian, trong một Hội thánh vốn ưa thích những bài thánh ca xưa và bài hát Tin lành. Giữa vòng những bài hát ưa thích của chúng tôi là bài nầy, dựa theo Phục truyền luật lệ ký 33.27:
Đúng là một mối giao thông,
quả là một niềm vui thiêng liêng
Khi dựa vào đôi cánh đời đời
Đúng là một phước hạnh, sự bình an thuộc về tôi
Khi dựa vào đôi cánh tay đời đời.
Tôi hay được câu chuyện ở đàng sau bài hát mới đây thôi. A. J. Showalter là một thầy dạy nhạc với tình yêu sâu đậm về công tác nghiên cứu thánh ca, và là một người rất mực yêu thương các học trò của mình. Ông luôn luôn động viên học trò của mình trong nhiều năm tháng sau đó, hay viết thư an ủi và giúp đỡ. Vào một tối kia trong năm 1887, ông có mặt tại Hartselle, Alabama đang hướng dẫn tập hát trong một Hội thánh địa phương. Ông cho giải tán các ca viên vì trời tối, lo tuyển chọn những tuyển tập bài hát quý giá, rồi trở về lại ngôi nhà trọ hàng tháng của mình.
Có hai bức thư được gửi đến, cả hai đều đến từ những cựu học sinh trước đây. Mỗi người đều có tấm lòng tan vỡ, vừa mới mất vợ của mình. Thầy Showalter mở Kinh Thánh ra tìm một câu để yên ủi họ.Ông đã chọn Phục truyền luật lệ ký 33.27: “Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, Ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài…”. Khi ông suy gẫm câu Kinh Thánh ấy, những lời nầy thoạt đến với lý trí ông:
Dựa vào, dựa vào, an ninh
và bảo đảm tránh hết mọi nguy nan
Dựa vào, dựa vào, khi dựa vào đôi cánh tay đời đời.
Ông viết vội vàng hồi âm cho hai người bạn đang đau khổ của mình, rồi rút ra tờ giấy khác. Ông viết cho tác giả Thánh ca Elisha Hoffman. Bức thư ông viết theo ý chính: “Đây là điệp khúc viết cho một bài hát từ Phục truyền luật lệ ký 33.27, nhưng tôi không thể đặt ra được thêm một câu nào nữa”. Hoffman đã viết thêm ba khổ, rồi gửi trả lại. Showalter chuyển nhạc hết bài, rồi kể từ đó, những lời nầy làm cho chúng ta thấy phấn khởi khi ở trong nghịch cảnh của mình:
Tôi phải kinh hãi điều chi,
tôi phải lo sợ điều gì
Khi dựa vào đôi cánh tay đời đời
Chúa ở gần tôi, ôi phước hạnh bình an thay
Khi dựa vào đôi cánh tay đời đời.
“Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi. Ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài…” (Phục truyền luật lệ ký 33.27)
30 Tháng 1
NGAY CẢ TRÊN SÂN GOLF
Những ai đang cần tới sức lực thường mở Giôsuê 1.1-11 ra, một phân đoạn Kinh Thánh có uy lực lớn được ban cho Giôsuê khi ông lên nắm quyền lãnh đạo dân Ysơraên: “Môi-se, tôi tớ ta, đã chết; bây giờ ngươi và cả dân sự này hãy đứng dậy đi qua sông Giô-đanh, Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se… Hãy vững lòng bền chí…”.
Tom Lehman – cầu thủ xuất sắc trong năm vào năm 1996 thường hay nói ra câu nầy. Anh đã đến với Đấng Christ ở Trường Đại học khi có một người bạn đến mời anh dự buổi nhóm Thông Công các vận động viên Cơ đốc. Sau khi chơi golf ở trong trường đại học, anh tham gia Tour PGA một thời gian ngắn nhưng không còn xuất sắc như trước nữa. Vào năm 1991 anh đoạt ba giải ở Tour Ben Hogan, và được bầu là Cầu Thủ Xuất Sắc Nhất trong Năm khiến cho anh đủ tư cách một lần nữa với Tour PGA.
Rồi đến năm 1995, anh gặp một việc rất đáng sợ. Các bác sĩ khám ra những khối u ung thư trong một. Tom cùng với vợ đồng quỳ gối xuống trình vấn đề cho Đức Chúa Trời. Giôsuê 1.9 đã nâng đỡ anh: “Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi”. Cuộc giải phẫu thành công, và Lehman bắt đầu chơi golf lại.
Năm sau, anh và Steve Jones đang chơi ở tổ thứ 18 trong vòng sau cùng của giải U.S. mở rộng. Cả hai đều muốn đoạt được chức vô địch đầu tiên của họ, và họ đã hoà nhau. Tình trạng trở nên căng thẳng, nhưng hai người gây cho mình bình tĩnh bằng cách trưng dẫn Kinh Thánh cho nhau. Lehman nhắc cho Jones nhớ tới Giôsuê 1.9.
Jones đã thắng bằng một cú vuốt. Nhưng khi nhớ lại câu nầy, Tom đã tống khứ tình trạng ngã lòng rồi bước vào giải mở rộng British. Anh đã đến Anh quốc trưng dẫn Giôsuê 1.9 cho bản thân mình. Lần nầy, anh đã thắng bằng hai cú vuốt.
Anh nói: “Trong từng tình huống khó khăn, thậm chí trên sân golf; đừng sợ hãi, cũng đừng mất tinh thần, vì Đức Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi”.
“Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Giôsuê 1.9)
31 Tháng 1
ĐI VÒNG QUANH CÁC BỨC TƯỜNG
Đây là một câu chuyện khác về Joy Ridderhofs.
Joy sinh năm 1903 đã khởi sự một tổ chức có tên là Gospel Recordings, Inc, họ ghi âm tin lành theo từng ngôn ngữ trên đất. Hiện nay công ty đã tiếp cận với năm ngàn thứ tiếng. Và hàng triệu người khắp thế giới đã nghe giảng về Đấng Christ qua hãng ghi âm GR.
Nhưng câu chuyện chẳng có gì là dễ dàng hết. Joy một phụ nữ đơn thân độc mã phát triển sự nghiệp, cô đã đối diện với sự đơn độc, bệnh tật, những chuyến đi nguy hiểm ra vận động ở nước ngoài, và nhiều cơn khủng hoảng về tài chính ở mỗi chặng đường. Năm ấy, Gospel Recordings cần thêm phòng tại cơ sở ở Los Angeles. Joy và ban nhân sự của cô đã cầu nguyện về nhu cầu nầy trong nhiều tháng trời, và thình lình một mặt bằng rộng có khả năng mua được. Mặt bằng ấy lý tưởng lắm, và ban nhân sự được uỷ quyền một số tiền đặt cọc là 6.000 USD. Giá trị tài sản nhiều gấp mười lần số đặt cọc đó, thế nhưng Joy đã từ chối không chịu khẩn cầu công khai về các khoản thu nhập.
Cô đã có mặt ở Illinois, khi hạn cuối cùng đã đến gần. Nếu 60.000 USD không thành hiện thực trong vòng một tuần lễ, tài sản ấy sẽ mất đi cùng với 6.000 USD đặt cọc. Chỉ phân nửa số ấy đang có trong tay, và ban nhân sự của Joy đã gọi báo cho cô trong cơn khủng hoảng. Mọi huấn thị vắn tắt của cô là xưng ra Giôsuê 3.5 và “phải theo kiểu mẫu của thành Giêricô trong bảy ngày còn lại. Và hãy đánh điện báo cho các văn phòng chi nhánh cùng dự phần với chúng ta”.
Không một lời giải thích nào được đưa ra, nhưng không một lý giải nào cần thiết cả. Ban nhân sự đều hiểu rất rõ. Nội dung điện báo đánh đi khắp thế giới: “XÂY DỰNG NGÀY CHÍN THÁNG MƯỜI THEO KIỂU MẪU THÀNH GIÊRICÔ TRONG BẢY NGÀY TỚI GIÔSUÊ 3.5”.
Các bức tường thành Giêricô đã sụp xuống sau khi dân Ysơraên đã đi vòng quanh chúng trong bảy ngày. Cũng một thể ấy, ban nhân sự của Gospel Recordings đã đi vòng quanh nan đề với sự cầu nguyện, hai tiếng đồng hồ một ngày trong bảy ngày.
Các bức tường đã đổ xuống. Trong một cú điện gọi về từ Luân đôn. Một nhân viên GR tuyên bố một tài sản kế thừa bất ngờ vừa mới đến cho hội truyền giáo, và tài sản ấy vừa đủ để hoàn tất việc mua sắm toà nhà.
Ban nhân sự ở tại quê nhà háo hức lên trong Bài ca tụng Chúa Jêsus, và Joy Ridderhofs cứ tiếp tục vòng trao đổi của cô qua Illinois với một câu chuyện mới về sự thành tín của Đức Chúa Trời.
“Hãy làm cho mình ra thánh, vì ngày mai Đức Giêhôva sẽ làm những việc lạ lùng giữa các ngươi” (Giôsuê 3.5)
***

