DAT DNA
Thứ Bảy, Tháng Tư 18, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Hai

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

                                                                     1 Tháng 2

NHƯNG TA

                Vào thập niên 1700, một thanh niên có tên là James Taylor đã cầu hôn với bạn gái của mình, và ngày cưới đã được ấn định. Cả hai người đều không phải là Cơ đốc nhân. Thực ra, James ghét cay ghét đắng các nhà truyền đạo lưu động đến nỗi anh thường ném khoai tây và trứng thối túi bụi vào họ

Một thời gian ngắn trước khi đám cưới, một trong những nhà truyền đạo lưu động của John Wesley đã vào trong thị trấn, và James hay được tin đó, anh muốn phá đám buổi nhóm. Nhưng khi James xen lẫn vào trong đám dông, anh nghe nhà truyền đạo trưng dẫn Giôsuê 24.15: “nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giêhôva”.

Những lời ấy làm cho James đứng thẳng lên như một mũi tên vậy.

Khi ngày đám cưới đến, câu nói ấy hãy còn nằm sâu trong tư tưởng của anh. Buổi sáng đó James lui ra ngoài cánh đồng để suy nghĩ. Anh sắp sửa cưới vợ, lập một gia đình, nhưng anh chưa hầu việc Chúa. Anh quỳ gối trên bãi cỏ rồi thành khẩn cầu xin Đấng Christ làm Cứu Chúa của anh. Ngay khi anh vừa thôi cầu nguyện, anh giật bắn mình khi nhận ra lúc đó là giờ cưới.

Chạy thật nhanh đến nhà thờ, anh xin lỗi vì đã đến trễ, và lễ cưới cứ tiến hành. Khi ấy anh làm cho cô dâu và bạn hữu mình bị sốc khi tuyên bố anh đã trở thành Cơ đốc nhân. Không bao lâu sau đó anh bắt đầu làm chứng cho cô vợ mới của mình, song nàng hãy còn ngần ngại. Sau cùng, một ngày kia James về tới nhà, lòng nặng nề vì nàng đến nỗi anh đã ẳm lấy nàng rồi đưa vào phòng ngủ. Ở đó với một bàn tay mạnh sức anh mời nàng quỳ gối xuống bên cạnh anh. Sau một lúc cả hai đều bật khóc, rồi tại đó, nàng cũng trở thành một Cơ đốc nhân.

Từ đó tám thế hệ đã trôi qua, mỗi thế hệ đều đầy dẫy với những nhân sự Cơ đốc hầu việc Chúa. Giữa vòng họ là chắt nội của James Taylor, Hudson Taylor – nhà sáng lập Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa, là người đã mở cánh cửa nội địa Trung Hoa cho Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ.

                “Nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giêhôva” (Giôsuê 24.15)

 

                                                                     2 Tháng 2

KHI BARÁC LO SỢ

Đã có nhiều Đêbôra từ khi có Đêbôra đầu tiên, có nhiều phụ nữ khôn ngoan và mạnh mẽ, có nhiều cấp lãnh đạo năng nổ giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời. Đêbôra đầu tiên đã tạo ra một tiền lệ thường trở thành tấm lá chắn bảo vệ nhiều người khác tránh bị chỉ trích phê bình. Thí dụ, hãy xem Paula, chào đời trong một gia đình giàu có ở Rome vào năm 347 SC. Bà lớn lên thuộc dòng dõi quý tộc và rất tự trọng, nhưng ở tuổi 33 bà đã  gặp gỡ Đức Chúa Jêsus Christ trong một phương thức đã làm thay đổi đời sống của bà.

Bà trở thành bạn thân với nhà dịch thuật Kinh Thánh rất lỗi lạc là Jerome và hiển nhiên bà đã rời khỏi gia đình ở Rome đến sống gần ông trong thành Bếlêhem. Jerome thì hay gắt gỏng và khó chịu, nhưng Paula cứ quanh quẩn gần gũi ông và đã trợ giúp ông trong công việc của mình. Bà đã lập ra một tu viện gần đó, ở đấy bà và bạn cùng làm việc với bà đã phục vụ cho người nghèo thiếu và người lâm cảnh đói khát. Jerome viết: “Có người nghèo nào, khi họ nằm chờ chết, mà không được Paula đắp chăn cho không? Có người nào nằm ốm liệt giường mà không được giúp đỡ bằng đồng tiền trong túi của nàng không?”.

Jerome và Paula đã làm việc bên cạnh nhau, không lập gia đình, giống như hai anh em vậy. Khi Jerome làm việc đến lúc kiệt lực, lo dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, Paula đã trả mọi chi tiêu của ông từ tài sản bà thừa kế của gia đình và đã lo toan mọi tiếp trợ cho công việc của ông. Bà đã sao chép lại các bản thảo của ông. Bà học tiếng Hylạp, tiếng Hy bá lai và đã phê phán công việc của ông. Jerome là người rất cần sự khuyến khích khôn khéo mang tính phê phán đã thấy rõ sự vô giá trong những lần đối đáp với bà. Bà rất mạnh mẽ, sắc sảo, tử tế, và biết đầu phục.

Khi Jerome hoàn chỉnh xong những bản dịch của mình về sách Gióp, Êsai, Samuel, Các vua, Êxơtê, Galati, Philêmôn, Tít, và các sách tiên tri, ông đã đưa hết các sách ấy cho Paula. Ngay lập tức, độc giả của ông phản đối ngay: “Trao hết các sách nầy cho một phụ nữ ư? Làm vậy có ý gì chứ?”.

Nhưng Jerome đã có sẵn một câu trả lời: “Những người nầy không biết đang khi Barác lo sợ, Đêbôra đã giải cứu dân Ysơraên”.

Và những người phê phán ông đã không trả lời chi được trước câu nói nầy.

 

                “Trong lúc đó, Đêbôra, là nữ tiên tri, vợ của Lápbiđốt, đoán xét dân Ysơraên” (Các quan xét 4.4)

 

                                                                     3 Tháng 2

CHẾT BỞI CÂY NỌC TRẠI

                Trong hơn hàng trăm năm, nhiều vị Mục sư trên khắp thế giới đã lấy làm lạ trước các bài giảng của Charles Haddon Spurgeon. Ông không chuẩn bị bản thảo trong quá trình sửa soạn, đôi khi ngay ngày thứ Sáu ông đã biết mình phải giảng đề tài gì vào ngày Chúa nhật rồi. Tuy nhiên, khi ông đứng dậy giảng, khán thính giả đã xuất thần do tài hùng biện, sự sáng suốt, và uy quyền của ông. Hơn nữa, tôi rất có ấn tượng qua tính thẳng thừng của ông. Toà giảng của Mỹ ngày nay đôi khi giảng về: “địa ngục, lửa, và lưu huỳnh”. Nhưng Spurgeon chẳng có một chút lo ngại gì về điều đó. Ông thường sử dụng những minh hoạ bình dị nhất có thể hình dung được để khiến người ta cảm thấy có nhu cầu phải ăn năn ngay. Vào một Chúa nhật kia, khi ông đang trổ tài hùng biện về đề tài nầy, tâm trí ông bắt ngay câu chuyện nói về Đêbôra trong Các quan xét 4.

Trong chương đó, đoàn quân ô hợp của Đêbôra trên đường chạm trán với các lực lượng của Sisêra, Vua xứ Canaan. Sisêra đã chạy trốn thoát thân cho tới lúc hắn kiệt sức hoàn toàn. Vào tới một ngôi làng quen thuộc, hắn tìm nơi ẩn náu trong trại của một phụ nữ có tên là Giaên. Bà nầy ra chào tiếp, cung cấp thức uống cho hắn, chỉ cho hắn chỗ phải gối đầu, và hứa làm cho những ai truy tìm hắn phải lạc lối.

Thế rồi khi hắn nằm xuống ngủ, bà ta đã lấy một cây búa và cây nọc trại đóng thủng màng tang của hắn thấu xuống dất. Kinh Thánh nói rất vắn tắt: “người chết đi”. Spurgeon đã nhìn thấy ở đây một sự cảnh cáo rất ghê khiếp đối với người không chịu ăn năn.

Nhiều người trong quý vị cũng như vậy đấy, quý vị đang ngủ say trong cảnh hiểm nghèo cho linh hồn mình; Satan đang đứng kia kìa, luật pháp đã sẵn sàng, sự báo thù hiển hiện, và hắn nói như vầy: “Tôi sẽ đánh hắn sao? Tôi sẽ đánh hắn một lần nầy, và hắn sẽ không hề chỗi dậy nữa”. Giống như Sisêra, tôi nói cho quý vị, hạng tội nhân biết, quý vị đang ngủ say trong trại của kẻ huỷ diệt; quý vị có thể uống sữa và mật từ một cái đĩa có vẻ nhân từ lắm; nhưng quý vị đang ngủ say nơi cánh cổng của địa ngục; thậm chí kẻ thù hiện đang dơ cao cây búa và cây đinh để đóng vào quý vị, xuyên thủng qua màng tang và làm cho quý vị ngã nhanh xuống đất, rồi quý vị sẽ nằm đó vĩnh viễn trong cái chết đau khổ đời đời…”.

Như thường lệ, Charles Spurgeon đã thành công trong việc đóng cây đinh vào đầu màng tang.

 

                “Bấy giờ người ngủ say, vì mệt nhọc quá; Giaên, vợ Hêbe, bèn lấy một cây nọc trại, và tay nắm cái búa, nhẹ nhẹ đến bên người, lấy cái nọc đóng thủng màng tang người, thấu xuống đất, và người chết đi” (Các quan xét 4.21)

 

                                                                     4 Tháng 2

SAMUÊN VÀ ANNE

                Câu chuyện nói về Anne và đứa con trai Samuên của bà có một bản sao hiện đại nơi Adjai Samuel Crowther và mẹ của ông. Adjai 11 tuổi bị những tên buôn nô lệ bắt gần ngôi làng của ông tại vũng Tây phi Châu vào năm 1820. Cậu bé đầy kinh hãi kia bị ném vào một vòng rào đông đúc những nô lệ, rồi bị xiềng trên boong một chiếc tàu buôn chở đi. Ông đã gánh chịu nỗi hoang mang và đau khổ không tả xiết cho tới khi chiếc tàu bị một tàu Anh chạy bằng hơi nước bắt giữ. Adjai được giải thoát và được trao cho các giáo sĩ đang ở tại Sierra Leone chăm sóc. Ở đó ông được ghi danh vào trường học và đã nghe giảng về Đức Chúa Jêsus Christ. Một vị giáo sĩ rất nhân từ là Samuel Crowther đã đóng học phí cho sự ăn học của ông. Adjai chịu phép báptem ở tuổi 16, và ông mang lấy tên của ân nhân nầy: Adjai Samuel Crowther.

Trong thời gian ấy, Samuel, khi ông được kêu gọi đã lên đường sang Anh quốc để tiếp tục việc học hành của mình. Tâm trí sắc sảo của ông nắm bắt các ngôn ngữ cùng mọi lập luận rất nhanh, ông rất có tài tháo vát, tỉ như trong nghề mộc chẳng hạn. Khi ông trở về trong vai trò một Mục sư cho Châu Phi, ông đến ngụ gần sông Niger, lấy vợ, giảng đạo, mở ra một trường học đóng bằng ván cho trẻ em người Phi Châu, và làm việc không ngừng nghỉ vì cớ tin lành.

Nhiều năm tháng trôi qua, và ngày kia Samuel đang rao giảng ở Freetown cách chỗ ông bị bắt cóc không xa lắm. Trong khoé mắt của ông, ông nhìn thấy một bà cụ già, lưng khòm cúp xuống bộ thiểu não lắm. Vóc dáng bà tỏ ra bà cưu mang một nỗi buồn rất lớn. Khi ông nói chuyện với bà, bà mở lòng ra, kể cho ông nghe về cuộc sống khó nhọc và nỗi mất mát hết thảy những đứa con của mình. Bà cất tiếng lên khóc: “Nhưng tệ hơn hết là việc mất đi đứa con trai út là Adjai”.

Samuel nhìn thẳng vào đôi mắt của bà rồi nhận ra ấy chính là mẹ của ông. Một thời gian ngắn sau đó bà tự mình trở thành một Cơ đốc nhân, và khi chịu phép báptem, bà cũng lấy một cái tên Cơ đốc. Bà chọn tên Anne, mẹ của Samuel, người của Đức Chúa Trời.

 

                “Đương trong năm, Anne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Samuên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Đức Giêhôva” (I Samuên 1.20)

 

                                                                     5 Tháng 2

XE NGỰA LỬA

                Gửi con mình lại trong một ngôi trường nhỏ ở Anh quốc là việc khó nhất mà Tấn sĩ James Dunlop Liddell, vị giáo sĩ người Tô cách Lan cho Trung quốc đã từng làm. Song Eric đã phát triển nhanh giống như một con thỏ rừng đang phóng mình trên vùng đất cao nguyên. Anh rất chịu khó học tập. Anh ưa thích các bộ môn thể thao, đặc biệt là bóng bầu dục. Anh tham dự một lớp học Kinh Thánh, đến nhóm ở nhà thờ thật đều đặn, và đã trở thành một thành viên của Hội Cơ đốc Crusader, anh cũng bắt đầu một thói quen cho suốt cuộc đời: ấy là mỗi sáng đọc Kinh Thánh và cầu nguyện.

Eric lên tới Đại học, tham dự vào đội đua, và đã thắng các cuộc đua như một con ngựa nòi vậy. Mỗi tuần lễ anh đem về nhà thêm nhiều cúp, giải thưởng cho tới chừng anh phải sử dụng cả mặt bằng của nhà kho để cất giữ các thứ ấy. Đôi chân của anh đã trở thành báu vật của quốc gia người Tô cách Lan, và cả thế giới đã dõi theo anh đến Thế Vận Hội 1924.

Đang khi ấy, đời sống Cơ đốc của Eric cứ tiếp tục lần theo những dấu hiệu nhanh nhất, và danh tiếng của anh mới tìm được cung ứng nhiều cơ hội cho việc giảng đạo và làm chứng. Ở kỳ Thế Vận Hội tại Paris, đức tin của anh bị đưa vào thử nghiệm khi cuộc đua 100m do anh lựa chọn bị sắp vào ngày Chúa nhật. Eric là người chẳng tin tưởng vào cuộc đua tranh vào ngày của Chúa, nên đã quyết định không tham dự. Thay vào đó, anh đã tham dự cuộc chạy 400m trong lúc cả thế giới theo dõi và lấy làm ngạc nhiên.

Trong phòng thay quần áo ngay trước cuộc chạy, Eric mở một mẩu giấy nhỏ mà nhân viên xoa bóp của đội đã trao cho anh. Mảnh giấy ấy viết: “Trong quyển sách cũ kia có chép: Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng…”. Rất mong anh làm hết sức mình, luôn luôn đoạt được thành công”. Eric vốn biết rõ câu Kinh Thánh ấy lắm. Đó là I Samuên 2.30. Anh mỉm cười và quyết chắc trong trí rằng, thắng hay thua, anh sẽ cứ tôn kính Đức Chúa Trời.

Thời gian anh đạt được trong ngày đó là 47,6 giây. Anh đã thắng cuộc. Anh đã lập được một thành tích thế giới mới. Anh và Chúa đã cùng tôn trọng nhau.

 

            “Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại” (I Samuên 2.30)

 

                                                                     6 Tháng 2

XIN THÔI VIỆC

                Bất cứ khi nào ý muốn của chúng ta đi ngược lại với ý chỉ của Đức Chúa Cha, đầu phục là khôn ngoan nhất đấy.

…Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha – Mathiơ 26.39

                …chúng ta không ép nữa, mà nói rằng: Xin cho ý muốn của Chúa được nên! – Công vụ các sứ đồ 21.14

                …nếu tôi phải chết thì tôi chết – Êxơtê 4.16

                Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài – Gióp 13.15

                Xin dạy tôi làm theo ý muốn Chúa – Thi thiên 143.10

                Vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta – Giăng 5.30

                Cũng hãy xét lại những lời lẽ của Hêli trong I Samuên 3.18, vì chúng từng giúp cho Robert Moffat trải qua một tình thế ngã lòng cay đắng lắm. Ông đã rơi vào cảnh yêu đương với con gái người chủ của mình là Mary Smith. Ông muốn cầu hôn, và Mary cũng muốn nhận lời rồi. Họ mơ ước được cùng nhau hầu việc ở Nam Phi. Nhưng họ đã sống trong thời buổi mà các vị giáo sĩ lần lượt kéo nhau tuận đạo. Bố mẹ của Robert dù lo sợ lại bằng lòng để cho ông ra đi. Còn bố mẹ của Mary thì từ chối. Họ không chịu nhìn nhận con gái mình. Họ nói cũng không thể ưng thuận được.

Tấm lòng của Robert tan nát. Liệu ông có chịu cưới người yêu của mình rồi ở lại xứ Tô cách Lan không? Hay ông sẽ phục theo ý chỉ của Đức Chúa Trời? Ông viết thư cho bố mẹ với câu trả lời: “Từ sự hướng dẫn rõ ràng nhất của Đấng Tối Cao, Ngài bảo con hãy ra đi một mình, và Ngài là Đấng ấn định các bước thử thách và sự ngã lòng, cũng chấp đơn xin thôi việc và ban ân điển đủ cho kỳ định. Vì vậy con dạn dĩ mượn lời nói của Hêli mà thưa rằng: ‘Hêli đáp rằng: Ấy là Đức Giêhôva, nguyện Ngài làm đều đẹp ý Ngài!’”. Thế là vào ngày 18 tháng 10 năm 1816, Robert và Mary chia tay nhau, và Robert lên tàu một mình và bị đau khổ dày vò.

Song câu chuyện lại kết thúc một cách ly kỳ. Ba năm sau đó, bố mẹ của Mary đã chịu thua nàng trước sự gìn giữ của Chúa và cho phép nàng đến với Robert tại Châu Phi. Sau cùng hai người đã thành hôn, và tay trong tay bước vào cuộc hành trình truyền giáo đáng nhớ trong năm mươi năm kế đó.

 

                “Hêli đáp rằng: Ấy là Đức Giêhôva, nguyện Ngài làm đều đẹp ý Ngài!” (I Samuên 3.18)

 

                                                                     7 Tháng 2                                                                                                       

ĐÔI BÒ ĐƯỢC CHỌN

                Đức Chúa Trời là Đấng rất ưa thích thú vật. Ngài đã tạo nên các loài thú, Ngài đã giải cứu chúng trong khi có Nạn Lụt, và Ngài thường sử dụng chúng trong Kinh Thánh. Có nhớ con lừa của Balaam không? Con gà trống của Phierơ? Những con chim quạ của Êli? Và trong I Samuên 6, Chúa đã sử dụng hai con bò cái tơ. Người Philitin đã chiếm lấy Hòm Giao Ước của Ysơraên và đã gánh chịu nhiều đau khổ. Với lòng mong muốn đưa trả chiếc Hòm ấy về, họ đã đặt Hòm vào một chiếc xe do hai con bò kéo, rồi để cho chiếc xe đi tùy tiện. Dường như Chúa đã nắm giữ dây cương, vì chiếc Hòm đã đi thẳng về lại xứ Ysơraên.

Barnaba Shaw – một bạn đồng sự của Robert Moffat ở Nam Phi đã có một kinh nghiệm tương tự. Shaw là một giáo sĩ của hệ phái Giám Lý từ Anh quốc đến. Ông đã hành trình qua Capetown để giảng Tin lành, chỉ bị quan toàn quyền cấm không cho giảng đạo. Nhất định tiến hành công việc, Shaw đã mua một cặp bò và chiếc xe xong, ông chất hành lý của mình lên phía sau xe. Shaw cùng với vợ bước lên chỗ ngồi rồi để cho Chúa cầm dây cương.

Đôi bò cứ ngao du vào sâu phía đất liền, vừa rống vừa lê bước về phía trước ngày nầy sang ngày khác, đi hơn 200 dặm không đầy một tháng. Một buổi tối kia, trong khi cắm trại bên khu rừng cây, Shaw nghe thấy nhiều tiếng ồn đang đến gần. Sau khi quan sát kỹ càng, ông thấy một bộ tộc có tên gọi là Hottentots dẫn đầu là vị tù trưởng – Little Namaqualand. Họ đã rời bỏ nhà cửa cùng ngôi làng của họ để đến Capetown tìm một giáo sĩ đến giảng dạy cho họ: “Ngôi Lời Vĩ Đại”.

Một bên đã khởi hành được nửa ngày đường, một bên thì mới đổi hướng đi được chừng nửa dặm, họ đã được gặp nhau. Khi gặp được Barnaba Shaw rồi, ông lập ra một công việc nhiều tiến triển giữa vòng họ, ông đã bỏ ra mười một năm trước khi về nghỉ phép tại Anh quốc.

Trong hết thảy mọi sự, ông đã hiến tất cả 40 năm cho việc phát triển Tin lành tại Nam Phi.

 

                “Hai con bò cái đi thẳng theo đường về Bếtsêmết, vừa đi vừa rống, không xây bên hữu, cũng không xây bên tả” (I Samuên 6.12)

 

                                                                     8 Tháng 2

Ê-BÊN-Ê-XE

                Những người chuyên sưu tầm sách của Boreman, các khoản lựa chọn của họ là dí dỏm, nồng nhiệt và đầy dẫy sự khôn ngoan. Trong quyển Bên kia đồi, Boreman là Mục sư ở Tân Tây Lan và nước Úc, ông thuật lại về sự lớn lên khi còn ở tại Anh quốc.

Trong ngôi nhà xưa dấu yêu ở Tumbriege Wells, ở đấy có treo một câu gốc. Đó chỉ là một tờ bìa giấy cứng, cắt ra từ góc một tờ lịch; thế mà nếu cần phải dời đi bức tranh đẹp trang trí trong nội thất để nhường một chỗ cho tờ bìa cứng nầy, thì đó là một việc đáng phải làm. Tờ bìa ấy ghi:

“Đức Giêhôva đã cứu giúp

chúng tôi đến bây giờ”

Tờ bìa cứng ấy đã treo trong ngôi nhà đó hơn 30 năm rồi, nhưng tôi còn nhớ mới như hôm qua thôi, cái ngày mà nó xuất hiện. Chúng tôi – những cậu bé với một sự hiểu biết non nớt, bố mẹ chúng tôi đã khó nhọc nhiều trong mọi sự. Ông trông lúc nào cũng có vẻ đăm chiêu và lo lắng; đôi mắt của bà thường đỏ hoe và sưng húp lên. Rồi một ngày kia cái khung mới mẻ đó được đem ra gắn trên tường. Giống như thời tiết vừa tạnh ráo; sương mù đã tan biến đi rồi vậy; bố mẹ đã sống hạnh phúc hơn. Chúng tôi tập trung can đảm yêu cầu một sự giải thích.

                [Mẹ cho biết:] “Các con biết đấy, bố mẹ đã có nhiều phiền muộn, và bố mẹ rất sợ phải phiền muộn nặng nề hơn nữa. Vào ngày thứ ba tuần lễ vừa qua, mẹ không còn sức để làm việc, ẳm lấy em bé, rồi cứ đi tới đi lui trong bếp, mẹ cảm thấy mình không còn chịu đựng được nữa. Khi cứ luây quây như thế, mẹ dừng lại trước tờ lịch treo tường kia. Việc duy nhất mẹ nom thấy là câu gốc Kinh Thánh trong góc kẹt đó. Giống như thể có ai đó đã phán ra những lời nầy: “Đức Giêhôva đã cứu giúp chúng tôi đến bây giờ”. Mẹ thấy đỡ hơn trước đó nhiều, mẹ ngồi xuống và bật tiếng reo mừng rỡ; và rồi lòng mẹ trở lại với một tấm lòng và sự tin cậy tươi mới hơn. Khi bố đi làm về, mẹ nói với bố về câu Kinh Thánh đó, và ông đã cắt câu ấy bằng con dao nhíp rồi đem treo nó ở chỗ mà các con đang trông thấy đấy”.

Bao lâu ông còn sống, F. W. Boerman không bao giờ quên được quyền phép của bài học ấy.

 

                “Bấy giờ, Samuên lấy một hòn đá dựng lên khoảng giữa Míchba và Sen, đặt tên là Ê-bên-ê-xe. Vì người nói rằng:Đức Giêhôva đã cứu giúp chúng tôi đến bây giờ” (I Samuên 7.12)

 

                                                                     9 Tháng 2

NHỮNG LỜI QUÝ BÁU ĐÓ

                Trên kệ sách của tôi có một quyển sách cũ với đề tựa là: “Tự truyện của Lemuel Norton: Gồm đời sống niên thiếu – Hai năm trong xưởng in sách – Mười một năm sống ngoài biển, trong đó hai lần ông bị đắm tàu, và đã kinh nghiệm vài lần thoát chết. Cũng có những kinh nghiệm và công việc Cơ đốc của ông trong chức vụ Tin lành”.

Có lần trở về nhà giữa hai chuyến du hành. Norton lúc bấy giờ chưa tin Chúa đã ngủ chung với Deacon Weed – là người hay cầu nguyện trong chỗ kín đáo: “Lạy Chúa, con sẽ nằm ngủ chung với tội nhân chẳng chịu ăn năn nầy”. Norton về sau đã nhớ lại:

“Sáng hôm sau tôi thức dậy với một giọng lằm bằm, nó làm cho tôi ngạc nhiên không ít. Trong mấy phút, người nhà quê kia thức giấc rồi đi tới chỗ mẹ tôi đang dùng điểm tâm, ông ta nói: ‘Đứa con trai của bà rồi đây sẽ trở thành một Cơ đốc nhân’. Mẹ tôi đáp: ‘Điều chi đã làm cho ông nghĩ thế, Deacon Weed?’ Ông ta đáp: ‘Tôi đã cầu xin Chúa nếu Ngài có quyền khiến cho anh ta trở thành một Cơ đốc nhân, xin khiến cho anh ta lằm bằm đi; và tức nhiên anh ta đã lằm bằm rồi đấy’”.

Thật như thế, Norton không bao lâu sau đó đã trở lại đạo và bắt đầu ngấu nghiến Kinh Thánh.

Đến năm 1817, ngày Lễ Cảm Tạ là lần đầu tiên tôi đưa ra một câu gốc và tìm cách giải thích câu ấy cho Hội thánh. Trước đó một ngày trong khi tôi di dọc theo con đường, mấy lời nầy đã đập vào lý trí tôi: “Chỉ hãy kính sợ Đức Giêhôva, lấy hết lòng trung tín phục sự Ngài; vì khá xem những việc lớn lao mà Ngài làm cho các ngươi là dường nào!”. Mấy lời nầy thật chứa đầy sự khích lệ, tôi thấy rất xứng đáng làm nền cho bài giảng ngày mai. Khi Hội thánh đã nhóm lại rồi, vị chấp sự hướng dẫn chương trình trao quyển Kinh Thánh cho tôi. Tôi mở ra câu Kinh Thánh với địa chỉ ở trên, rồi đọc lên với sự trân trọng mấy lời quý báu đó, vì đấy là thức ăn cho linh hồn tôi ngày hôm qua. Và nếu mấy lời nầy đã tìm được chỗ trong từng tấm lòng, thì phải dành cho chúng một sự trân trọng nhất.

                Tôi mới giảng có hai mươi phút với sự tự do có được, lúc ấy tôi thấy không còn có gì để nói nữa, tôi bèn ngồi xuống. Từ ngày nầy trở đi ai nấy đều hiểu rằng tôi đã khởi sự rao giảng tin lành…

 

                “Chỉ hãy kính sợ Đức Giêhôva, lấy hết lòng trung tín phục sự Ngài; vì khá xem những việc lớn lao mà Ngài làm cho các ngươi là dường nào” (I Samuên 12.25)

 

                                                                   10 Tháng 2                                                                                                       

BỊ LƯU LẠI

                Quân đội của Đavít đã lao vào trận chiến, nhưng các chiến sĩ bị kiệt sức đã ở lại đàng sau để canh chừng trại quân. Sau đó các chiến sĩ tham gia trận đánh đã từ chối không chịu chia chiến lợi phẩm cho số người ở lại đàng sau. Nhưng vua Đavít đã đưa ra lịnh truyền như vầy: “Phần của kẻ ra trận và phần của kẻ giữ đồ vật phải bằng nhau; chúng ta sẽ chia cho nhau vậy”. Mấy lời đó gần như được thương gia Allan Emery học thuộc lòng.

Bố của Emery đã chia sẻ câu chuyện với gia đình ông tại một bữa ăn tối, sau khi trở về từ một chuyến buôn làng. Khi rời xe lửa vào buổi trưa hôm ấy, ông Emery là người mà ai cũng biết là tin theo đạo Tin lành, có một người gác cổng đến gần ông. Ông dừng chân đứng lại rồi lắng nghe câu chuyện của nhân viên đó.

Người gác cổng kia nói: “Có hai đứa con trai trong gia đình tôi. Mẹ tôi chịu khó làm việc để nhìn thấy chúng tôi được ăn học đến nơi đến chốn. Tôi là một học sinh giỏi. Khi tôi tốt nghiệp trung học, ao ước của tôi là muốn chu toàn mọi mong muốn của mẹ tôi: Bà muốn tôi trở thành một nhà truyền đạo. Phải đấy, trong khi tôi lo học hành, em tôi đã đi theo mọi hướng ngược lại. Nó nhậu nhẹt, lo tụ tập bạn bè và gần như tự giết bản thân nó bằng cách sống theo ma quỷ. Ngay lúc tôi được nhận vào đại học, thì em tôi cũng vừa trở lại đạo.

                Nó không có gì cả, vì vậy nó mới yêu cầu tôi tiếp trợ cho phần ăn học của nó. Tôi rất sung sướng khi nhìn thấy sự đổi thay lớn lao trong đời sống của nó, tôi đã đồng ý và ngày nay em tôi là một nhà truyền đạo mà ai trong nước cũng biết tới. Ông có thể nghe nó giảng trên đài phát thanh. Nó đã dẫn đưa hàng ngàn người đến với Đấng Christ. Vì vậy, ông thấy đấy, tôi không thể bước vào hội truyền giáo và tôi hiện nay đã luống tuổi rồi. Ông Emery ạ, ông có nghĩ Chúa sẽ ban cho tôi công trạng về những linh hồn mà em tôi đã dẫn về với Ngài không?”.

Buổi tối ấy tại bàn ăn, ông Emery gần như tan vỡ khi ông thuật lại cho gia đình nghe câu chuyện đó và khi ông chia sẻ lại câu trả lời của ông. Young Allan nghe xong câu chuyện không bao giờ quên được nguyên tắc của I Samuên 30.24, hoặc sự khôn ngoan của cha mình khi chia sẻ lại câu chuyện ấy.

 

                “Phần của kẻ ra trận và phần của kẻ giữ đồ vật phải bằng nhau; chúng ta sẽ chia cho nhau vậy” (I Samuên 30.24)

 

                                                                   11 Tháng 2

“QUÂN GIẾT NGƯỜI! QUÂN GIẾT NGƯỜI!”

                George Whitefield – nhà truyền đạo rất năng nổ với một giọng nói có thể nghe thấy khi còn cách cả dặm đường, ông đến tại Plymouth, Anh quốc để dự một chiến dịch truyền giảng tin lành, nhưng có một nhóm người đe doạ làm hại ông. Căn phòng của ông đã bị trộm bẻ khoá, và Whitefield di chuyển sang một địa chỉ mới không ai biết. Tên ác ôn đặt một cái bẫy khác để nhữ ông, song Whitefield đánh hơi thấy kẻ gian ác, nên đã không xuất hiện. Kẻ âm mưu đầy căm phẫn nên mưu giết ông trong đêm đó.

Khi Whitefield bị kiệt sức, trở về lại căn phòng rồi thay đồ định đi ngủ, thì có tiếng gõ cửa. Một người quý phái ăn mặc bảnh bao muốn nói chuyện với ông, ông đã tiếp người đó. Whitefield có khi từ chối không tiếp một “Nicôđem” nào đến trong ban đêm với ý muốn được sanh lại. Ông nhận ra người ăn mặc bảnh bao đó là một viên trung úy khi đất nước còn chiến tranh. Họ đã tán gẫu trong một lúc, song khi Whitefield hỏi tên của người ấy, thì được trả lời bằng một cái tên giả, tên đó của một viên sĩ quan khác. Whitefield bèn nói: “Không thể được, tôi vừa gặp vị sĩ quan ấy cách nay hai tuần”.

Người kia thình lình bật dứng dậy rồi chỉa cây ba toong ngang đầu của Whitefield, bắt đầu tấn công. Nhà truyền đạo kinh hãi hét lớn lên: “Quân giết người! Quân giết người!”. Tên ác ôn khác nữa nhảy vào tấn công, “Quân giết người! Quân giết người!” hắn ném bà chủ nhà trọ xuống thang lầu. Những người láng giềng gần đó, khi họ nghe những tiếng la kêu cứu, đã đuổi theo mấy kẻ nọ, nhưng các tin tức nói về sự mưu hại đã lan nhanh giống như một tia sét vậy, và ông đã chỗi dậy cứ tiếp tục rao giảng. Whitefield đã đối diện với một đoàn dân rất đông. Ông bắt đầu giảng dạy, chẳng để ý có kẻ tấn công khác đang trà trộn trong đó. Harry Tanner – một tay ác ôn hãy còn trẻ tuổi, hắn hoạch định làm hại nhà truyền đạo.

Thế nhưng khi Tanner trong nổi khiếp đảm, hắn nhìn thấy George Whitefield thình lình tiến thẳng về phía hắn, ông nhìn thẳng vào mắt hắn, rồi thẳng thừng nói ra những lời lẽ sấm sét mà Nathan đã nói cùng vua Đavít: “Ngươi là người đó!”. Tanner thấy chao đảo trong chỗ sâu thẳm của linh hồn mình. Qua ngày sau hắn đã trở lại với buổi truyền giảng tin lành, và lần nầy hắn đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ.

 

                “Bấy giờ, Nathan nói cùng Đavít rằng: Vua là người đó!” (II Samuên 12.7)

 

                                                                   12 Tháng 2

MONG MUỐN LÚC HẤP HỐI

                Chính những lời nói lúc hấp hối của bố mẹ ông đã dẫn Sam Jones đến với Đấng Christ.

Những lời nói sau cùng của mẹ ông, rập khuôn theo II Samuên 12.23: “Sam ơi, ta sẽ không còn trở lại cùng con được nữa, song con có thể đến với ta”.

Nhưng thay vì thế, Sam đã trở thành một tay nát rượu sống trong vô vọng. Thế rồi, trong một cuộc chè chèn say sưa, ông hay tin cha mình sắp qua đời. Ông đã chạy ùa về bên giường bệnh, và bố ông than vản: “Đứa con trai gian ác, bướng bỉnh, vô tâm và đáng thương của ta. Con đã hạ ta xuống thật thấp bước vào mồ mả trong sự buồn thảm. Nầy con, hãy hứa đến gặp ta trên thiên đàng nhé!”.

Sam cảm thấy bùi ngùi, nên quỳ gối xuống kêu lên: “Con hứa, con sẽ bỏ không uống rượu nữa. Con sẽ gặp Bố và Mẹ trên thiên đàng”.

Tôi đến quán rượu và gọi một ly rượu xong, tôi nhìn vào tấm gương soi. Tôi nhìn thấy mái tóc tôi đã ngã màu, vết bẩn do ói mửa hãy còn vương trên quần áo tôi, một trong hai mắt tôi đã nhắm lại, và đôi môi sưng phồng lên. Tôi nói: “Đấy có phải là chàng luật sư lắm tự hào và sáng chói không, hỡi Sam Jones?” Tôi đặt ly rượu xuống sàn nhà, hai đầu gối tôi khuỵu xuống đấy rồi kêu la: “Ôi Đức Chúa Trời! Ôi Đức Chúa Trời! Xin thương xót con!” Người phục vụ quầy rượu chạy đến bên cạnh tôi và tưởng tôi sắp chết. Tôi bước trở lại quầy và gọi một ly cà phê đen. Tôi đã trải qua ba ngày đêm trong địa ngục, nhưng khi buổi sáng đến, có một việc gì đó đã xảy đến cho Sam Jones nát rượu kia. Tôi đến cửa hàng bán quần áo rồi nói: “Tôi muốn cô bán cho tôi một bộ com-lê. Tôi mới được cứu tối hôm qua”. Tôi đến tiệm hớt tóc vì cả tháng rồi tôi đã không cạo râu. Tôi đến gặp vợ tôi, tôi đã đánh đập nàng cho đến bầm đen hết. Nàng đã không nhận ra chính người chồng của mình. Tôi nói: “Em yêu, Đức Chúa Trời đã ban cho em một người chồng mới và cho mấy đứa con một người cha mới, và anh rất đỗi ngạc nhiên nếu em chịu tha thứ cho anh và bỏ qua hết mọi chuyện.

                Tôi đã đi khắp xứ khoe khoang về Chúa Jêsus kể từ ngày ấy.

 

                “Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta” (II Samuên 12.23)

 

                                                                   13 Tháng 2

DÂN RẤT LỚN

                Vào lúc 5 giờ chiều ngày 12 tháng 4 năm 1945, Phó Tổng Thống Harry Truman rất mệt mỏi sau buổi trưa ở Thượng Nghị Viện Hoa kỳ nên mới bước vào nghỉ ở văn phòng riêng của Sam Rayburn trong điện Capitol. Có ai đó đã nhắc nhở ông rằng Nhà Trắng có gọi điện đến. Harry nhấc máy điện thoại lên rồi quay số, mã Quốc gia 1414. Thư ký báo chí Steve Early nhấc máy nghe giọng nói bồn chồn, ông ta hỏi Truman có chịu “mau mau và bình thản” đến Nhà Trắng hay không!?! Ông phải đến theo lối chính vào Đại lộ Pennsylvania.

Harry một mình bước ra khỏi phòng, rồi bắt đầu chạy băng qua sảnh đường thật hoa mỹ của điện Capitol, đôi giày nện thình thịch trên mặt đá cẩm thạch. Ông nhào đại vào chiếc Mercury cũ kỹ của mình rồi tăng tốc qua các giao lộ. Đến 5 giờ 25, ông băng mình qua mái vòm của toà nhà ở phía Bắc. Hai viên sĩ quan cầm lấy mũ của ông rồi hộ tống ông đến chiếc thang máy nhỏ. Đang đứng đợi ông trên lầu là Eleanor Roosevelt. Ông ta nói: “Harry, Tổng Thống mới qua đời”.

Truman ấp úng hỏi một câu: “Tôi có thể làm gì được cho quý ông đây?”.

Eleanor đáp: “Có việc chi chúng tôi có thể làm cho Ngài không? Ngài là nhân vật hiện nay đang ở trong cảnh rối rắm đấy”.

Đêm hôm ấy, Truman thực hiện lời thề làm Tổng Thống của nước Mỹ, bàn tay ông đặt trên quyển Kinh Thánh Gideon cũ đặt trên bàn làm việc của sĩ quan tuỳ viên của Nhà Trắng. Ngày thứ Hai sau đó, Truman đã phát biểu một bài diễn văn trước Quốc Hội. Lời nói của ông chấm dứt chỉ trong vòng mười lăm phút. Hầu hết bài viết ấy do nhân viên soạn điển văn cho Tổng Thống viết, nhưng phần kết luận thì chính ông đã thêm vào. Quốc Hội thì im lặng và cả nuớc đã cảm động qua sóng vô tuyến khi ông nói: “Trong giờ phút nầy tôi có trong lòng tôi một lời cầu nguyện. khi tôi thừa nhận trong mọi vai trò của mình, tôi hạ mình xuống cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng, theo lời lẽ của Vua Solomon: ‘Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn nầy của Chúa?’ Tôi cầu xin chỉ được là một tôi tớ ngay lành và trung tín của Chúa tôi và của dân sự tôi mà thôi”.

 

                “Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn này của Chúa?” (I Các vua 3.9)

 

                                                                   14 Tháng 2

GÀ, NHỆN VÀ CHÓ

                John Brenz – bạn của Martin Luther nhớ tới câu nầy từ I Các Vua trong khi trốn tránh không để cho người Tây Ban Nha bắt. Hoàng đế Charles V đã tìm cách sát hại ông luôn, và trong một cơ hội Brenz hay được âm mưu đúng lúc chụp lấy một ổ bánh mì và miếng thịt vịt chạy vào trong vựa cỏ khô của người láng giềng. Ông đã trốn ở đấy trong mười bốn ngày. Ổ bánh không còn nữa, nhưng Chúa đã sai một con gà mái đến đó đẻ mỗi ngày một trứng trong mười bốn ngày. Theo cách nầy, Brenz được giữ cho sống còn. Đến ngày thứ mười lăm con gà không tới nữa, và nhà cải chánh kia không biết phải làm sao. Nhưng từ dưới đường phố có tiếng kêu lên: “Quân lính tìm bắt mấy nhà cải chánh đã đi hết rồi”.

Trong một cách thức tương tự, một con chó đã tiếp trợ cho mọi nhu cần của một nhà cải chánh khác – John Craig. Ông đã bị bắt trong thời kỳ có toà án xử trường hợp theo dị giáo. Ngay đêm trước khi ông bị hành quyết theo kế hoạch đã định sẵn, Craig trốn thoát, nhưng đang khi chạy trốn qua nước Ý, ông không có đồ ăn và tiền bạc. Thình lình một con chó bước tới gần bên ông, nơi miệng nó đang ngậm là một túi tiền. Craig tìm cách đuổi con chó đi, nhưng con chó cứ khăng khăng ở đó rồi nhả túi bạc cho Craig. Trong đó là số tiền đủ đưa ông đến với bến bờ tự do.

Sau đây là một câu chuyện khác nữa. Robert Bruce ở Tô cách Lan đã chạy trốn vì mạng sống mình. Ông đi trốn những kẻ đến bắt ông. Ông đã ngụp lặn trong một hang động nhỏ, và một con nhện xuất hiện ngay khi ấy, nó dệt ngay một màng nhện ngang qua chỗ ra vào. Những kẻ truy kích Bruce bung ra khắp cả vùng đó, họ biết ông đang ở rất gần. Hai trong số những người nầy đến gần hang động, và một trong hai người khởi sự đi vào bên trong. Người kia chận lại nói: “Hắn không thể vào bên trong đó được nếu không phá màng nhện nầy”.

Bruce thì thầm lời cầu nguyện nầy: “Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài bởi những sợi tơ nhỏ bé ở một con nhện mà Ngài đã dành cho con một nơi nương náu mình”.

Loài quạ, loài gà, loài chó, loài nhện, và những tạo vật dù lớn hay nhỏ – giống như Chúa Jêsus có lần phán về một con lừa, Chúa có nhu cần dùng đến chúng.

 

                “Buổi mai và buổi chiều chim quạ đem bánh và thịt cho người; và người uống nước khe” (I Các vua 17.6)

 

                                                                   15 Tháng 2

KHE CẠN KHÔ

                Allan Emery đến khách sạn sau lúc nửa đêm. Hôm ấy quả là một ngày thật dài, và ông cứ trằn trọc với cuộc gặp một khách hàng của mình vào sáng mai. Ông mong sổ sách bị thất lạc và người ta sẽ tìm một nhà tài trợ khác cho công ty.

Allan đã thừa hưởng việc buôn len của gia đình từ cha của mình chuyển giao lại. Song mỗi năm nhìn thấy lượng khách hàng ngày càng ít đi, vì len đã được thay thế bằng loại sợi tổng hợp.

Allan đặt quyển Kinh Thánh gần ngọn đèn ngủ, cố nhắm mắt mà không đọc nó. Nhưng trong khi thốt ra lời cầu nguyện, ông nài xin: “Lạy Chúa, nếu Ngài có điều chi phán cùng con, một sự khích lệ nào đó, xin cho con được lời ấy ngay bây giờ”. Mở quyển sách ra, ông đọc I Các vua 17. Êli đã cảm thấy được an ninh bên dòng khe Kêrít, nhưng một ngày nọ dòng suối nhỏ ấy đã cạn khô. Đức Chúa Trời đã cho phép điều đó, vì Ngài đã có những chỗ khác dành cho Êli phải đi đến, một số công việc khác mà ông phải lo làm, những phương thức khác hầu thoả mãn nhu cần của ông. Dòng khe khô cạn là một điềm báo cho Êli biết rằng đấy là lúc phải ra đi thôi.

Allan đã nhìn nhận rằng dòng khe của riêng mình cũng vừa khô cạn. Không bao lâu ông quyết định phải kết toán công việc buôn bán len. Ông đã giúp cho nhân công mình tìm kiếm phương khác sanh nhai, rồi chính mình ông thì không biết phải làm gì đây!?!

Một tối kia vào giờ ăn tối, Allan gặp Ken Hansen ở Service-Master Industries. Hai người trao đổi với nhau, và không lâu sau đó Emery đã có mặt với công ty. Ông trở thành giám đốc, và ông cũng dấn thân vào các lý tưởng truyền giáo, phục vụ trong vai trò chủ tịch Hội Billy Graham và là Ủy viên quản trị Trường Wheaton và Thần học viện Gordon-Conwell. Trong nhiều năm, ông cùng với vợ chủ động một lớp học Kinh Thánh tại ngôi làng rộng rãi của họ, có tới 100 thanh niên đến tham dự.

Ông nói: “Tôi nghĩ lại thắc mắc của tôi về sự khôn ngoan và sự thành tín của Đức Chúa Trời. Tôi thấy lý do tại sao phải cần thiết cho dòng khe của tôi phải khô cạn, phải để nó lại đó hầu bắt đầu một chức vụ mới mẻ và kỳ diệu hơn”.

 

                “Nhưng trong ít lâu sau thì khe bị khô, vì trong xứ không có mưa” (I Các vua 17.7)

 

 

 

                                                                   16 Tháng 2

NGÀY TÍNH SỔ

                Câu sau đây từ I Các Vua đã trở thành nền tảng của bài giảng nổi tiếng nhất đã từng được Mục sư Robert G. Lee ban phát ra. Lee lớn lên trong chỗ nghèo nàn đã bắt đầu rao giảng ở vùng đồng quê South Carolina, rồi kết thúc trong chức vụ Mục sư Chủ toạ của Hội thánh Báptít Bellevue ở Memphis, hơn 24.000 người đến nhóm lại trong khi ông thi hành chức vụ ở đấy (1927-1960). Mặc dù ông đã sửa soạn và rao giảng hàng ngàn bài, ông được mọi người nhớ đến nhiều nhất do bài giảng nổi tiếng có đề tựa là: “Ngày tính sổ”, mà ông đã từng giảng hơn 1200 lần khắp thế giới. Người ta đã lái xe đi cả ngàn dặm đường để nghe cho kỳ được bài giảng ấy. Bài giảng nầy là một bài mà các hảng ghi âm đã chọn để tìm lấy, rồi nó còn được in ấn qua tài liệu phổ biến đi khắp nơi nữa.

Lee, ông rất được ơn với khẩu tài và một ý thức sắc bén rất kịch tính đã kể lại câu chuyện Aháp và Giêsabên trước sự chứng kiến của những người đến nhóm lại, sử dụng các giọng nói khác nhau cho từng nhân vật. Sau khi kể lại câu chuyện một cách sống động, ông mô tả bối cảnh rùng rợn khi Giêsabên ngã chết: “Các chiến binh tra những ngón tay mạnh sức của họ trên da thịt yếu mềm thuộc phái yếu của nàng, họ nhấc bổng nàng lên, trang điểm cho khuôn mặt cùng mọi thứ, đeo các loại trang sức vào người của nàng – rồi ném nàng xuống dất. Thân thể nàng chạm mặt con đường và bật tung lên. Máu của nàng vung vải trên các bức tường thành, làm cho chúng phải xấu xí đi. Nàng nằm ở đó, quằn quại trong cái chết rất đau khổ trên đường phố”.

                Rồi Lee nói lớn tiếng:

“Ngày tính sổ! – Ngày nào đó! Thực như thế đấy – Đức Chúa Trời đã phán về ngày ấy! Phải, và từ câu chuyện nầy, chúng ta học được quyền năng và tính kiên quyết của Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ ra sự định trước việc Ngài phải ra tay trừng phạt, con người phải biết rõ sự công bình của Ngài không được xem thường. Mặc dù cái cối xay của Đức Chúa Trời chạy rất chậm, song nó tán nhuyễn thành bột đấy! Và phương thức duy nhất tôi biết cho bất kỳ người nam hay nữ nào muốn tránh thoát ngày tính sổ của tội nhân trên đất, và vượt qua khỏi địa ngục của tội nhân là nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi. Ngài đã gánh lấy chỗ của tội nhân trên thập tự giá, thay chỗ cho hết thảy tội nhân trở nên mọi sự mà Đức Chúa Trời phải xét đoán, tội nhân nhờ đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ sẽ trở nên mọi sự mà Đức Chúa Trời không thể phán xét”.

 

                “Đức Giêhôva cũng phán về Giêsabên tại thành lũy Gítrêên” (I Các vua 21.23)

 

                                                                   17 Tháng 2

CON NGƯƠI BÌNH AN CHĂNG?

                Marcus và Narcissa Whitman vượt qua lục địa vào ngày 4 tháng 7 năm 1836, trên đường tới Oregon để giảng đạo cho miền Tây Bắc. Narcissa có đôi mắt xanh thật đẹp, gương mặt rạng rỡ, mái tóc: “óng ánh giống như vàng lúc mặt trời mọc”. Sổ nhật ký của bà ghi lại các chuyến mạo hiểm khi họ lội qua những con suối thật rộng, trèo lên những đỉnh núi cao ngất, bám vào những con đường hẹp, nhảy qua những chỗ gồ ghề, và lẫn tránh đụng độ với những người da đỏ. Sau cùng khi đến được Oregon, họ đã dựng một túp lều nhỏ rồi bắt đầu lao vào sứ mệnh.

Vào ngày sinh nhật thứ hai mươi mốt của mình, Narcissa sanh một bé gái, và bé Alice Clarissa không bao lâu sau đó trở thành niềm vui của cuộc đời bà. Bà viết: “Bé Clarissa là người bạn đồng hành tí hon của tôi và là con gái của tôi”.

Vào Chúa nhật 23 tháng 6 năm 1893, Marcus đưa bé Clarissa vào trong ngôi vườn sau buổi nhóm của nhà thờ. Họ cắt cây rhubarb [cây có cuống lá màu đỏ nhạt, nấu lên ăn như trái cây], và một lát sau cô bé chạy vào bếp tìm mấy cái tách uống nước. Trong khi đó, Marcus ngồi ở đấy đọc sách. Thình lình, họ nhận ra bé Clarissa không có mặt ở đó. Họ chạy ra bờ sông, ở đó có nhiều người tham gia vào cuộc tìm kiếm. Một cụ già người da đỏ đã bơi ra dòng sông quan sát giữa những rễ cây rồi nổi lên với thi thể của nó.

Họ chôn Clarissa ở một chỗ thật bình an phía bắc khuôn đất có rào kín. Một người bạn đến giảng cho tang lễ từ II Các vua 4.26, một câu gốc thường được sử dụng trong các đám tang dành cho trẻ em, vì đứa trẻ trong đoạn Kinh Thánh nầy cũng chết, nhưng không lâu sau đó câu hỏi nầy lại dấy lên: “Con ngươi bình an chăng? Nàng đáp: Bình an”.

Narcissa viết: “Lạy Chúa, quả thực vậy; quả thực vậy. Nó không thuộc về con, mà thuộc về Ngài; con chỉ mượn nó trong một thời gian ngắn mà thôi, và bây giờ, lạy Cứu Chúa yêu dấu, nguyện ý Ngài được nên”.

Marcus và Narcissa bị phân rẽ ra khỏi con gái nhỏ bé của họ chỉ trong 8 năm trời thôi. Đến năm 1847, một nhóm người da đỏ thù nghịch đã tấn công vào nơi họ ở, và gia đình nhỏ bé nầy đã hội hiệp với nhau trên thiên đàng.

 

                “Vậy, hãy chạy đi đón nàng, và hỏi nàng rằng: Mọi việc đều bình an chăng? Chồng và con ngươi bình an chăng? Nàng đáp: Bình an” (II Các vua 4.26)

 

                                                                   18 Tháng 2

NẾU DÂN SỰ TA

Một thời gian ngắn sau Hội nghị của Đảng Cộng Hoà vào năm 1952, Tướng Dwight D. Eisenhower yêu cầu Billy Graham đến gặp ở Chicago đề xuất “một chú thích tôn giáo” sao cho phù hợp với những bài diễn văn vận động của ông. Graham nói cho vị tướng lĩnh biết ông rất vui sướng được góp phần giúp đỡ theo cách riêng. Sau đó, Garham và Eisenhower đã gặp nhau rất ngắn ngủi ở khách sạn Brown Palace ở Denver, và Graham đã chia sẻ những câu Kinh Thánh phù hợp với mọi nhu cầu của nước Mỹ.

Nhà truyền đạo cũng nắm lấy cơ hội trao cho vị tướng lãnh một quyển Kinh Thánh bằng da màu đỏ và thúc giục ông nên xem xét tin lành nói đến Đức Chúa Jêsus Christ theo cách riêng. Eisenhower chăm chú lắng nghe.

Sau đó, năm ngày trước khi lễ nhậm chức, Eisenhower đã mời Graham đến khách sạn Commodore ở Nữu ước. Ông nói: “Tôi muốn trưng dẫn một hay hai phân đoạn từ Kinh Thánh trong bài diễn văn nhậm chức của tôi”. Nhìn ra cánh cửa sổ, Eisenhower nói cho Graham biết rằng ông cảm thấy một trong những lý do ông được bầu chọn là giúp thúc đẩy bầu không khí đạo đức và thuộc linh ở Hoa kỳ. Graham đề nghị một vài câu, giữa vòng những câu ấy là Thi thiên 33.12 và II Sử ký 7.14.

Qua mấy ngày sau, Eisenhower đã chuẩn bị một bài diễn văn khai mào bằng sự cầu nguyện và bài nói ấy luôn lặp đi lặp lại những vấn đề về mặt thuộc linh. Ông viết vội trong bản thảo sau cùng của mình: “Với những biến cố quan trọng đùa đến thật nhanh, chúng ta thấy mình như đang mò mẩm muốn biết đầy đủ ý nghĩa thời buổi mà chúng ta đang sinh sống trong đó. Trong cuộc lùng kiếm để có được sự hiểu biết đó, chúng ta cầu xin sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời”.

Vào ngày Thứ ba 30 tháng Giêng năm 1953, Dwight D. Eisenhower đã thề trong văn phòng khi bàn tay ông đặt trên hai quyển Kinh Thánh, cả hai đều mở ra ở II Sử ký 7.14: “và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ”.

 

                “và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta,và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (II Sử ký 7.14)

 

                                                                   19 Tháng 2

KHẮP THẾ GIỚI ĐỀU NGHE

Đức Chúa Trời theo ý muốn Ngài đặt những con người cốt cán vào các kỷ nguyên khó khăn nhất, và ở đấy sử dụng họ tạo ra một sự khác biệt. Thí dụ, William Emerson là một Mục sư 32 tuổi ở Concord, New Hamsphire, ông lo chăn bầy mình vượt qua cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc. Ông đã nghiên cứu Kinh Thánh và đã cầu nguyện hầu có được sự khôn ngoan trong việc biết phải giảng dạy điều gì.

Các vị Mục sư là những nhà hùng biện của thời đại, những người thợ nặn giũa tâm tính con người. Nhiều nhà truyền đạo thuộc địa nắm bắt được quan điểm khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và họ nghĩ tới những tay thực dân là hạng người được đặt để trên một đại lục mới vì một mục đích thiêng liêng. Vai trò rao giảng nhơn đó được xác định có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc Cách Mạng Mỹ còn hơn cả nhiều nhà chép sử biết nữa.

Vào mùa xuân năm 1775, Concord e sợ một cuộc tấn công mở ra bởi Tướng Thomas Gage người Anh. Một lực lượng dân quân được hình thành, và vào ngày 13 tháng Ba, Emerson phát biểu trước các binh sĩ. Ông ấy nói gì? Lời lẽ của ông có một ảnh hưởng rất lớn – chiến hay hoà. Ông đã chọn II Sử ký 13.12 làm câu gốc: “Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm đầu chúng ta…”.

“Về phần tôi, tôi càng suy gẫm về mọi biến động của nước Anh, tôi càng thoả lòng khi thấy sự chuẩn bị quân sự của chúng ta ở đây đặng lo phòng thủ được xem là đúng trước con mắt thế giới vô tư. Nói cho đúng hơn, nếu chúng ta chần chừ không lo tự phòng thủ bằng sự chuẩn bị về mặt quân sự, chúng ta không thể trả lời được với Đức Chúa Trời và với lương tâm của chính chúng ta…”.

Ông nói với các binh sĩ rằng sức lực của họ không đặt trên các thứ vũ khí mà trên quyết tâm về đạo đức và về thuộc linh của họ. “Chúa sẽ bao phủ đầu các anh trong ngày chiến trận và dẫn đưa các anh từ chiến thắng nầy đến chiến thắng khác”.

Một thời gian ngắn sau đó, các binh đoàn Anh quốc tiến tới Concord, nhưng Emerson và lực lượng dân quân được ủng hộ bằng những điều nầy và được Paul Revere cảnh giác, họ tập hợp lại đón đầu các lực lượng đó. Một phát đạn đã được khai hỏa: “khắp thế giới đều nghe thấy”.

 

            “Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm đầu chúng ta, và những thầy tế lễ của Ngài cầm những kèn tiếng vang đặng thổi lên…” (II Sử ký 13.12)

                                                                   20 Tháng 2

NHIỀU HƠN

Năm 1865 khi Hudson Taylor sáng lập ra Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa [viết tắt là CIM] (bây giờ là Hội Thông Công Truyền Giáo Hải Ngoại), ông đã quyết định nương cậy vào một mình Đức Chúa Trời để có được số tài chánh cần thiết. Kể từ ngày đó không có một lời xin xỏ trực tiếp nào về nguôn quỹ cả, thế mà mọi nhu cần của Hội liên tục được phu phỉ từ những nguồn rất bất ngờ trong các thời điểm mà ai nấy phải sốt ruột, với sự đáp trả cho lời cầu nguyện.

Cách đây mấy năm, Phyllis Thompson đã ghi chép lại nhiều câu chuyện kể lại sự thành tín của Đức Chúa Trời cho CIM trong quyển sách nhỏ của bà, có đề tựa là: “Minh chứng Đức Chúa Trời”. Bà viết: “Qua 90 năm và nhiều năm tháng lịch sử của Hội, mặc dù không có một lời kêu gọi chung hay riêng nào về ngân quỹ được đưa ra, công việc và những nhân sự đã được tiếp trợ bởi một nguồn tài trợ không dứt”.

Thí dụ, Thompson nhớ lại vào tháng Chạp năm 1954, khi ngân quỹ đặc biệt xuống thấp, phòng tổ chức Hội nghe nói có một món quà từ một phụ nữ Mỹ rất giàu có đang trên đường đến với họ. Không một người nào trong CIM nhớ lần gặp gỡ với phụ nữ nầy, nhưng bà nầy thỉnh thoảng có gửi các món lạc hiến nhỏ cho văn phòng của Hội ở Luân đôn. Bấy giờ bà đã gửi cho CIM số tiền là 5.500$ US.

Tuy nhiên, khi của lễ ấy tới nơi, số tiền không phải gửi cho Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa. Thay vì thế, số tiền được gửi cho Trường Kinh Thánh do người Trung Hoa tổ chức ở vùng Viễn Đông. Trong khi phòng tổ chức Hội CIM rất vui mừng vì các anh em người Hoa của họ, họ đã cảm thấy không ít thất vọng. Song tấm lòng của họ lại hướng nhanh đến II Sử ký 25.9, và họ đã xem câu Kinh Thánh ấy là thuộc về họ: “Đức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn số ấy”.

Trong vòng mấy ngày sau, có thông báo khác đến từ di sản của người phụ nữ ấy. Thực ra bà nầy có nhớ tới Hội, nhưng không phải chỉ có 5.500$ US thôi đâu. Số tiền đã được gửi đến là 75.000$ US, với 60.000$ US thêm vào đến sau đó. các vị giám đốc của Hội nhóm lại để cầu nguyện với tấm lòng dốc đổ và hạ mình. Họ đã hát bài Ca Tụng Chúa Jêsus và cảm tạ Chúa, vì sự nhơn từ của Ngài khi gửi đến cho họ: “nhiều hơn số ấy”.

 

                “Amaxia nói với người Đức Chúa Trời rằng: Còn về một trăm ta lâng bạc kia, mà ta đã phát cho đạo binh Ysơraên, thì phải làm sao? Người của Đức Chúa Trời đáp: Đức Giêhôva có thể ban cho vua nhiều hơn số ấy” (II Sử ký 25.9)

 

                                                                   21 Tháng 2

NHỮNG THÓI QUEN TỐT

                Khi tôi còn là thực tập sinh, tôi có lần hỏi Ruth Bell Graham không biết cô có lời khuyên nào về việc giảng đạo hay không!?! Ba nguyên tắc đơn sơ của cô đã giúp cho chức vụ rao giảng của tôi thêm phần sắc sảo hơn cả loại sách vở mà tôi đã từng đọc qua. Cô nói: “Hãy giảng loại bài giảng giải thích, cố làm sao cho bài giảng ngắn gọn, và sử dụng nhiều minh hoạ”. Cô tiếp tục đề nghị Exơra là một gương chính. Exơra 7.10 cung ứng cho chúng ta phần sửa soạn cho việc rao giảng: ông đã sửa soạn tấm lòng tìm kiếm luật pháp của Đức Chúa Trời, rồi vâng theo, và kế đó dạy dỗ Lời ấy. Nêhêmi 8.8 cung ứng cho chúng ta quá trình thực hiện cho việc giảng dạy: Ông đã đọc từ sách luật pháp thật rõ ràng, giảng nghĩa, và khiến cho dân sự hiểu rõ việc đọc ấy.

Khi được yêu cầu giúp lời khuyên về chức vụ, nhà truyền đạo D. L. Moody đã cung ứng cho các nhân sự của ông một vài nguyên tắc, và họ cũng noi theo gương của Exơra. Moody nói vắn tắt:

  1. Thường sử dụng quyển Kinh Thánh loại tham khảo dễ mang theo bên mình, một sách phù dẫn và một sổ tay ghi đề tài.
  2. Luôn luôn mang theo một quyển Kinh Thánh trong túi xách của quý vị.
  3. Nên đánh dấu hoặc chú thích ngoài lề.
  4. Biệt riêng thì giờ mỗi ngày để học hỏi và suy gẫm.
  5. Luôn luôn cầu xin Đức Chúa Trời mở con mắt hiểu biết của quý vị.
  6. Trao mọi gánh nặng nghi ngờ cho Chúa.
  7. Tin Kinh Thánh là mặc khải của Đức Chúa Trời cho quý vị, và làm theo. Tham khảo các bản Kinh Thánh khác.
  8. Học thuộc ít nhất một câu Kinh Thánh mỗi ngày. Những câu học thuộc phải thường sử dụng trong đời sống hàng ngày của quý vị.
  9. Cố gắng bằng mọi giá phải thông thạo Kinh Thánh. Quý vị phải hiểu Kinh Thánh rõ hơn bất kỳ ai khác trong hội chúng hoặc trong lớp học của quý vị. Sử dụng một chương trình học hỏi Kinh Thánh có hệ thống, và phải chính xác trong khi trưng dẫn Kinh Thánh.
  10. Luôn luôn thực hành Exơra 7.10: Sửa soạn tấm lòng để nghiên cứu và vâng theo đường lối của Chúa.

                “Vì Exơra đã định chí tra xét luật pháp và giới mạng” (Exơra 7.10)

 

                                                                   22 Tháng 2

NHẮC LÊN CAO

                Vào tháng Giêng năm 1963, Ralph Borthwick – phi công giáo sĩ với JAARS đã sửa soạn bay với hai nhân viên dịch Kinh Thánh của Hội Kinh Thánh Wycliffe là Stan và Junia Yucuna. Họ đã cất cánh khoảng giữa trưa, hy vọng tìm thấy dễ dàng đường băng nhỏ hạ cánh của họ bên bờ sông Miritiparana không có ghi trên bản đồ. Lúc đầu mọi sự tiến triển thật suông sẻ, nhưng không bao lâu bầu trời tối sầm lại và một cơn bão nhiệt đới đã nhận chìm họ. Hạt mưa giống như những viên đạn đập vào kính chắn gió, và chiếc phi cơ cố bay lên cao.

Họ hiện ra từ cơn bão, ở phía bắc đường bay mà họ dự trù cách xa những tiêu điểm chính. Ralph đã bay trong nhiều giờ vô mục đích, nhiên liệu đang cạn dần. Cánh rừng bên dưới thật dày và chạy dài như vô tận, và Ralph biết rõ nó sẽ nuốt chửng họ giống như chỗ cát lún màu xanh lá cây kia vậy. Ông tìm thấy một con sông không có ghi trên bản đồ rồi bay theo dòng sông đó, tìm kiếm trong tuyệt vọng bãi cát nơi cửa sông đặng đáp xuống đó, nhưng con sông nhỏ dần lại và biến mất, và Ralph không có một sự chọn lựa nào khác hơn là phải quay lại. Ông bay xuôi theo dòng sông bên dưới. Máy đo nhiên liệu đã chỉ số 0.

Ông liếc nhìn qua Stan. “Xin cầu nguyện để Chúa dẫn dắt chúng ta”. Stan cầu xin Đức Chúa Trời dẫn dắt họ trực tiếp vào bãi cát nơi cửa sông để có thể hạ cánh an toàn. Rồi ông rút quyển Kinh Thánh nhỏ ra khỏi túi áo và đọc Gióp 5.8-9 – “Song tôi, tôi sẽ tìm cầu Đức Chúa Trời, mà phó duyên cớ tôi cho Ngài; Ngài làm công việc lớn lao, không sao dò xét được, làm những sự diệu kỳ, không thể đếm cho đặng; …Nhắc lên cao những kẻ bị hạ xuống…”.

Một bãi cát ở cửa sông thật lớn thình lình hiện ra trước mặt họ bên dòng sông. Hết thảy ba vị giáo sĩ đều nhìn thấy bãi cát ấy ngay tức thì, mặc dù chẳng ai nhận ra nó khi bay ngược dòng sông. Bãi cát xuất hiện thật tự nhiên và dường như mới được hình thành, phẳng lì, khô cứng và thật dài. Ralph đã cho phi cơ chạm đất an toàn, và buổi tối đó các vị giáo sĩ đã ngủ dưới bầu trời đầy sao lấp lánh.

Cần phải tốn ba ngày trời các toán cứu hộ mới tìm gặp họ, còn hai chiếc máy bay tiếp tế của Không lực Colombia sau cùng đã đáp xuống với nhiên liệu. Ralph đã xem lại tấm bản đồ của ông, cất cánh trở lại, và một giờ sau đã hạ cánh an toàn nơi mà ông dự trù phải bay tới.

 

                “Song tôi, tôi sẽ tìm cầu Đức Chúa Trời, mà phó duyên cớ tôi cho Ngài; Ngài làm công vệc lớn lao, không sao dò xét được, làm những sự kỳ diệu, không thể đếm cho đặng; ..Nhắc lên cao những kẻ bị hạ xuống” (Gióp 5.8-11)

 

                                                                   23 Tháng 2

BỘT NGŨ CỐC KIA CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC ĐIỀU GÌ!?!

                Khi Henry Crowell được 9 tuổi, bố ông qua đời vì bệnh lao, rồi khi ông được 17 tuổi, chính Henry bị nhiễm căn bệnh ấy. Bộ dạng ông như chết, rồi lúc ông đến tham dự chiến dịch truyền giảng tin lành của D. L. Moody ở Cleveland, Ohio. Ông chăm chú lắng nghe khi Moody rao giảng: “Thế gian chắc chắn phải nhìn thấy mọi điều Đức Chúa Trời làm ra qua con người biết dâng mình trọn vẹn cho Ngài”.

Crowell quyết định trở nên người của Đức Chúa Trời. “Chắc chắn tôi không bao giờ giảng giống như Moody. Nhưng tôi có thể làm ra tiền và ủng hộ mọi công việc của hạng người giống như Moody. Tôi nhất quyết: ‘Lạy Chúa, nếu Ngài bảo toàn mạng sống con và cho phép con làm ra tiền, con sẽ đưa vào sử dụng cho sự hầu việc Ngài, con sẽ rút tên con ra để Ngài được vinh hiển”.

Sau đó một thời gian ngắn Henry tìm ra Gióp 5.19: “Trong sáu cơn hoạn nạn, Ngài sẽ giải cứu cho, qua cơn thứ bảy, tai hại cũng sẽ không đụng đến mình”. Chúa dường như đảm bảo cho ông về sự chữa lành qua câu Kinh Thánh đó.

Henry ngày càng mạnh khoẻ hơn và bắt đầu miệt mài với các năng khiếu thương mại đã đầu tư khôn khéo cho sự giàu có của gia đình mình. Ông mở ra nhiều công ty, mua sắm nhiều bất động sản, và giới thiệu nhiều sự đổi mới trong khu chợ búa. Khi nhà máy xay do tín đồ Giáo phái Quaker ở gần đó làm chủ có thể mua được, Henry đã mua nó rồi bắt đầu mơ đến các sản phẩm ngũ cốc hiện đại cho các gia đình người Mỹ. Thế là Công ty Quaker Oats ra đời.

Tiền bạc thu vào – rồi phải chi ra. Henry thường dâng 65 đến 75% thu nhập của ông cho các lý tưởng Cơ đốc. Hàng triệu đôla được dâng vào các nhà thờ, trường học, và các hội truyền giáo. Ông hoạt động không mệt mỏi cho Học viện Kinh Thánh Moody [MBI] mới xây dựng ở Chicago. Dưới khải tượng của ông, MBI tránh thoát sự suy sụp về tài chánh và đã trở thành một trung tâm đào tạo rất hữu hiệu. Ông đã giúp mở Nhà In Moody, Tạp chí Moody và các chức vụ phát thanh Moody.

Và ông vẫn còn mơ ở độ tuổi 89. Một thời gian ngắn trước khi ông qua đời, ông đã phát biểu trước Học viện Kinh Thánh Moody, khen ngợi họ vì khải tượng của họ song lại bảo họ: “nên suy nghĩ tới những việc lớn lao hơn nữa vì vinh hiển của Đấng Christ”.

 

                “Trong sáu cơn hoạn nạn, Ngài sẽ giải cứu cho, qua cơn thứ bảy, tai hại cũng sẽ không đụng đến mình” (Gióp 5.19)

 

                                                                   24 Tháng 2

ĐIỂM KHÔNG TRỞ LẠI ĐƯỢC

                Môt thời gian ngắn sau khi con gái họ là Robin qua đời, Roy Rogers và Dale Evans gặp một cậu bé rất yếu ớt, nó luôn chìa tay ra ấp úng: “Cháu xin ông bà…”. Nó bị bỏ rơi ở nhà nghỉ tại Kentucky, và cả thuộc thể và trí khôn đều bị què quặt.

Roy và Dale đem nó về làm con nuôi, gọi nó là Sandy cho phù hợp với mái tóc của nó. Nó có đôi mắt thật sáng và bổn tánh rất tốt. Nó gặp rắc rối khi cởi xe ba bánh, nó thường bị té ngã, và về mặt tình cảm nó tỏ ra rất yếu đuối. Nhưng họ dành cho nó sự chú ý về mặt y tế, đồ ăn ngon, và nhiều tình thương. Trong chiến dịch truyền giảng tin lành của Billy Graham, Sandy đã đưa ra quyết định tin theo Đấng Christ và lớn lên mau chóng trong Chúa.

Khi Sandy trưởng thành, Roy và Dale đưa nó đến trường quân sự và nó rất thích ngôi trường ấy. Ở tuổi 17, nó đăng ký nhập ngũ để “minh chứng bản thân mình”. Sandy chịu khó làm việc và đạt được sự trọng nể. Nó được gửi qua Đức, rồi tình nguyện sang Việt Nam. Nó viết thư về nhà: “Hãy đặt đức tin của bố mẹ nơi Chúa, vì (khi con được tìm gặp) Ngài luôn luôn hiện diện khi bố mẹ cần đến Ngài. Mọi sự Ngài yêu cầu hồi đáo lại là sự tin kính của bố mẹ thôi”.

Thế rồi một ngày kia Dale Evans trở về từ một chuyến đi, người ta đến gặp bà tại phi cảng. “Ấy là Sandy, Mẹ ơi. Nó đã chết rồi”. Tin tức chạm đến nghị lực cứng rắn của bà, và nó làm cho tồi tệ thêm. Sandy trở về từ 26 ngày diễn tập, thật là mệt mỏi. Mấy người bạn thân của nó đã đưa nó đi cả đêm, họ khích nó phải: “chứng minh mầy là một con người”. Sandy là người không chịu được rượu đã chịu thua. Họ cho nó uống rượu nặng cho tới khi nó ngã quỵ xuống. Người ta tìm gặp nó vào sáng hôm sau nằm chết trên giường ngủ của mình.

Dale Evans thoát ra khỏi nỗi buồn rầu chỉ bằng cách rút tỉa sức lực từ Kinh Thánh, đặc biệt từ Gióp 13.15. Bà viết: “Tai hoạ trong đời sống Cơ đốc nhân chính là một lò luyện kim. Đức Chúa Trời không hứa một đời sống dễ dàng, nhưng có sự bình an ở giữa con đường khó nhọc. Những đám mây u uất rất nặng nề, nhưng tôi đã đến tại điểm không xây trở được trong kinh nghiệm Cơ đốc của tôi, và cùng với Gióp tôi có thể kêu lên: ‘Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài’”.

 

                “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài” (Gióp 13.15)

 

                                                                   25 Tháng 2

GIẢI THƯỞNG GRAMMY

                Ông nội Spurgeon nói: “Charles, ta không để lại cho cháu điều chi trừ ra bệnh thấp khớp; và ta để lại cho con cách chữa bệnh ấy rất hay”.

Nhưng Tấn sĩ James Spurgeon đã để lại cho cháu nội ông cách chữa còn hay hơn thế nhiều.

Charles đã đến sống với ông bà nội của mình lúc mới lên một. James – Mục sư của một nhà thờ Độc Lập, vốn có “cái đầu và giọng nói rất lớn”. Ông mặc quần ống túm, giày có cài khoá, và mang vớ bằng tơ. Ông là một nhà truyền đạo tài ba, và dưới sự giảng dạy của ông, Charles đã đem lòng yêu mến sứ điệp và chức vụ giảng đạo.

Khi còn là một thanh niên, Charles từng được yêu cầu đến rao giảng tại một nhà thờ ở Suffolk. Chuyến xe lửa của ông đến trễ, James đã bắt đầu một bài giảng thay cho ông. Khi cụ già thấy Charles bước vào, ông liền tự ngưng ngay. Ông nói: “Kìa, cháu nội của tôi đến rồi, anh ta có thể giảng tin lành giỏi hơn tôi, nhưng anh ta không thể giảng một tin lành tốt hơn, có phải không Charles?”. Chàng thanh niên Charles bước lên toà giảng, giảng một bài từ Êphêsô 2, đúng ngay chỗ mà ông nội anh vừa ngưng lại.

Charles không bao giờ quên được Bà Nội Spurgeon đang ngồi bên lò sưởi, một quyển Kinh Thánh mở ra trên tay bà đang trò chuyện với Chúa. Bà đã dạy cho ông nhiều bài học, bà rất tử tế và nhiệt tình. Bà giữ một kệ nhỏ đặt cạnh chiếc máng nhồi bột làm bánh ngọt, thấp vừa đủ cho mấy ngón tay bụ bẫm của cậu bé với tới.

Chức vụ làm ông bà của đôi vợ chồng già đã trở thành chức vụ quan trọng mà họ đã thực thi cho Chúa, vì chức vụ ấy tạo ra một nhà truyền đạo lỗi lạc nhất nước Anh.

Một sáng Chúa nhật kia, Bà Nội Spurgeon nói với chồng bà, bà cảm thấy không được khoẻ. Bà muốn ở nhà, đọc Kinh Thánh, và cầu nguyện trong khi ông đi giảng. Khi cụ ông trở về đến tư thất vào lúc trưa, thì thấy bà ngồi đó trên chiếc ghế có tay vịn cũ bên lò sưởi, quyển Kinh Thánh đặt trên váy áo, đầu thì cúi xuống cách lặng lẽ.

Bà đã về với Chúa. Ngón tay của bà lạnh giá và chỉ thẳng vào Gióp 19.21 khi bà qua đời: “Hỡi các bằng hữu tôi, hãy thương xót tôi, hãy thương xót tôi! Vì tay của Đức Chúa Trời đã đánh tôi”.

 

                “Vì tay của Đức Chúa Trời đã đánh tôi” (Gióp 21.29)

 

                                                                   26 Tháng 2

GIẤC MƠ NGỌT NGÀO

                Chúng tôi đang làm việc với một sinh viên đại học có tên là Eric, Cơ đốc giáo mới tìm được nơi chàng trai nầy là… được, theo sự giải thích. Thí dụ, vào một ngày kia, anh ta nhờ tôi đến chia sẻ Đấng Christ cho các bạn ở trường.

Tôi hỏi: “Phải chia sẻ như thế nào?”.

Eric đáp: “Không tốt lắm đâu. Khi bạn tôi không chịu nghe tôi nói, chúng tôi liền tranh cãi ngay, và tôi đã vả vào mặt anh ta”.

Tôi than phiền: “Eric, làm sao chúng tôi có thể theo được kỹ thuật chứng đạo của cậu chứ!”.

Chúng tôi cũng phải làm việc theo các giấc mơ của anh ta. Một thời gian ngắn sau khi anh đã trở lại đạo, Eric than phiền về những cơn ác mộng hay hiện đến luôn. Anh ta nói cho chúng tôi biết: “Tôi đang bám vào vách đá sắp sửa rơi xuống. Một người bạn đang vòng tay ôm chặt lấy tôi, và tôi kêu thét lên để cô ấy buông tôi ra. Nhưng có ai đó thủ thỉ bên tai nàng. Nàng liền bỏ tay ra, và tôi rơi xuống vực sâu và bật tỉnh dậy trong khiếp đảm.

                Khi tôi đi ngủ trở lại, tôi mơ thấy mình đang ở trên một chiếc tàu. Một người bạn khác mỉm cười với tôi, nhưng rồi lại xô tôi xuống nước. Lúc tôi kêu la cầu cứu, nàng dùng thuyền chạy ngang qua tôi. Tôi sắp sửa bị chìm, chìm, chìm xuống cho tới chừng tôi rơi vào một vòng lửa. Khi đó có một bóng đen đến gần tôi nói rằng: ‘Đây là nơi mà ngươi thuộc về và đây là chỗ ở của ngươi’. Lửa bập bùng xung quanh tôi, và tôi chợt tỉnh dậy mồ hôi ướt đẫm hết”.

Chúng tôi đã đưa ra một số đề nghị rất đơn sơ: “Hãy cố học thuộc lòng Thi thiên 4.8 rồi mang nó theo trong giấc ngủ. Hãy cầu xin Chúa sử dụng nó để đánh đuổi những cơn ác mộng đi”.

Eric nhận lấy lời khuyên của chúng tôi. Anh đã học thuộc lòng câu Kinh Thánh ấy trước khi đi ngủ mỗi tối, và bây giờ anh ta đi ngủ trong trạng thái suy gẫm nó.

Sự việc được minh chứng rất hiệu quả.

Eric vừa nói vừa nhe răng cười: “Tôi không còn gặp những cơn ác mộng kể từ đó. Tôi nằm xuống và ngủ bình an; vì chỉ một mình Chúa làm cho tôi được ở yên ổn”.

 

                “Hỡi Đức Giêhôva, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn” (Thi thiên 4.8)

 

                                                                   27 Tháng 2

LÀM CHỦ TUỔI TRUNG NIÊN

                Khi đến tuổi trung niên, Jim Conway rơi vào trạng thái ngã lòng rất nặng nề. “Tôi thường hay gặp những hình ảnh tưởng tượng lúc lên một chiếc tàu rồi bước xuống những chỗ mình không biết rõ”. Ông là một Mục sư, một người chồng, một người cha, và là một nhà văn. Nhưng ông lại muốn ra đi giống như người con trai hoang đàng rồi khởi sự một cuộc sống mới. Về sau ông viết:

“Cơn khủng hoảng giữa đời là khoảng thời gian rất nguy hiểm cho các cặp hôn nhân. Đó là thời điểm sự nghiệp suy thoái và những vụ ngoại tình. Có sự ngã lòng, giận dữ, thất bại, và loạn nghịch”.

Lúc tuổi trung niên, một người bắt đầu nhận biết cơ thể mình chẳng còn mạnh khoẻ nữa, vợ mình chẳng còn trẻ trung nữa. Người ấy thường cảm thấy giống như mất việc làm vì các thành tựu của mình không còn được ai mong đợi nữa vậy. Người ấy bị kéo lọt vào giữa hai thế hệ, bố mẹ mình tuổi già hết và con cái mình đang lăn dần vào tuổi thanh niên. Khi con cái lớn lên và tháo củi sổ lồng, điều nầy va chạm mạnh vào người cha hơn là người mẹ. Rồi các thứ hoá đơn của trường gửi đến. Hết thảy đụng vào Conway giống như những quả đấm ngàn cân.

“Tưởng chừng như tôi đã đến với sợi dây treo cổ mình vậy. Tôi sẵn sàng lìa bỏ mọi sự và ra đi. Tôi bò vào giường buổi tối tháng 11 rồi rơi vào giấc ngủ chập chờn với mọi toan tính. Suốt đêm tôi cứ bật thức giấc, lo sắp đặt từng chi tiết những bước đặc biệt tôi sẽ thực hiện khi tôi rời khỏi cuộc sống hiện tại và ra đi khởi sự một cuộc sống khác…”.

Thế nhưng sáng hôm sau, khi Jim khởi sự đọc Kinh Thánh ở chỗ ông chừa lại hôm trước, trong Thi thiên 18, ông tìm gặp những lời lẽ (hay chúng tìm gặp ông): “Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, tôi kêu cầu Đức Chúa Trời tôi: Tại đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, và tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài… Rút tôi ra khỏi nước sâu… Chúa thắp ngọn đèn tôi: … soi sáng nơi sự tối tăm tôi”.

Ông đóng quển Kinh Thánh mình lại.

Sự chữa lành đã bắt đầu.

 

                “Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giêhôva, tôi kêu cầu Đức Chúa Trời tôi: Tại đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, và tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài” (Thi thiên 18.6)

 

                                                                   28 Tháng 2

NHỮNG CÁI “NHƯNG” ĐẶT KHÔNG ĐÚNG CHỖ

                Robert C. McQuilkin tổ chức một hội nghị về Kinh Thánh ở Asheville, North Carolina, gọi là Ben Lippen, và nhiều năm về sau Vance Havner đến giảng ở đó. Cả hai người đều học chung một đề tài từ Thi thiên 23.

Trong những ngày đầu sớm sủa ở Ben Lippen, McQuilkin phát biểu vào một buổi ăn sáng kia: “Có phải Chúa làm thoả mãn mọi nhu cần của quý vị, hay Ngài không làm được? Còn bây giờ, hầu hết Cơ đốc nhân đều nói: ‘Tại sao Chúa làm thoả mãn mọi nhu cần của tôi, nhưng…’ – rồi theo sau chữ ‘nhưng’ ấy là những điều đang làm cho họ bối rối. ‘Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi, nhưng tôi không có một ân tứ nào cho công việc riêng của mình. Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi, nhưng tôi không có lấy một việc gì để làm. Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi, nhưng con tôi lại mắc bệnh tật’ Quý vị có thấy không? Quý vị đặt chữ ‘nhưng’ sai chỗ rồi. Và vì thế tôi dám nói: ‘Chúng ta có nhiều thiếu hụt lắm, nhưng Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi. Tôi không mạnh mẽ lắm, nhưng Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi. Tôi dễ sai phạm lắm, nhưng Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi…’”.

Nhiều năm về sau, nhà truyền đạo Vance Havner đã đến giảng đạo tại Ben Lippen. Ông vốn lo lắng về vợ của mình là Sara, bà đã bị nhiễm một chứng bệnh hiếm hoi và dễ chết. Đời sống của bà suy sụp nặng nề, rồi nghi ngờ và sợ hãi trùm phủ lấy ông.

Trong khi còn ở đó ông đã suy gẫm Thi thiên 23. Chúa làm cho ông phải cảm kích khi nhận ra mình đã hành động giống như con dê hơn là con chiên – luôn luôn gầm đầu húc tới. “Phải, tôi biết rằng Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi. NHƯNG.. tôi ngày càng già đi thì ai sẽ là người chăm sóc cho tôi? Sẽ ra sao nếu tôi đổ bệnh và người bạn đời của tôi không còn giúp đỡ tôi được nữa?”.

Havner đã trèo lên đỉnh núi cao gần đấy để cầu nguyện, và ở đó Chúa đã hồi phục linh hồn ông. “Chắc chắn Ngài là Đấng đã dẫn đưa tôi trải qua gần 72 năm trời nhiều nguy hiểm, nhiều vất vả, và nhiều chông gai sẽ thấy tôi hoàn tất cuộc hành trình. Chắc chắn sự nhơn từ và sự thương xót sẽ theo tôi phần còn lại của linh trình và tôi sẽ ở trong nhà Đức Giêhôva cho đến đời đời”.

Ông nói: “Lạy Chúa, xin giúp con biết là một con chiên, chớ đừng là một con dê!”

 

            “Đức Giêhôva là Đấng chăn giữ tôi; tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì” (Thi thiên 23.1)

                                                                   29 Tháng 2

NGƯỜI CHĂN CHẾT CÓNG VÌ SƯƠNG GIÁ

                Ở thành phố quê hương tôi là Elizabethton, Tennessee có một nữ giáo sư cao tuổi tên là Beula Thomas, cụ đã lớn lên từ vùng thảo nguyên Colorado. Trước khi bà qua đời, bà đã ghi lại những ký ức thời thơ ấu, gồm cả sự việc sống động đã đưa bà đến với đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ.

Một trận bão tuyết đập vào rặng Rocky suốt mùa đông năm 1912, và người chăn chiên ở địa phương. Ông Woods cùng với bầy chiên của mình bị kéo vào trong các rặng núi gần trang trại của Thomas. Ông cố hết sức mình đưa bầy chiên đến chỗ hóc núi lõm và để chúng đứng sát lại với nhau hầu giữ được hơi ấm. Woods biết rõ tuyết rơi dày sẽ cung ứng lớp phủ bảo hộ cho bầy chiên của mình, cứu chúng tránh khỏi ngọn gió rét; và hơi ấm từ bầy chiên sẽ làm cho tuyết tan ra gần gương mặt của chúng, giúp chúng thở dễ dàng hơn.

Nhưng thay vì nghe theo người chăn, bầy chiên bỏ chạy theo con chiên đầu đàn và lao vào đống tuyết do gió thổi gom thật dày, chúng sẽ không chịu nổi lạnh ở đó. Người chăn chiên thất vọng kia gần như tê cứng vì lạnh, tìm cách tới được nhà của Thomas, tìm chỗ ẩn náu cơn bão. Bà Thomas đun nước nóng cho người chăn chiên hơ tay chân, trong khi chồng của bà lo xoa bóp cho chúng hầu tránh bị chết cứng. Sau bữa ăn tối với thịt cá hồi, người kia thuật lại câu chuyện buồn của mình.

Ông Woods nói: “Tôi sẽ trở lại sau cơn bão và trừng phạt bầy chiên. Loài chim và chó sói sẽ chiếm lấy thịt chúng mất”.

Ba đứa con của Thomas bị người khách bất ngờ nầy lôi cuốn. Sau một lúc, trong khi chúng tranh luận câu chuyện với mẹ chúng, bà đã trưng dẫn Thi thiên 23, giải thích rằng Chúa Jêsus là Đấng Chăn Chiên Hiền Lành, Ngài đang chăm sóc chúng ta, mặc dù hết thảy chúng ta giống như bầy chiên đã đi lạc huớng. “Một số người ngoan cố, họ từ chối không chịu tin theo Đấng Christ và bị hư mất cho đến đời đời. Nhưng Chúa Jêsus đã đến để dẫn dắt bầy chiên mình vào sự an ninh đời đời”.

Khi bà sử dụng câu chuyện đó để giải thích tin lành, lời lẽ của bà diễn giải cho mấy đứa con nghe, và ngày ấy cả Beula và chị Pearl đã chọn tin theo tiếng phán của Chúa.

 

                “Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi” (Thi thiên 23.6)

 

***

 

 

Tags: #ThuVienOnline#TuCauKinhThanhNay
Previous Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Giêng

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Ba

Admin

Admin

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Ba

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In