DAT DNA
Thứ Bảy, Tháng Tư 18, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Mười Một

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

1 Tháng 11

NGƯỜI ĐƯỢC BIẾN ĐỔI

                Những hình ảnh của Mel Trotter (1870-1940) chỉ rõ một con người với gương mặt nghiêm trang, nụ cười rạng rỡ, mái tóc màu bạc, đôi gọng kính bằng kim loại bao quanh cặp mắt lộ nét hiểu biết. Câu gốc ông rất ưa thích là II Côrinhtô 5.17, và vì một lý do rất là hay.

Cha của Trotter làm bồi phục vụ ở một quán rượu, ông dạy cho Mel cách làm ăn buôn bán ở một độ tuổi rất sớm. Cho dù mẹ ông đã thành khẫn cầu nguyện, Mel cứ buông mình theo lối sống nhậu nhẹt, hút sách và cờ bạc của cha mình. Khi ông lập gia đình, các thói hư tật xấu của ông đã đẩy gia đình đến chỗ  nghèo khó. Mel đem bán đồ đạt trong nhà để lấy tiền đi uống rượu, sau cùng phải đi tới chỗ giựt dọc mới có tiền làm thoả mãn tật ghiền rượu của mình.

Ngày nọ Mel loạng choạng về tới nhà thì thấy đứa con nhỏ của mình nằm chết trong cánh tay của mẹ nó. Đặt tay trên chiếc mũ của đứa trẻ, Mel hứa không hề đụng tới một giọt rượu nào khác bao lâu ông còn sống, một phương thức kết thúc đám tang.

Sau đó một thời gian ngắn, Mel, 27 tuổi, bỏ lên Chicago bằng cách đi lậu vé trên một toa xe lửa chở than. Đêm tháng Giêng ấy là một đêm thật cay đắng, lạnh lẽo, nhưng ông đã bán đi đôi giày để lấy tiền uống rượu. Sau khi bị người ta đuổi ra khỏi một quán rượu trên đường Clark, ông đi về hướng hồ Michigan để tự vận. Không biết sao, ông đứng lại trước Hội Truyền Giáo Pacific Garden say đến nỗi người gác cửa phải đở ông tựa vào bức tường để ông không ngã té ra khỏi chiếc ghế ngồi.

Mặc dù rất say, đến cuối buổi thờ phượng, Trotter đã  đưa tay cao lên xin cầu nguyện và tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình. Sự thay đổi diễn ra ngay tức khắc và thật đáng nhớ. Mel Trotter đã trở thành một con người mới. II Côrinhtô 5.17 đã trở thành một câu Kinh Thánh cho sự làm chứng của ông, và ông bắt đầu chia sẻ câu Kinh Thánh ấy ở khắp mọi nơi. Vợ ông đã đến tận Chicago để hiệp cùng với ông, và ở thời điểm Mel Trotter trở thành một trong những truyền đạo, diễn giả, nhân sự, người đưa dắt nhiều linh hồn đến với Chúa mà  ở châu Mỹ ai cũng cần tới.

Ông từng nói: “Ngày long trọng nhất mà tôi đã từng sống là ngày 19 tháng Giêng năm 1897, khi Chúa Giêxu đến ngự trong đời sống tôi và đã cứu vớt tôi ra khỏi tội lỗi. Sự biến đổi đó đã cách mạng hoá trọn cuộc sống của tôi. Đừng gọi tôi là một tay say sưa đã được biến đổi. Tôi là một con người đã được biến đổi, một con cái của Đức Chúa Trời”.

 

 “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (II Côrinhtô 5.17).

 

2 Tháng 11

CÂU GỐC GẮN TRÊN TƯỜNG

                Catherine Booth, “mẹ đẻ của Đội Cứu Thế Quân”, trong danh của Đấng Christ đã làm việc bên cạnh chồng bà trong việc nâng đỡ, cung cấp quần áo, và giải cứu nhiều linh hồn bị hư mất.  Mặc dù mắc chứng nan y, bà cứ tất bật, được nâng đỡ bởi một câu gốc mà bà đã thuộc lòng từ khi còn thơ ấu – II Côrinhtô  12.9.

Bà đã gắn câu gốc lên bức tường gần bên giường ngủ của bà, khiến cho câu Kinh thánh ấy trở thành vật sau cùng mà bà nom thấy lúc đêm xuống và là vật đầu tiên bà nhìn thấy lúc sớm mai. Ở tuổi 59, khi sắp qua đời, môi miệng bà nhấp nháy, muốn nói ra, song chẳng ai nghe được một tiếng nào cả. Thay vì thế, Catherine đã nhấc ngón tay xương xẩu của bà lên chỉ vào câu gốc ở trên tường. Vị Mục sư đã nói trong tang lễ của bà: “câu gốc của bà ấy”.

Charles Spurgeon đã nói vào ngày thứ Sáu kia với các sinh viên thần học của mình như sau: “Các sinh viên thân mến, có nhiều phân đoạn Kinh thánh mà các em không thể hiểu nổi, cho tới chừng ai đó cố gắng hoặc kinh nghiệm qua, giải bày chúng cho các em biết. Buổi tối nọ tôi đang lái xe về nhà sau một ngày cật lực làm việc; tôi rất mệt mỏi và chán chường lắm; và thình lình có một tia chớp loé lên, câu gốc thoạt hiện đến với tôi: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi! Khi về tới nhà, tôi xem lại câu gốc đó, rồi câu ấy lại tỏ ra cho tôi theo cách nầy: ân điển TA đủ cho NGƯƠI rồi. Tôi nhũ thầm: “Sao vậy, sao mình lại nghĩ như thế nhỉ?” và tôi bật cười. Dường như câu Kinh thánh làm cho sự vô tín ra lố bịch. Giống như con cá nhỏ kia,  nó khát nước, thấy bối rối lắm khi phải uống nước của dòng khe cạn khô; và Thames nói: `Hãy uống đi, con cá nhỏ bé kia, dòng suối của ta đủ cho ngươi rồi!’ Hoặc như một con chuột nhỏ sống trong vựa thóc Xứ Ai cập, sau 7 năm được mùa, e sợ mình sẽ chết trong nạn đói, và Giôsép đã nói: `Hãy vui mừng đi, con chuột nhỏ kia, các vựa thóc của ta đã đủ cho ngươi rồi!’ Một lần nữa, tôi hình dung ra một người đang đứng trên hòn núi kia mà nhũ thầm  rằng: `Ta sợ oxygen sẽ cạn hết trong bầu khí quyển’. Thế nhưng đất kêu lên: `Hãy thở đi, hỡi kẻ kia, và hãy hít đầy buồng phổi ngươi; bầu khí quyển ta đã đủ cho ngươi rồi!’”

 

 “Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Côrinhtô 12.9).

3 Tháng 11

ĐỪNG KỂ TÔI NHƯ CHẾT RỒI

Trong quyển “Những người tuận đạo”, John Foxe đã dành ra một chương cho Tấn sĩ Rowland Taylor, là nhà truyền đạo của thị trấn Hadley ở nước Anh. Taylor là một người rất thành thực và đáng mến mộ. Thậm chí người hèn kém nhất cũng có thể tiếp cận với ông, và các bài giảng của ông đều giống như mana vậy. Nhưng khi Mary Đẩm Máu kia lên ngôi và đã gây dựng lại Công giáo trên khắp nước Anh, Taylor đã bị bắt.

Một tối kia khi con trai của ông đến thăm, Taylor trao cho người con quyển sách theo tiếng latinh cũ với những dòng chữ viết ở bìa sau: “Ta tin họ được phước, vì đã chết trong Chúa. Đức Chúa Trời chăm sóc cho loài chim sẻ và tóc ở trên đầu chúng ta. Hãy tin cậy nơi Ngài bởi công trạng  của Cứu Chúa chúng ta là Đấng Christ. Hãy tin tưởng, kính sợ, và vâng theo Ngài. Hãy cầu nguyện cùng Ngài, vì Ngài đã hứa giúp sức cho. Đừng kể là tôi đã chết rồi, vì tôi chắc chắn sẽ sống, và không bao giờ chết. Tôi đi trước đây, và quí vị sẽ theo sau, về quê hương đời đời của chúng ta.  

                Tôi nói với bạn hữu của tôi ở Hadley rằng tôi ra đi từ đây với một lương tâm trong sáng về đạo lý của tôi. Với khả năng ít ỏi của tôi, tôi đã giảng ra các bài học mà tôi đã thu thập được từ sách của Đức Chúa Trời. Vì lẽ ấy nếu tôi, hay một thiên sứ đến từ trời, giảng cho quí vị bất kỳ một tin lành nào khác hơn tin lành mà quí vị đã nhận được, sự rủa sã của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên nhà truyền đạo đó”.

Vài ngày sau, Taylor bị dẫn ra sân hành hình, ở đây ông lột bỏ áo xống bên ngoài rồi trèo lên cái thùng đặt giữa sân. Thân thể ông bị xiềng chặt lại, và một tên lính châm ngọn lửa. Giơ tay cao lên trời, vị Mục sư của Hadley kêu lên: “Lạy Cha ở trên trời hay thương xót,  vì cớ Cứu Chúa Giêxu Christ của con, xin tiếp lấy linh hồn con trong tay Ngài”.

 Foxe viết: “Thế rồi ông đứng yên lặng trong ngọn lửa mà không thèm kêu la hay cử động nữa, với hai bàn tay chấp lại trước ngực mình, cho tới khi Soyce đánh vào đầu ông bằng một cây giáo và bửa đầu ông ra để bộ óc ông đổ ra ngoài và thi thể ông sụp xuống trong ngọn lửa”.

 

                “Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin lành anh em đã nhận, thì người ấy đáng bị anathem” (Galati 1.9).

 

                                                                      4 Tháng 11

CÁI MIỆNG VÀNG

                Tên của ông là John ở Antioch, nhưng lịch sử lại biết ông là Chrysostom, tên nầy có nghĩa là: “Cái miệng vàng”. Các bài giảng của ông vào thế kỷ thứ tư thuộc về loại hùng biện nhất của lịch sử Hội thánh. Ông là Billy Graham trong thời ấy, ông biết kết hợp phần chú giải Kinh thánh với ứng dụng đạo đức mô phạm vào đời sống hàng ngày. Các bài giảng của ông đã được ghi chép theo kiểu tốc ký khi ông rao giảng và đã được bảo tồn qua nhiều thế kỷ, khiến cho ông trở thành nhà truyền đạo xưa của Hội thánh thường được trưng dẫn nhất.

Thế nhưng Chrysostom thường thấy mình hay bị các bậc cầm quyền người La mã chiếu cố, họ bực tức sứ điệp đầy quyền năng và không hề nao núng của ông. Trong thời buổi như thế, ông đã giữ chặt Galati 1.10 trong tấm lòng mình.

Kẻ thù không đội trời chung của ông là Hoàng hậu Eudoxia. Giận dữ vì Chrysostom tấn công miệt mài vào tội lỗi, bà ta quyết định tống khứ ông ra khỏi thành Constantinople. Ông đã chống lại bằng cách rao giảng một bài giảng rất sắc bén nói về Êli và Giêsabên với nhiều ngụ ý rõ ràng. Eudoxia đánh trả lại và Chrysostom thấy mình bị hạ bệ và bị bắt xuống tàu đưa đi lưu đày. Còn dân chúng thành Constantinople thì nổi loạn, họ giận dữ muốn nhà truyền đạo phải quay trở về. Ngay lúc đó có một trận động đất làm rung chuyển thành phố. Eudoxia run rẩy, thừa nhận thất bại, và Chrysostom trở về trong đắc thắng. Về sau ông bày tỏ mọi cảm xúc của mình bằng những lời lẽ sau đây:

“Khi bị tống ra khỏi thành phố, tôi không còn cảm thấy lo sợ nữa, nhưng lại nhũ thầm rằng: Nếu hoàng hậu muốn trục xuất tôi, hãy để cho bà ta làm như vậy đi. Quả đất nầy thuộc về Chúa. Nếu bà ta muốn cưa tôi ra thành nhiều mãnh, tôi có tấm gương Êsai trước mặt mình. Nếu bà ta muốn ném tôi xuống lòng biển, tôi nghĩ tới tiên tri Giôna. Nếu tôi có bị ném vào ngọn lửa hừng, ba bạn Hêbơrơ trong lò lửa hực cũng đã chịu khổ y như thế. Nếu bị ném trước mặt loài thú dữ, tôi nhớ tới Đaniên trong hang sư tử. Nếu bà ta muốn ném đá tôi, tôi đang có Êtiên là nhà tuận đạo đầu tiên  ở trước mặt đây. Nếu bà ta đòi chém đầu tôi, hãy để bà ta làm như thế; Giăng Báptít đang sáng rực ở trước mặt tôi.

                “Phaolô nhắc cho tôi nhớ: “Nếu tôi muốn đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ nữa”.

 

 “Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ” (Galati 1.10).

 

5 Tháng 11

BÀI THÁNH CA ĐẦU TIÊN CỦA WESLEY

Ông xuất thân từ một gia đình đông anh em, là người thứ 18 trong 19 anh em, và ông đã sống sót qua cơn nguy hiểm từ lúc ấu thơ. Ông  được quấn trong lớp len và nằm im lặng trong nhiều tuần lễ khi mẹ ông cứ mãi lo cầu nguyện. Nhưng ông đã sống, và ông không nín mãi trong im lặng. Charles Wesley trở thành tác giả viết thánh ca lỗi lạc nhất của Hội thánh Anh quốc, ông đã sáng tác 8.989 bài hát cho Đấng Christ. Giữa vòng các bài ấy là: “Kìa, Thiên Binh Cùng Nhau Trỗi Hát”, “Ngày Nay Chúa Phục Sinh”, “Tôn Vinh Chúa Linh Năng”, “Giêxu Đấng Hằng Yêu Thương Tôi”.

Sau đây là câu chuyện nói về sự ông trở lại đạo. Vào năm 1735, Charles và anh của ông là John dong buồm sang Georgia trong vai trò giáo sĩ, nhưng chuyến đi nầy chỉ là một kinh nghiệm đáng thương mà thôi. Charles – cầu may, bịnh hoạn, tránh né, và chưa được cứu – than vản rằng ông còn ẳm lấy địa ngục bên hông mình. Trở về Anh quốc, ông làm bạn với Peter Bohler, là người đã hỏi han ông về việc lên thiên đàng. Charles nói ông đang mong như thế vì mọi nổ lực hầu việc Đức Chúa Trời của mình. Khi Bohler buồn bã lắc đầu, Charles lấy làm bực tức; nhưng không lâu sau đó, khi hồi phục qua cơn bịnh, Charles bắt đầu đọc sách chú giải Kinh thánh của Luther về sách Galati. Lời lẽ của Galati 2.20 quét miếng vải che mắt ông rớt đi mất khi ông nhận ra rằng Đấng Christ: “đã yêu thương tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi”. Chúa nhật sau đó, Charles đã dâng lòng mình cho Đấng Christ với đức tin thật đơn sơ, ông nói: “Giờ đây tôi biết mình đã hoà thuận lại với Đức Chúa Trời, và vui vẻ trong sự trông cậy với lòng kính sợ Đấng Christ”. Ba ngày sau anh của ông là John bước vào phòng của ông, một số bạn bè kéo theo ở đàng sau, họ hô lên: “Tôi tin!” Vào khoảng 10 giờ tối, Charles trình ra các bản thảo bài thánh ca mới mà ông đã viết kỹ niệm sự ông trở lại đạo. Ông đã viết nhiều bài ca thánh trước đó, nhưng đây mới là bài đầu tiên khi ông là một Cơ đốc nhân chân chính. Họ cất tiếng hát với ánh nến bên giường bịnh của ông:

Linh hồn tôi ra từ nơi nao?

Tôi khát khao thiên đàng dường bao!

Một nô lệ được cứu ra khỏi sự chết và tội lỗi

Một nhánh cây được rút ra khỏi lửa

Tôi vui vẻ sống  trong đắc thắng

Và hát ca tụng Đấng Giải Cứu tôi!

 

 “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Galati 2.20). 

 

                                                                      6 Tháng 11

CỨU RA KHỎI SỰ RỦA SÃ

Rabi Ginsburg tự hào đặt tên cho con trai đầu lòng của mình là Solomon và mơ thấy đứa trẻ một ngày kia sẽ noi theo ông làm lãnh tụ cho người Do thái ở Ba lan.  Thế nhưng ông đã không chuẩn bị cho các năm tháng thiếu thời của cậu bé. Lúc được 14 tuổi, Solomon cương quyết chống lại tính nghiêm khắc theo kiểu Pharisi trong gia đình mình, đặc biệt về vụ cô gái mà cha cậu sắp đặt cưới cho cậu làm vợ. Solomon ra khỏi nhà ở tuổi 15, đi khắp nơi ở châu Âu, sau cùng dừng chân tại Luân đôn, ở đây có một người bạn làm chứng cho cậu biết về Chúa Giêxu từ Êsai 53. Sau nhiều tháng trời miệt mài nghiên cứu, Solomon đã tiếp nhận Chúa Giêxu làm Đấng Mêsi và Cứu Chúa của mình.

Gia đình phản ứng quyết liệt. Người bác có nhà ở Luân đôn mà Solomon đến trú ngụ đã đuổi Solomon đi với nhiều lời rủa sả, cán chỗi, và nước nóng quất và tạt vào người. Ông bị tước mất quyền thừa kế. Một nhóm người Do thái đã tấn công và đánh đập ông cho tới lúc họ tưởng ông đã chết rồi. Khi ông tỉnh lại, ông thấy mình đang nằm trong một cái thùng rác, xương cốt gãy vỡ, và quần áo ông đầy những máu.

Rồi một ngày kia ông phải ra trước hội đồng gia tộc. Khi ông đến, những người thân của ông ra sức thành khẫn khuyên ông đừng theo Đấng Christ nữa, nhưng bắt đầu từ Êsai 53, Solomon đã giảng cho họ nghe biết về Chúa Giêxu. Một người Do thái trong số đó bắt đầu đọc lên những lời lẽ cay đắng nhắm vào sự rút phép thông công: “Ngươi sẽ bị rủa sả cả ngày lẫn đêm; bị rủa sả cả khi đứng và nằm ngủ…”, và còn nhiều thứ nữa.

Solomon, bất chấp mọi sự ấy, cứ yên lặng kêu cầu Chúa. Đột nhiên dường như ông nom thấy Đấng Christ, hai cánh tay giang ra trên cây thập tự. Phía trên đầu Ngài còn vấy máu, Solomon nhìn thấy dòng chữ: “Đấng Christ đã chuộc chúng ta ra khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sã vì chúng ta”.

Tấm lòng của ông đột nhiên đầy dẫy với sự vui mừng kỳ lạ, và khi bước ra khỏi nhà, ông nói: “Tôi rất sung sướng, tôi không biết mình đang làm gì. Tôi lao thẳng vào hai cánh tay của viên cảnh sát to con kia, ông ta hỏi tôi có say rượu không!?! Tôi đáp: “Thưa ông, không, nhưng tôi rất sung sướng”.

Solomon Ginsburg không bao giờ ngó lại đàng sau, và ông tiếp tục trở thành một trong các nhà truyền đạo kết quả nhiều nhất trong thời của ông.

 

 “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, – vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ”  (Galati 3.13).

 

7 Tháng 11

SỰ TỰ DO CỦA TẤM LÒNG

                Mục sư Walter H. Everett đã trả lời điện thoại, nhưng chưa chuẩn bị nhận lấy lời lẽ mà ông mới vừa nghe: “Scott đã bị giết  tối nay”. Cơn giận của Walter đối cùng kẻ giết con trai ông nổi phừng lên giống như một cơn thủy triều dậy sóng, và càng tồi tệ hơn nữa khi có sự kỳ kèo trong bản án dành cho kẻ giết người ấy.

Cơn giận đã tác động trọn cuộc đời tôi. “Làm sao tôi dứt bỏ được cơn giận nầy chứ?” Tôi rất đỗi ngạc nhiên. Câu trả lời đến lần đầu tiên sau khi tôi nom thấy Mike, gần một năm sau khi Scott chết. Mike đứng trước vành móng ngựa nhận kết án và anh ta cho biết anh ta thực sự rất buồn rầu vì những gì anh ta đã gây ra.

                Ba tuần lễ sau, vào ngày tưởng niệm đầu tiên cái chết của Scott, tôi đã viết thư cho Mike. Tôi nói cho anh ta biết về cơn giận của tôi và hỏi một vài câu quyết định. Kế đó tôi viết: “Sau khi nói ra mọi điều đó, tôi muốn cảm ơn anh vì mọi lời anh thố lộ tại toà án, và rất khó viết ra mấy lời nầy đối với tôi, tôi tha thứ cho anh”. Tôi viết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ và đã mời Mike viết hồi âm cho tôi nếu anh ta muốn.

                Ba tuần sau thì tôi nhận được thư của anh ta. Anh ta nói rằng khi đọc thư của tôi, anh ta không thể tin được. Chưa hề có ai nói với anh ta câu: “Tôi tha thứ cho anh” hết. Đêm đó anh ta quì gối bên cạnh giường và cầu nguyện, và đã tiếp nhận, sự tha thứ của Đức Chúa Giêxu Christ.

                Mối quan hệ bằng thư từ dẫn tới các lần thăm viếng đều đặn, trong các lần gặp gỡ chúng tôi thường nói về mối quan hệ với Đấng Christ ngày càng tăng giữa tôi và Mike. Sau đó, tôi đã nói tốt cho Mike trước ban xét giảm án, và anh ta đã được thả tự do sớm. Vào tháng 11 năm 1994, tôi là Mục sư làm phép giao cho đám cưới của anh.

                Khi được hỏi về lần tha sớm sủa đó, Mike nói: “Tha về sớm cũng mừng lắm, song tôi đã không ở tù lâu rồi. Đức Chúa Trời đã buông tha tôi tự do khi tôi cầu xin Ngài tha thứ”.

                Tôi thực sự được tha sao? Tôi đã lấy làm lạ nếu đây là sự thật. Nhưng tôi đã khám phá ra ý nghĩa câu nói của sứ đồ Phaolô: “Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do…”

 

                “Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững…” (Galati 5.1).

 

8 Tháng 11

VÕ SĨ QUYỀN ANH VÀ VỊ THƯƠNG GIA

                Paul Rader, cựu võ sĩ đô vật và quyền anh, đã trở thành một trong những nhà truyền đạo đầy quyền năng vào đầu thế kỷ thứ 20. Có khi người ta gọi ông là “Êli tân thời”. Vào năm 1916, trong khi làm chủ toạ Hội thánh Moody Memorial ở Chicago, Rader, 30 tuổi, được mời tới giảng cho Hội thánh Open Door ở Los Angeles.

Vào ngày thứ bảy, vị thương gia Charles Fuller đọc báo thấy Rader đến viếng California. Qua ngày sau, khi đến tại nhà thờ rồi, ông tìm một chỗ ngồi ở phía sau cây cột thật lớn kia, ông quan sát Rader. Rader có tầm vóc thật to lớn, Fuller đã mường tượng như mình đang đến xem thi đấu trên võ đài. Nhưng giờ đây Rader đang đánh trận vì linh hồn người ta, và khi ông ấy đứng lên giảng, ông đã đọc phần câu gốc ở Êphêsô 1.18. Rader nói rằng không có Đấng Christ người ta đang sống trong cái hang đạo đức và thuộc linh, mù quáng, tăm tối và không biết gì về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đang dành chứa cho họ. Tìm gặp Đấng Christ giống như đi từ hang động tăm tối ra ngoài sáng láng vậy.

Khi Fuller lắng nghe, đột nhiên ông nhận ra tình trạng mù loà thuộc linh của chính mình. Tựa đầu vào băng ghế ở trước mặt, ông run rẩy. Sau giờ thờ phượng, ông lái xe về vùng phụ cận của Hollywood rồi dừng xe dưới bóng cây bạch đàn trong Công Viên Franklin. Quì gối ở băng sau xe, Fuller dâng đời sống mình cho Đấng Christ trong sự cầu nguyện. Ông quay trở về nhà rồi viết thư cho vợ mình, bà đang ở xa: “Đã có một sự thay đổi hoàn toàn trong đời sống anh. Ngày Chúa nhật anh lên Los Angeles nghe Paul Rader giảng. Anh chưa từng nghe bài giảng nào giống như vậy trong cả đời anh – Êphêsô 1.8. Giờ đây mọi mục đích và tham vọng của cả đời anh đều đã thay đổi. Bây giờ anh cảm thấy anh muốn hầu việc Chúa thôi, nếu Ngài chịu sử dụng anh, thay vì kiếm tiền là mục tiêu cho đời sống anh. Anh có một sự kêu gọi bước vào công trường truyền giáo ở châu Phi”.

Sau đó, chính Fuller đã trở thành một nhà truyền đạo rất năng nổ, giúp mở mang truyền giảng trên đài phát thanh với các chương trình phát thanh hàng tuần từ Thính Phòng Municipal ở Long Beach, khắp cả nước đều nghe thấy. Ông cũng phụ giúp sáng lập Thần Học Viện Fuller vào năm 1947 rồi hoạt động không ngừng nghỉ cho Đấng Christ cho tới khi ông qua đời vào năm 1968.

 

“lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao” (Êphêsô 1.18).

 

9 Tháng 11

“HÃY GIẢNG CHO HỌ BIẾT NỮA ĐI”

Khi cuộc Cải Chánh bắt đầu lan rộng qua Âu châu, các nhà cầm quyền ở Amsterdam đã tìm cách giới hạn hiệu quả của cuộc cải chánh đó.  Khi họ hay được có một buổi giảng Tin lành nhóm lại ở bên ngoài thành phố, mấy cỗng thành đã bị đóng lại để ngăn dân chúng ra dự. Thế nhưng có nhiều người đã tràn ra ngoài qua mấy con kênh hoặc họ thoát qua mấy lối đi nhỏ trên bức tường. Nhiều đoàn dân đông chen chúc nhau qua mấy cánh cỗng vừa hé mở để cho những cô gái ra vắt sửa ở ngoài đồng vào buổi sáng sớm. Đến 11 giờ, các quan cai trị thành phố đã chịu thua, rồi mấy cánh cỗng đã mở rộng ra cho mọi người đến dự nhóm lại. Hơn 5.000 người nhóm lại để nghe Pieter Gabriel giảng một bài giảng bốn tiếng đồng hồ từ Êphêsô 2.8-9: “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu,…”. Buổi nhóm ấy đã phụ giúp thiết lập cuộc Cải Chánh tại Hà lan.

Phân đoạn Kinh thánh nầy cũng trở thành câu gốc của một đội giảng tin lành bất thường do Tấn sĩ James Spurgeon và cháu nội ông là Charles lãnh đạo. Chàng trai trẻ Spurgeon kia, là người chỉ mới bắt đầu giảng đạo, vừa được mời đến giảng tại một nhà thờ kia, nhưng lại bị trễ xe lửa. Khi ấy, James đứng lên bục giảng bắt đầu bài giảng trong chỗ của mình, chọn lấy Êphêsô 2.8-9 làm câu gốc. Khi Charles đến nới, James tự ngắt ngang, ông nói: “Cháu nội tôi đến đây rồi. Anh ta giảng tin lành hay hơn là tôi giảng nữa, nhưng cháu không thể giảng một tin lành nào hay hơn, có phải không?”

Charles bước lên toà giảng rồi bắt đầu ngay chỗ mà ông nội anh vừa chừa lại đó. Mấy phút sau, khi Charles đang nói tới tình trạng tội lỗi của con người, James thì thầm: “Ta biết ngay mà”. Charles ngồi xuống, và James bước lên kết thúc tại điểm đó; sau đó ông trao toà giảng lại cho cháu nội mình. Khi bắt đầu trở lại, Charles lại nghe thấy giọng nói của ông nội sau lưng mình: “Hay đấy! Hay đấy! Hãy giảng cho họ biết nữa đi Charles!”

Trong phần đời còn lại của mình, khi nào Charles đọc hay giảng từ sách Êphêsô, chương 2, thì ông lại nghe thấy tiếng nói thì thầm của ông nội mình: “Hãy giảng cho họ biết nữa đi! Hãy giảng cho họ biết nữa đi!”

 

 “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình “ (Êphêsô 2.8-9). 

 

10 Tháng 11

HAI TỪ QUAN TRỌNG

                Tôi rất ngạc nhiên không biết trong lý trí giáo dân của Newton có gì khi họ nhìn thấy vị tân Mục sư của họ bước lên bục giảng lần đầu tiên. Những cảnh tượng đẹp đẽ trong mấy ngày đầu của ông chăng? Thân hình ông tiều tụy khi ra khỏi đơn vị Hải quân chăng? Việc ông chuyên chở các nô lệ châu Phi bị xiềng xích chăng? Những thú đam mê vô đạo của ông chăng? Cái mồm bẩn thỉu của ông chăng? Những năm tháng ông làm nô lệ cho người đờn bà bạo dâm chăng. Giờ đây con người nầy, John Newton, là vị Mục sư của họ! Thế nhưng cũng có người đâm lo bởi thái độ nhiệt tình truyền giáo của ông. Newton  đã được Chúa Giêxu biến đổi đến nỗi ông giảng dạy Kinh thánh với thái độ sốt sắng hơn bất kỳ một tăng lữ nào thuộc giáo hội Anh. Có phải họ đang tiếp một người cuồng tín không? Một nhân vật nhiệt thành quá mấu? Từng con mắt đã nhìn thấy Newton bước lên toà giảng của ngôi giáo đường nhỏ bé nằm ở giữa thành phố Luân đôn. Ông đã chọn câu gốc cho bài giảng của mình – Êphêsô 4.15.  Hai từ quan trọng trong mệnh đề: “…lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật”, ông nói, sẽ đánh dấu chức vụ của ông. Giọng nói ông sang sảng: “Mỗi nổ lực để che giấu hoặc làm suy yếu đi bất cứ phần nào của lẽ thật để điều tiết mùi vị đắc thắng quanh chúng ta đúng là một sự sĩ nhục cho vẻ uy nghi của Đức Chúa Trời. Lương tâm tôi làm chứng cho tôi rằng tôi muốn trình bày lẽ thật trước mặt quí vị. Nguyện ân điển của Đức Chúa Trời giúp tôi biết luôn luôn làm như thế”.

Nhưng ông cũng được sửa soạn để lo chăn bầy của mình, “để cảm xúc được loại tình cảm nồng ấm nhất của tình bạn và sự dịu dàng đối với họ. Tình yêu nầy trái tim tôi cưu mang, tôi dâng lời cầu xin muốn có được thái độ sốt sắng nhất và sự mau mắn mà tôi có cần. Tình yêu sẽ giục giã tôi sống trung tín và sốt sắng luôn luôn”. Ông nhìn nhận rằng ông từng là “một người xem khinh và miệt thị tin lành”, và ông hứa chẳng che giấu điều gì về cuộc sống quá khứ của mình. Thế nhưng, ông nói, ông đứng trước mặt họ: “như một gương chịu khổ lâu dài của Đức Chúa Trời”.

Ngôi giáo đường nhỏ bé ấy, St. Mary, không bao lâu sau đó đã nhóm lại rất đông mỗi ngày Chúa nhật. Đồng thời, ảnh hưởng của Newton đã đụng đến các thành viên cao nhất của chính phủ Anh quốc, và chính chức vụ của ông đã nhóm lên phong trào đòi hủy bỏ việc buôn bán nô lệ. Nhiều linh hồn đã được cứu, và cả thế giới vẫn còn hát các bài thánh ca của ông, kể cả một bài hát bắt đầu bằng câu: “Ngợi ca Chúa từ ái ban ơn lạ lùng…

 

 “nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ” (Êphêsô 4.15).

 

11 Tháng 11

LẠY CHÚA, ĐÚNG LÀ MỘT NGHĨA VỤ

Đoạn tuyệt với lối sống  xa xỉ của mình, nàng Mary Bosanquet xinh đẹp đã mở một viện mồ côi cho trẻ em sống trên đường phố ở Luân đôn; và trong nhiều năm tháng cô có ít thì giờ để nghĩ tới  hôn nhân. “Tôi không có một suy nghĩ nào khác ngoại trừ việc dâng mình cho Đức Chúa Trời với một đời sống độc thân; đôi lúc tôi có nghĩ tới, là tôi sẽ lấy Ông Fletcher, nếu ông ấy không phải là một người cứu giúp linh hồn tôi”.

Cô đang nói tới John Fletcher, vị lãnh đạo nổi tiếng thuộc hệ phái Trưởng Lão và là bạn thân của Wesley. Và rồi sự việc đã xảy ra. Vào ngày 12 tháng 11 năm 1781, trước sự thích thú của bạn bè họ, hai người đã thành hôn. Mary đã hơn 40 tuổi lúc bấy giờ; John hơn nàng đến 10 tuổi.

Trở về từ đám cưới, chàng rễ đọc Êphêsô 5.25, nói với bạn hữu của mình: “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh. Lạy Chúa, đúng là một nghĩa vụ! Các bạn ơi, xin giúp tôi, bởi lời cầu nguyện của quí vị để chu toàn nghĩa vụ ấy. Giống như Đấng Christ đã yêu Hội thánh vậy! Ngài đã gạt qua một bên sự vinh hiển của Ngài vì Hội thánh! Ôi Chúa ôi, không một ai có thể làm phu phỉ nghĩa vụ nầy nếu không có sự trợ giúp toàn năng của Ngài”.

    Ông đã đọc mấy câu kế: “Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình”. Mary nói thêm: “như vâng phục Chúa”, và Fletcher đáp: “Đúng đấy, em yêu, chỉ ở trong Chúa thôi. Và nếu anh có muốn em làm bất cứ việc gì khác, hãy chống cự anh bằng mọi sức lực của em”.

Một thời gian sau, phân đoạn nầy được đăng tải trên tờ báo của Mary: “Tôi có một người chồng rất thích hợp với tôi trong mọi sự. Anh ấy mang lấy mọi lầm lỗi và thất bại của tôi, trong một tư thế nhắc nhở tôi liên tục tới câu nói: `hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh’. Anh ấy sống với bổn phận làm một người chồng mà tôi chỉ muốn chọn lấy sự vâng theo mà thôi”.

Đồng thời, chúng tôi đã tìm thấy bức thư nầy trong các thư từ của John gửi cho một người bạn: “Trước tiên tôi rất sợ phải nói ngay vào vấn đề, vì những người mới cưới lúc đầu họ chưa quen biết nhau; nhưng giờ đây sau khi đã sống qua mười bốn tháng trong thể trạng vợ chồng mới mẻ nầy, tôi có thể nói với bạn rằng, Đấng Toàn Năng đã ban cho tôi một phần thưởng, ấy là vợ tôi cư xử rất tốt đẹp đối với tôi còn hơn cả Hội thánh đối xử với Đấng Christ nữa”.

 

 “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh” (Êphêsô 5.25).

 

                                                                    12 Tháng 11

HOA TIÊU

                Cách đây nhiều năm, một người bạn sống tập thể với tôi đã giúp tôi tấn tới trong sự trưởng thành Cơ đốc với các bài học Kinh thánh do Hội Hoa Tiêu (Navigators) phân phát, một tổ chức do Dawson Trotman khai trương vào năm 1943. Kể từ đó, tài liệu của Hội Hoa Tiêu đã không dứt giúp cho tôi lĩnh hội càng thêm. Hội Hoa Tiêu do Dawson Trotman khai trương, anh là một sinh viên đại học, là đại diện lớp cũng như là chủ tịch đoàn sinh viên. Nhưng đời sống của anh bị rượu chè, cờ bạc và bạn bè xấu hành hại. Một đêm kia, anh bị bắt vì say rượu trong một công viên có nhiều trò tiêu khiển. Viên sĩ quan hỏi: “Nầy con trai, bộ con ưa lối sống nầy lắm sao?” Trotman đáp: “Thưa ông, tôi ghét nó lắm”. Hai ngày sau anh tới nhóm ở một nhà thờ địa phương, ở đây đã khích lệ học thuộc lòng Kinh thánh. Trong khi học thuộc lòng mấy câu Kinh thánh, Dawson thấy mình đang cầu nguyện: “Ôi Chúa, tiếp nhận Chúa Giêxu có là như thế nào thì con muốn làm sự ấy ngay bây giờ”. Không lâu sau đó, anh đã hướng dẫn nhiều người khác đến với Đấng Christ, nhưng ít có người chịu theo – cùng với những biến đổi nơi anh. Ngày kia, anh cho một người đi nhờ xe, người nầy đã thề một câu xanh dờn. Dawson nhớ lại đã từng cho một người giống như người nầy đi nhờ cách đây một năm và đã hướng dẫn ông ta đến với Đấng Christ rồi. Hoặc anh tưởng như vậy.

Giờ đây không thấy có một chứng cớ nào về sự biến đổi của người đó hết. Dawson buồn lắm, vì dường như Philíp 1.6 không hữu dụng gì cả. Đặt tờ bìa cứng dưới câu Kinh thánh, anh khởi sự cắt câu Kinh thánh đó ra khỏi sách bằng một lưỡi dao cạo. Nhưng, đang khi lưỡng lự, anh quyết định suy gẫm thay vì cắt rời câu Kinh thánh ấy. Khi anh làm vậy, anh nhìn ra mình đang tách câu Kinh thánh ra khỏi văn mạch. Anh để ý thấy mối quan tâm của Phaolô đối với những người mới trở lại đạo ở thành Philíp, thể nào ông đã cầu nguyện cho họ ở các câu 3-4, thể nào ông đã ghi khắc họ vào lòng ở câu 7, thể nào ông ao ước cho họ có được tâm tình của Đấng Christ ở câu 8. Với cái nhìn mới mẻ nầy, Dawson bắt đầu tập trung mọi nổ lực của mình vào việc tấn tới và địa vị cá nhân môn đồ. Đến năm 1933, ông bắt đầu dạy cho thủy thủ Les Spencer các nguyên tắc tăng trưởng Cơ đốc, để ra nhiều giờ với Spencer trong việc nghiên cứu Kinh thánh, học thuộc lòng, và cầu nguyện. Không bao lâu sau đó Spencer đã thành đạt và giảng dạy cho nhiều người khác trên con tàu của mình cho tới khi 125 người của chiếc USS West Virginia đều tấn tới trong Đấng Christ và biết chia sẻ đức tin của họ.                    

Chức vụ của Hội Hoa Tiêu đã bắt đầu.

 

                “tôi tin chắc rằng Đấng đã khỏi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Giêxu Christ” (Philíp 1.6).

 

13 Tháng 11

HẠNG NGƯỜI KIÊN QUYẾT

                Mục sư người Anh George Duncan ở Keswick, Anh quốc, từng được mời tới giảng trên đài BBC. Ông chọn câu gốc nầy, đọc tóm tắt là “kinh nghiệm tròn đều và cân xứng” của Cơ đốc nhân trong “sáu chữ khó quên, ít nhất trong tiếng Anh là những từ có một âm, rồi vì cớ đó không vượt quá sự hiểu biết của người nhỏ tuổi nhất hoặc đơn sơ nhất trong chúng ta”. Duncan nói: “Cơ đốc nhân đắc thắng là một người có giá trị – đối với tôi…sống… là một việc rất thực tế. Và đó là một việc khả thi – ấy là Đấng Christ!”

Điều nầy minh chứng cho phương thức Giáo sĩ/Mục sư Dan Merkh hồi hưu. Merkh nhớ lại bộ phận thanh niên của Hội thánh tự nó có tên là “Hạng người kiên quyết” và chọn Philíp 1.20-21 làm phương châm của bộ phận ấy. Nhưng Merkh bản thân ông không phải là “con người kiên quyết”, vì về sau trong khi phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, ông đã sống cách xa Đấng Christ và đã sống trong một tình trạng tái phạm. Ông được phân công làm công việc bàn giấy ở Đơn vị Hậu Cần của TQLC tại Norfolk, và có nhiều giấy tờ đã đi ngang qua bàn làm việc của ông.  Có người trao cho ông cái chặn giấy bằng kính có hình dạng của nửa quả bóng. Phần hình cong đã đóng vai trò như tấm kính dưới đó có đặt một tấm hình. Không có một tấm hình nào để đặt ở đó, Dan nhớ lại phương châm thanh niên xưa của mình rồi viết ra câu: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy”.

Mỗi lần ông xê dịch giấy tờ, đôi mắt ông nhìn theo hàng chữ ấy, và chúng chìm vào trong tấm lòng của ông. Về sau, khi tái dâng đời sống mình cho Đấng Christ, và dấn thân vào chức vụ, Philíp 1.20-21 trở thành  phương châm cho đời sống ông.         

Vị giáo sĩ khác, Bill Wallace, là bác sĩ ở Trung Hoa, cũng yêu thích câu Kinh thánh nầy. Khi ông bị quân Cộng sản bắt, và bị đối xử tàn tệ, ông đã viết nguệch ngoạc mấy câu nầy lên bức tường của nhà ngục hầu cho ông không bị mất trí. Sau nhiều tháng chất vấn và ngược đãi, người ta tìm gặp ông đã chết. Người Cộng sản nói ông đã tự treo cổ, song thân thể ông cho thấy có những dấu tích bị đánh đập cho tới chết. Xem thường giới chức cầm quyền người Cộng sản, bạn bè ông đã chôn cất ông với tất cả lòng kính trọng. Trên mộ địa của ông, họ đã ghi khắc những lời lẽ họ cảm thấy chúng mô tả động lực của sự sống ông: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi”.

 

 “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Philíp 1.21).

 

 

14 Tháng 11

KHÔNG BAO GIỜ TỐT HƠN

                Robert Baillie là một “người Tô cách Lan đáng kính”, một người Trưởng lão thuộc thế kỷ 17 rất vững vàng, ông bất chấp sự bắt bớ ngăn trở đức tin truyền giáo. Mặc dù bị Vua xứ Tô cách Lan đố kỵ, ông đã ra đi không để cho người thân bị hại cho tới tháng 8 năm 1684. Một tối kia, sức khoẻ yếu kém, ông đã bị mấy tên lính bắt được và bị xét xử khi còn mặc bộ đồ ngủ. Người chị của ông bị mất trí cùng đi theo ông và đã trao cho ông những lời nói chân thành để khiến cho ông cứ vững vàng, vì ông yếu quá không còn đứng nổi nữa. Thế rồi ông bị ném vào nhà ngục, ở đấy ông ngày càng yếu ớt thêm.

Nhà cầm quyền, không bằng lòng cho Baillie phải chịu một cái chết tự nhiên, đã kết án ông vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1684, phải bị treo cổ tại chợ Cross ở Edinburgh lúc 3 giờ chiều buổi trưa đó. Đầu ông bị chặt đứt rời ra rồi họ đem đóng đinh ở một chỗ có đông người qua lại. Thi thể ông bị căng ra, cắt rời thành bốn mãnh, rồi họ đem mỗi mãnh đi mỗi nơi khác nhau.

Sau khi nghe bản án mình xong, Baillie đáp: “Lạy Chúa tôi, thì giờ ngắn ngủi, bản án thì gay gắt quá, nhưng con cảm tạ Đức Chúa Trời của con là Đấng đã dựng nên con phải chịu chết giống như con được sống vậy”.

Trong khi chờ đợi trong xà lim cho tới giờ ấn định, Baillie suy gẫm về lời hứa ở Philíp 3.21. Lúc có sự sống lại, Đức Chúa Trời sẽ biến đổi thân thể hay chết của chúng ta ra giống với thân thể vinh hiển của Đấng Christ phục sinh. Khi có người đến hỏi ông cảm thấy thế nào, Baillie đáp: “Không thấy tốt hơn. Và trong vài giờ nữa tôi sẽ ở bên kia mọi nhận thức. Họ có thể chém và chặt thân thể tôi theo như họ muốn, nhưng tôi biết chắc là chẳng có một thứ gì bị mất; mà hết thảy các chi thể nầy sẽ được thu thập lại một cách kỳ diệu, và được ráp lại giống như thân thể vinh hiển của Đấng Christ.

                “Tôi đã chịu nhiều đau khổ nặng nề trong một lúc”, ông nói trong một sứ điệp sau cùng với bạn bè: “và tôi nói với lời khen ngợi ân điển của Đức Chúa Trời, thời gian chịu khổ của tôi là khoảng thời gian tốt đẹp nhất của tôi, và khi những nổi khổ của tôi rơi vào chỗ nặng nề nhất, mọi niềm vui mừng và yên ủi của tôi về mặt thuộc linh sẽ là lớn lao nhất. Ai nấy đừng kinh hãi về thập tự giá của Đấng Christ, thập tự giá của Ngài là sự vinh hiển to lớn nhất của chúng ta”.

 

 “Ngài sẽ biến hoá thân thể hén mạt của chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển của Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật” (Philíp 3.21).

 

15 Tháng 11

MỌI SỰ

                Ý tưởng loé lên trong trí tôi, rằng câu Kinh thánh sau đây, nội dung của nó có ý nói tới khả năng của Đấng Christ muốn ban cho chúng ta loại tấm lòng vui thoả.  “Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu nó hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi…”

Thế nhưng lời lẽ ấy còn có nhiều ứng dụng khác nữa.

                Tôi từng nghe Billy Graham nói về tình trạng kiệt lực của ông trong các chiến dịch truyền giảng Tin lành. “Đôi khi tôi cảm thấy mình không có sức để giảng thêm một bài nữa. Nhưng trong những giây phút đó, thường thì câu Kinh thánh nầy hiện đến với tôi cùng với sự bảo đảm có sức lực của Đức Chúa Trời để lo làm  phần việc”.

Robert Morrison đã trở thành Cơ đốc nhân vào tuổi 15, và sau một thời gian ngắn ông cảm thấy được kêu gọi bước vào chức vụ. Chống lại mọi ý muốn của cha mình, ông đến tại Luân đôn ghi danh vào trường thần học và đào tạo giáo sĩ.  Sự thể rất khó khăn, đặc biệt khi cha ông gửi thư than phiền rằng công việc làm ăn của gia đình phải sa sút vì cớ ông vắng mặt và nói thêm rằng bản thân ông cũng không có đủ sức khoẻ nữa là. Nhưng khi hồi âm, Robert đã tìm cách giải thích khi đã tra tay cầm cày, ông không thể ngó lại sau.

Ngày kia, chàng trai trẻ viết lời cầu nguyện nầy vào sổ nhật ký của mình: “Lạy Chúa Giêxu, con đã dâng mình cho sự hầu việc Ngài. Con luôn thắc mắc là, con sẽ hầu việc Ngài ở đâu? Con học biết từ Lời của Ngài rằng chính ý muốn thánh của Ngài là tin lành phải được rao giảng khắp thế gian. Mong ước của con là: Ôi Chúa, dấn thân vào nơi nào đang có cần nhân sự. Có lẽ phần việc nầy có khó khăn hơn phần việc kia. Con thấy mình chẳng thích ứng được với phần việc nào, nhưng qua sự thêm sức của Ngài, con có thể làm được mọi sự. Ôi Chúa, xin dẫn dắt con trong vấn đề nầy. Xin giúp con biết lượng tính cái giá, và đạt tới một giải pháp, để hành động cho xứng hiệp”.

Lời cầu nguyện của ông đã được nhậm thật là giàu ơn. Morrison đã trở thành vị giáo sĩ Tin lành đầu tiên cho Trung hoa. Mặc dù ông nhìn thấy chỉ có ba hay bốn người trở lại đạo trong suốt 27 năm phục vụ, ông đã lót đường cho một đội nhân sự đến phục vụ ở đó.

 

 “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi…” (Philíp 4.13).

 

16 Tháng 11

THẮC MẮC TRONG ĐÊM

Không một người nào từng nghe giọng sang sảng của Stephen Olford mà có thể quên được nó. Dường như giọng nói ấy loé ngang qua khoảng không khi ông rao giảng, với tốc độ nhanh của người Anh và với một quyền phép của thiên đàng hướng sứ điệp vào lỗ tai của người nghe.  Các bài giảng theo kiểu giải kinh của ông rung lên với sự lặp đi lặp lại khiến cho ai nấy càng thấy dễ nhớ hơn.

Olford lớn lên ở châu Phi, bố mẹ ông là giáo sĩ ở đây. Đến kỳ sinh nhật lần thứ 17 của ông, sau khi cắt bánh và nhận quà tặng, mẹ ông, Bessie Santmire Olford, đã hướng dẫn gia đình lễ bái. Bà đọc từ Giăng 14, nhấn mạnh câu 3, là lời hứa của Chúa sẽ tái lâm và tiếp đón dân sự của Ngài đến với chính mình Ngài. Khi dừng lại, bà đưa mắt nhìn Stephen rồi hỏi: “Stephen, khi Chúa Giêxu tái lâm, con có sẵn sàng nghinh đón Ngài không?”

Câu hỏi còn ứ lại không có câu trả lời. Stephen nhìn xuống đất, bồn chồn với hai bàn tay và mong muốn lặn đi đâu đó ngay chính giây phút ấy. Nhưng buổi tối hôm ấy câu hỏi còn đọng mãi trong lý trí của chàng trai. Anh không ngủ được, và anh trằn trọc cả đêm hướng về châu Phi. Thình lình vấn đề dường như có cách giải quyết, và anh đã kêu lên trong bóng đêm: “Mẹ ơi!”

Bessie chạy đến, hy vọng tìm thấy một con linh cẩu hay con thú hoang dã nào khác bên ngoài cửa sổ phòng của anh. Bà ngồi xuống bên giường rồi ôm lấy anh, cơ thể nhỏ bé của anh đang run rẩy. Không, không phải một con thú hoang đâu. Những tư tưởng chập chờn của anh đã tưởng tượng Chúa Giêxu đang tái lâm, chỉ để anh ở lại phía sau.  Bessie đốt ngọn đèn lên rồi mở quyển Kinh thánh của mình ra ở Côlôse 1.27: “Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển”.

“Nếu con muốn biết chắc mình sẽ về thiên đàng, Stephen, con phải có Đấng Christ ở trong con, trong tấm lòng của con. Con có muốn mời Chúa Giêxu ngự vào lòng con không?” Stephen gật đầu, và hai người quì gối bên cạnh giường thực hiện điều đó.

Olford nhớ lại: “Trước đó, đầu gối của tôi dường như hai cục đá vậy, nhưng bây giờ một sự bình an kỳ diệu đã ngự vào lòng tôi. Mẹ tôi là người đỡ đầu cho sự biến đổi ấy. Trong những năm tháng đầu đời đó, chính sự dạy dỗ, giáo huấn, nêu gương và mưu luận của bà đã kéo tôi đến với Chúa”.

 

 “Vì Đức Chúa Trời muốn khiến họ biết sự giàu vinh hiển của sự mầu nhiệm đó ở giữa dân ngoại là thể nào, nghĩa là Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy về vinh hiển” (Cô-lô-se 1.27).

 

17 Tháng 11

“TÔI MỚI CÓ 15 TUỔI”

Ở Đông Đức trước kia, Wilfried Gotter 15 tuổi đã bị mời tới phòng kín trình diện trước các bậc cầm quyền – các lãnh đạo nhà trường, mấy viên chức của chính quyền địa phương, và giới chức Đảng Cộng Sản. Anh có chịu hay không chịu tham gia vào Tổ chức Thanh niên Cộng sản? Anh có chịu hay không chịu tham gia vào quân đội Cộng sản?

Chàng thanh niên đã ở ngay điểm căng thẳng nhất trong cuộc đời của mình, vì anh là một Cơ đốc nhân tin kính, anh không muốn làm một điều gì với sự bất kỉnh của Chủ nghĩa Cộng sản. Về sau anh nhớ lại: “Ngồi ở đó là một thanh niên và tự bảo hộ mình nghịch lại 5 người ngồi đối ngang với bạn, họ tìm cách lấn lướt và doạ dẫm bạn, ắt không phải là chuyện dễ dàng. Tấm lòng tôi rơi vào chỗ cùng đường”.

Lúc đầu, Wilfried tỏ ra lo sợ và không dám chắc mình sẽ nói cái gì. Thế nhưng khi anh thầm nguyện: “Tôi có một lời đến từ Đức Chúa Trời. Đó là Côlôse 2.8 – “Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng”.

Phóng viên Barbara Von Der Heydt viết: “Khi Wilfried trưng dẫn câu nầy để bào chữa cho mình, anh rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy tác dụng làm nguôi cơn giận là thể nào. Mấy người kia chất vấn cặn kẽ về tuổi tác, giai cấp, và những con số ở bên cạnh họ – tuy nhiên lời đáp đơn sơ nầy ra từ cậu thiếu niên 15 tuổi khiến cho họ rơi vào chỗ khó xử. Cuộc chất vấn tạm nghỉ, rồi qua loa, sau cùng họ quyết định để cho anh ra về. Họ không thực hiện một nổ lực nào để làm thay đổi lý trí của anh nữa”.

Wilfried nói: “Trong giây phút đó, thực sự tôi đã kinh nghiệm được điều mà Kinh thánh đã nói – là khi bạn bị dẫn tới trước mặt các nhà cầm quyền, bạn không nên lo lắng mình sẽ nói điều gì. Quả thực đây là một sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời. Để có những lời lẽ trong một trạng huống như thế thì không phù hợp với đầu óc chậm chạp của tôi – tôi mới có 15 tuổi mà thôi. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn về đức tin cho mỗi ngày. Chúng có tác dụng lâu dài khi bạn kinh nghiệm chúng và nhìn biết rằng mọi điều chép trong Kinh thánh đều là sự thật”.

Vì cớ sự dạn dĩ của Wilfried, nhiều bạn bè của anh cũng từ chối không hàng phục đối với các tội ác của người Cộng sản.

 

“Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng” (Côlôse 2.8).

 

18 Tháng 11

SỰ KHÔ KHAN CỦA CÔNG VIỆC

                Mọi sự Đức Chúa Trời dựng nên đang sẵn có cho con người, họ có thể tìm được mọi sự mà Đức Chúa Trời đã dựng nên! Không ai quên được câu nói nầy khi họ đã nghe thấy chúng thốt ra từ môi miệng của Major Ian Thomas, nhà sáng lập Capenwray Missionary Fellowship và Hội truyền giáo Torchbearer.

Là một sinh viên đại học ở Luân đôn, Thomas đã cố gắng hết năng lực mình hầu việc Đấng Christ, trở thành chiếc cối xay luôn hoạt động, gói ghém mỗi ngày với giảng đạo, trao đổi, và làm chứng. Nhưng chẳng có ai chịu trở lại đạo hết. “Tôi càng làm nhiều, chẳng có gì đáp ứng hết; và tôi ngày càng ngã lòng thêm vì thực sự tôi hết lòng kính sợ Chúa. Nhưng tôi khám phá ra rằng càng gấp đôi mọi nổ lực để đưa linh hồn về với Chúa, vội vàng ở đây và sốt sắng ở chỗ kia, dự phần trong chiến dịch nầy, góp phần trong chiến dịch kia, giảng lúc sáng, dạy lúc tối, làm chứng cho người nầy, chứng đạo cho người kia, không một điều gì, không một điều gì thay đổi được sự khô khan của công việc của tôi hết”.

Thomas đã cầu nguyện vào một tối kia, gần như kiệt lực: “Ôi lạy Chúa, con đã cố gắng hết mình rồi và con đang thất bại trong vô vọng”. Thình lình một câu Kinh thánh vụt loé sáng qua ông mà ông không nhớ là ông đã biết câu ấy. Ông không thể nhớ mình có nghe hay đọc câu Kinh thánh đó trước đây, nhưng trong lúc nầy câu Kinh thánh đó rung lên trong lý trí ông giống như Big Ben vậy: “Đấng Christ Ngài Là Sự Sống Của Tôi”.

Thomas nhận biết mình đã cố gắng làm việc cho Đấng Christ những gì chỉ có Đấng Christ có thể làm qua ông. Mọi gắng sức riêng của ông đều vô dụng hết; ông cần tới quyền phép của Đấng Christ trong ông bởi Đức Thánh Linh.  Ngài là Đấng sẽ hiển hiện ngay bây giờ, bao phủ tôi để làm mọi sự mà tôi đã vô vọng gắng sức làm trong quá khứ.

                Chúa nhật tới, khi ông sửa soạn dạy cho 90 thiếu niên, ông đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, Ngài sẽ phán dạy với lớp thiếu niên nầy, điều ấy há chẳng kỳ diệu sao? Hôm qua con nghĩ là con sẽ dạy, nhưng Ngài sẽ dạy ngay giờ nầy đây”.

Ngày ấy 30 em thiếu niên đã tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa.

Ian Thomas đã học biết rằng… Mọi sự Đức Chúa Trời dựng nên đang sẵn có cho con người, họ có thể tìm được mọi sự mà Đức Chúa Trời đã dựng nên!

 

 “Khi nào Đấng Christ, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển” (Côlôse 3.4).

 

                                                                       19 Tháng 11

LÒNG THƯƠNG XÓT

                Richard Sherman mới đây có viết cho Tạp chí Moody về việc cố gắng làm chứng cho kẻ lân cận mình, một kẻ nghiện ma túy chuyên đoán số tử vi. Ngày nọ, ông mau mắn cảnh cáo bà kia rằng khoa tử vi là thứ thuộc về ma quỉ, nhưng bà ta ngắt lời ngay: “Ông, Cơ đốc nhân hả! Ông nói về tình yêu thương, nhưng ông lại đầy dẫy với hận thù!” Khi bà ta dậm chơn một cách giận dữ, một cảm xúc bơ phờ phủ lên Richard.

Buổi chiều hôm đó khi ông mở ra Côlôse 3.12 đọc, ông lấy làm lạ không biết là mình có mềm mại hơn hay không!?! Làm sao ông có thể duy trì một cuộc trao đổi khác hơn thế? Ông đã trao đổi với “sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục”, có phải không? Không, ông nhìn nhận. Thay vì khiêm nhường và mềm mại, ông đã tranh thủ và dễ cáu giận. Trở lại với nghiên cứu của mình ở Côlôse 3, Richard mới để ý thấy câu 14 dạy: “Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành”.

Nắm vững mấy câu nầy, vài tuần lễ sau, Richard có cơ hội khác để làm chứng nữa. Một người khăng khăng ủng hộ thuyết tiến hoá và là người theo chủ nghĩa khoái lạc tình cờ đến thăm. Lần nầy Richard nói rất là mềm mại, sử dụng âm giọng trong khi đối đáp chia sẻ các thông tin về sự sáng tạo. “Bạn tôi đã gật đầu. Tôi thấy ông ta chấp nhận cách nói năng của tôi. Thay vì khép chặt hai gót chân, ông ta đã ngồi thoải mái. Ông ta chia sẻ mọi quan điểm của mình đã thay đổi như thế nào! Giờ đây ông ta đã chịu tin nơi Đức Chúa Trời – vì ông ta đã nhìn thấy mục đích của muôn vật trong thế gian. Ông nhìn nhận nỗi sợ sự chết của mình và điều chi sẽ theo sau sự chết ấy. Tôi dịu dàng nói rằng ông ta không cần phải bất an như thế. Ông ta biết rõ ông ta nên dâng đời sống của mình cho Đấng Christ. Gương mặt ông ta hơi xụ xuống, ông ta nhỏ nhẹ nói: “Tôi chưa sẵn sàng làm như thế”.

Sau đó, Richard ôn lại cuộc trò chuyện, cảm thấy hài lòng về cơ hội gieo ra hột giống tin lành và làm ấm đất, rồi cầu nguyện cho người bạn mình sẽ, theo thì thuận tiện, khám phá ra Đấng có thể bao phủ chúng ta với sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, và nhịn nhục.

 

 “Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục” (Côlôse 3.12).

 

20 Tháng 11

ĐỘNG LỰC CỦA MỘT NHÀ THẾ VẬN

                Josh David, người đoạt ba huy chương vàng trong kỳ Thế Vận Hội 1996 (hầu hết các huy chương vàng đều do đoàn đại biểu của Mỹ đạt được), là một Cơ đốc nhân, làm chứng cho Đấng Christ với sự thành công của mình ở khắp mọi nơi và cho các Vận Động Viên đang thi đấu ở đó. Một trong những chìa khoá cho ý chí mãnh liệt của ông là một vận động viên bơi lội Cơ đốc chính là Côlôse 3.23: “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta”.

Mới đây trên tờ Diễn Đàn Thế Thao, Josh đã trưng dẫn câu Kinh thánh nầy khi chia sẻ 5 phương thức trong đó các vận động viên trẻ tuổi có thể “yêu cầu với huấn luyện viên của họ”.

  1. Phải thành thật với bản thân và với huấn luyện viên. Bạn sẽ thức giấc bất cứ lúc nào, thế nhưng bạn cần phải thành thật với bản thân mình. Hãy nhìn nhận rằng bạn đang cảm thấy chao đảo và phân tích thứ ý tưởng ấy đến từ đâu!?! Nếu chúng hợp lý, hãy tỏ cho huấn luyện viên mình biết các ý tưởng đó với một tư thế thân thiện nhất.
  2. Hãy tôn trọng huấn luyện viên của bạn là một con người. Không hề có một lý cớ gì để khiếm nhã hay cọ xát với người nào khác. Tôi áp dụng nguyên tắc của Kinh thánh: “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự”.
  3. Hãy nhìn biết rằng những điều bạn đang làm hiện nay sẽ có một tác dụng sáu tháng sau.
  4. Chúng ta đang sinh sống trong một xã hội có sự tưởng thưởng ngay tức thì. Bạn sẽ có khuynh hướng muốn có sự thoả lòng ngay tức khắc. Bạn cần phải có một sự kiên nhẫn lâu dài.
  5. Ý chí của bạn không nên thay đổi, dù có huấn luyện viên quan phòng hay không. Một nguyên tắc theo Kinh thánh giúp đỡ tôi là: “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta”.

 

“Động lực của tôi là muốn trở thành một quản gia tốt các ta lâng mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi. Trong cuộc đời tôi, tôi được ban cho ân tứ bơi thật nhanh, và tôi nghĩ Đức Chúa Trời mong muốn tôi sử dụng ân tứ ấy với hết năng lực của mình. Trên đỉnh cao ấy, Ngài đã ban cho tôi ân tứ sự sống đời đời. Ân tứ đó cùng những gì Đấng Christ đã làm trên thập tự giá cung ứng cho tôi không những với động lực xứng đáng, mà còn với một động lực đời đời nữa”.

 

 “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta” (Côlôse 3.23).

 

21 Tháng 11

CẦU NGUYỆN KHÔNG THÔI

                Câu Kinh thánh ngày hôm nay đã làm cho tôi phải bối rồi khi còn nhỏ, vì tôi không thể hình dung được “cầu nguyện không thôi” làm sao thực hiện được!?! Sau khi lớn lên, và học lại câu Kinh thánh đó, sau cùng tôi đi đến kết luận rằng  “cầu nguyện không thôi” có nghĩa là cầu nguyện, không nhất thiết thực hiện liên tục, mà phải diễn ra trước sau như một.

Bà Jeanne Guyon, người Pháp theo chủ nghĩa thần bí, cũng suy nghĩ câu Kinh thánh nầy rất lâu. Cơ đốc giáo năng nổ và sốt sắng của bà đã khiến cho bà phải ngồi tù ở nhà ngục Bastille khiếp đãm của nước Pháp, ở đó sau các bức tường dày cộm, lạnh lẽo, tối tăm, một xà lim có móc khoá nhỏ không ánh đèn, không lỗ thông gió, hoặc rất nóng nực, bà đã viết nhiều quyển sách thật là hay.

Sách vỡ của bà, đếm cả thảy là 40 quyển, gồm một bộ có đề tựa là “Phương pháp cầu nguyện”, dựa theo nghiên cứu của bà ở I Têsalônica 5.17. Bà Guyon cho rằng sự thánh khiết bề trong có quan hệ tới đời sống bề ngoài, và sức lực bề trong đến từ chỗ ném mình vào sự hiện diện đơn sơ của Đức Chúa Trời – từ chỗ cầu nguyện không thôi. Bà nói: “Mỗi Cơ đốc nhân có thể tự mình lên cao bằng cách suy gẫm trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, trong đó linh hồn, không phải là không hoạt động, mà linh hồn hành động bằng sự thôi thúc của Chúa”.

Một bà cụ chuyên quét dọn thuê vô danh, chẳng biết gì về khoa huyền bí của người Pháp, đã bày tỏ ra chính lẽ thật nầy bằng một lối nói rất đơn sơ. Theo câu chuyện xưa, một số Mục sư đang bàn bạc I Têsalônica 5.17 vào sáng hôm đó, nhưng họ không nhất trí về ý nghĩa của câu Kinh thánh ấy. Bà cụ, đang quỳ gối lau chùi nhà, bà đứng bật dậy rồi mạo hiểm đưa ra ý kiến.

Bà nói: “Khi tôi đi ngủ vào buổi tối, tôi cảm tạ Chúa vì niềm vui được yên nghỉ trong cánh tay đời đời của Ngài. Khi tôi thức giấc, tôi xin Ngài mở mắt tôi để nhìn thấy nhiều điều mới lạ từ Lời của Ngài. Khi tôi nhóm lửa, tôi xin Ngài nhen lại tình yêu thương ở trong lòng tôi. Khi tôi đi tắm, tôi xin Ngài tẩy sạch tôi không còn những lầm lỗi kín nhiệm. Khi tôi ăn cơm, tôi cảm tạ Ngài vì thức ăn của tôi. Khi tôi đi làm việc, tôi cầu xin được đưa vào các lối công bình. Khi tôi qua nhà thờ, tôi cầu nguyện cho vị Mục sư của tôi. Khi quét dọn sàn nhà nầy, tôi xin Ngài thanh tẩy tấm lòng của những người đang đi phía trên kia bằng huyết quí báu của Ngài…” Và cứ thế bà tiếp tục cầu nguyện.

Bà được mọi người nhìn biết là Bà Guyon – và bà cầu nguyện còn hay hơn các nhà truyền đạo nữa là.

 

 “cầu nguyện không thôi” (I Têsalônica 5.17)

 

22 Tháng 11

BỐ CỦA NGƯỜI BỊ GIỮ LÀM CON TIN

                Người bạn của tôi từ thuở đại học, Chet Bitterman, vị giáo sĩ Wycliffe ở Colombia, đã bị bọn du lích bắt cóc vào ngày 19 tháng Giêng năm 1981, trước sự khiếp đãm của vợ con ông. Tin tức mau chóng chuyển về cho Trung tâm Wycliffe bằng làn sóng ngắn radio và bằng điện thoại cho gia đình Bitterman ở Pennsylvania.

Là Cha của Chet, Chester Allen Bitterman, đã lắng nghe trong sự im lặng, choáng váng, ông ghi lại trên tập giấy rời đặt ở trước mặt: “Sứ điệp radio…nhà trọ ở Bogota bị đột nhập…thiết bị phát thanh bị lấy đi…Chet bị bắt làm con tin”. Ông bị làn sóng ngã lòng và giận dữ nhận chìm, và ông cứ nỗi giận suốt cả ngày – đi tới đi lui, tính toán, cảm xúc giống như một quả bom sẵn sàng bùng nổ vậy. Ông hình dung một lực lượng đặc biệt, đang xuyên qua khu rừng già để cứu con ông ta khỏi tay bọn ác ôn đang cầm giữ con của ông. Một phần cơn giận dữ của ông cũng nhắm vào Đức Chúa Trời, và khi Bitterman cố cầu nguyện, tất cả đều là những câu cầu nguyện giận dữ, thù hận, và báo thù. Thế nhưng có một câu mà ông học thuộc lòng lâu lắm rồi, không mời mà nó thoạt đến qua lý trí ông:… “phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy”. Âm vang của câu Kinh thánh dường như chẳng có ý nghĩa gì đối với Bitterman. Ông tự nhũ thầm: “Phaolô chưa hề có con bị cầm giữ làm con tin. Thật là lố bịch khi dâng lời cảm tạ vào một thời điểm như thế nầy”.

Nhưng câu Kinh thánh lại hiện đến nữa:… “phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa…”. Rồi một lần nữa. Và thêm một lần nữa. Bitterman đã hết sức đánh trận , tranh luận, và kháng cự với câu Kinh thánh nầy. Nhưng ông không thể lẫn tránh được câu Kinh thánh đó… “vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy”.

Sau cùng, ông quì gối xuống trong nỗi thất vọng rồi bắt đầu thổn thức, cảm thấy ở trong lòng rằng ông sẽ không còn nhìn thấy Chet nữa. Nhiều giờ trôi qua. Ông đã cầu nguyện, suy gẫm rồi bật khóc; và từ từ, thật từ từ, tấm lòng ông đà thay đổi. Ông bắt đầu nhận ra các ơn phước khó chấp nhận được, bắt đầu nắm lấy bàn tay của Chúa, bắt đầu nắm lấy quyền phép của sự cầu nguyện.

Đêm hôm ấy một người cha đau khổ đã cảm nhận được tấm lòng của Đức Chúa Cha.

 

“phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy” (I Têsalônica 5.18).

 

23 Tháng 11

BILNEY “NHỎ NHOI”

Hugh Latimer (1485-1555), “nhà truyền đạo Cải chánh người Anh”, vốn mắc nợ vị tư vấn của mình là Thomas Bilney.

Bilney, một học giả trầm lặng của Đại học đường Cambridge, đã kiếm được một quyển Tân ước tiếng Hy lạp từ Erasmus nổi tiếng. Khi ông nghiền ngẫm miệt mài quyển sách ấy, một câu Kinh thánh dường như được viết ra trong các thư tín nói tới sự sáng” “Đức Chúa Giêxu Christ đã đến trong thế gian để cứu kẻ có tội!”

Về sau ông viết: “Câu Kinh thánh nầy, qua sự dạy dỗ và sự tác động bên trong của Đức Chúa Trời đã làm cho tấm lòng tôi phấn khởi hẳn lên, dù trước đó nó đã bị tổn thương do tội lỗi của tôi. Ngay tức khắc tôi tìm được sự yên ủi kỳ diệu và sự bình an trong linh hồn tôi. Xương cốt méo mó của tôi nhảy nhót vì vui mừng”.

Bilney muốn chia sẻ sự biến đổi nơi ông với những người khác, nhưng đây là lẽ thật của Công cuộc Cải chánh, và cuộc Cải chánh chưa tới đến nước Anh. Các vị giáo sư như Luther – và những sự dạy như sự xưng công bình bởi ân điển nhờ đức tin – đã bị công kích dữ dội bởi hàng giáo phẩm Anh quốc như Hugh Latimer.

Nhưng khi Bilney lắng nghe chàng Latimer mắng nhiếc chống lại cuộc Cải chánh, ông đã cầu nguyện như thế nầy: “Lạy Chúa, con chỉ là `Bilney nhỏ nhoi’ và chưa làm được việc chi lớn cho Ngài. Nhưng xin ban cho con linh hồn của con người ấy, Hugh Latimer, và những điều kỳ diệu mà chàng ta sẽ làm trong danh thánh của Ngài”.

Ngày kia Bilney đẩy Latimer qua một bên rồi nói: “Ồ, thưa ông, vì cớ Đức Chúa Trời, hãy nghe lời tuyên xưng của tôi”. Latimer ngồi lắng nghe khi Bilney nói về bản Tân ước tiếng Hy lạp của Erasmus rồi chia sẻ điều chi đã xảy đến cho ông qua quyển sách ấy. Xắn tay áo mình lên, ông rút quyển sách quí báu đó ra, rồi mở ra ở ngay phân đoạn có gạch dưới – I Timôthê 1.15

Khi Latimer đọc câu nầy, bản thân ông nhìn thấy chân lý đơn sơ và trong sạch của tin lành, rằng Đức Chúa Giêxu Christ đã đến trong thế gian để cứu kẻ có tội. Hồi tưởng về sự biến đổi của Saulơ người Tạtsơ đã tác động lên Latimer. Hai hàng nước mắt chảy dài trên gò má, và ngay giây phút ấy, ông cũng đã được sanh lại. Cả hai người về sau đều bị thiêu sống, nhưng ngọn lửa của họ đã đốt lên một ngọn đèn trong thế giới nói tiếng Anh không bao giờ tàn lụi.

 

 “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (I Timôthê 1.15).

 

24 Tháng 11

SỰ TỈNH THỨC QUAN TRỌNG CỦA EDWARDS

Dù lai lịch Thanh Giáo của ông rất đáng tin cậy, Jonathan Edwards đã phấn đấu về mặt thuộc linh trong suốt các năm ông ngồi ghế tại Đại học Yale. “Lòng tin  của tôi hao mòn; và tôi đã xây lại giống như một con chó ăn đồ nó mửa ra, rồi tiếp tục bước theo các con đường tội lỗi. Thật vậy, tôi rơi vào những thời điểm bất an, đặc biệt đối với phần năm học cuối của tôi ở trường; khi đẹp ý Đức Chúa Trời tôi mắc phải bịnh viêm màng phổi; Ngài đưa tôi đến gần với mồ mả và miệng hố địa ngục trong cơn bịnh đó. Rồi không lâu sau khi tôi hồi phục, tôi lại rơi vào con đường cũ tội lỗi”.

Điểm xoay chiều đến khi…”đang đọc I Timôthê 1.17. Khi tôi đọc câu nầy, một ý thức về sự vinh hiển của Chúa Hằng Hữu hiện ra trong hồn tôi, hoàn toàn khác biệt với những gì tôi từng kinh nghiệm trước đây. Không hề có một lời nào đến với tôi như câu Kinh thánh nầy. Tôi nghĩ thầm, Chúa thật là kỳ diệu, và tôi có phước dường bao,  nếu tôi thưởng thức Đức Chúa Trời, và được ở cùng Ngài trên thiên đàng, và được ở trong Ngài cho đến đời đời. Tôi cứ nói đến và ca hát bằng những lời Kinh thánh nầy cho chính mình; và liên tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời xin được thưởng thức Ngài, và cầu nguyện trong một tư thế hoàn toàn khác biệt với tư thế tôi hay có. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu có một ý tưởng mới về Đấng Christ, về công tác cứu chuộc, và về đường lối cứu rỗi vinh hiển bởi Ngài”.

Jonathan đã chia sẻ kinh nghiệm ông có với cha của mình, và “cảm động nhiều bởi những điều chúng tôi trao đổi với nhau; và khi mọi điều chia sẻ kết thúc, tôi một mình bước đi vào chỗ vắng vẻ trong vườn nhà cha tôi, để suy gẫm. Và khi tôi nhìn lên bầu trời đầy mây, một ý thức về sự oai nghi vinh hiển và ân điển của Đức Chúa Trời thoắt hiện trong trí tôi mà tôi không biết phải bày tỏ như thế nào!?!

                Edwards đã dành phần đời còn lại của mình để bày tỏ ra sự vinh quang đó, và các bài giảng của ông đã làm bật lên đóm lửa phục hưng vĩ đại nhất trong lịch sử Hội thánh của nước Mỹ.

 

 “Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! A-men” (I Timôthê 1.17).

 

25 Tháng 11

ÁC MỘNG

                Vào ngày 21 tháng 4 năm 1950, Mục sư Wade Darby cùng với vợ là Mary trở về từ chuyến đi thăm viếng của Hội thánh và nghỉ ngơi vào buổi tối. Gần giường ngủ của họ, bé Danny nằm ngủ trong chiếc nôi của nó.  Đến 2 giờ sáng, Mary thức giấc vì một cơn ác mộng.  Có ai đó đến đứng phía trên đầu và làm cho bà nghẹt thở. Bàn tay bà vói sang chiếc gối của Wade, nhưng bà cảm thấy một đống nước ngay chỗ đầu nằm của ông. Khi bà vật lộn với kẻ tấn công bà, chiếc giường bị nhấc lên, tấm vạt giường rớt ra. Danny tỉnh giấc và bắt đầu kêu khóc.

Mary thoát ra và chạy vào buồng, nhưng giọng giận dữ kia nói: “Nếu ngươi không chịu ra, ta sẽ giết ngươi và đứa bé nầy”. Khi Mary khẫn thiết cầu nguyện, lời lẽ ra từ môi miệng của bà thều thào: “Wade ơi, hãy lấy cây súng để dưới giường kia”. Hai vợ chồng không có một khẩu súng nào hết, nhưng câu nói tỏ ra một mưu mẹo, và kẻ đột nhập kia bèn bỏ chạy.

Wade chạy vội tới bịnh viện với ba chỗ nứt nơi sọ và một chấn động sọ não, và cả hai người đều có những vết thương do dao cắt. Nhưng không lâu sau đó, rõ ràng là sự chữa lành theo phần xác thì dễ dàng hơn là sự chữa lành về mặt cảm xúc. Trong nhiều tuần lễ Mary đã sống với nỗi sợ sệt liên tục.  Mặc dù Hội thánh đã tái định cư họ trong một giáo khu mới, nỗi sợ vẫn còn đó.

Nỗi sợ khắc nghiệt ấy chỉ đầu hàng trước một thứ mà thôi – ấy là Lời uy quyền của Đức Chúa Trời. Chúa đã ban cho Mary II Timôthê 1.7: “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ”. Bà đã trưng dẫn câu nói đó trong bóng tối tăm của ban đêm. Chúng hiện đến với tâm trí khi nỗi sợ lại đến. Chúng làm cho bà bình yên trong giây phút hốt hoảng. Và chúng dần dần thanh toán nỗi sợ, để cho sự bình an trở lại với linh hồn.

Khi Wade trở lại với bục giảng sau khi hồi phục, Hội thánh có nhiều người nhóm lại. Nhiều tấm lòng được chạm đến, nhiều đời sống được thay đổi; và Chúa sử dụng nghịch cảnh để mở mang Hội thánh của họ thêm nhiều lên và làm vinh hiển cho chính mình Ngài.

“Wade vẫn còn mang nhiều vết sẹo kể từ đêm hôm ấy, nhưng các vết sẹo đó nhắc cho chúng tôi nhớ tới quyền phép và tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Giờ đây đã sống với nhau trong nửa thế kỷ rồi, và chúng tôi không biết ai là kẻ đột nhập cho tới ngày hôm nay. Nhưng tôi biết một việc: Đức Chúa Trời HIỆN DIỆN là điều đáng tin cậy”.

 

 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ” (II Timôthê 1.7).

 

                                                                    26 Tháng 11

YÊN NGHỈ TRÊN NHỮNG ĐIỀU CHẮC CHẮN

Vài năm trước khi chiếc Titanic bị nạn, hành khách trên tuyến đường biển khác đã đối diện với sự kinh khủng trong ban đêm. Đó là chiếc Empire State, và một nhân sự hệ phái Trưởng lão có tên là Phoebe Palmer có mặt ở trên boong. Buổi tối thật là im lặng, dòng nước không bị khuấy động. Thình lình, có tiếng nổ tạo ra chuyển động lắc con tàu giống như một nồi hơi bị nổ vậy, làm cho hành khách bật ra khỏi giường của họ trong sự hốt hoảng. Khi họ đang trong tình trạng hoảng hốt như thế, chỉ có Phoebe Palmer cất tiếng hát vang các bài thánh ca trên boong tàu. Nhiều người khác hoạ theo, và không bao lâu sự bình an được phục hồi lại. Sau khi mối nguy hiểm qua rồi, và tất cả hành khách đều được an toàn, có người đến hỏi Phoebe: “Bà không sợ sao?”

Bà đáp: “Không, cảm ơn Chúa!”, bà giải thích rằng từ lúc có tiếng nổ, II Timôthê 1.12 đã hiện đến cùng bà với một sức mạnh đến nỗi bà chỉ biết cất tiếng hát ca tụng Đấng có quyền giữ mọi sự đã được phó thác cho Ngài.

Nhà văn có đời sống tin kính là Samuel D. Gordon vốn biết một phụ nữ đã học thuộc lòng rất nhiều câu Kinh thánh, nhưng tuổi tác đã cất khỏi ký ức của bà mọi câu Kinh thánh trừ ra câu nầy: … “ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó”.

Thật ra, bà chỉ còn nhớ… “sự ta đã phó thác cho Ngài” mà thôi. Khi bà đến bên giường hấp hối chờ chết, những người thân của bà để ý thấy môi miệng bà mấp máy. Cúi sát xuống gần, họ nghe bà lặp đi lặp lại một từ duy nhất: “Ngài, Ngài, Ngài”.

Tấn sĩ Gordon nhận thấy bà đã quên hết cả quyển Kinh thánh, nhưng còn nhớ mỗi một từ mà thôi. Nhưng trong một từ ấy, bà đã có toàn bộ Kinh thánh.

Đây cũng là câu gốc của Michael Faraday, nhà khoa học người Anh, ông đã đi tiền phong nghiên cứu hiện tượng điện phân và chất có từ tính. Ông là một Cơ đốc nhân rất kỉnh kiền, luôn tìm cách làm chứng cho Đấng mà ông đã đem lòng tin cậy.

Người ta rất có ấn tượng với tri thức và các lý thuyết của ông, rồi trên giường nằm hấp hối, người ta hỏi ông: “Đâu là những nghiên cứu của ông?”

Ông đáp: “Nghiên cứu hả? Nghiên cứu! Tôi chẳng có một nghiên cứu nào hết! Tôi đang yên nghỉ trên những điều chắc chắn. Tôi biết Đấng tôi đã tin và biết chắc rằng Ngài có quyền giữ mọi sự mà tôi đã phó thác cho đến ngày đó”.

 

 “ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó” (II Timôthê 1.12).

 

27 Tháng 11

VUA CA SĨ TIN LÀNH

                Charles M. Alexander (1867-1920), “Vua ca sĩ Tin Lành”, đã thể hiện năng khiếu vượt bực khiến cho người ta phải cất tiếng hát. Ông cùng đội với nhà truyền đạo Reuben A. Torrey, và cả hai người đều trở thành những nhân vật đầu tiên hoàn tất một vòng trái đất để giải cứu linh hồn. Ông cùng với vợ là Helen Ladbury (hiệu sôcôla nổi tiếng) đã phụ giúp tổ chức Liên Đoàn Pocket Testament, và bất cứ đâu họ đến họ đều chỉ cho người ta đọc câu Kinh thánh nầy.

II Timôthê 2.15 đã trở thành câu gốc của Alexander theo phương thức nầy. Ông từng có một người bạn, French Oliver, ông nầy đã sống xa cách Đấng Christ. Alexander đã đưa Oliver trở lại với Chúa và bước vào sự phục vụ Cơ đốc, về sau ông viết: “Oliver và tôi đều nhất trí cùng nhau tổ chức Lễ Giáng Sinh tới. Có hai tuần lễ thích ứng có cần cho chúng tôi. Chúng tôi ca hát và sáng tác nhạc, đọc Kinh thánh, và trao đổi về công việc Cơ đốc. Đến ngày đầu Năm Mới, chúng tôi quyết định lấy câu gốc cho ngày đầu năm, và đó là II Timôthê 2.15. Thay vì chúc: “Ngủ Ngon” với nhau, người nầy hô lên: “II Timôthê 2.15”, và người kia đáp lại: “II Timôthê 2.15”.

                “Sau cùng thì thời gian cũng qua đi. Tôi ra ga và không còn gặp ông ấy nữa. Có nhiều người đứng trên sân ga. Bạn tôi đang đứng ở phía sau chiếc xe lửa, và thay vì nói: “Tạm biệt”,  tôi hô lên: “II Timôthê 2.15”.

                Ông ấy đáp lại: “II Timôthê 2.15”.

                Một năm sau, Alexander, dạy một lớp nhiều thanh niên, đã đề cập tới câu Kinh thánh nầy. Một người trong số họ phát biểu ý kiến. Anh ta nói: “Cách đây 12 tháng, tôi có mặt trên ga, khi tôi nghe có người hô lên: “II Timôthê 2.15” với một người ở phía sau con tàu, người nầy cũng hô lại: “II Timôthê 2.15”. Tôi nghĩ, cái gì thế nhỉ!” Tôi đi thẳng về nhà và xem câu ấy trong quyển Kinh thánh của tôi. Khi ấy tôi chưa phải là một Cơ đốc nhân, nhưng lời lẽ của câu Kinh thánh đó chạm đến tôi thật dịu dàng giữa hai con mắt. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời tha tội cho tôi và giúp tôi biết tán thưởng câu Kinh thánh ấy cho mình, và cảm tạ Chúa Ngài đã làm cho tôi điều đó!”

 

 “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (II Timôthê 2.15).

 

                                                                    28 Tháng 11

KIỂU VIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

                Sự kêu gọi giảng đạo đến với nhiều người theo nhiều cách khác nhau. Thí dụ, ở dưới cây cột đèn. Có lẽ trên đường phố Chicago. Trường hợp như thế xảy ra với Daniel Whittle ở Chicopee Falls, Massachusetts. Là một thanh niên, Whittle tái định cư ở Chicago, ở đây anh bước vào công việc của ngân hàng, trở thành thâu ngân viên cho Wells Fargo. Ngày kia, anh trở lại đạo tin theo Đấng Christ tại sở làm khi anh “bước qua mái vòm và trong tình trạng im lặng của những nơi yên tỉnh, tôi dâng đời sống tôi cho Cha thiên thượng sử dụng theo ý muốn Ngài”.

Khi Cuộc Nội Chiến nổ ra, Whittle, 21 tuổi, đăng ký vào quân Liên Hiệp, chiến đấu cùng với Sherman, và bị thương ở Vickburg. Anh thăng cấp tới chức Thiếu Tá, anh cứ giữ cấp bậc ấy cho đến hết chiến tranh. Trở về lại Chicago, Thiếu Tá Whittle trở thành quản lý của Công ty Elgin Watch và kết bạn thiết với nhà truyền đạo Moody.

Một tối kia, khi ông và Moody đang đi bách bộ qua Chicago sau một buổi nhóm, họ đã dừng chân đứng lại dưới một cây cột đèn, ở chỗ đó họ, ai đi đường nấy. Whittle không biết sao đã ngã lòng, và ông yêu cầu Moody phải làm điều chi đó để vực người ta dậy. Mở quyển Kinh thánh của mình ra, Moody đọc II Timôthê 4.2: “hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi”.

Không có gì để nói nữa, nhưng những lời lẽ ấy vẫn còn vang dội trong tâm trí của Whittle giống như kiểu viết của Đức Chúa Trời vậy. Sau nhiều suy nghĩ và cầu nguyện, ông xin thôi việc với Elgin rồi bước vào chức vụ truyền giáo trọn thời gian. Không bao lâu sau đó, ông trở thành một trong những nhà truyền giáo hàng đầu trong thời của ông, ông cộng tác song hành với Moody và lãnh đạo các chiến dịch truyền giảng Tin lành khắp nước Mỹ và Anh quốc. Trong khoảng thời gian đó, Whittle cũng sáng tác các bài hát tin lành như: “Từng giây phút” (Moment by Moment), “Tôi Biết Đấng Tôi Đang Tin” (I Know Whom I Have Believed), và “Cơn Mưa Phước lành” (There Shall Be Showers Of Blessings).

Công việc sau cùng của Whittle đã thực hiện giữa vòng những binh sĩ chiến đấu trong cuộc chiến Tây ban Nha – Mỹ, ông đã chiến đấu rất lâu trong cuộc chiến nầy. Ông kiệt sức trở về lại Northfield, Massachusetts, ông qua đời vào năm 1901 ở đây, thọ 61 tuổi.

 

 “hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (II Timôthê 4.2).

 

29 Tháng 11

“TÔI SẼ KIÊN NHẪN”

                Trong thư tín sau cùng của ông, sứ đồ Phaolô đã viết cho Timôthê từ trong tù, ông yêu cầu Timôthê “đến trước mùa đông, và đem theo áo choàng mà ông để lại tại nhà Ca-bút… nhứt là những sách bằng giấy da”.

Mười lăm thế kỷ sau, câu nầy tìm thấy câu anh em sanh đôi với nó – một sự việc tương ứng trong lịch sử Hội thánh. Câu nầy viết từ tay của William Tyndale, là người liều mạng sống mình dịch Kinh thánh ra tiếng Anh. Ông đã bị bắt tại Antwerp, bị bỏ tù, rồi bị án tử hình. Có lúc vào mùa đông 1535, ông đã viết bức thư nầy cho quan toàn quyền của lâu đài nơi ông bị giam giữ. Đây là bản viết tay của ông vẫn còn được lưu giữ cho tới bây giờ.

“Tôi nài xin Chúa chủ tể của ông, và bởi Đức Chúa Giêxu Christ, là nếu tôi còn bị giữ ở đây qua mùa đông, ông sẽ hỏi người chủ nhà trọ có lòng tử tế đủ để gửi cho tôi từ gói đồ của tôi mà ông ta đang giữ, một cái mũ giữ ấm đầu; vì đầu tôi không chịu lạnh nổi, và tôi bị sổ mũi luôn trong nhà lao nầy.

                “Cũng gửi một chiếc áo choàng giữ ấm nữa, vì chiếc áo tôi đang có mỏng lắm; cũng gửi một mãnh vải dài đủ để quấn hai bàn chân. Chiếc áo choàng của tôi đã rách rồi; mấy cái sơ mi cũng vậy. Ông ấy giữ chiếc áo len của tôi, nếu ông ấy tử tế đủ để gửi nó vào. Ông ấy cũng có nhiều chiếc mũ giữ ấm đầu đan lúc ban đêm. Và tôi xin được phép có một ngọn đèn vào buổi tối;  thực vậy, ngồi một mình trong bóng tối chán lắm. Nhưng trên hết mọi sự đó, tôi nài xin lòng nhơn từ của ông, xin gửi cho quyển Kinh thánh Hêbơrơ, quyển văn phạm Hêbơrơ, và quyển tự điển Hêbơrơ, để tôi sử dụng thì giờ nghiên cứu quyển sách ấy. Và đổi lại,  nguyện ông sẽ nhận được ước ao của mình, luôn bền đổ với sự cứu rỗi của linh hồn mình.

                “Tôi sẽ kiên nhẫn, chờ đợi trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Nguyền sự vinh hiển của ân điển của Đức Chúa Giêxu Christ của tôi, giáng thẳng vào tấm lòng của ông. Amen!

 

 “Khi con sẽ đến, hãy đem áo choàng mà ta để lại tại nhà Ca-bút, thành Trô-ách, cùng những sách vở nữa, nhứt là những sách bằng giấy da” (II Timôthê 4.13).

 

30 Tháng 11

ĐẢO NƯỚC MẮT

                Khi viếng thăm gia đình vợ tôi tại Maine, tôi thường xem qua mấy cửa hàng sách cũ, tìm kiếm mấy bộ sách đã dùng rồi. Một trong các ước vọng của tôi là quyển tự truyện của Lemuel Norton, là người đã kể lại một đời sống đi biển rồi trở thành một nhà truyền đạo Tin Lành.

Ngày nọ trong thập niên 1820, Norton dong buồm qua đảo Gott, quê hương của khoảng 12 gia đình. Khi ông bước chân ra khỏi tàu, một cảm xúc cô độc hãm lấy ông, khiến ông muốn bật khóc.  Khi ông đi viếng qua từng nhà một, ông đến với một người đang làm việc ở ngoài đồng.

“Tôi nói cho ông ta biết Đấng Christ đã đến trên hòn đảo thăm viếng nhân sự, và sẽ có một buổi nhóm lại vào lúc bốn giờ”. Ông ta rất ngạc nhiên rồi tháo ách ra khỏi đôi bò, dẫn chúng về chuồng lại. Norton đi theo ông ta về nhà, thì thấy có một thiếu phụ đang sống trong thất vọng, than khóc về tội lỗi của mình.

Norton mời cô ta đến buổi nhóm lúc ban trưa và thôi đừng “than khóc nữa khi tôi đi thăm viếng từng nhà một. Tôi thấy Đấng Christ đã đến đấy trước tôi và Ngài thích có mặt tại nơi để xử lý việc khóc than giữa vòng dân chúng”.

Buổi nhóm bắt đầu lúc bốn giờ, và Norton công bố câu gốc của mình, Tít 3.4. “Sau khi trình bày bằng cách nào và khi nào sự nhơn từ nầy tỏ ra, và sau khi nói về sự vĩ đại của tình yêu Ngài, tôi cố giải bày cho khán thính giả của tôi nghe về tình yêu thương của Đức Chúa Trời.  Khi tôi cố gắng làm điều nầy, Đức Thánh Linh đã đáp đậu với quyền phép trên tôi đến nỗi tôi chỉ thấy thoải mái khi tôi cứ nói với hết khả năng của mình. Khán thính giả của tôi đã tắm mình trong nước mắt; và điều làm cho tôi phải ngạc nhiên là có 7 người trẻ tuổi đã quì gối sẵn sàng rồi, họ kêu la cầu xin sự thương xót”.

Norton dừng lại, thôi giảng luận và ngồi kêu cầu, giống như những người khác vậy. Khi căn phòng đã đẫm đầy nước mắt, một cuộc phấn hưng khởi sự quét qua cộng đồng nhỏ và trên các hòn đảo khác nữa. Nhiều đời sống được chữa lành, nhiều linh hồn được cứu, và nhiều Hội thánh được sanh ra. Sự nhơn từ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã hiển hiện trong ngày ấy giữa những hàng nước mắt trên hòn đảo Gott.

 

 “Nhưng từ khi lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người ta đã được bày ra,……….” (Tít 3.4).

 

***

 

Tags: #ThuVienOnline#TuCauKinhThanhNay
Previous Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Chín

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Mười

Admin

Admin

Next Post

“Từ câu Kinh thánh nầy” | Tháng Mười

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In