DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Vào Ngày Này | Tháng Tám

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

 

1 tháng 8

LỄ VƯỢT QUA CỦA TIN LÀNH

                Chúng ta không thể đổ thừa cho những tín đồ ở Anh quốc về sự chịu khổ mỗi lần có tân vương lên ngôi, vì hệ phái tôn giáo của các vì vua quyết định người nào sẽ bị thiêu sống. Nỗi lo sợ liên tục thậm chí vào thời của Isaac Watts cùng người bạn Mục sư của ông, là Thomas Bradbury. Trong thời của họ, Nữ hoàng Anne và quốc hội đã ra “Chiếu chỉ về sự ly giáo”, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 1714. Nhiều người cho rằng chiếu chỉ nầy sẽ tái lập hình thái Công giáo ở Anh quốc “với cơn bộc phát mạnh”, và những người Báptít cùng những người theo đạo Tin lành không chấp nhận giáo lý của nhà thờ Anh một lần nữa bị hành hại và bị thiêu sống. Một cơn bão khủng khiếp đã nhóm lại, và ngay cả con người kiên cường Bradbury kia cũng phải lo âu.

Trong những giờ đầu tiên của ngày 1 tháng 8, Giám mục Burnet đi ngang qua Smithfield ở Luân đôn, nơi những nhà tuận đạo thuộc kỹ nguyên trước đã ngã chết. Khi nhìn thấy Bradbury ở đó, ông hỏi: “Sao ngươi cứ thừ người ra đó vậy, hỡi Bradbury?”

Bradbury đáp: “Thưa Giám mục, tôi lấy làm lạ, không biết tôi có quyết tâm của đoàn quân tuận đạo, tro bụi của họ đã rãi đầy ở đây hay không!?! Những lần bắt bớ tương tự đang ở gần, và tôi được kêu gọi để chịu khổ đây”.

                “Vậy thì ông chưa nghe tin gì sao!?! Nữ hoàng đã lâm trọng bịnh. Ta đang trên đường để lấy những tin đặc biệt sau cùng đây. Ta sẽ gửi một sứ giả đến với thông tin sớm nhất về cái chết của bà ta. Nếu ngươi có mặt tại toà giảng khi ông ta đến, ông ta sẽ vẫy khăn tay từ phía hành lang”.

                Cuối buổi sáng hôm ấy, Bradbury bước lên toà giảng, và ở giữa bài giảng, có một chiếc khăn tay vẫy vẫy từ phía hành lang. Trong nhiều tuần lễ ông đã sống trong căng thẳng. Giờ đây các tin tức đã đến với chiếc khăn tay kia: Anne đã băng hà; chiếu chỉ về sự ly giáo bị bỏ đi; mối nguy hiểm đã qua rồi. Máu của ông sôi sụt, nhưng ông vẫn tiếp tục bài giảng không dứt ấy. Chỉ trong lời cầu nguyện kết thúc, ông tỏ ra cho hội chúng biết rằng Đức Chúa Trời “đã giải cứu vương quốc nầy ra khỏi những mưu ác”. Ông cầu nguyện cho “Bệ hạ của ông, là Vua George”, rồi trưng dẫn Thi thiên 89.

Trong nhiều năm trời, những tín đồ Tin lành không chấp nhận giáo lý của nhà thờ Anh đã xem ngày 1 tháng 8 năm 1714 là một ngày của sự giải cứu, là “Lễ Vượt Qua của Tin Lành”. Và một lễ tưởng niệm liên tục mỗi lần chúng ta hát bài thánh ca mà Watts đã viết nhơn dịp ấy: Đấng Xưa Giúp Chúng Tôi.

 

“Tôi sẽ hát xướng về sự nhân từ của Đức Giê-hô-va luôn luôn; Từ đời nầy sang đời kia miệng tôi sẽ truyền ra sự thành tín của Ngài. Vì tôi đã nói: Sự thương xót sẽ được lập đến đời đời, trên các từng trời Ngài sẽ lập cho vững bền sự thành tín Ngài” (Thi thiên 89.1-2).

 

2 tháng 8

 MŨI TÊN KHÔNG BIẾT TỪ ĐÂU BAY ĐẾN

Người chinh phục William đã chiếm lấy nước Anh trong cuộc xâm lược của quân Norman vào năm 1066, nhưng ông không hề chinh phục được thói thèm ăn của chính mình. Ông là một người rất tàn nhẫn, khắc nghiệt, hay nổi giận – và luôn luôn háu đói. Ông to khoẻ đến nỗi chiếc quan tài của ông quá nhỏ so với ông, và những kẻ lo tẩn liệm đã phải tìm cách nhét thi thể ông vào chiếc quan tài ấy. Nó bật mở ra trong suốt đám tang đó.

Con trai ông là Rufus mau mắn chiếm lấy ngai vàng. Ông nầy thừa hưởng hết mọi tật xấu của cha mình, chẳng có được một điều gì tốt cả, và được nhớ tới là một trong những kẻ tồi tệ nhất trong lịch sử. Ông chính là William II, nhưng thường được gọi là Rufus vì mái tóc đỏ, hay có người nói, gương mặt đỏ của ông. Ông có lý do để trở thành kẻ có gương mặt đỏ. Tính độc ác của ông tỏ ra qua tính bạo dâm, và ông hay tìm khoái lạc bằng cách quan sát mấy con thú cấu xé và những con người vô tội phải thét gào ở các cấp độ đau đớn.

Rufus là con người không thể cải sửa gì được nữa. Có lần khi hồi phục lại từ một chứng bịnh nghiệt ngã, ông đã thề không bao giờ trở thành một con người nhơn đức. Thói thèm khát tình dục của ông ta không thể dập tắt được. Người ta kể lại rằng vào buổi sáng ông chổi dậy là một con người rất tệ hại, rồi mỗi đêm nằm xuống cũng tệ hại y như thế.

Rufus rất ghét Đấng Christ, Cơ đốc giáo, và hàng giáo phẩm. Những lời lẽ báng bổ và phạm thượng của ông liên tục gây sốc cho những kẻ đồng thời với mình. Ông đã cướp bóc các nhà thờ, tước đoạt mọi của dâng và tài sản trong đó. Ông đã rao bán các địa vị trong nhà thờ cho ai trả giá cao nhất. Ông giữ chỗ trống giám mục xứ Canterbury cho tới khi sau cùng phải bổ nhiệm Anselm nhơn đức vào chức vụ ấy. Và ông đã biến những nghĩa trang thành các công viên hoàng gia để thoả mãn nổi khao khát săn bắn của mình.

Chính thái độ thiếu thận trọng sau cùng đã lấy đi mạng sống của ông. Ông đã chiếm lấy đất đai để biến thành thiên đàng của thợ săn gọi là New Forest. Vào ngày 2 tháng 8 năm 1100, trong  khi nóng lòng săn đuổi mồi, ông đã bị một mũi tên không biết bắn đến từ đâu cắm phập vào người. Ông chết ngay tại chỗ, và chẳng một ai buồn rầu cả. Không một tiếng chuông nhà thờ đổ lên, không một lời cầu nguyện nào được thốt ra cho ông, không một của bố thí nào được làm ra để nhớ tới ông, không một bia tưởng niệm nào được xây lên cho tên tuổi của ông cả. Cả nước Anh nguyền rủa ông, và người em của ông là Henry đã trị vì thế cho ông.

 

“Các mũi tên Ngài bén nhọn, bắn thấu tim kẻ thù nghịch vua; Các dân đều ngã dưới Ngài… Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi giáp đâu lại…, và có những chó liếm máu người, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán” (Thi thiên 45.5; I Các Vua 22.34a, 38b).

 

3 tháng 8

CUỘC NỔI LOẠN CỦA NGHĨA HOÀ ĐOÀN

                Giữa năm 1830 và năm 1949, Trung Hoa trở thành công trường truyền giáo rộng lớn nhất trên thế giới, lúc nào cũng có khoảng 8.000 giáo sĩ. Nó cũng trở thành bối cảnh tàn sát lớn nhất của sứ mệnh Tin lành khi, vào năm 1900, một nhóm chuyên chống báng đạo Tin lành được biết là Hội Võ Hoà, hay Nghĩa Hoà, họ cưu mang một cuộc chiến chống lại những người tin Chúa. Gần 200 người lớn và trẻ em gia đình giáo sĩ và 30.000 tín đồ Tin lành người bản xứ đã bị chết mất. Giữa vòng họ là giáo sĩ Lizzie Atwater, bà đã viết thư về cho gia đình mình vào ngày 3 tháng 8 năm 1900:

                “Bà con thân mến, tôi ao ước được nhìn thấy mặt của bà con, nhưng tôi sợ chúng ta sẽ không gặp nhau ở trên đất. Tôi đang sửa soạn cho ngày cuối cùng cách yên lặng và trầm tỉnh. Chúa đang ở gần một cách kỳ diệu, và Ngài sẽ không làm cho tôi phải âu lo. Lòng tôi không yên và phấn khởi lắm trong khi dường như có cơ hội cho sống còn, nhưng Đức Chúa Trời đã cất đi cảm xúc ấy, và giờ đây tôi chỉ cầu xin cho có ân điển để can đảm đối diện với nổi khủng khiếp. Đau khổ không bao lâu nữa sẽ qua đi, mà kìa có sự tiếp đón ngọt ngào ở trên cao.

                “Đứa con nhỏ của tôi sẽ cùng đi với tôi. Tôi nghĩ Đức Chúa Trời sẽ ban nó cho tôi trên Thiên đàng, và người mẹ yêu dấu của tôi sẽ rất vui sướng khi gặp chúng tôi. Tôi không thể tưởng được sự tiếp đón của Cứu Chúa. Ồ, sự đón tiếp ấy sẽ bù lại cho những ngày căng thẳng nầy. Bà con thân mến ơi, hãy sống gần Đức Chúa Trời và ít bám lấy trần gian. Chẳng có một con đường nào khác để nhờ đó chúng ta có thể nhận lãnh sự bình an từ Đức Chúa Trời, là điều vượt quá mọi sự hiểu biết kia…

                “….Tôi vừa giữ được bình tỉnh trong mấy giờ đồng hồ liền. Tôi không hối tiếc vì đã đến tại Trung Hoa, nhưng tôi tiếc vì mình đã làm ít quá. Cuộc sống gia đình của tôi, hai năm trời quí báu, thật tràn đầy phước hạnh. Chúng tôi sẽ chết với nhau, người chồng yêu dấu của tôi và tôi. Tôi trao gửi tình cảm tôi với hết thảy bà con, những người bạn yêu dấu nào đang nhớ đến tôi”.

Mười hai ngày sau cả gia đình Atwater đều chết mất. Nhưng cái chết ấy không phải là vô ích đâu. Khi những căng thẳng hạ thấp xuống, đoàn quân truyền giáo quay trở lại, họ cứ tiếp tục công việc cho tới khi quân Cộng sản trục xuất họ vào năm 1949. Con số Cơ đốc nhân người Hoa lớn lên khoảng 5 đến 7 triệu người vào năm 1980, và phát triển nhanh cho tới ước khoảng 50 triệu tín đồ – và còn nữa.

 

“Chúng đã thắng nó bởi huyết Chiên Con và bởi lời làm chứng của mình; chúng chẳng tiếc sự sống mình cho đến chết” (Khải huyền 12.11).

 

4 tháng 8

BA TÌNH YÊU VÀ TÌNH YÊU THỨ TƯ

                Tình cảm của chúng ta thường trở thành những ống dẫn cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Wilfred Grenfell đã phát triển ba tình yêu, yêu thể thao là tình yêu thứ nhứt. Ông đã bơi trên những dòng sông lạnh lẽo và dong buồm qua Biển Ái Nhĩ Lan. Khi 18 tuổi, ông tìm được một tình yêu khác khi một vị bác sĩ chỉ cho ông thấy não bộ của con người được bảo hộ về mặt vật lý như thế nào! Grenfell ngay lập tức quyết định trở thành một nhà vật lý học.

Trong khi ở trường y, ông phát triển tình yêu thứ ba. Một tối kia, khi ra khỏi túp lều lớn, ông đã cúi đầu xuống suy nghĩ về tình yêu ấy, một buổi nhóm thật sôi nổi. Đây là một buổi nhóm phấn hưng, và một người đứng tuổi đang hát khẽ trong khi cầu nguyện. Grenfell bắt đầu rời khỏi chỗ ngồi khi người kia bật chổi dậy và hát một bài ca thánh: “khi anh em chúng ta còn cầu nguyện”, D. L. Moody, đã giảng thật khích lệ đến nỗi Grenfell muốn trở lại đạo ngay tại chỗ. Ông đã tìm được tình yêu thứ ba – ấy là Chúa.

                Những tình cảm ấy – thể thao, y học, và Đức Chúa Trời – đã khiến Grenfell trở thành một người tình nguyện cho tổ chức có tên là Sứ Mệnh Của Những Ngư Phủ Chốn Đại Dương Sâu Thẳm. Sứ mệnh đã bảo trợ cho một chiếc tàu thương xót phục vụ cho hàng ngàn người sinh sống trên những chiếc thuyền và dọc theo bờ biển Bắc Đại Tây Dương. Công việc lan đến Newfoundland, và vào ngày 4 tháng 8 năm 1892, Grenfell đã dong buồm vào biển Labrador để bắt đầu một chức vụ trọn thời gian.

Không lâu sau đó, Grenfell nhận thấy ở đây cần có hai bịnh viện, một ở trên bờ dành cho những cư dân sống dọc theo bờ biển và một bịnh viện nổi dành cho đoàn tàu đánh cá. Ông đã gây quỹ, lập ra các bịnh viện, và không bao lâu dựng được nhiều bịnh viện và trạm xá khắp cả vùng lạnh giá đó. Ông khởi sự mở nhiều trường học và viện mồ côi dành cho lớp người trẻ tuổi. Ông tổ chức nhiều cửa hàng hợp tác cho người dân xứ Labrador trao đổi hàng lông thú và cá để lấy các khoản cung cấp khác. Ông dành cả đời sống mình đó đây dọc theo các bờ biển phía Bắc và du hành với quyết tâm ngang qua vùng đất băng giá, chăm sóc cho người bịnh, dạy dỗ lớp người trẻ, rao giảng Tin lành. Trọn đời sống ông là một sự đam mê rất cao độ với ba thứ tình yêu của mình.

Ông cũng tìm được tình yêu thứ tư nữa. Một ngày kia, khi có mặt trên một con tàu nọ, ông đã gặp một phụ nữ rất xinh đẹp, một người rất lạ lùng, ông đã đem lòng yêu nàng cách say đắm, và đã cầu hôn mà chẳng cần hỏi đến tên của nàng. Nàng đã đồng ý. Cả hai người đã phục vụ bên cạnh nhau trong phần đời còn lại của họ.

 

“Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; Khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài. Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước” (Thi thiên 37.3-4).

 

5 tháng 8

CHỈ CÓ MỘT GIÁO SĨ

Tuổi ấu thơ của Mary Slessor đã bị người cha suốt ngày say sưa làm cho hư hỏng. Mỗi thứ Bảy, tiền lương của ông đều đổ hết vào rượu chè be bét, để số phận của cả gia đình lại cho tuần khác. Đến 11 tuổi, Mary phải làm việc 12 giờ trong các nhà máy xay lúa,  sáu giờ buổi sáng cho đến 6 giờ vào buổi tối. Cô phải giấu hết tiền kiếm được không cho cha mình thấy, gánh chịu cơn giận của ông nhưng phải lo nuôi sống cả gia đình. Trong giờ rãnh rỗi, Mary đã tự học biết đọc và cô hay đặt những quyển sách lên giá của khung cửi rồi vừa đọc vừa làm việc. Khi ấy Mary đã học biết về Calabar (Nigeria), một “xã hội không lành mạnh, kín nhiệm, bị thống trị bởi ma thuật rất khủng khiếp”. Cô tin chắc rằng mình sẽ đi đến đó trong vai trò một giáo sĩ.

Trong mấy năm trời, Mary đã làm việc trong cộng đồng truyền giáo ở gần nhà trong các khu ổ chuột ở Dundee, Tô cách Lan. Cô học biết cách đối mặt với những tên du đảng, phải cầu nguyện chúc phước, và làm tan vỡ những tấm lòng chai cứng. Sau cùng công việc của cô đưa cô đến chỗ được chỉ định làm giáo sĩ cho Calabar, rồi vào ngày 5 tháng 8 năm 1876, cô dong buồm đi Tây Phi trên chiếc S. S. Ethiopia. Cô bị choáng khi thấy chiếc tàu chở đầy hàng trăm thùng rượu whiskey. Khi nhớ lại thể nào rượu đã phá nát chính gia đình mình, cô đã cau mày lại. Cô lẩm bẩm: “Có quá nhiều thùng rượu, và chỉ có một giáo sĩ thôi”.

Nhưng đúng là một vị giáo sĩ! Trong nhiều năm tháng nối theo sau, cô đơn thương độc mã đã chế ngự và làm biến đổi ba khu vực dị giáo bằng cách rao giảng Tin lành, dạy dỗ thiếu nhi, bảo vệ kẻ bị ngược đãi, và giải cứu kẻ bị đối xử tồi tệ. Cô rất năng động. Cô không màng sống trong những túp lều đắp bằng bùn, và ngủ giữa những cơ thể đầy mồ hôi nhễ nhại. Cô là một mục sư đa năng, một giáo sư cho ngôi làng, một y tá, một người giữ trẻ, và một nhà thương thuyết. Cô chuyển hướng những cuộc chiến tranh bộ tộc và giải cứu nhiều phụ nữ trẻ em đến hàng trăm người. Thường thì ngôi nhà cô ở có tới hàng tá trẻ em. (Mary học biết cột sợi dây vào từng chiếc võng nhỏ, nằm trên giường lúc ban đêm, và kéo sợi dây khi có đứa trẻ nào bật khóc).

Có đã kiếm được sự kính trọng của châu Âu và châu Phi đến nỗi cô trở thành người phụ nữ đầu tiên làm Phó Lãnh Sự ở Brazil, sử dụng địa vị của mình để mở mang công cuộc truyền giáo được sâu rộng thêm. Trong 40 năm trời, cô làm tiên phong đem Tin lành đến những khu vực đã minh chứng đấy là vườn nho của các vị giáo sĩ khác.

 

“Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin lành là tốt đẹp biết bao!” (Rôma 10.14b-15).

 

6 tháng 8

CHẾT TRONG HẦM     

                Các cấp lãnh đạo của Hội thánh đầu tiên có hai người tên là Sixtus. Người thứ nhứt từng làm Giám mục ở Rome từ năm 117 đến năm 127. Sixtus II cũng làm chức vụ đó vào năm 257-258.

Sixtus II nắm lấy chức vụ trong đời trị vì của Hoàng đế Valerian khi cả đế quốc bị hành hại bởi dịch lệ, hạn hán, động đất, giông bão, cùng những đợt sóng thần. Valerian nhất thời dễ chịu đối với Cơ đốc nhân, nhưng khi các tai vạ thiên nhiên giáng xuống lãnh địa của ông, ông đã một cách mê tín đổ thừa cho Hội thánh. Những chiếu chỉ phát ra nghịch lại các Giám mục và linh mục, và những chiếu chỉ cấm đoán việc nhóm lại của Cơ đốc nhân đặng thờ phượng. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa đối với những Cơ đốc nhân còn sống và nhiều nghĩa trang bị đóng cửa đối với những người quá cố.

Tuy nhiên, các môn đồ của Đấng Christ, họ không nãn lòng, và trong vòng một năm Valerian nhận ra các chiếu chỉ của mình đã không có hiệu lực gì cả. Đến tháng 7 năm 258, ông ra lịnh cho các Giám mục, linh mục và chấp sự phải bị hành quyết. Ông cho tịch biên tài sản của nhà thờ và từ khước mọi đặc ân về mặt dân sự cho những tín đồ. Các thành viên nào trong triều đình theo Cơ đốc giáo đều bị biến thành nô lệ cho các quan chức của hoàng gia. Một vị lãnh đạo Hội thánh nổi tiếng đã bị cột vào một con bò tót, bị hất tung lên rớt xuống trên các đường phố cho tới chừng óc ông bị dập nát hết mới thôi.

Sixtus II đã nắm lấy chức vụ Giám mục Rome ngay khi Valerian phát ra các chiếu chỉ nầy. Ông dựng một toà giảng nhỏ trong hầm, và ở đó ông kín đáo gặp gỡ bầy chiên trung tín của mình. Ngày kia, khi ông đang dạy dỗ dân sự, các binh lính hoàng triều xông vào và bắt ông đi. Ông bị đưa đến trước mặt một quan án, bị xét xử, rồi bị đưa trở lại hầm, ở đó, vào ngày 6 tháng 8 năm 258, ông bị tử hình trên chiếc ghế Giám mục của mình. Một vài vị chấp sự của ông cũng bị giết chết nữa.

Ba tuần sau ở Bắc Phi Châu, Giám mục Cyprian ở Carthage bị dẫn đến một quan án khác của đế quốc. Khi bị thách thức, ông tuyên bố: “Tôi là một Giám mục Cơ đốc. Tôi chẳng biết thần nào khác, trừ ra Đức Chúa Trời chơn thật duy nhứt mà thôi”.

Người La mã hỏi: “Ngươi có chắc về điều đó không?”

Cyprian đáp liền: “Chắc như thế, không thể thay đổi”. Không bao lâu sau đó, họ dẫn ông ra một quãng trường tự nhiên, ở đấy họ đã chặt đầu của ông. Ở nhiều nơi trong đế quốc, sự bắt bớ trong năm 258-259 là sự bắt bớ đổ máu nhất mà Hội thánh đã từng gánh chịu.

 

“điều đó là một chứng nghiệm chúng nó phải hư mất, còn anh em được cứu rỗi; và ấy là từ nơi Đức Chúa Trời” (Philíp 1.28).

 

7 tháng 8

MỘT PHÒNG TẮM, MỘT CÁI CHÂN VÀ 1,5USD

Quí vị mong đợi gì từ một đứa bé mà cha nó đã bỏ nó khi nó mới chào đời, và mẹ nó đã chết khi nó mới lên ba? Được những người hàng xóm đem về nuôi, Eleanor Chestnut là một đứa trẻ bất hạnh, cô đơn và khao khát tình thương của một người mẹ. Nhưng nó là một đứa cứng cổ; và khi nó tìm ra một ngôi trường, ở đó nó có thể kiếm được sự nghiệp qua cả hai: trường phổ thông và đại học, nó ghi tên vào học và đã được nhận vào học. Nó đã phát triển một sự khát khao về y học. Trong khi còn học ở trường, nó cũng đến nhóm tại Hội thánh Trưởng lão và có một sở thích về công cuộc truyền giáo.

Năm 1888, Eleanor đã nhập học Trường Y của Nữ Giới tại Chicago, ở đây cô đã hoàn tất các chương trình dành cho cả bác sĩ và y tá trong khi sinh sống trên một căn gác xép và ăn chỉ toàn là cháo. Sau đó – một phần việc tại Học Viện Kinh thánh Moody.

Vào ngày 7 tháng 8 năm 1893, Eleanor được chỉ định làm y-giáo sĩ và được phái tới miền Nam xứ Trung Hoa. Công việc của cô ở đó rất phức tạp do nắm bắt ngôn ngữ chưa được tốt và bởi những tình trạng thiếu thốn, và cô tiếp tục thấy mình đương ở trong cảnh khó khăn và gian khổ. Trong một dịp kia, cô thấy có trách nhiệm vì một bịnh nhân trong trạng thái cuống cuồng lo lắng đã phá hủy bộ não của mình bằng thuốc phiện. Cô viết cho một người bạn: “Ông ta luôn nghĩ mình bị ma quỉ ám. Tôi không có chỗ nào cho ông ta cả trừ ra phòng học của tôi. Đôi khi ông ta nổi giận dữ và đứng nhìn tôi chằm chằm. Vì vậy, tôi phải ngồi đây để canh chừng”.

Thế nhưng tình cảm của cô dành cho dân chúng ở Liên châu là vô hạn. Cô đã sử dụng phòng tắm của mình làm phòng giải phẩu, và từng sử dụng da từ chính cái chân của mình làm một sự cấy ghép cho một nông phu, cái chân của ông ta đã khó lành sau khi được giải phẩu. Cô đã thiết lập một bịnh viện dành cho phụ nữ ở Liên châu, sống nhờ vào 1,5USD/tháng để số tiền còn lại cô dùng để mua gạch.

Cô đã phục vụ Trung hoa một cách vô kỷ trong 10 năm trời, kế đó vào ngày 29 tháng 10 năm 1905, trụ sở truyền giáo của cô đã bị tấn công bởi một nhóm dân quân chuyên bài ngoại. Eleanor có thể đã trốn thoát nếu cô không quay trở lại để giúp đỡ những bạn đồng sự của mình. Hành động phục vụ sau cùng của cô là xé toạc một mãnh vải từ chiếc váy của mình để băng vết thương cho một đứa trẻ.

 

“Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp? Thầy dạy luật thưa rằng: Ấy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy” Luca 10.36-37).

 

8 tháng 8

NHỮNG NGỌN GIÓ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

                Vua Philip II của Tây ban Nha, là một người Công giáo, muốn lật đổ Nữ hoàng Elizabeth của Nước Anh, một người theo đạo Tin lành. Vào năm 1586, ông đã âm mưu ám sát bà. Khi sự việc thất bại, ông đã sẵn sàng hạm đội hải quân của mình, là lực lượng lớn lao và hùng mạnh nhất ở trên đất, đến xâm lược đất nước của Nữ hoàng. Thất bại của Elizabeth có nghĩa là tai hoạ cho Tin Lành trong nước Anh và khắp nơi ở châu Âu.

Philip vốn tin tưởng Đức Chúa Trời, ông nói Ngài sẽ gửi đến cho ông thời tiết thích ứng, khi ông đánh trận vì lý do thiêng liêng. Đến ngày 30 tháng 5 năm 1588, ông đã quì gối trước “Hạm đội không thấy được bằng mắt thường” của mình, cầu xin cho được thắng trận, và trông theo hạm đội cho tới khi nó mất hút ở đường chân trời.

Nhưng ý trời nằm về phía Anh quốc. Hạm đội Tây ban Nha mau chóng bị tẻ ra từng hướng do một cơn bão lớn. Hạm đội bị phân chia đã tập họp lại, thẳng tiến, rồi bị quân Anh phát hiện vào ngày 19 tháng 7. Nhiều trận gió chuyển hướng nghịch lại với hạm đội, làm chậm đường tiến của nó. Khi giao chiến nổ ra vào ngày 21 tháng 7, thời tiết lại yễm trợ cho bên Anh quốc. Những cơn gió dữ ưu đãi cho loại chiến hạm nhỏ, dễ điều khiển hơn của họ. Quân Anh thắng hơn quân Tây ban Nha, và nhằm lúc thời tiết thay đổi luôn chuyển ưu thế cho Anh quốc.

Đến ngày 31 tháng 7, Công Tước xứ Parma thông báo cho Philip biết về sự thất bại như sau: “Đức Chúa Trời biết rõ tôi buồn như thế nào khi nghe được tin nầy, trong lúc tôi mong gửi cho bệ hạ những lời khen ngợi. Tôi muốn nói rằng việc nầy phải đến từ bàn tay của Đức Chúa Trời, là Đấng biết rất rõ Ngài đang làm gì…”.

Đến ngày 8 tháng 8 năm 1588, Elizabeth đến thăm bộ tư lệnh hành quân của mình tại Tilbury và tại đó người ta cho bà hay rằng mối nguy hiểm của cuộc xâm lược đã qua rồi. Vị Nữ hoàng đã được giải vây kia đã phát biểu với các lực lượng của mình như sau: “Tôi biết tôi có thân thể của một người phụ nữ yếu đuối, nhu nhược, nhưng tôi có trái tim và tấm lòng của một vì vua”.

Những chiến hạm tơi tả của Philip, ì ạch quay trở về lại Tây ban Nha, sau khi bị những cơn gió mạnh, chết chóc khác dày vò. Hơn phân nửa số chiến hạm và một phần ba binh lính còn sống sót sau các trận bão và chiến đấu. Nhưng khi trở về lại Luân đôn, Nữ hoàng đi thẳng đến Đại giáo đường St Paul và “với giọng nói vua chúa của mình, bà thúc giục dân sự mau dâng lời cảm tạ cho Đức Chúa Trời”.

Nước Anh và phong trào Tin Lành đều đã được cứu.

 

“Ngươi có vào các kho tuyết chăng? Có thấy nơi chứa mưa đá, mà ta đã để dành cho thì hoạn nạn, Cho ngày chiến trận và giặc giã chăng? Ánh sáng phân ra bởi đường nào, và gió đông theo lối nào mà thổi ra trên đất? Ai đào kinh cho nước mưa chảy, phóng đường cho chớp nhoáng của sấm sét” (Gióp 38.22-25).

 

9 tháng 8

PHẤN HƯNG Ở CANE RIDGE

                Cơ đốc giáo đã biến đi theo sau cuộc cách mạng ở Mỹ. Một  người Tô cách Lan đi xuống miền Nam thấy “rất ít người có đạo”. Francis Asbury thì thấy “trong một trăm người chẳng có một người”  quan tâm đến tôn giáo. Rượu chè thì tràn lan, và hình thái thế gian, ma quỉ đang bắt xứ sở còn non trẻ kia vào cảnh phu tù.

Nhưng đến năm 1800, nhiều cuộc phấn hưng rộng khắp đã nổ ra giống như những suối nước nóng phun lên trong vùng đất bang Kentucky. Dân chúng nhóm lại ở dưới những lùm cây tạm khi Tin lành được rao giảng, đôi khi có nhiều biểu hiện mạnh về cảm xúc kèm theo. Barton Stone, Mục sư của Hội thánh Trưởng Lão tại Cane Ridge (gần Lexington), sau khi nghe nói về những lần nhóm lại, bản thân ông đã chứng kiến một lần nhóm – Bối cảnh diễn ra thật lạ lùng. Nhiều người nằm ngã sóng xoài dưới đất y như bị giết trong chiến trận và cứ tiếp diễn trong nhiều giờ trong một tình trạng rõ ràng là im lìm bất động – đôi khi có vài phút mang triệu chứng sống động lộ ra bởi một tiếng than thở sâu sắc, hay bởi một lời cầu nguyện xin sự thương xót mới được thốt ra.

Hội thánh của ông tại Cane Ridge ngay lập tức tổ chức một buổi nhóm vào ngày cuối tuần đầu tiên của tháng 8 năm 1801. Hội thánh có thể chứa được 500 người; nhưng các nhân sự, họ e rằng sẽ có một đám đông quá tải, đã cho dựng lên thêm một căn lều thật lớn. Các gia đình trong Hội thánh đều mở cửa nhà, nhà kho, để đón tiếp các khách mời.

Nhưng họ không ngờ, có tới 20.000 người! Nhiều đám đông đến bằng xe, bằng ngựa. Cầu nguyện và rao giảng Tin lành cứ tiếp tục chiếm hết thời gian trong các ngày thứ Sáu, thứ Bảy và Chúa nhựt. Sự phấn khích dâng cao; những tiếng khóc la, kêu gào xuyên thủng bầu không gian đầy mù sương của mùa hè; nhiều ông đã bị ngất xỉu; nhiều bà thì quặn thắt trong cảm xúc; nhiều đứa trẻ rơi vào tình trạng mê mẩn ; có nhiều người lả đi đến nỗi họ nằm dài cả trên đất giống như một bãi chiến trường vậy. Thế rồi “những cú co giật” nổ ra. Đầu của họ thình lình giật ngược ra sau, thường khiến họ phải kêu la lên. Tôi đã nhìn thấy đầu của họ lắc từ trước ra sau nhanh đến nỗi mái tóc của phụ nữ cứ bện liền lại như một sợi dây thừng vậy”.

Qua ngày thứ hai, 9 tháng 8 năm 1801, thức ăn và đồ tiếp trợ đã cạn dần, và số người đến thờ phượng cũng thế. Nhiều người đã ra về; nhưng có nhiều người khác đã đến thế vào chỗ của họ. Thêm bốn ngày ca hát, giảng đạo, gào thét, co giật tiếp diễn trước khi dòng suối thôi không còn phun nữa. Khoảng 2000 người đã trở lại đạo, và tin tức đồn nhanh trong khu vực. Dân chúng khắp trong xứ bắt đầu bàn bạc về cuộc phấn hưng  của Cơ đốc giáo, và Cuộc Phấn Hưng  Cane Ridge được xem là một trong những lần nhóm lại tôn giáo quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.

 

“Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm làm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy” (I Têsalônica 5.16-18).

10 tháng 8

SỰ SỤP ĐỔ CỦA THÀNH JERUSALEM

Chúa Jêsus đã cảnh báo về một thời điểm khi đền thờ xinh đẹp của Hêrốt sẽ bị hủy diệt, nhưng các môn đồ khó mà tin nổi Ngài. Đền thờ là một cấu trúc huy hoàng nhất trên thế gian, và nét rực rỡ của nó lúc mặt trời mọc trông y như chính thành Jerusalem trong cõi đời đời vậy.

Nhưng sau đó một thế hệ, những người Do thái yêu nước đã nổi loạn chống lại Rome. Cuộc nổi dậy bắt đầu từ đồn lũy Masada, kế đó lan rộng khắp cả xứ Giu-đê và xứ Galilê nữa. Người La mã bị tàn sát, những người Do thái chống đối đã đánh trận rất can đảm, và Hoàng đế Nero đã sai Tướng Vesparian đến để dập tắt cuộc nổi dậy.

Khi Nero băng hà, vị tướng ra trận vì Rome, ông đã đặt con trai mình nắm quyền chỉ huy 80.000 quân. Cuộc bao vây bắt đầu từ tháng Tư năm 70, ngay sau Lễ Vượt Qua khi thành Jerusalem còn đầy khách hành hương. Bên trong các bức tường thành, người Do thái phân thành nhiều nhóm nhỏ, họ đánh nhau ngay chính lúc mà họ cần sự thống nhất hơn bao giờ hết. Những cứu trợ về thực phẩm cạn dần và dân chúng bắt đầu ngã chết do nạn đói. Vợ của thầy tế lễ thượng phẩm, thói thường sống trong xa hoa, đã xin những mẫu bánh mì vụn để ăn giống như trẻ bụi đời trên đường phố. Những người Do thái phu tù đã bị đóng đinh trên thập tự giá với cấp độ 500 người một ngày, nhiều cây thập tự được cắm vòng quanh thành phố. Những tế lễ trong đền thờ mỗi ngày đã kết thúc vào ngày 17 tháng 7, tất cả mọi người đều cần sự bảo hộ.

Quân La mã, họ sử dụng máy bắn đá và những súc gỗ nặng và dài, đầu bịt sắt phá thành, sau cùng họ đã phá vỡ các bức tường thành. Người Do thái tràn vào trong đền thờ. Titus muốn buông tha cho toà nhà nầy, nhưng  không sao cản đường binh lính của mình. Một súc gỗ cháy lao mạnh xuyên qua cổng làm bằng vàng và nó nổ tung như một quả bom vậy. Đền thờ trở thành một biển lửa. Hôm ấy là ngày 10 tháng 8 năm 70, cùng ngày nầy trong năm, người ta kể lại rằng đền thờ xưa kia của Vua Solomon đã bị quân Babylôn hủy diệt.

Sự sụp đổ nầy, và sự sụp đổ tới sau của Masada, đã làm tiêu tan Isarel trong vai trò một quốc gia cho đến sự hồi sinh của nó trong thế kỷ thứ 20. Hầu hết Cơ đốc nhân đều đã trốn khỏi thành Jerusalem trước giờ sau cùng của nó, nhưng sự hủy diệt của thành phố chỉ còn là một biến cố trong lịch sử Cơ đốc. Sâu xa hơn, nó còn là một Hội thánh non trẻ phát xuất từ gốc rễ Do thái, biến nó thành một thực thể có tính toàn cầu tách ra khỏi Israel và được định phải phát triển lai lịch riêng của nó giữa vòng các dân Ngoại, mang lấy một sứ điệp phân phát cho cả thế gian.

 

                “Đức Chúa Jêsus vừa ra khỏi đền thờ, có một người môn đồ thưa cùng Ngài rằng: Thưa thầy, hãy xem đá và các nhà nầy là dường nào! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi thấy các nhà lớn nầy ư? Rồi ra sẽ không còn một hòn đá sót lại trên một hòn khác nữa; cả thảy đều đổ xuống” (Mác 13.1-2).

 

11 tháng 8

MỐI TÌNH KỲ LẠ

Mối  tình của họ là mối tình rất kỳ lạ, thuộc linh nhưng không có tình dục, bổn phận nhưng không phải là vợ chồng. Francis và Clare đã sống độc thân, rõ ràng họ rất yêu nhau nhưng không thể cưới nhau được, họ tham gia vào các lực lượng sống cho Đấng Christ.

Clare chào đời ở xứ Assisi, nước Ý vào năm 1194, lớn lên trong một cung điện. Khi được 16 tuổi, bà đã nghe Thánh Francis giảng đạo và cảm động rất sâu sắc. Bà tìm gặp ông, và ông nói cho bà nghe về những vụ việc thuộc linh. Trong hai năm trời, ông thường xuyên đến thăm gia đình của bà.

Vào ngày lễ Phục sinh năm 1211, Clare khoác lên người bộ y phục xinh đẹp của mình, mặc một chiếc áo đầm có màu xám bạc, và đi qua cánh cổng rất ít sử dụng của cung điện bố mẹ mình. Bà đi xuyên qua khu rừng dày đặc đến một chỗ mà ở đó Francis đang đứng đợi bà. Ở đó bà tham gia vào một nhóm nữ tu dòng Benedictine. Francis đã sửa soạn cho bà một ngôi nhà trong Giảng đường Thánh Damian ngay bên ngoài xứ  Assisi, và theo một số nhà ký thuật, Clare không hề rời khỏi tu viện trong 40 năm còn lại của cuộc đời bà, lo tiếp đã những người tìm kiếm sự giúp đỡ về mặt thuộc linh. Francis cũng thường đến đó thăm bà.

Bà rất đau buồn khi ông qua đời, nhưng đã sống 30 năm khác nữa, giam mình trên chiếc ghế dài do bịnh tật nơi chân. Nhưng từ chiếc ghế đó, bà đã dạy dỗ, mưu luận, và cầu nguyện trong khi đan các thứ đồ dùng bằng vải lanh cho các nhà thờ.

Đến năm 1249, tu viện của bà bị những kẻ cướp tấn công, họ đã lục soát rồi thiêu đốt nó. Không tỏ ra sợ hãi, bà đã lết ra cửa, ở đó bà đã quyết tâm cầu nguyện xin được bảo hộ. Những kẻ xâm lược kia đã trèo qua mấy bức tường rồi lui đi mất.

Một câu chuyện khác, rất ly kỳ, đã mở ra từ giường chết của bà. Từ căn phòng của bà ở San Damian, bà nhìn thấy và nghe được Lễ Mass lúc nửa đêm được tổ chức tại một nhà thờ cách đấy mấy dặm đường. Đến năm 1958, sau khi kể lại khả năng tiếp nhận hình ảnh và âm thanh ở một khoảng cách xa, Giáo Hoàng Plus XII tuyên bố bà là bậc thánh vô tuyến truyền hình trong xứ.

Tước hiệu phổ thông của bà là: “Đoá Hoa Nhỏ Bé Của Thánh Francis”.

Bà qua đời vào ngày 11 tháng 8 năm 1253, nhưng mấy chị em của bà đã phục vụ người cùng khốn cho tới ngày nầy.

 

“Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi! Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” (Mathiơ 5.3-5).

 

12 tháng 8

TÔI LÀ CƠ ĐỐC NHÂN

Cơn bão lửa nghịch lại các Cơ đốc nhân đầu tiên đã tạo ra một niềm tin cho rằng tuận đạo là một việc bình thường, đáng mong đợi và thậm chí đáng ao ước nữa. Khi Hoàng đế Diocletian ra lịnh cấm sở hữu Kinh thánh, Euplius, một Cơ đốc nhân ở Sicily, một chấp sự và là một người sở hữu quyển Kinh thánh, đã lo sợ không biết mình có tránh thoát cơn bắt bớ hay không!?! Đoán biết trước một tai vạ như thế, ngày kia ông ra trước văn phòng quan Tổng đốc mà hô lớn tiếng rằng: “Tôi là một Cơ đốc nhân đây! Tôi muốn chết vì danh của Đấng Christ”.

Khi bị dẫn đến trước mặt quan Tổng đốc, người ta tìm thấy trong người ông có một bản thảo các sách Tin lành. Họ hỏi ông: “Ở đâu ngươi có mấy sách nầy? Ngươi có đem chúng về nhà mình không?”

Euplius đáp: “Tôi không có nhà, như Đức Chúa Jêsus Christ biết rõ vậy”.

Kẻ bắt bớ ông nói: “Hãy đọc mấy sách nầy xem”. Vì vậy Euplius bắt đầu đọc như sau: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì Nước Thiên đàng là của những kẻ ấy” (Mathiơ 5.10). Ông mở một phân đoạn Kinh thánh khác: “Người nào chịu theo ta, hãy vác thập tự giá mình mà theo ta”.

Viên quan án kia ngắt ngang: “Tại sao ngươi chịu phục theo mấy quyển sách nầy? Euplius đáp rằng thà chịu chết còn hơn lìa bỏ chúng. Ông nói: “Ở trong mấy quyển sách nầy là sự sống đời đời, và ai lìa bỏ chúng người đó đang đánh mất sự sống đời đời”. Quan Tổng trấn ra dấu rằng ông ra đã nghe đủ rồi, và Euplius đã nhận lãnh những điều mình muốn. Ông phải lãnh đủ hàng loạt cuộc hành hình khủng khiếp, rồi bị hành quyết vào đúng ngày nầy, 12 tháng 8 năm 304, với mấy quyển sách Tin lành cột quanh cổ của mình. Lời nói sau cùng của ông được lặp đi lặp lại như sau: “Cảm tạ Ngài, lạy Đấng Christ, ôi Đấng Christ ơi, xin giúp con. Con đã chịu khổ vì Ngài”.      

Không một chỗ nào trong Kinh thánh dạy chúng ta phải tìm kiếm sự bắt bớ cả, và một số người trong những Cơ đốc nhân đầu tiên không nghi ngờ chi nữa, họ quá sốt sắng khi theo đuổi sự tuận đạo. Tuy nhiên, đưa ra sự lựa chọn thà là hô lớn tiếng lên: “Tôi là một Cơ đốc nhân” còn hơn là che giấu sự làm chứng của mình đối với những người sống chung quanh chúng ta trong thế gian.

 

“Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Rôma 1.16-17).

 

13 tháng 8

 MAXIMUS

Maximus Confessor chào đời ở Constantinople khoảng năm  580. Gia đình ông  thuộc về tầng lớp quí tộc La mã và Maximus đã được họ cho ăn học rất cao. Ông tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài và trở thành Tể Tướng dưới thời Hoàng đế Heraclius. Nhưng ông đã từ chức. Bị thúc đẩy bởi niềm đam mê về mặt thuộc linh, ông đã bước vào chủng viện và hiển nhiên đã trở thành cha trưởng của tu viện. Các năng khiếu của ông về văn chương và thần học bắt đầu phát triển. Hội thánh Hy lạp đã hưởng được rất nhiều tác phẩm của ông cùng những người sáng láng như John Scotus Erigena ở phương Tây và John ở thành Đa-mách phía Đông đã rút tỉa sự khôn ngoan từ ngòi viết của ông.

Theo dòng thời gian, Maximus lãnh đạo cuộc chiến chống lại tình trạng tà giáo được gọi là Độc Thần Thuyết – sự dạy cho rằng Đấng Christ có thần tính, nhưng không có nhân tính. Điều nầy trở thành cuộc chiến trong cả đời sống ông. Trong nhiều năm trời, Maximus ở Đông phương và Giáo Hoàng Martinus I trong Hội thánh Tây phương đã vạch đường cho chính thống giáo – rằng Đấng Christ có hai bổn tánh (Người và Trời), và hai ý chí (không tách rời nhau mà hiệp với nhau trong sự hài hoà).

Hoàng đế, không phục theo, cứ chạy theo thuyết Độc Thần. Giáo Hoàng Martinus bị hạ bệ, bị  nhốt tù chung với những tội phạm thông thường, bị phơi ra chịu lạnh và chịu đói khát, rồi sau cùng bị trục xuất vào một hang động ở vùng Biển Đen, và ông qua đời tại đó vào năm 655. Maximus bị đối xử còn thậm tệ hơn. Mặc dù đã cao tuổi, 73, ông đã bị bắt, bị lôi đi khắp cả đế quốc, bị đem ra xét xử tại Constantinople, rồi bị trục xuất vào vùng xa xôi, ở đó ông phải chịu lạnh chịu đói khát. Sau vài tháng, một hội đồng đã được cử đến để phỏng vấn ông, dẫn đầu là Theodosius, Giám Mục thành Caesarea, một người theo thuyết độc thần. Maximus vẫn cứ khăng khăng giữ lấy hai bổn tánh của Đấng Christ đến nỗi Theodosius đã phải quay trở lại đạo.

Đại biểu khác được cử đến, và hoàng đế hiến cho Maximus nhiều phần thưởng lớn nếu chịu quay lại với độc thần giáo. Ông đã từ chối và bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, tài sản bị tước đoạt, bị tù đày trong sáu năm, rồi bị roi vọt. Lưỡi và bàn tay phải của ông bị cắt đứt luôn. Ông bị đóng trăn, bị đưa ra cho dân chúng xem trong 12 khu vực của thành phố, rồi bị bỏ tù suốt phần đời còn lại của ông – chỉ là mấy tuần lễ thôi. Ông qua đời đúng vào ngày 13 tháng 8 năm 662 ở tuổi 82. Nhưng những sự chịu khổ của ông đã lót đường cho sự đắc thắng của lẽ đạo mình.

 

“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha” Giăng 1.14).    

 

14 tháng 8

CHẾT LÀ LỢI

Vào một ngày nóng nực mùa hè năm 1925, Bill Wallace 17 tuổi ngồi trong nhà xe làm việc với chiếc xe Ford bị tháo rời thành từng mãnh, nhưng tư tưởng của anh đang nghĩ về tương lai. Đứng thẳng lên, anh vói lấy quyển Tân Ước rồi viết nghệch ngoạc một quyết định trên trang giấy trắng ở đầu quyển sách. Anh muốn trở thành một giáo sĩ bác sĩ.

Mười năm sau, ông đến bịnh viện Stout Memorial ở Wuchow, miền Nam Trung quốc. Chiến tranh sắp xảy ra giữa các lãnh chúa của tỉnh Kwangsi và nhà cầm quyền Chiang Kai-shek, nhiều giáo sĩ đã bỏ trốn. Wallace vẫn ở lại bịnh viện, lo giải phẩu, chữa bịnh, và chia sẻ Đấng Christ.

Ông trải qua nhiều cơn nguy hiểm chỉ để đối diện với mối nguy hiểm lớn lao hơn. Đó là Nhật bản, họ dự tính một cuộc viễn chinh chiếm lấy lục địa Trung Hoa. Wallace vẫn ở lại, lo liệu cho người bị thương và thực hiện giải phẩu giữa cảnh bom rơi đạn bay. Mãi cho tới năm 1940, ông cũng chưa trở về Mỹ theo kỳ nghỉ phép. Khi đến lúc phải trở về, bạn bè ông thắc mắc với ông; nhưng ông nói: “Khi tôi tìm cách quyết định mình phải làm gì với đời sống của mình, tôi tin tưởng Đức Chúa Trời muốn tôi phải là một giáo sĩ bác sĩ. Quyết định ấy đã đưa tôi đến với Trung hoa. Và cùng với sự thực tôi thấy rất hạnh phúc khi sống ở đó, quyết định ấy sẽ đưa tôi trở lại”. Ông đã trở lại vào ngày 14 tháng 8 năm 1942, và bắt đầu phân phát thuốc men cùng sự giúp đỡ về mặt thuộc linh trong suốt Đệ II Thế Chiến.

Thế rồi có một mối đe dọa lớn lao hơn đã nổ ra – quân Cộng sản chiếm lấy Trung hoa. Wallace vẫn ở lại, thực thi bổn phận với lòng dũng cảm của một vị anh hùng. Sau cùng, trong buổi bình minh của ngày 19 tháng Chạp năm 1950, các binh lính Cộng sản đã đến bắt “nhà giải phẩu giỏi nhất ở Trung quốc” với các bản án kết tội ông làm gián điệp. Ông bị bỏ vào một chiếc xà lim nhỏ, ở đó ông rao giảng cho kẻ qua đường từ một khung cửa sổ nhỏ. Những cuộc thẩm vấn thật tàn nhẫn nối theo sau, và Wallace, yếu sức dần, cũng viết ra nhiều câu Kinh thánh lên bức tường của xà lim ấy. Khi ông ngã chết từ một cuộc thẩm vấn, quân Cộng sản đã tìm cách nói ông thắt cổ tự tử; nhưng thi thể của ông cho thấy không có dấu hiệu của sự tự tử. Ông được chôn cất trong một quan tài bằng gỗ rẽ tiền trong một nghĩa trang đầy bóng tre. Mộ bia cắm trên phần mộ của ông chỉ ghi rất đơn giản: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi”.

 

“Tôi có lòng trông cậy chắc chắn nầy, việc chi tôi cũng chẳng hổ thẹn cả, nhưng bao giờ cũng thế, tôi nói cách tự do mọi bề, như vậy, dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi. Vì Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Phi-líp 1.20-21).

 

15 tháng 8

SỰ ĐẮC THẮNG CỦA TÔI

                Mục sư William Anderson của Hội thánh Trưởng Lão North United ở Philadelphia nhìn thấy một thiếu niên phóng nhanh vào cửa hàng thực phẩm. Ông chạy theo nó rồi hỏi: “Con học Trường Chúa Nhựt ở đâu?” Robert McQuilkin mới 9 tuổi đáp: “Không học ở đâu hết”. Anderson mời nó: “Ta cũng hứa với con có một giáo viên tuyệt vời lắm”, ông nói thêm: “Thầy William Parker. Ông có một lớp dành cho các thiếu niên giống như con vậy”.

Ở tuổi 12, Robert đến nhóm với Hội thánh, nó nói: “Khi tôi lớn lên, tôi sẽ là một Mục sư; Chúa cần tôi”. Nhưng ở tuổi thanh niên, nó thấy không thoả lòng với kinh nghiệm Cơ đốc. Mặc dù rất năng động giữa vòng thanh niên trong Hội thánh của mình, nó đã vật vã với lo sợ và nghi ngờ. Vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 1904, Robert viết: “Càng đến gần với Đấng Christ, tiến bộ về mặt thuộc linh nhưng chưa gần đủ”. Robert bước vào Đại học đường Pennsylvania và mùa hè kế đó đã dành thì giờ tham dự hội đồng truyền giáo ở bờ biển New Jersey. Diễn giả, Mục sư Charles Trumbull, đã chia sẻ bài làm chứng của mình, ông nhìn nhận rằng đã có những biến đổi lớn trong đời sống thuộc linh của ông. Nhưng ông đã khám phá ra “quí bạn của tôi ơi, năng lực của đời sống Cơ đốc, chỉ có nơi – Đức Chúa Jêsus Christ. Mọi sự là ở đấy. Có Đức Chúa Jêsus Christ là đủ rồi”.

McQuilkin tìm gặp Trumbull, hai người trao đổi với nhau, và đúng ngày 15 tháng 8 năm 1911, McQuilkin đã bước vào một phòng cầu nguyện. “Ấn tượng nầy đã đến với tôi: Tôi đã bước vào căn phòng ấy, và tôi chẳng muốn bước ra trước khi vấn đề nầy được giải quyết, và tôi đã nhận Đấng Christ làm Sự Đắc Thắng của tôi cho đời sống hàng ngày”.

McQuilkin quì gối xuống và tỉnh táo đem từng yếu tố trong đời sống mình phục theo Đấng Christ – mọi tội lỗi, “những việc còn nghi ngờ”, những người thân, người yêu, các thất bại trong quá khứ, tương lai của anh. Khi tôi cầu nguyện xong, tôi chẳng còn có một tình cảm đặc biệt nào nữa, và tôi không thấy một mặc khải nào nữa. Nhưng dường như đây là lần đầu tiên rõ ràng trong đời sống tôi chỉ có hai người trong vũ trụ – Chúa của tôi và tôi, và không một điều gì khác còn lấn cấn trừ ra ý chỉ của chính Thân Vị đó”.

Trong 40 năm kế đó, Đức Thánh Linh đã tuôn đổ qua McQuilkin giống như những luồng sông nước sự sống – và từ chức vụ của ông mà có Trường Kinh thánh Columbia/Đại học đường Quốc tế Columbia ở South Carolina, ngày nay là một trong những trung tâm đào tạo giáo sĩ và nhân sự Cơ đốc rất lớn ở trên đất.              

“vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta. Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao?

 

16 tháng 8

THUỶ TRIỀU LÊN

Bá Tước Nikolaus von Zinzendorf có mặt giữa vòng những quí tộc sống độc thân ở Âu châu vào thế kỷ thứ 18 – giàu có, thông minh, hấp dẫn, đẹp trai. Và hoàn toàn dâng mình cho Đức Chúa Jêsus Christ. Sau khi hoàn tất chương trình ở Đại học đường Paris, ông để ra cả năm đi một vòng Châu Âu và trong quá trình ấy, đã lâm bịnh tại Castell. Ở đó ông đem lòng yêu Theodora von Castell mới có 18 tuổi. Ông đề nghị cưới và nàng đáp như sau: “Nếu Đức Chúa Trời cho phép tôi suy nghĩ tới việc ấy nhiều hơn trong lúc nầy, tôi sẽ không từ chối”.

Zinzendorf không biết chắc điều chi khiến cho nàng phải thốt ra như thế, nhưng ông thấy cả hai nên tiến tới bước đính hôn. Ông bắt đầu cuộc hành trình của mình, nhưng phải hoãn một lần nữa, lần nầy là bởi thủy triều lên. Ông nắm lấy cơ hội đến thăm người bạn thân của mình, Bá Tước Henry von Reuss; rồi khi hai người trao đổi với nhau, Reuss nhìn nhận rằng ông cũng đang tìm một thiếu nữ để cưới. Zinzendorf nói (rất thực tế): “Được, còn Theodora thì sao? Thành thực mà nói, dường như cô ấy không quan tâm lắm về việc lấy tôi. Tại sao anh không dạm hỏi cô ấy?” Henry ngần ngại, ông nói: “Nhưng cô ấy là hôn thê của anh mà!” Tuy thế, Zinzendorf đã đưa bạn mình đến Castell, ở đó Henry và Theodora đã yêu nhau và thành hôn.

Zinzendorf, mặc dù cao thượng, đã sống rất buồn khổ. Ông để nhiều thì giờ nghiên cứu Cựu và Tân Ước về đề tài hôn nhân, sống độc thân, và ý chỉ của Đức Chúa Trời. Và mắt ông đã được mở ra.

Chúng đã được mở ra để nhìn thấy em gái của Henry – Nữ Bá Tước Erdmuth Dorothea von Reuss, là người mà ông đã gặp trong khi ở lại chờ thủy triều lên. Erdmuth vốn yêu mến Đấng Christ, và nơi nàng Zinzendorf tìm thấy một người bạn đời đúng ý nghĩa. Họ đính hôn vào ngày 16 tháng 8 năm 1722. trong ngày đó vị Bá Tước trẻ tuổi viết một bài thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời và một lá thư dự tính gửi cho mẹ của Erdmuth, thư viết như sau: “Tôi thấy nhiều trăn trở trong việc nầy; khi tôi chỉ là một người có thu nhập thấp đối với bất kỳ người nào khác, và Nữ Bá Tước Erdmuth yêu dấu không những đã bước vào một cuộc đời tự chối bỏ mình cùng với tôi, mà còn cộng tác với tôi trong công việc chính yếu của tôi, nghĩa là, trợ giúp tôi trong việc đưa dẫn nhiều linh hồn về cho Đấng Christ…”

Và đấy đúng là những gì họ đã làm – từ khi họ thành hôn vào ngày 7 tháng 9 năm 1722, cho tới khi Nữ Bá Tước qua đời vào năm 1756.

 

 “Có sáu mươi hoàng hậu, tám mươi cung phi, Và nhiều vô số con đòi: Chim bò câu ta, người toàn hảo ta vốn là có một, con một của mẹ mình. Kẻ kén chọn của người đã sanh đẻ mình. Các con gái đều thấy nàng, và xưng nàng có phước. Đến đỗi những hoàng hậu và cung phi cũng đều khen ngợi nàng” (Nhã ca 6.8-9).

 

17 tháng 8

 HAI CÁI MÔI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Khi chế độ quân chủ của người Anh được phục hồi lại vào năm 1660, một loạt những luật lệ mới đã dập tắt quyền tự do tôn giáo. Thí dụ, luật Uniformity, đòi hỏi tất cả các vị Mục sư phải sử dụng Quyển sách Cầu nguyện Chung (the book of Common Prayer) như một công thức dành cho sự thờ phượng. Nhiều người thuộc giáo hội Anh đã từ chối, và vào tháng 8 năm 1662, hơn 2000 vị Mục sư giỏi nhất nước Anh đã bị loại ra khỏi toà giảng của họ. Giữa vòng họ, Thomas Watson của Cambridge, ông đã giảng “Bài từ biệt” của mình vào ngày 17 tháng 8 năm 1662:

“Tôi đã thi hành chức vụ giữa vòng quí vị trong 16 năm trời và đã nhận được nhiều thể hiện tình yêu thương từ quí vị. Tôi đã thấy quí vị chú tâm nhiều vào lời mà tôi đã rao giảng. Tôi đã thấy sự sốt sắng của quí vị khi chống cự lại điều ác; và sự hiệp một của quí vị thật có rất nhiều như đáng mong đợi trong những thời khắc khó khăn. Mặc dù tôi không được phép rao giảng cho quí vị nữa, tuy nhiên tôi không ngừng tình yêu thương và sự cầu nguyện cho quí vị; nhưng tại sao lại có những sự ngăn trở đã được đưa ra như thế chứ? Đâu là tội ác? Có người nói rằng chúng ta sống không trung thành và xúi bẫy nổi loạn. Hỡi anh em yêu dấu, những hành động và sự chịu khổ của tôi vì cớ sự vinh hiển của Ngài thảy ai nấy đều biết cả. Tôi ước ao được hướng dẫn bởi sự dây bạc lời Đức Chúa Trời và bởi sự khôn ngoan của Ngài. Và nếu tôi phải chết, cho phép tôi để lại di sản một vài lời khuyên cho quí vị trước khi tôi rời khỏi đây.

                Thứ nhứt, xin hãy giữ luôn giờ giấc thường xuyên mỗi ngày với Đức Chúa Trời. Hãy bắt đầu với  Đức Chúa Trời lúc ban sáng, hãy thăm viếng Đức Chúa Trời vào buổi sáng trước khi quí vị làm bất cứ một cuộc viếng thăm nào; tấm lòng của quí vị hãy hướng cao lên trời vào buổi sáng và chúng sẽ hưởng được mọi ngày tốt lành sau đó. Ồ, hãy biến căn phòng nhỏ của quí vị thành những đền thờ; hãy đọc Kinh thánh. Hai giao ước là hai cái môi bởi đó Đức Chúa Trời phán cùng chúng ta; điều nầy sẽ khiến cho sự khôn ngoan của quí vị thành ra sự cứu rỗi. Hãy vây chặt thiên đàng mỗi ngày bằng sự cầu nguyện của quí vị, nhờ thế mà nhà cửa của quí vị sẽ toả ra hương thơm ngạt ngào”.

Watson cứ dẫn dắt khán thính giả của ông thêm 19 “điều” nữa rồi ông mới kết thúc, ông nói: “Tôi có nhiều điều cần phải nói với quí vị, nhưng tôi không biết Đức Chúa Trời có còn cho phép tôi cơ hội nào khác nữa hay không!?! Sức lực của tôi gần như không còn nữa. Hãy xem xét những gì đã nói vừa qua, và nguyện Chúa sẽ ban cho quí vị sự hiểu biết trong mọi sự”.

 

“Hằng ngày chúng nó trái ý lời tôi, Các tư tưởng chúng nó đều toan hại tôi. Chúng nó nhóm nhau lại, rình rập, nom dòm các bước tôi, Bởi vì chúng nó muốn hại mạng sống tôi…Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi: Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa, Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao?” (Thi thiên 56.5-6, 8).

 

18 tháng 8

MỘT TRĂM BÀI THÁNH CA

                Quí vị có thể tưởng tượng việc hát 100 bài thánh ca vào một buổi tối không? Một nhà thờ đã hát như thế, với những kết quả làm rối lịch sử.

Bá Tước Nikolaus Ludwig von Zinzendorf, chào đời năm 1700, lớn lên trong bầu không khí đọc Kinh thánh và hát thánh ca. Ông thành hôn với một Nữ Bá Tước Cơ đốc, và cả hai bắt đầu cho phép những tín đồ Tin lành tỵ nạn đến đóng trại trong bang người Đức của họ. Một cộng đồng Moravian có tên là Hernhut (“Ở dưới sự quan phòng của Chúa”) không bao lâu đã phát triển.

Ngày kia, có một thợ gốm tên là Leonard Dober đến để thiết lập một xưởng làm đồ gốm mỹ nghệ như một sản phẩm thích ứng cho Hernhut. Không lâu sau đó, Zinzendorf trở về từ một chuyến đi đến Copenhagen với những tường trình về nô lệ ở vùng Tây Ấn, chẳng có một ai nói cho họ biết về Đấng Christ cả. Dober qua một đêm không ngủ. Ông nói: “Tôi không yên tâm về việc ấy, tôi thề với lòng rằng nếu có một anh em nào khác chịu đi với tôi, tôi sẽ trở thành một nô lệ”.

Ông đã gặp người anh em của mình là một thợ mộc ở David Nitschmann.

Vào ngày 18 tháng 8 năm 1732, trong một buổi thờ phượng thật phi thường, dạt dào tình cảm, cả hai người đã được uỷ nhiệm tới đó. Một trăm bài thánh ca đã được người ta hát lên trong đêm ấy khi hội chúng phó thác họ cho Đức Chúa Trời và chào từ biệt.

Cả hai người dong buồm từ Copenhagen vào ngày 8 tháng 10, được nâng đỡ bởi Dân số ký 23.19: “Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?”

Họ đến vào ngày Thánh Thomas vào tháng Chạp, và một viên quản lý đồn điền có tên là Lorenzen đã đón tiếp họ. Ngày Chúa nhựt đầu tiên của họ đã nhìn thấy họ bắt đầu cuộc tìm kiếm linh hồn, giảng đạo cho một nhóm nhỏ các nô lệ, một vài người trong số họ không bao lâu sau đó đã tin theo Đấng Christ. Dober đã phục vụ cho những kẻ bị chứng sốt rét, ở một điểm gần chết vì chính ông cũng bị sốt. Ở một dịp kia, ông gần như đã kiệt lực. Nhưng các sự tăng cường bắt đầu đến từ Hernhut vào năm 1734. Mặc dầu  có nhiều người đã chết, làn sóng các giáo sĩ người Moravia cứ tiếp tục – đến Greenland, đến Lapland và Georgia, đến Surinam, đến Guinea, đến Nam Phi, đến Algeria, đến với những người da đỏ Bắc Mỹ, đến Ceylon, Romania và Constantinople. Từ năm 1732 đến 1742, có hơn 70 giáo sĩ Moravian đã được phái đi từ Hernhut, một cộng đồng có 600 người.

Thời gian nầy được gọi là “Thập Niên Vàng”. Đây là buổi bình minh của công cuộc truyền giáo Tin lành.

 

“Hãy thuật sự vinh hiển Ngài giữa các nước, truyền các công việc lạ lùng Ngài giữa các dân” (Thi thiên 96.3).

 

19 tháng 8

CÂU CHUYỆN CỦA MỘT CON CHÓ

Đức Chúa Trời vừa hướng dẫn vừa tiếp trợ. Ngài dẫn dắt và nuôi dưỡng dân sự của Ngài, và đôi khi trong những đường lối thật bất thường – như John Craig từng học biết. Craig chào đời ở xứ Tô cách Lan vào năm 1512, học ở Đại học đường St. Andrew, rồi bước vào công trường truyền giáo. Trong khi sống trong đại lục, ông tìm được một bản Quy Tắc của Calvin và khi đọc chúng, ông thấy mình phải trở nên một tín đồ Tin lành. Như một kết quả, ông bị các thành viên của Toà Án Pháp Đình bắt, bị dẫn tù đến Rome, và bị kết án tử hình trên giàn giáo. Vào buổi tối ngày 19 tháng 8 năm 1559, đang khi chờ đợi cuộc hành hình qua ngày hôm sau, những tin tức cho hay rằng Giáo Hoàng Paul IV đã qua đời. Theo thông lệ, những tù phạm ở Rome đều được tha ra, các tù nhân tạm thời được phóng thích.

Craig nắm lấy cơ hội, trốn vào một quán trọ nằm ở ngoại vi thành phố. Một tốp lính lần theo dấu của ông, nhưng khi viên đội trưởng đến bắt ông, hắn đứng lại nhìn thẳng vào mặt ông. Sau cùng, hắn hỏi Craig có nhớ ông đã từng giúp đỡ một người lính bị thương mấy năm trước ở Bologna hay không!?! Viên đội trưởng đó nói: “Tôi là người lính mà ông đã giúp đỡ đó và theo ý trời giờ đây tôi có quyền giúp đỡ lại cho người có lòng tử tế – ông được tự do”. Người lính ấy trao cho Craig một số tiền bỏ túi rồi chỉ cho ông con đường thoát thân.

Khi ông theo con đường ấy đi xuyên qua nước Ý, Craig đã tránh né những con đường đông người qua lại, đi con đường vòng mà viên đội trưởng kia đã chỉ cho cùng sử dụng tiền bạc để mua đồ ăn. Nhưng rồi tiền bạc cũng sắp hết, và tinh thần của ông cũng thế. Ông nằm nghỉ trong rừng và suy gẫm về cuộc trốn chạy của mình. Thình lình có tiếng bước chân đến gần, và Craig thấy căng thẳng. Đó là một con chó, và trong miệng của nó là một cái túi đựng tiền. Craig vẫy tay đuổi con vật đi, sợ bị gài bẫy. Nhưng con chó cứ đi tới, xum xoe mừng ông, rồi để túi tiền ấy lại bên cạnh ông.

Sử dụng số tiền từ cái túi ấy, Craig đã đến tận nước Áo, ở đây Hoàng đế Maximilian đã lắng nghe bài giảng của ông rồi tỏ lòng tử tế với ông nữa. Nhờ thế, ông đã trở về lại quê hương mình là xứ Tô cách Lan, ở đó ông rao giảng về Đấng Christ và trợ giúp cho công cuộc Cải Chánh cho tới khi ông qua đời nhiều năm sau đó, ở tuổi 88.

 

“Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong bọn đã sang ngụ Ga-la-át… Đoạn có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy người rằng: Hãy đi khỏi đây, qua phía đông, và ẩn ngươi bên khe Kê-rít, đối ngang Giô-đanh. Ngươi sẽ uống nước của khe, và ta đã truyền cho chim quạ nuôi ngươi tại đó. Vậy, Ê-li đi, vâng theo lời của Đức Giê-hô-va, và đến ở nơi mé khe Kê-rít đối ngang Giô-đanh. Buổi mai và buổi chiều chim quạ đem bánh và thịt cho người; và người uống nước khe” (I Các Vua 17.1a, 2-6).

 

20 tháng 8

NGHIÊN CỨU BẰNG CÁCH ĐỐI CHIẾU

Lạy Chúa Jêsus, lòng con thấy dịu dàng khi suy gẫm luôn về Ngài.

                Nhưng dịu dàng hơn khi nhìn xem mặt Ngài, và yên nghỉ trong sự hiện diện Ngài.

Bài thánh ca nầy, đã được hát lên gần 1000 năm nay, có tác giả là một người Pháp có tên là Bernard, một Cơ đốc nhân thuộc linh sâu sắc, ông rất nổ lực trong một Cơ đốc giáo luôn phấn đấu.

Bernard dường như đã được định cho một cơ nghiệp đời thường rất hứa hẹn cho tới chừng ở tuổi thanh niên, ông đã xây hướng về Đấng Christ và đã khuyên hơn hai tá bạn bè của mình dâng chính mình họ cho tình trạng sống độc thân và cho chủng viện Citeaux. Không lâu sau đó, ông trở thành nhân vật nổi tiếng nhất và đã được phái đi thành lập một chủng viện tương tự ở Clairvaux.

Chủng viện Clairvaux trở thành trung ương của ông, và ông ít khi rời khỏi đó; nhưng ảnh hưởng của ông đã toả chiếu từ các bức tường của nó giống như những nan hoa của một bánh xe vậy. Trong suốt cuộc đời của ông, ông đã thành lập thêm 70 chủng viện và giám sát 90 chủng viện khác. Ông yêu mến Kinh thánh và đã quen thuộc rất sâu sắc mọi sự dạy của Kinh thánh; nhưng ông yêu mến thanh gươm cũng nhiều như vậy. Ông đã nổ lực với các trật tự như quân đội trong chủng viện – những cộng đồng hiệp sĩ và những người có vũ trang chịu kỷ luật của chủng viện dâng mình vào việc phòng thủ cho Hội thánh và cho đức tin. Ông đã viết ra sách luật cho Đội Quân Hiệp Sĩ và khuyến khích trật tự quân đội Đức Cơ đốc hóa nhiều nơi ở châu Âu. Ông mở ra Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Nhì và khuyên Giáo Hoàng Eugene, là học trò cũ của ông, nắm lấy quyền chỉ huy công cuộc ấy. Và khi công cuộc kết thúc trong thảm họa, Bernard than phiền: “Họ thà đổ thừa cho tôi hơn là đổ thừa cho Đức Chúa Trời”.

Nhiều Cơ đốc nhân ngày nay đổ thừa cho Bernard. Ông là một tay chiến đấu, đã đánh trận với ma quỉ trong chính cuộc đời mình bởi những kỷ luật rất nghiêm; và tà giáo bởi thúc đẩy chính thống giáo ở mỗi chặng dừng quân; và hình thức thờ lạy hình tượng  bởi việc rao giảng Kinh thánh ở một tay và thanh gươm ở tay kia; và Hồi giáo bằng cách mở ra chiến dịch toàn hảo nhất ở châu Âu. Ông không bỏ một trận đánh nào cho tới ngày 20 tháng 8 năm 1153, khi ở tuổi 63 ông đã lìa đời – “nhìn thấy mặt Ngài và yên nghỉ trong sự hiện diện của Ngài”.

Chúng ta không dám xét đoán ông, nhưng chúng ta vẫn hát bài thánh ca của ông. Và chúng ta nhớ cuộc đời ông mỗi ngày 20 tháng 8, ngày Lễ Thánh Bernard xứ Clairvaux.

 

“Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người. Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ” (Mathiơ 26.51-52a).

 

21 tháng 8

GIÁO HOÀNG CHIẾN BINH

            Giuliano della Rovere bắt đầu leo lên nấc tháng truyền giáo khi còn là một thanh niên, với sự trợ giúp của người bác là Giáo Hoàng Sixtus IV. Vào năm 1503 Giuliano tự mình trở thành Giáo Hoàng Julius II. Ông bảo đảm cho địa vị của mình bằng cách hứa hẹn với các Hồng Y, tìm kiếm lời khuyên của họ về các vấn đề quan trọng, triệu tập một giáo hội nghị, và tiếp tục cuộc chiến chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ.

Ông giữ lời hứa giống như giữ lời thề sống độc thân ở tu viện, là lời nói ra cách dài dòng. Ông là một người có quyền lực, năng động – cái đầu to, mắt sâu, đôi môi mấp máy với quyết tâm, gương mặt nghiêm nghị, tánh khí năng nổ. Ông đã giữ nước Ý trong chiến tranh và Rome trong cảnh lộn xộn. Ông đã giải phóng các thể chế giáo hoàng, lãnh đạo quân đội, và chính ông đã phá sập các bức tường của Bologna.

Ông đánh hạ Đại giáo đường Thánh Peter xưa, rồi ở tuổi 63 đã trèo xuống chiếc thang dây dài, lay động để đặt hòn đá góc cho giáo đường mới; và ông đã thiết lập việc bán thẻ sống buông thả để trả tiền xây nhà thờ mới, chọc tức Luther. Lòng ham mến của ông về kiến trúc đã khuyến khích các vị giám mục, những nhà quí tộc, các chủ ngân hàng, cùng những thương buôn lo xây lên những cung đài rực rỡ. Nhiều đại lộ rộng lớn bắc ngang qua thành cổ, hàng trăm đường phố mới được mở ra, và Rome một lần nữa bắt đầu trông giống như ngôi nhà của một Caesar.

Julius đã khám phá ra và phát triển Michelangelo và Raphael; dời trung tâm nghệ thuật và văn học từ Florence về Rome; chi tiền cho hàng trăm họa sĩ có tài, và cung ứng cho thế gian trần nhà của giáo đường Sistine.

Thế nhưng kẻ thù nghịch ông càng tăng thêm. Julius lâm phải một chứng bịnh rất nghiệt ngã và bấp bênh gần chết trong ba ngày. Vào ngày 21 tháng 8 năm 1511, khi ông nằm bất tỉnh, các vị Hồng Y đã sửa soạn tìm người kế tục ông. Julius đã làm cho họ thất vọng khi được hồi phục lại. Ông vẫn chưa chết. Không lâu sau đó, ông lập Henry III làm vua nước Anh, nước Đức, Tây ban Nha, và Thụy điển thành một liên minh quân sự chống lại nước Pháp. Họ mở ra chiến tranh, nhưng trong lúc có chiến dịch sức lực của giáo hoàng chiến binh nầy cạn kiệt dần. Bị sốt nặng (gây ra do việc ăn uống không điều độ), ông ban ra những huấn thị về tang lễ, xưng mình là một đại tội nhân, rồi qua đời.

 

“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình. Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy” (Giêrêmi 9.23-24).

 

22 tháng 8

23 NGÀY

                Ông là một kẻ sống rất bảo thủ, giống như một di tích, một kẻ rất cổ hủ …nhưng lại là một đứa trẻ. George Frideric Handel đã đi cùng với cha mình đến cung điện của Công tước Johann Adolf. Đi hết chỗ nầy chỗ nọ trong cung điện, cậu bé thấy một cây đàn organ rồi khởi sự chơi trong ngẫu hứng, khiến cho Công tước Adolf phải kêu lên: “Đứa trẻ khác thường nầy là ai vậy?”

“Đứa trẻ khác thường” nầy không lâu sau đó bắt đầu sáng tác nhạc kịch opera, trước tiên ở nước Ý, rồi đến Luân đôn. Ở tuổi 20, ông là lời đồn, bàn tán của nước Anh và là nhà sáng tác được trả giá cao nhất ở trên đất. Ông mở ra Nhạc Viện Hoàng Gia. Những người dân thành Luân đôn phấn đấu lắm mới có chỗ ngồi ở những lần ông biểu diễn, và danh tiếng ông lan rộng khắp nơi trên thế giới.

Nhưng rồi vinh quang ấy cũng trôi qua. Khán thính giả dần dần ít hẳn đi. Nhạc của ông bắt đầu lỗi thời. Nhạc viện đi tới chỗ phá sản, và nhiều tân nghệ sĩ nổi lên che khuất nhà sáng tác già nua nầy. Hết dự án nầy tới chương trình khác đều rơi vào chỗ thất bại, và Handel rơi vào chỗ ngã lòng. Sự căng thẳng dẫn tới chứng liệt não làm run rẩy mấy ngón tay của ông. Đại đế Frederick viết: “Thời vàng son của Handel đã qua, cảm hứng của ông ta đã cùng kiệt rồi”.

Tuy nhiên, những rối rắm cũng làm cho ông chín chắn thêm, chúng làm cho lưỡi khô cứng của ông được mềm mại đi. Tánh tình ông dịu dàng lại, và âm nhạc của ông ngày càng có nhiều xúc cảm hơn. Một sáng kia, Handel đã nhận được từ bưu điện lá thư của Charles Jennens. Đây là một tuyển tập từng câu một những câu gốc khác nhau trong Kinh thánh nói về Đấng Christ. Lời lẽ mở đầu trích từ Êsai 40 làm cho Handel phải cảm động: “Hãy yên ủi dân ta…”.  

Vào ngày 22 tháng 8 năm 1741, ông đóng cửa nhà mình ở Luân đôn lại, rồi khởi sự sáng tác nhạc cho những câu Kinh thánh nầy. Hai mươi ba ngày sau, thế giới có vở Đấng Mêsi. Về sau Handel nói, tìm cách mô tả kinh nghiệm ông đã có như sau: “Dầu tôi còn ở trong hay ra khỏi thân thể nầy khi tôi sáng tác, tôi không biết”. Vở Đấng Mêsi đã khai trương ở Luân đôn với một số rất đông khán thính giả vào ngày 23 tháng 3 năm 1743. Handel chỉ huy từ đàn dương cầm của mình và Vua George II, có mặt trong đêm đó, đã làm kinh ngạc mọi người bằng cách nhịp chân suốt giai điệu Hallelujah. Không một ai biết lý do tại sao cả. Có người tin nhà vua, khó mà nghe được lắm, dù đấy là bản quốc ca. Bất luận – từ ngày ấy khán thính giả ở khắp mọi nơi đều đứng dậy với vẽ tôn kính trong khi những lời nầy làm lay động lòng người: Halêlugia! Vì Ngài sẽ trị vì cho đến đời đời.

 

“Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài” (Khải huyền 19.6-7a).

 

23 tháng 8

NGÀY CỦA THÁNH BARTHOLOMEW

            Khi lên 10 tuổi Charles IX đã trở thành Vua của nước Pháp vào năm 1560, mẹ ông, Catherine de Medici, đã nắm lấy quyền lực như nữ hoàng nhiếp chính, khi ấy bà tìm cách ổn định xứ sở đã bị phân chia về mặt tôn giáo. Trước tiên bà công kích những người Tin lành, rồi sau đó là Công giáo. Những cuộc chạm trán đã nổ ra; và giữa năm 1561 và 1572 đã có 18 cuộc tàn sát những người Tin lành, 5 cuộc cho người Công giáo, và 30 cuộc ám sát khác nữa. Cuộc nội chiến đã hiện ra lờ mờ.

Với một chút hoà hoãn, Catherine, một người Công giáo, đã cho phép con gái mình lấy một người Tin lành làm chồng, đó là Henry xứ Navarre. Henry đến tại Paris để làm đám cưới, cùng đi có hàng ngàn người xứ Huguenots (Tin lành Pháp). Thành phố run rẩy, và nhiều tiếng đồn lan rộng cho rằng những người xứ Huguenots dự tính bắt cóc gia đình hoàng tộc. Những cái đe khắp Paris quay lại việc chế tạo vũ khí. Vào ngày 23 tháng 8 năm 1572, Catherine và Charles đã sống ẩn dật trong cung điện. Khoảng 10 giờ sáng, Catherine cảnh cáo Charles về cuộc nổi dậy sắp xảy ra, bảo ông phải giả bịnh sốt rét, nói cho ông biết người xứ Huguenots đang hoạch định việc bắt ông. Charles muốn rằng những kẻ nổi loạn phải bị bắt. Đã quá trễ cho vấn đề nầy, Catherine bẻ lại. Bà ta gầm lên giận dữ và đe doạ trốn khỏi nước Pháp. Charles, thần kinh nhũng ra, đã chạy hết phòng nầy sang phòng khác khoảng nửa đêm và kêu la: “Nhân danh sự chết của Đức Chúa Trời, khi bà chọn giết chóc…ta ưng thuận! Nhưng rồi bà phải giết hết người xứ Huguenots trong nước Pháp…Hãy giết hết thảy họ đi! Hãy giết hết thảy họ đi”.

Những cánh cổng thành phố đóng lại. Lịnh lan truyền ra giữa ba quân: “Giết! Nhà vua ra lịnh giết!” Khi những tiếng chuông nhà thờ rung lên lúc 3 giờ sáng, những thanh gươm đều tuốt ra khỏi vỏ. Lãnh tụ Tin lành là Gaspard de Coligny đã bị bắt, hai đầu gối bị cột chặt, hai bàn tay và bộ phận sinh dục bị chặt đứt và bị đem bán. Những người xứ Huguenots cùng con cái của họ bị kéo lê trên đường phố và bị giết. Những thai nhi bị lôi ra khỏi lòng người mẹ đã chết bị đập nát bỏ bên vệ đường. Mặt trời, mọc lên trên Paris vào ngày Thánh Batholomew, tỏ ra hàng ngàn thi thể của những người Tin lành.

Tiếng kêu la của người xứ Huguenots bị tàn sát vang lên trong đầu của nhà vua, cả ngày lẫn đêm. Ông ta kêu la với mẹ mình: “Ai trừ ra bà là nguyên nhân của mọi sự nầy? Huyết của Đức Chúa Trời, bà là nguyên nhân của mọi sự nầy”. Hiến pháp của ông ta thất bại và ông ta bắt đầu thấy những chiêm bao về các nạn nhân của mình. Ông ta bị nguyền rủa và qua đời ở tuổi 23. Ông ta kêu la: “Ta đã làm theo mưu ác, ôi Đức Chúa Trời ơi, xin tha thứ cho ta! Ta đã bị hư mất!”

 

“Song những kẻ ác giống như biển đang động, không yên lặng được, thì nước nó chảy ra bùn lầy. Đức Chúa Trời ta đã phán: Những kẻ gian ác chẳng hưởng sự bình an” (Êsai 57.20-21).

 

24 tháng 8

CHUYỆN KỂ VỀ HAI THÀNH PHỐ

Những kẻ xâm lược dã man đã giẫm chân lên khắp Âu châu giống như những đàn voi, giày đạp mọi thứ trên đường đi của chúng. Những binh đoàn La mã, không thể bảo vệ đường biên giới dài 10.000 dặm của họ, đã thất thủ; những kẻ xâm lược kia đã xâm nhập vào nước Ý đến tận cánh cổng thành Rome. Và vào ngày 24 tháng 8 năm 410 Thành Phố Đời Đời rơi vào tay quân Alaric. Trong ba ngày, Rome bị cướp lột. Phụ nữ bị tấn công, người giàu có bị giết chết, nghệ thuật bị tiêu hủy, và thành phố bị phá nát đến nỗi không còn nhận ra nữa.

Thế giới chao đảo trong cơn sốc, và nhiều Cơ đốc nhân đột nhiên thấy họ bị đỗ lỗi cho. Rốt lại, đế quốc là một tiền đồn sắt vô địch trước khi bị Cơ đốc hoá với sự trở lại đạo của Constantine vào năm 312. Còn bây giờ, chưa đầy một thế kỷ sau, thành phố lớn nhất và là đế quốc trong lịch sử không còn có nữa. Những vị thần cổ xưa đã bị mất lòng và đã rút lại sự bảo hộ của họ.

Bên kia Địa Trung Hải, nhà thần học lỗi lạc nhất của thế giới đã nghe được báo cáo, đã nhìn thấy người tị nạn, đã nghe những kết án, và đã tốn 13 năm viết ra một đáp ứng. Bộ sách Thành phố của Đức Chúa Trời gồm 22 quyển của Augustine đã được viết ra như một biện minh cho Cơ đốc giáo, và bộ sách trở thành công tác vĩ đại đầu tiên được hình thành và xác định lối suy nghĩ của thời trung cổ.

Những quyển đầu tiên của bộ Thành phố của Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Rome đã bị trừng phạt, không phải vì cớ đức tin mới, mà vì những tội lỗi cũ của nó – phi luân và đồi bại. Augustine đã nhìn nhận rằng chính ông đã xả láng trong sự đồi trụy trước khi đến với Đấng Christ. Nhưng, ông nói, nguyên tội có thể lần về với Ađam và Êva, và chúng ta đã thừa kế bản tánh tội lỗi mà họ đã truyền cho.

Con của Mary, Đức Chúa Jêsus Christ, hiến ban sự tha thứ, và một mình Đấng Christ cung ứng sự cứu rỗi cho đến đời đời. “Qua một người nữ, chúng ta bị định phải chịu sự hủy diệt; qua một người nữ, sự cứu rỗi đã được phục hồi cho chúng ta. Nhân loại bị chia ra làm hai loại: một là sống theo con người, hai là sống theo Đức Chúa Trời. Cách chia như thế nầy chúng ta gọi là “hai thành phố”, một đã được định trị vì đời đời với Đức Chúa Trời, và một bị xét đoán bị hình khổ đời đời với Satan”.

Augustine viết: “Thiên Thành chiếu sáng hơn Rome. Ở đó, thay vì đắc thắng, là lẽ thật; thay vì đẳng cấp cao, là sự thánh khiết; thay vì sự sống, là sự sống đời đời”.

 

“Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê-bơ-rơ 11.9-10)

.

25 tháng 8

SỰ KÊU GỌI NƠI BỨC MÀN SÂN KHẤU

                Sự bắt bớ lớn lao sau cùng của người La mã chống lại Hội thánh đã xảy ra trong đời trị vì của Diocletian, là con trai của một nô lệ, ông đã lên ngôi Hoàng đế vào năm 284. Diocletian dường như đã dung chịu Cơ đốc giáo vào lúc ban đầu. Vợ và con gái của ông ta đã học hỏi những tác phẩm Cơ đốc. Nhưng khi đức tin mới phát triển và nhiều ngôi nhà thờ lớn bắt đầu xuất hiện ở các thành phố chính, Hoàng đế đã đặt Cơ đốc giáo vào chỗ khốn khổ. Một trong những sự cố kỳ lạ nhất đã xảy ra vào năm 303 khi Dilocletian đến xem kịch ở Rome. Trong buổi diễn, các nghệ sĩ đều mặc toàn trắng làm nổi bật những nghi thức và thói quen của Cơ đốc nhân. Một trong số họ, Genesius, chạy lên sân khấu phủ phục xuống sàn nhà kêu lên: “Tôi cảm thấy nặng nề quá, tôi muốn được nhẹ nhàng. Tôi muốn chết như một Cơ đốc nhân, trong ngày ấy tôi sẽ bay cao lên đến Đức Chúa Trời như một nơi ẩn trú vậy”. Một vị linh mục hay chế giễu và một thầy phù thủy chạy đến bên cạnh Genesius, làm ra những nghi thức kể cả phép báptêm giả nữa.

Đám đông ồ lên bậc cười. Nhưng Genesius đã lớn lên từ một gia đình Cơ đốc, và lối sống xấu xa của anh đã thất bại không hủy hoại được những gốc rễ Cơ đốc của mình. Đột nhiên có một số những điều tin quyết thuyết phục anh mạnh đến nỗi anh đã kêu lên: “Tôi muốn tiếp nhận ân điển của Đấng Christ, để tôi được sanh lại, và được buông tha khỏi những tội lỗi từng hủy hoại tôi”.

Nhiều người trong đám đông tưởng anh vẫn còn đang diễn kịch. Nhưng anh bật dậy, ngắt ngang vở kịch. Nhìn xuống khán thính giả anh nói: “Hỡi vị Hoàng đế nổi tiếng kia, cùng hết thảy quí vị, người nào đã bật cười lớn tiếng nơi nhà hát kịch nầy, hãy tin tôi! Đấng Christ là Chúa chơn thật!”

Diocletian, nỗi giận, ngay lập tức ra lịnh cho Genesius phải bị đem đi đóng trăn. Khi những cuộc hành hình càng tăng thêm, da của anh bị quất bằng loại móc câu nhọn và hai bên sườn của anh bị họ dùng đuốc đốt. Nhưng người nghệ sĩ cứ lặp đi lặp lại: “Chẳng có một vua nào khác trừ ra Đấng Christ, là Đấng mà tôi đã nhìn thấy và thờ lạy. Tôi sẽ chết cho Ngài một ngàn lần. Tôi lấy làm tiếc vì tội lỗi tôi, và vì trở thành chiến sĩ của Vì Vua thật quá muộn màng”.

                Những lần hành hình đã thất bại không bắt phục được anh, và bức màn sự sống của anh hạ xuống khi anh bị chặt đầu đúng vào ngày nầy, ngày 25 tháng 8 năm 303.

 

“Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ở với chúng tôi, như Ngài đã ở cùng tổ phụ chúng tôi, chớ lìa, chớ bỏ chúng tôi; nguyện Ngài giục lòng chúng tôi hướng về Ngài, hầu chúng tôi đi trong mọi đường lối Ngài, giữ những điều răn, luật pháp, và mạng lịnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng tôi. Ước gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ngày đêm dủ lòng nhớ đến các lời ta đã nài xin trước mặt Ngài” (I Các Vua 8.57-59a).

 

26 tháng 8

NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI VỢ

                Phước cho người nào có vợ nói năng với sự khôn ngoan thậm chí khi nàng không làm chủ được lý trí của mình.

Ebenezer Erskine là một Mục sư, song chẳng phải là một Mục sư giỏi. Hội chúng người Tô cách Lan lấy làm mệt mõi vì sự giảng dạy của ông, nhưng dường như ông không thể giảng khác hơn được. Về sau ông viết: “Tôi bắt đầu chức vụ mà chẳng có lòng sốt sắng, chai lì, và máy móc, bị sự vô tín nuốt mất và trong sự loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời”. Ông chẳng có chút sốt sắng nào đối với Chúa và Lời của Ngài. Không phải là đời sống tin kính chi hết. Không một sáng láng gì từ Kinh thánh cả. Những bài giảng của ông thì dài, hình thức, và học thuộc lòng; ông đã giảng chúng từng lời một với giọng tẻ nhạt, đơn điệu, không bao giờ nhìn lên hay liếc mắt về phía khán thính giả của mình.

Vợ ông, không thể chịu đựng được sự thể ấy, lấy làm lo mỗi khi Chúa nhựt đến. Vì nhiều năm rồi bà đã khóc cách kín đáo đối với tấm lòng chưa tái sanh cùng chức vụ chẳng có gì là thuộc linh của chồng mình. Bà đã cầu nguyện khẫn thiết với Đức Chúa Trời, tuy nhiên bà ít khi nói với Ebenezer cho tới khi…cho tới khi bà mắc cơn sốt rất nặng. Ebenezer, 28 tuổi, lo âu lẩn quẩn ở bên bà khi bà oằn oại đau đớn, thân thể đẫm mồ hôi. Trong cơ mê sảng, bà lảm nhảm những ý kiến về chức vụ của ông – chức vụ ấy không có sự sống và dài dòng chán ngắt. Còn tấm lòng của ông? Nó đã bị hư mất và trơ trụi. Lời lẽ của bà đâm thủng trái tim ông.

Ebenezer viết trong hồi ký của mình: “Sau cùng, Chúa đã đẹp lòng làm cho tâm linh nàng được bình tịnh và cung ứng cho nàng sự bình thản dịu dàng trong tâm trí. Tôi nghĩ, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy Chúa chạm đến lòng tôi theo một tư thế nhận thức được. Một vài tuần lễ sau đó, nàng và tôi ngồi với nhau trong khi tôi đang nghiên cứu. Và khi chúng tôi trao đổi về những vụ việc của Đức Chúa Trời, Chúa đã đẹp lòng vén bức màn lên và cung ứng cho tôi một tầm nhìn vào ơn cứu rỗi, những gì khiến cho linh hồn tôi sẵn sàng chấp nhận trong Đấng Christ”

  “Sự sẵn sàng chấp nhận” của ông đã đến vào ngày 26 tháng 8 năm 1708, ông viết: “Tôi đã dâng linh hồn và thân thể cho Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Tôi  chạy đến nương náu trong huyết của Chúa Jêsus. Tôi sẽ sống với Ngài, tôi sẽ chết với Ngài. Tôi bắt trời và đất chứng kiến rằng mọi sự tôi sống và mọi thứ tôi có đều thuộc về Ngài”.

Ebenezer Erskine trở thành một nhà truyền đạo rất được ưa thích ở xứ Tô cách Lan vào thế kỷ thứ 18 và là nhà sáng lập Hội thánh Scottist Secession.

        

“Lời nói phải thì, khác nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc. Người khôn ngoan quở trách lỗ tai hay nghe, khác nào một cái vòng vàng, một đồ trang sức bằng vàng ròng vậy” (Châm ngôn 25.11-12).

 

27 tháng 8

CHUỔI CẦU NGUYỆN

Vào năm 1722, Bá tước Nikolaus Ludwig von Zinzendorf, lấy làm bối rối bởi nỗi khổ của Cơ đốc nhân rày đây mai đó từ Bohemia và Moravia, ông để cho họ lập một cộng đồng trên bang của ông ở nước Đức. Trung tâm ai cũng biết là Herrnhut, có nghĩa là: “Ở dưới sự quan phòng của Đức Chúa Trời”. Trung tâm ấy phát triển nhanh chóng, và mọi giá trị của nó đều nhờ vào quyền năng của sự cầu nguyện.

 Đến ngày 27 tháng 8 năm 1727, 24 người nam và 24 người nữ kết ước để ra một giờ mỗi ngày đặng cầu nguyện, cầu nguyện theo giờ tính bằng những con số chiếc đồng hồ. Không bao lâu sau đó, nhiều người khác tham gia vào chuổi cầu nguyện. Nhiều ngày trôi qua, rồi nhiều tháng trôi qua. Sự cầu nguyện không ngừng nghỉ dấy lên tận Đức Chúa Trời 24 giờ một ngày khi có ai đó – ít nhất là một người – hứa cầu thay mỗi giờ một ngày. Những người cầu thay nhóm lại từng tuần lễ để khích lệ nhau và để đọc thư và các sứ điệp từ anh em của họ ở những nơi khác. Một thập niên trôi qua, chuổi cầu nguyện cứ tiếp tục không ngừng nghỉ. Thế rồi một thập niên khác. Đây là buổi nhóm cầu nguyện đã kéo dài cả 100 năm.

Không nghi ngờ chi nữa, sự cầu nguyện như thế nầy đã giúp sản sinh ra các giáo sĩ Tin lành. Zinzendorf, 27 tuổi, đã đề nghị tính khả thi của nổ lực đến với tha nhân vì cớ Đấng Christ ở vùng Tây Ấn, Greenland, Thổ Nhĩ Kỳ, và Lapland. Hai mươi sáu người Moravia đã ra đi. Những giáo sĩ đầu tiên, Leonard Dober và David Nitschmann, được ủy nhiệm trong một buổi thờ phượng khó quên vào ngày 18 tháng 8 năm 1732, trong đó 100 bài thánh ca đã được hát lên. Trong hai năm đầu tiên, 22 vị giáo sĩ đã bị chết mất và 2 người khác bị tù đày, nhưng có nhiều người khác đã trám vào chỗ của họ. Trong tất cả 70 giáo sĩ người Moravia ra từ 600 cư dân của Herrnhut, một kỳ công chẳng chi sánh được trong lịch sử truyền giáo.

Đến khi William Carey trở thành “Tổ phụ của công cuộc truyền giáo hiện đại”, thì có hơn 300 giáo sĩ người Moravia đã ra đi rồi đến tận các đầu cùng đất. Bấy nhiêu đó vẫn chưa phải là đủ. Sự nhiệt tình của người Moravia đã nhóm lên ngọn lửa biến đổi của John và Charles Wesley và gián tiếp nhóm lên Cơn Tỉnh Thức Lớn Lao quét kháp châu Âu và châu Mỹ.

Buổi nhóm cầu nguyện đã kéo dài 100 năm, Những kết quả sẽ kéo dài cho đến đời đời.

 

“Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ một thí dụ, để tỏ ra rằng phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt… Vậy, có lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét lẽ công bình cho những người đã được chọn, là kẻ đêm ngày kêu xin Ngài, mà lại chậm chạp đến cứu họ sao! Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ” (Luca 18.1, 7-8a).

 

 

28 tháng 8

QUYỀN THÁNH CA TRONG TAY

Levi (Matthew) không phải là người thu thuế duy nhứt đi theo Đấng Christ bước vào chức vụ trọn thời gian đâu. Ira Sankey cũng vậy nữa. Sankey ra đời vào ngày 28 tháng 8 năm 1840, trong một thị trấn nhỏ ở Pennsylvania. Gia đình ông về sau chuyển tới New Castle, ở đây ông trở thành chủ tịch một nhà băng địa phương. Ira đã phục vụ trong Quân đội Thống nhất trong suốt cuộc Nội chiến, rồi trở về nhà phục vụ trong vai trò thu thuế ở địa phương

Tuy nhiên, tình cảm thật của ông là ca hát, và ông chuyên là một ca sĩ hát solo khắp Pennsylvania và Ohio. Cha ông, hy vọng ông bước vào lãnh vực chính trị, đã than phiền: “Ta e rằng con trai sẽ không bao giờ nên thân nên dáng gì cả. Mọi sự nó làm là đây đó khắp xứ với một quyển thánh ca cầm tay thay vì chai whisky trong túi áo”.

Năm 1780, Ira đến nhóm lại với hội nghị quốc gia YMCA, nhóm ở Indianapolis. Một trong những phiên họp buồn tẻ đến nỗi Ira phải đứng ra chỉ huy một vài bài thánh ca. Ở cuối buổi họp, có một người to con, đến gần hỏi ông nhiều câu: “Anh ở đâu đến? Anh làm việc gì? Anh có gia đình chưa?”

Khi Sankey nói cho ông ta biết anh đã có gia đình, sống ở Pennsylvania và làm việc cho chính phủ, người kia liền tuyên bố: “Anh phải bỏ việc làm đó!”

Sankey hỏi trong ngạc nhiên: “Để làm gì chứ?”

“Để đến Chicago và giúp tôi trong công việc của tôi”.

Sankey đáp rằng ông không thể rời bỏ công việc của mình được. Về việc nầy, người kia nói: “Anh phải bỏ, tôi đã tìm kiếm anh trong 8 năm rồi”.

Thế là bắt đầu một trong những tình bạn nổi tiếng nhất trong lịch sử truyền giáo – D.L. Moody và Ira Sankey. Trong phần tư thế kỷ kế đó, Moody và Sankey đã du hành khắp thế giới. Khi Moody giảng Tin lành, Sankey hát solo, tổ chức việc ca hát, và sáng tác nhạc cho các thánh ca Tin lành. Quyển Thánh Ca Tin Lành, Những Bài Ca Thánh và Những bài hát solo của ông đã bán được hơn 50 triệu quyển. Ông đã trở thành người ca sĩ tin lành dễ mến nhất trong thế hệ của ông.

 

“Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus trở lại về phía mé biển; cả dân chúng đến cùng Ngài, rồi Ngài dạy dỗ họ. Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con A-phê, đang ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người đứng dậy theo Ngài” (Mác 2.13-14).

 

29 tháng 8

VƯỢT NGỤC VỚI SỐ ĐÔNG

John Dick, con trai của vị luật sư ở Edinburgh, đã tốt nghiệp Đại học Edinburgh, ở đây ông đã học thần học với hy vọng trở thành một Mục sư Tin lành. Ông đã không làm được điều đó, vì ông có mặt giữa những người Trưởng Lão bị cho là phi pháp dưới thời trị vì của Charles II. Ông đã sống một đời sống trôi nổi cho tới khi bị phản bội bởi một phụ nữ về sau bị mất trí trong một tai nạn.

John bị đưa ra trước Toà Án vào ngày 29 tháng 8 năm 1638, bị kết án phản bội, và phải chịu treo cổ cho tới chết. Nhà tù khi ấy có hai xà lim rộng lắm, và John, bị quăng vào một trong hai xà lim ấy, thì thấy ở đó hai tá tù nhân khác nữa. Những người nầy hiệp lòng trong sự cầu nguyện, cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ khi họ hoạch định cuộc vượt ngục với số đông đó. Nhiều tin tức bị lộ ra, và những người thuộc hệ phái Trưởng lão trên khắp Edinburgh đã cầu thay cho sự việc được thành công. Vào đúng đêm đã định, họ bắt đầu chịu khó cưa những chấn song bằng sắt của cánh cửa số không kính kia.

Chấn song đầu tiên đã bị cắt đứt khoảng 9 giờ, nhưng trước sự kinh hãi của mọi người, trước khi có bất kỳ ai chạm đến nó, nó rơi xuống con đường hẹp cạnh lô cốt gát của lính. Họ đã nín thở, quan sát, rồi cầu nguyện, nhưng chẳng có tiếng chuông báo động nào vang lên cả. Họ tiếp tục công việc, thế rồi từng người một, họ tuột xuống từ cánh cửa sổ rồi biến mất trong đêm. Sáng hôm sau, sự lộn xộn nổi lên khắp thủ phủ Edinburgh. Cảnh sát, những người sáng lập thành phố, binh lính đều lấy làm lạ; nhưng không một tù phạm nào bị bắt trở lại cả – trừ ra John Dick. Ông đã hưởng được chỉ có 6 tháng trong sự tự do, ông sử dụng thời gian ấy để viết  quyển sách 58 trang nói tới: “Làm chứng Đạo, Thờ phượng, Kỷ luật, và Giáo quyền của Hội thánh xứ Tô cách Lan và Công tác cải chánh trong Ba Nước”, mặc dầu với đề tựa cồng kềnh ấy, quyển sách đã được truyền bá rộng rãi. Thế rồi, quyển sách của ông đã hoàn tất, ông bị bắt trở lại; và trên đoạn đầu đài ông đã hát Thi thiên 2, đọc Êxêchiên 9 và đã giảng bài giảng cuối cùng của mình, nói rằng: “Đây là củi, đây là lửa, nhưng con sinh ở đâu?” John Dick xây trở lại liếc nhìn giá treo cổ, ông nói: “Bây giờ, Chúa đáng chúc phước thay, đây là con sinh”.

 

“bắt các sứ đồ bỏ vào khám công. Nhưng đang ban đêm, có một thiên sứ của Chúa mở cửa khám cho sứ đồ ra” (Công vụ các Sứ đồ 5.18-19).

 

30 tháng 8

HAI NHÀ TUẬN ĐẠO

                Cơ đốc giáo đã bắt rễ chắc chắn ở Bắc Phi vào thập niên năm 200, nhưng các Hoàng đế La mã đã đưa ra từng nổ lực để ngăn chận điều đó. Giữa vòng các mục tiêu của họ: một vị giám mục trong thành phố lớn cùng một vị Mục sư ở một thị trấn nhỏ. Vị Mục sư trên phố lớn là Thascius Caecilius Cyprianus, ông đã xây lưng lại với một sự nghiệp chính trị đầy hứa hẹn để làm đại biểu cho Đấng Christ. Mặc dù là một người mới trở lại đạo, Cyprian đã được tấn phong làm Giám mục xứ Carthage vào năm 248. Ông viết: “Sự biến đổi của cuộc sống trước đây của tôi là đã được rửa sạch bởi phần trợ giúp của sự sanh ra [phép báptêm] bằng nước, và sự sanh ra lần thứ nhì đã phục hồi tôi, khiến tôi trở nên một con người mới”.

Ông đã phục vụ trong 10 năm, lèo lái Hội thánh Carthage qua những ngày giông tố của sự bắt bớ. Khi ấy, Hoàng đế La mã Decius đã ra lịnh thanh toán tất cả những giám mục lãnh đạo Cơ đốc. Những tin tức cho hay về các giám mục bị hành quyết tại Rome, Jerusalem, Antioch, Caesarea. Kế đó những binh lính cũng đến để bắt Cyprian nữa. Ông bị chặt đầu vào ngày 30 tháng 8 năm 258.

                Vài năm sau, trong sự trị vì của Hoàng đế Diocletian, một vị Mục sư ở vùng quê bên ngoài Carthage đối mặt với nguy cơ tương tự. Sự bắt bớ do Diocletian chỉ đạo là sự bắt bớ tệ hại nhất trong tất cả những sự bắt bớ. Nhiều nhà thờ bị hủy diệt, nhiều quyển Kinh thánh bị đốt, và những quyền dân sự của Cơ đốc nhân đều bị hủy hoại hết. Diocletian đòi mọi người phải dâng của lễ cho các tà thần. Khi các quan toà người La mã đến tận ngôi làng, họ triệu tập các Cơ đốc nhân lãnh đạo lại rồi truyền cho họ phải giao nộp các quyển Kinh thánh. Nhiều tín đồ đáp rằng Mục sư Felix đã mang theo hết trong tài sản của ông, và hiện ông đã đi Carthage rồi. Khi Felix trở về vào ngày hôm sau, ông bị điệu đi bởi những tốp lính, họ đòi ông phải giao nộp các quyển Kinh thánh.

Ông từ chối, ông nói với họ: “Thà là tôi đốt tôi còn hơn là đốt quyển Kinh thánh”. Họ cho ông ba ngày để xem lại câu trả lời, rồi đưa ông đến thẩm vấn ở Carthage, họ đề nghị ông nên tránh tình thế khó xử bằng cách đưa ra một vài quyển Kinh thánh và giao nộp chúng.

Felix từ chối. Ông nói: “Tôi có nhiều quyển Kinh thánh lắm, nhưng tôi sẽ không giao nộp chúng”. Ông được lính hộ tống vào xà lim thấp hèn nhất trong nhà tù bẩn thỉu nhất của thành phố trong một tháng đau khổ, rồi lên tàu sang Ý bị trói chặt trong xiềng xích nặng nề. Ông qua đời trên đường đi đúng ngày 30 tháng 8 năm 303, trong khoang nhốt ngựa của con tàu.

 

“Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi. Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau vậy. Ví bằng người đời ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi” (Giăng 15.16-18)

 

31 tháng 8

ĐOÀN KẾT

                Không một ai đóng vai trò lớn lao trong sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Âu hơn Karol Wojtyla xứ Krakow. Trong cuộc chiếm đóng của quân Phát xít tại Ba lan, Wojtyla đã tham dự một chủng viện Công giáo dưới lòng đất bằng cách tránh né những cuộc tuần tra quân sự và dự các lớp học kín ở những tu viện, nhà thờ, và tư gia. Cho tới khi ông tốt nghiệp, mặc áo dài hàng giáo phẩm, rồi đi tới một ngôi làng Ba lan nhỏ để phục vụ trong vai trò một linh mục. Đồng thời, những người cộng sản, đã thay thế quân Phát xít như những kẻ áp bức Đông Âu; nhưng với lòng dũng cảm, Wojtyla đã thi hành lễ báptêm, nghe những lời xưng tội, đã làm lễ Mass, ngăn chận cảnh sát mật, và đã cản trở các giới cầm quyền.

Nhiều năm tháng trôi qua, rồi đến năm 1978, vị linh mục của làng quê kia đã trở thành vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải là người Ý trong 456 năm – John Paul II. Trong một cuộc dạo chơi ngoài trời lần đầu tiên của ông, vị tân Giáo Hoàng đã nghe thấy có ai đó trong đám đông hô lên: “Đừng quên Hội thánh thầm lặng nhé!” (nghĩa là, Hội thánh dưới thời chủ nghĩa Cộng sản). John Paul đáp: “Đấy không phải là Hội thánh Thầm Lặng nữa đâu, vì nó đang nói ra bằng giọng của nó”.

John Paul không lâu sau đó đã trở lại Warsaw trong sự đắc thắng, ở đây chiếc máy bay của ông đã đáp trên sự phản kháng của nhà lãnh đạo Sôviết Leonis Brezhnev. Cả một đại dương nhiều khuôn mặt đã ra đón ông ở khắp mọi nơi, họ khóc, cầu nguyện, hô hào. Các cấp lãnh đạo Cộng sản ở nước Nga và Ba lan đã run rẩy khi họ nghe ông phát biểu: “Hỡi anh chị em yêu dấu, anh chị em phải mạnh mẽ với sức lực tuôn tràn ra từ đức tin”. Không cứ gì phải sợ hãi nữa. Những đường biên giới phải được mở toang ra”.

Trong vòng một năm, nhiều cuộc đình công tự phát đã xảy ra trên khắp xứ Ba lan; và ở Gdansk, Lech Walesa người ta đã đứng lên và tuyên bố đình công trong những xưởng đóng tàu. Trở về lại Vatican, John Paul đã quan sát, cầu nguyện, và trao đổi với một nhóm khách hành hương người Ba lan ở quảng trường Saint Peter, ông nói: “Tất cả chúng ta ở đây tại Rome phải kết hợp với đồng bào của chúng ta tại Ba lan”, và ấn dấu chúc phước của ông trên những vụ đình công. Trong vòng một tuần lễ, những người Cộng sản đã đưa ra những sự nhượng bộ lịch sử, và đúng ngày 31 tháng 8 năm 1980, hiệp định Gdansk được ký kết, cho phép sự thống nhất độc lập lần đầu tiên ở Đông Âu. Chẳng có một sai sót gì trong vai trò của Giáo Hoàng người Ba lan, vì Lech Walesa đã ký những giấy tờ khi sử dụng ngòi viết sắc sảo của Vatican có hình ảnh nổi bật của John Paul II.

Bức màn sắt đã cáo chung.

 

“Sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há chẳng phải là bẻ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẻ gãy mọi ách, hay sao? Há chẳng phải là chia bánh cho kẻ đói, đem những kẻ nghèo khổ đã bị đuổi đi về nhà mình, khi thấy kẻ trần truồng thì mặc cho, và chớ hề trớ trinh những kẻ cốt nhục mình, hay sao?” (Êsai 58.6-7).

 

 

  

 

 

Tags: #ThuVienOnline#VaoNgayNay
Previous Post

Vào Ngày Này | Tháng Bảy

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Chín

Admin

Admin

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Chín

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In