1 Tháng Chạp
GIÔNG TỐ TRÊN CANTERBURY
Henry II là một trong những vị vua nổi bật nhất của nước Anh, ông rất năng động và tài giỏi. Thế nhưng ông đã nổi tiếng vì cuộc tranh luận với người bạn thân là Thomas Becket. Becket ra đời ở Luân đôn vào năm 1118. Cha của ông là một tay viễn chinh, mẹ ông là một công nương. Ông có vẽ bề ngoài tương đương với Henry — đẹp trai, cao ráo, thông thái, niềm nở, tráng kiện, và lanh lợi. Henry bổ nhiệm Becket, 37 tuổi, làm Thủ Tướng của nước Anh, địa vị cao nhất trong nước, và trong 7 năm, Becket đã sống trong huy hoàng, đi đó đi đây khắp nơi, và đã cai trị dân bằng quyền lực. Ông đã trở thành một vị vua trên thực tế, là tay thân cận nhất của Vua Henry.
Đến năm 1162, Vua Henry muốn bổ nhiệm Thomas là Tổng Giám Mục của xứ Canterbury. Becket cảnh cáo Henry là Vua sẽ mất đi một người bạn, nhưng Henry cương quyết muốn ông làm đầu Giáo hội của Anh quốc. Sự thay đổi nơi Becket có ngay lập tức. Ông đã bán đi những bộ quần áo đẹp đẽ nhất của mình rồi ăn mặc rách rưới và sống lang thang qua các tu viện, đổ nhiều nước mắt vì các tội lỗi của mình trong quá khứ. Ông đã tự trừng phạt mình, đọc Kinh thánh và để nhiều thì giờ cầu nguyện. Rồi với sự kinh khủng của Vua Henry, Becket không ngừng có mặt bên cạnh Hội thánh chống lại Vương triều. Nhà vua nổi giận dữ, sau cùng đã trục xuất Becket ra khỏi nước.
Đến ngày 1 tháng Chạp năm 1170, Becket quay trở lại, gây chấn động trên khắp nước Anh. Vua Henry, càng giận dữ hơn, ông hô lớn: “Trước mắt của Đức Chúa Trời, có ai trong vòng triều thần cứu ta thoát khỏi tên linh mục đang gây náo loạn nầy hay không?” Có bốn vị Hiệp Sĩ gánh vác sự thách thức nầy, và đúng ngày 29 tháng Chạp, họ đã bắt được Becket tại bàn thờ trong giờ cầu nguyện buổi chiều. “Nhơn danh Đấng Christ và vì sự bảo vệ Hội thánh của Ngài, con sẵn sàng chịu chết”, Becket đã thốt ra trong lúc bị đánh đập tới tấp: “Lạy Chúa, xin tiếp lấy linh hồn con”. Những kẻ tấn công kia đã chém đứt đầu của ông, máu và óc của ông vọt ra sàn nhà. Một cơn giông bạo lực đã nổ ra trên ngôi giáo đường.
Thế giới Cơ đốc chao đảo với nổi kinh hoàng, và Vua Henry đã nhìn thấy làn sóng chống đối ông. Ông đã tìm cách tự hành xác hối lỗi với nhiều nước mắt, đi bộ qua những con đường cứng như đá của Canterbury với chân trần rướm máu. Ông đã bước vào giáo đường, hôn chỗ mà Becket nằm chết, rồi đặt đầu và đôi vai của ông lên ngôi mộ của Becket. Các linh mục đã quất roi da vào người của ông tại nơi đây. Nhưng phần còn lại trong cuộc đời của ông toàn là tai họa, và ông đã băng hà với tâm linh bị nghiền nát, với đời sống bị rủa sã.
“Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ; và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành. Người ta bẻ thăm trong vạt áo; song sự nhứt định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến” [Châm ngôn 16.32-33].
2 Tháng Chạp
NGUYỀN CUNG HIẾN CHÚA
Frances Ridley Havergal đã tiếp nhận Đấng Christ ở tuổi thanh niên, nhưng đã vật vã trong nhiều năm trời mong đạt tới sự đắc thắng Cơ đốc. “Tôi mong có một loại bình nguyên trải ra trên con đường tôi đi, tôi có thể bước đi một lát trong sự sáng, mà không có đá lởm chởm hay ổ gà, không có cao thấp hay lầy lội, không phải vấp váp; nhưng dường như tôi phải sống với những khó khăn của con đường cũ kỹ, với nhiều bực bội do tội lỗi gây ra. Tôi nghĩ gốc rễ của mọi rắc rối và xa cách của tôi: ấy là tôi chưa đem tấm lòng của mình đầu phục Đức Chúa Trời; cho tới chừng nào điều nầy được thực hiện tôi sẽ không biết được sự bình an. Tôi dám chắc như vậy đó”.
Cô đã tranh chiến từ độ hai mươi cho đến gần bốn mươi tuổi, bị dồn vào một hướng bởi sự ca ngợi của nhiều đám đông ở Luân đôn, họ vốn yêu mến giọng hát của cô; và ở một hướng khác bởi Đức Thánh Linh. Thế rồi một ngày kia ở tuổi 36, cô đọc một quyển sách có đề tựa “Hiến cả thảy cho Chúa Jêsus”, quyển sách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập Đấng Christ làm Vua từng góc cạnh của đời sống bạn. Francis đã thực hiện một sự dâng hiến trọn vẹn, tươi mới đối với Đức Chúa Trời. Nhiều năm về sau, em gái của cô hỏi han cô về sự dâng hiến ấy, và cô đáp: “Phải, đúng ngày Chúa nhật trước Lễ Giáng Sinh, 2 tháng Chạp năm 1873, trước tiên chị đã nhìn thấy rõ ràng ơn phước của sự dâng mình thành thực. Chị đã nhìn thấy phước ấy giống như tia chớp ánh sáng điện vậy. Cần phải đầu phục trọn vẹn trước khi nhận lấy đầy đủ ơn phước. Đức Chúa Trời tiếp nhận em từ sự đầu phục rồi Ngài mới ban phước cho. Ngài đã tỏ cho chị thấy điều nầy rất rõ ràng”.
Một thời gian ngắn sau đó, Frances để ra một vài ngày ở với 10 người, một số người trong họ chưa trở lại đạo, và một số khác trong đó là Cơ đốc nhân chưa đầu phục hoàn toàn. Cô đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin ban cho con mọi người đang ở trong ngôi nhà nầy”. Trước khi cô ra về, hết thảy 10 người đều là những Cơ đốc nhân biết đầu phục Chúa. Vào đêm cuối chuyến viếng thăm của cô, Frances, quá phấn khích đến nỗi không ngủ được, đã viết bài thánh ca có đề tựa là: “Consecration Hymn” [Nguyền cung hiến Chúa cả đời tôi, TC 231], bài hát đã trở thành lẽ đạo của đời sống cô. Cô đã xem trọng lời lẽ của bài hát và đã dùng lời hát đó mà cầu nguyện sốt sắng cứ mỗi lần 2 tháng Chạp, tạo ra nhiều sự thay đổi trong đời sống và lối sống của cô khi cần thiết. Câu thứ nhứt viết như sau:
Nguyền cung hiến Chúa cả đời tôi,
Thành tâm dâng tất cả muôn mối;
Cũng đem hết bao nhiêu năm ngày
Để khen ngợi Chân Chúa tôi nay.
“Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay … tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Galati 2.20).
3 Tháng Chạp
ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ ANH HÙNG
Đừng bao giờ đánh giá thấp ảnh hưởng của những vị anh hùng nơi con cái của bạn. Mười sáu tuổi Francis Xavier đã sang Pháp từ miền Bắc Tây ban Nha, ghi danh vào Trường Đại học ở Paris và tạo được tiếng tăm vì rất “quyến rũ, dí dỏm, nhã nhặn, mạnh mẽ, biết âm nhạc, dễ nhìn, thành công với nữ giới, và tự đắc…lõi đời cho tới ngày nọ anh gặp… Ignatius Loyola“. Loyola, xấp xỉ 15 tuổi, là đối tác của Luther, một người tìm cách cải chánh trong vòng Giáo hội La mã, cô tôn trọng mọi truyền thống và vị giáo hoàng của Giáo hội. Những sự tin quyết và nét quyến rũ của Loyola đã tác động Francis đến nỗi phần đời còn lại anh luôn quì gối khi viết thư cho Loyola hoặc đọc một thư hồi đáp. Hai người cùng nhau lập ra Hội Jesus vào năm 1534.
Đến thập niên 1530, Loyola và Xavier trong vai trò Linh mục cho thành Venice, ở đây họ đã giảng đạo và hoạt động trong các bịnh viện, làm các việc dơ bẩn mà chẳng một ai muốn làm, cọ rửa sàn nhà, lau chùi những vết dơ trong phòng ốc. Rồi với sự chúc phước của Giáo Hoàng John III, Xavier rời Âu châu trong vai trò giáo sĩ cho Đông phương. Sau khi đến tại Ấn độ vào năm 1542, anh đã đi xuyên qua xứ, ăn mặc thứ quần áo nghèo khó, tay không ngớt rung cái chuông nhỏ, và kêu gọi cư dân bỏ sự thờ lạy hình tượng mà quay sang Đấng Christ. Anh đã tập trung vào trẻ em, khuyên người đồng sự: “Tôi giới thiệu với anh phần dạy dỗ cho thiếu nhi…khi những người lớn chẳng có một sự thèm khát nào về thiên đàng cả”. Xavier lại hành trình sang Nhật bản, ở đây, anh sử dụng một lối tiếp cận khác, anh để mấy bộ đồ rách của mình qua một bên, mặc vào thứ y phục đắc tiền, rồi công khai tranh luận với các thầy tu Phật giáo. Nhiều người Nhật đã bước vào đức tin Cơ đốc, nhưng Xavier chưa thấy thoả mãn. Anh cảm thấy chìa khoá để chinh phục Nhật bản trước tiên là phải chinh phục cho kỳ được người Trung hoa; vì vậy anh bỏ hết mọi sự để sang Trung quốc. Nhưng trong khi chờ đợi được phép rao giảng cho một khán thính giả, với Hoàng đế Trung hoa, Xavier đã mắc phải sốt rét, yếu đi rồi ngã chết đúng vào ngày 3 tháng Chạp năm 1552.
Francis Xavier là tổ phụ của Hội truyền giáo Công giáo cận đại. Anh đã khởi sự sống như tay chơi xứ Paris, nhưng về sau trở thành một trong những nhân vật can đảm nhất trong lịch sử truyền giáo. Anh đã đặt nền cho công cuộc truyền giáo Công giáo ở Đông phương, và, giống như Phaolô, đã truyền giáo trong khoảng thời gian đúng 10 năm trời.
Đó là ảnh hưởng của một vị anh hùng.
“Ai giao tiếp với người khôn ngoan, trở nên khôn ngoan; Nhưng kẻ làm bạn với bọn điên dại sẽ bị tàn hại. Tai họa đuổi theo kẻ có tội; còn phước lành là phần thưởng của người công bình. Người lành lưu truyền gia sản cho con cháu mình; song của cải kẻ có tội dành cho người công bình” (Châm ngôn 13.20-22).
4 Tháng Chạp
“GIÁO PHỤ HY LẠP SAU CÙNG”
Khoảng 600 năm sau khi sứ đồ Phaolô trở lại đạo tại thành Đamách, có một cậu bé ra đời ở đó có tên là John Mansour. Đamách khi ấy bị người theo đạo Hồi cai trị, nhưng cha của John, thủ quỹ của Vua Abdulmeled Hồi giáo, là một Cơ đốc nhân đã đệ trình những phúc lợi của Hội thánh ra trước triều đình. John đã trở thành một Cơ đốc nhân và được một thầy tu người Ý dạy dỗ, cha anh đã chuộc vị thầy tu nầy ra khỏi vòng nô lệ. Anh rất xuất sắc ở trường, rồi nhơn sự chết của cha anh, anh được Vua Hồi chỉ định vào chức vụ cao.
Tuy nhiên, ngay khi ấy John cảm thấy Chúa kêu gọi anh bước vào chức vụ. Anh rời Đamách rồi đến định cư ở Tu viện Thánh Sabas nằm giữa thành Jerusalem và Biển Chết. Ở đó anh trở thành một linh mục, và anh sử dụng thì giờ vào việc nghiên cứu, viết lách, và làm các công việc khiêm nhường. Ngày húy kỵ của anh là ngày 4 tháng Chạp.
John mạnh mẽ bênh vực cách thờ lạy tranh tượng của giáo hội đông phương. Nhưng anh rất nổi tiếng vì phần tóm tắt toàn diện môn thần học. Anh đã hệ thống hoá thần học Hy lạp nhiều y như Thomas Aquinas đã tóm tắt và hệ thống hoá giáo lý theo tiếng La tinh 500 năm sau. Anh viết: “Giống như con ong, tôi đã thu thập mọi thứ đúng theo lẽ thật…Tôi không đưa ra những phần kết luận riêng của mình, nhưng tất cả đều đã được hình thành bởi những nhà thần học xuất chúng. Tôi đã tuyển chọn và đã tóm tắt lại những điều đó, hầu góp lại thành một luận án”.
John cũng viết nhiều bài thánh ca, và ai để thì giờ lật từng trang các quyển thánh ca xưa, sẽ thấy bài ca thánh phục sinh rất hay của ông, Come, Ye Faithful, bây giờ đã được 1400 tuổi. Lời lẽ của bài thánh ca nầy vẫn còn tô điểm nhiều hình ảnh đẹp trong lý trí của tôi:
Ngày nay là mùa xuân của nhiều linh hồn,
Đấng Christ đã phá tung ngục tù,
Rồi từ giấc ngủ chết trong ba ngày,
mặt trời đã mọc lên.
Tất cả mùa đông tội lỗi,
lâu dài và tăm tối, đã tan biến đi mất
Từ ánh sáng ấy,
chúng ta dâng lên sự ngợi khen, chúc tụng Ngài.
Halêlugia! Giờ đây chúng ta kêu cầu
cùng Vua Bất Tử của chúng ta
Ngài, đắc thắng, phá tung các chấn song
cánh cửa tối tăm của mộ địa;
Halêlugia! Ngợi khen Đức Cha cùng Đức Con,
Halêlugia! Một lần nữa ngợi khen Đức Thánh Linh.
“Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ. Vả, vì chưng bởi một người mà có sự chết, thì cũng bởi một người mà có sự sống lại của những kẻ chết” [I Côrinhtô 15.20-21].
5 Tháng Chạp
BÌNH AN VÀ YÊN TĨNH
Thánh Sabas ra đời vào năm 439 SC cho bố mẹ ông, tuy nhiên, họ lại chẳng muốn có ông. Cha của ông là một sĩ quan trong quân đội, đi đó đi đây rất nhiều, thường hay đem mẹ ông cùng đi. Sabas được giao cho một người chú nuôi dạy, người chú nầy hay ngược đãi ông lắm. Có mấy lần ông bỏ đi và khi được 10 tuổi, ông đã tìm sự bình an và yên tĩnh trong một tu viện. Ở đó, ông đã học biết về Chúa.
Mười năm sau, chàng trai du hành qua Jerusalem, dự tính sống theo các ẩn sĩ và các thầy tu tôn giáo trong vùng sa mạc Palestine. Thánh Euthymius khổ hạnh, trở thành vị tư vấn của ông, song lại từ chối mọi lời thỉnh cầu của ông xin được sống biệt lập hoàn toàn. Khi Sabas lên 30 tuổi, ông bắt đầu nài xin Euthymius một lần nữa muốn được sống thầm lặng. Lần nầy, ông được phép để ra 5 ngày một tuần trong một hang đá xa xôi để cầu nguyện và lao động hàng ngày. Mỗi tối Chúa nhựt, Sabas sẽ rời tu viện mang theo mấy bó nhánh chà là, và mỗi sáng thứ Bảy, ông sẽ trở về với 50 cái giỏ mà ông đã đan được.
Khi Euthymius qua đời, Sabas đã lui sâu vào trong sa mạc bên ngoài thành Giêricô, đi vào một cái hang gần khe Kít-rôn. Ông đến sống ở đó, hoàn toàn tách biệt khỏi mọi tiếp xúc với con người, trong nhiều năm trời. Nhưng rồi những khách hành hương đã đến quấy rối ông, họ đến cầu vấn, họ muốn trở thành môn đồ của ông. Sabas sau cùng đã ưng thuận và hình thành một cộng đồng những người tu khổ hạnh. Không lâu sau đó 100 ẩn sĩ đã cùng sống tách biệt. Sabas, khi ấy đã được 53 tuổi, được tấn phong làm linh mục. Nhiều bịnh viện và hàng quán mọc lên, và các tổ chức từ thiện được lập ra. Đến năm 493, Giáo Trưởng ở Jerusalem đã chỉ định Sabas làm đầu các ẩn sĩ ở xứ Palestine.
Sabas thấy mình được những thầy tu và giáo hội cần đến. Một số người Tin lành bị đe doạ, và Sabas trở thành người biện hộ rất có quyền lực cho chính thống giáo. Ông lên đường sang Constantinople để dạy mọi vấn đề về giáo lý cho Hoàng đế, và ông đã đi đây đi đó rao giảng đức tin và biện hộ cho chính thống giáo.
Ông được 91 tuổi khi ông thực hiện chuyến hành trình truyền giáo cuối cùng, ông đi ngược về lại Constantinople để can ngăn Hoàng đế về cuộc đàn áp chính trị trong xứ Palestine. Sứ mệnh của ông thành công, và ông trở về với cộng đồng tu sĩ của mình, ở đó ông ngã bịnh và xin được bình an và yên tĩnh. Ông đã nấn ná bốn ngày trong sự trống vắng và im lặng, rồi qua đời vào ngày 5 tháng Chạp năm 532 lúc được 94 tuổi.
“Có tiếng kêu la trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài. Mọi nơi sũng thấp sẽ lấp cho đầy, các núi các gò thì bị hạ xuống; đường quanh quẹo thì làm cho ngay, đường gập ghềnh thì làm cho bằng; và mọi xác thịt sẽ thấy sự cứu của Đức Chúa Trời” (Luca 3.4b-6).
6 Tháng Chạp
CON BÒ CÂM
Khả năng là điều khó có thể nhận ra bằng mắt thường được, đối với bộ óc đầy mưu lược. Thí dụ, ai có thể nghĩ rằng một cậu bé thầm lặng, béo phì, đi đứng cách nặng nề có biệt danh là “Con bò câm” sẽ trở thành một nhà thần học lỗi lạc của thời Trung cổ mà lập ra thần học Công giáo trong nhiều thế kỷ hầu đến?
Thomas Aquinas, ra đời trong giai cấp quí tộc khoảng năm 1225, đã ghi danh vào Trường Đại Học Naples ở tuổi 14. Gia đình ông khuyến khích ông theo đuổi chức vụ của giáo hội, nhưng họ lấy làm kinh khủng khi ông đoạn tuyệt cùng đẳng cấp truyền giáo có uy tín vì một lời thề khổ hạnh của dòng Dominican. Anh em ruột của ông đã bắt lấy ông, và ông bị họ nhốt tù trong 15 tháng. Các anh em của ông đã cám dỗ ông bằng tiền bạc rồi thuê một cô gái điếm đến làm cho ông phải đổi ý. Thomas sau cùng đã trốn thoát qua một cánh cửa sổ rồi trốn sang Paris, ở đó ông thụ huấn vị giáo sư tài ba là Albertus Magnus.
Hai thế lực trí tuệ đã áp đảo vào các trường lớp trong thời buổi đó. Thế lực thứ nhứt là thần học theo truyền thống; còn thế lực kia, là Aristotle và những học giả phi Cơ đốc như Averroes và Avicenna, những người theo đạo Hồi. Phần nhấn mạnh lý luận của các triết gia dường như làm sụt giảm phần nhấn mạnh của thần học về đức tin. Thomas quyết định nối cả hai thế lực nầy lại. Ông nói: “Mọi lẽ thật đều là tư tưởng”. Tác giả của Sự Sáng Tạo là Tác giả của Kinh thánh, vì thế sự kiện thật và đức tin thật không hề xung khắc với nhau. Tuy nhiên, chỉ riêng lý luận thôi thì chưa đủ. Sự mặc khải, thần học, và các lẽ đạo nói tới đức tin đều chỉ cho chúng ta thấy Ba Ngôi Đức Chúa Trời nằm ở trong chi tiết rộng lớn hơn.
Trí tuệ cao của Thomas được sự tinh thông của toà giảng kèm theo. Đôi khi ông phải dừng lại ở giữa bài giảng, dành cho hội chúng thì giờ phục hồi lại từ chỗ họ khóc lóc. Đời sống cầu nguyện của ông còn mạnh mẽ hơn nữa. Một người bạn cho biết: “Mỗi lần ông muốn nghiên cứu, bàn bạc, dạy dỗ, viết lách, hay phát biểu, trước tiên ông tiếp lấy năng lực từ sự cầu nguyện riêng, ông khóc lóc trước mặt Đức Chúa Trời hầu khám phá ra những lẽ mầu nhiệm thiêng liêng”.
Vào ngày 6 tháng Chạp năm 1273, trong khi chuẩn bị rao giảng trong thánh đường Thánh Nicholas, một kinh nghiệm bí nhiệm đã đến trên ông. Thomas chưa hề viết môn thần học. Ông nói với người hầu: “Tôi không thể viết được. Những việc ấy tỏ ra cho tôi thấy rằng mọi thứ mà tôi đã viết đối với tôi dường như là rơm rác thôi. Giờ đây tôi chờ đợi sự cuối cùng của cuộc đời mình”.
“Vả, nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời. Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời” (I Côrinhtô 2.11-12).
7 Tháng Chạp
DÒNG DÕI TRUNG TÍN
James Taylor, là dân quê người Anh vào thế kỷ thứ 18, đã thù ghét những nhà truyền giáo lưu động của Wesley, ông xem họ chẳng ra gì hết trừ phi họ là mục tiêu cho những quả trứng thối của ông. Thế nhưng ngày nọ khi ông nghe một trong các nhà truyền đạo trưng dẫn Giôsuê 25.15: “nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va”. James, sắp sửa lấy vợ, thì bị câu Kinh thánh ấy tác động mạnh. Trong ngày thành hôn của ông, ông đi sâu vào những cánh đồng với sự cáo trách và đã cầu nguyện thật lâu đến nỗi ông đến đám tiệc muộn lắm. Khách khứa và cô dâu đã bị sốc khi ông tuyên bố mình đã trở thành Cơ đốc nhân. Một thời gian ngắn sau đó, nặng lòng vì đời sống mới của mình, ông đã bồng nàng lên, đưa nàng vào trong giường ngủ, rồi buộc nàng phải quì gối xuống, ở đó nàng cũng trở thành Cơ đốc nhân nữa.
Đức tin của họ chuyển từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, cho tới chừng đức tin ấy chuyển đến người cháu nội của họ là James Hudson Taylor, là người đã sáng lập Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa [The China Inland Mission] và mở cánh cửa Tin Lành ra cho Nước Trung Hoa.
Cháu nội của ông, James Hudson Taylor II, tiếp tục di sản kế thừa bằng cách đưa gia đình mình sang Trung Hoa trong vai trò giáo sĩ trong những ngày tháng trước Đệ Nhị Thế Chiến. Trường nội trú thiếu nhi được dựng lên trong một thành phố của người Hoa cách bố mẹ họ 1000 dặm đường, và họ đã đến đấy đúng vào ngày 7 tháng Chạp năm 1941, lúc các phi cơ Nhật bản tấn công Trân Châu Cảng. Khi tin tức đến tận tai Bà Taylor, bà bị dằn vặt trong sợ hãi rồi quì gối xuống, kêu khóc không thể cầu nguyện được. Khi bà khóc lóc, lo lắng, một phần của câu Kinh thánh Mathiơ 6.33 thoạt đến trong lý trí: “Nếu ngươi lo công việc của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ lo việc của ngươi”.
Cùng lúc ấy, cách đấy xa lắm, bốn đứa con của Taylor bị giữ ở một trại tập trung trong vùng quân Nhật chiếm đóng: “Đức Chúa Trời là nơi nương náu của chúng tôi, nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, là sự giúp đỡ trong lúc gian nan”. Mấy đứa trẻ đã bị giam giữ hơn 5 năm trời, cho tới lúc chúng được quân đội Mỹ giải thoát rồi cho hội hiệp với bố mẹ.
Một trong mấy đứa trẻ đó là James Hudson Taylor III, lớn lên trở thành Hội Trưởng Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa (bây giờ là Hội Truyền Giáo Thông Công Hải Ngoại) [Overseas Missionary Fellowship] — cháu nội của cháu nội của người đã quyết tâm trong ngày cưới của mình: “nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va”.
“Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giêhôva, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân Amôrít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giêhôva” (Giôsuê 24.14-15).
8 Tháng Chạp
Ý TRỜI
Ông là người thuộc giáo hội Anh, rồi là một người thuộc Thanh Giáo, kế đó là một người Báptít, và rồi là một “người mưu cầu”. Ông đã tranh luận với các nhà lãnh đạo dân sự, các cấp lãnh đạo trong Hội thánh, và đem lòng yêu mến người da đỏ. Ông lập một khu kiều dân Mỹ và một Hội thánh Báptít đầu tiên trên đất Mỹ. Trước hết, ông đã tin cậy vào quyền tể trị khôn ngoan của Đức Chúa Trời nhiều đến nỗi ông đã đặt tên một thành phố để tôn vinh sự khôn ngoan ấy.
Ông là ai? Ông là Roger Williams, chào đời khoảng năm 1603 ở nước Anh. Ông lớn lên ở Luân đôn gần một quãng trường ở trước mặt nhà tù Newgate, sát ngay hiện trường hành quyết các tội phạm trọng án. Chàng thanh niên Roger đã chứng kiến nhiều cuộc hành quyết, và ông đã thấy căm thù sự bắt bớ những người có niềm tin dị biệt tôn giáo. Những điều có trong ông càng sâu sắc hơn khi, là một thanh niên 18 tuổi, ông đã làm việc trong vai trò thư ký ghi chép ở một toà án Anh quốc, lo sao chép các vụ án bắt bớ kẻ theo dị giáo. Lúc bấy giờ Williams tốt nghiệp từ Đại học Cambridge, ông là một nhà truyền đạo năng nổ và là một người biện hộ không ngừng nghỉ cho quyền tự do tôn giáo.
Đến năm 1630 dưới triều đại của Vua Charles I, chiến dịch chống lại những kẻ không phải là người theo Anh giáo đã lên tới đỉnh cao, và Williams rất tức giận bởi sự ngược đãi bạn của ông, Tấn sĩ Alexander Leighton, một người theo Thanh Giáo — tù chung thân, lao động khổ sai, cách chức, đánh đòn công khai, cắt hai tai, xẻo hai bên mũi, và khắc hai chữ SS lên mặt (vì “Sower of Sedition” [là người gieo sự loạn lạc]).
Với cơn giận công bình đó, Williams bắt đầu rao giảng và viết lách chống lại sự nối kết của giáo quyền và nhà cầm quyền cùng những chính sách ép buộc và bắt bớ của họ. Khi thấy mình quá liều lĩnh, ông nhận lấy lời mời từ những người theo Thanh Giáo ở Boston và bí mật lên tàu sang Mỹ vào ngày 8 tháng Chạp năm 1630. Nhưng ông thấy các cấp lãnh đạo Thanh Giáo ở Mỹ cũng không khoan thứ về mặt tôn giáo. Họ cũng tìm cách áp đặt các tín điều của họ qua sự ép buộc theo luật pháp. Một tối kia, các tin tức cho ông hay rằng nhà cầm quyền đang mưu tính bắt ông rồi xiềng ông lại trả về Anh quốc. Ông tự gói ghém đồ đạt chống lại cơn lạnh, ông trốn qua băng tuyết vào lãnh thổ của người da đỏ. Trên bờ biển Vịnh Narragansett, ông đã mua đất từ những người da đỏ rồi ở đó ông thiết lập một khu định cư, đặt tên khu đất nầy là Providence [Ý Trời], ở đó mọi người có thể thờ phượng trong sự tự do. Ở đó, ông thiết lập Hội thánh Báptít đầu tiên trên đất Mỹ. Và ở đó ông đã dựng lên khu kiều dân Rhode Island.
“Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhơn danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy. Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi” (Luca 9.49-50).
9 Tháng Chạp
ĐỘI MỘNG MƠ
Họ được gọi là đội truyền giáo Mộng Mơ [the Dream Team], bảy chàng thanh niên thuộc tầng lớp quí tộc đến từ Cambridge, họ đã làm cho nước Anh phải choáng váng bởi sự đoạn tuyệt với danh tiếng và cơ may để hầu việc Đấng Christ trong vai trò giáo sĩ ở Á châu cùng với Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa. Diễn giả lỗi lạc nhất giữa vòng họ là Stanley Smith, anh đã đạt được tiếng tốt là đội trưởng đội thuyền chèo của Cambridge. Charles T. Studd, đội trưởng đội cricket của Cambridge, là một diễn giả không hay lắm, nhưng bề ngoài rất hấp dẫn và oai vệ. Smith, Studd, cùng với năm người bạn của họ băng qua quần đảo Anh quốc, rao giảng Đấng Christ và kích động những hội truyền giáo, cùng bước theo chuyến đi của họ vào công trường truyền giáo. Họ là một sự kích động cho phương tiện truyền thông đại chúng.
Đến ngày thứ Ba, 9 tháng Chạp năm 1884, Smith và Studd đến tại Edinburgh để giảng đạo cho các sinh viên tại trường đại học ở đó. Họ đã ở lại suốt đêm trong các ngôi trường khác nhau, cầu nguyện và trao đổi với nhiều sinh viên, và đã ở trong tâm trạng “sợ vì mình đã gây ra tai vạ”, theo như Studd về sau mô tả lại. Những nhà tổ chức đã thuê Sảnh Đường Free Assembly, phân phối nhiều tờ truyền đạo đơn, cùng treo nhiều tấm áp phích bên lề đường cho ai nấy đều nhìn thấy. Đã có hai nỗi sợ. Một số người sợ rằng một vài sinh viên Tô cách Lan có tính phê phán sẽ quậy phá; những người khác đều sợ các buổi nhóm sẽ bị phá bởi những kẻ hay cật vấn, sinh sự. Stanley và Smith đã dành ra cả buổi trưa để cầu nguyện: “cho tới chừng họ cảm thấy sự đắc thắng”.
Toà nhà chật ních người trước giờ ấn định, rồi khi hai vận động viên bước vào sảnh đường, họ được mọi người cổ vũ lớn tiếng. Studd đã giảng trước. Những phần bình luận của anh được mọi người hoan hô nhiệt liệt, còn sự anh tôn kính Đấng Christ đã làm động lòng cả đám đông. Tiếp đến Smith giảng về tình trạng giả hình của Cơ đốc nhân thiếu sự đầu phục trọn vẹn. Bầu không khí căng thẳng với quyền phép thuộc linh, và khi Smith giảng xong, có nhiều sinh viên vây lấy anh, họ muốn nghe thêm nữa về Đấng Christ và về Sứ Mệnh Cao Cả. Cuối buổi tối đó, hai thanh niên nầy về đến trạm xe điện ngầm và thấy trạm đầy những thanh niên, họ hô lớn: “Hãy giảng nữa đi! Hãy giảng nữa đi!” Khi chiếc xe điện ngầm chạy ra khỏi ga, các sinh viên vừa hát vừa chạy theo: “Nguyện Chúa ở cùng hai anh cho tới chừng chúng ta gặp lại nhau”.
Bảy Chàng Trai Cambridge dấn thân vào Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa (và các hội truyền giáo hải ngoại, nói chung) trước sự chú ý của thế giới. Khi họ đến Trung quốc vào năm 1885, Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa đã có 163 giáo sĩ ở đó. Cho tới năm 1900, đã có tới 800 giáo sĩ.
“Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” [Mathiơ 24.14].
10 Tháng Chạp
SỰ BỀN ĐỖ
Môise đã bền đỗ, Hêbơrơ 11 chép, vì ông đã thấy Đấng không thấy được. Từ ngữ bền đỗ [perseverance] ra từ tiếp đầu ngữ “per” có nghĩa là “qua” [through] và “khắt khe” [severe] — bởi đức tin vượt qua các cảnh ngộ khắt khe. Thí dụ, hãy xem Marcus và Narcissa Whitman, hai vị giáo sĩ cho những người Mỹ bản xứ ở phía Tây Bắc nước Mỹ.
Marcus, ra đời ở Nữu Ước vào năm 1802, đã trở lại đạo và nhóm lại với Hội thánh Trưởng Lão. Anh học ngành y và cảm thấy Đức Chúa Trời kêu gọi anh trong vai trò bác sĩ giáo sĩ cho người da đỏ ở phía Tây. Bạn gái của anh là Narcissa, đã chia sẻ gánh nặng của anh, rồi đúng sau ngày cưới họ đã lên đường sang Oregon. Narcissus trở thành người nữ da trắng đầu tiên băng ngang qua nước Mỹ; và nàng thấy khiếp sợ bởi nét tráng lệ nơi sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Tấm lòng nàng đã đặt vào một chuyến phiêu lưu rộng lớn, và ở đó, giữa khu vực Elkhorn và Loup, nàng đã có thai.
Sau 2000 dặm đường gian nan, gia đình Whitman đã đến tại Oregon, họ định cư giữa vòng bộ tộc Cayuse rất hung dữ. Marcus dựng một túp lều cho anh và người vợ đương có thai, rồi đúng ngày 10 tháng Chạp năm 1835, họ đã bắt tay vào việc. Alice con gái họ đã ra đời ba tháng sau đó.
Marcus và Narcissa cùng nhau làm việc cho đến kiệt lực, họ xây dựng một trung tâm truyền giáo, phát triển nông nghiệp, chữa trị cho người bịnh, và chia sẻ đức tin của họ. Sự khó nhọc và buồn rầu đã phủ lút họ thật là không thể tin nổi. Họ đã làm việc quá tải, mệt mỏi, và đôi khi họ đã ngã lòng. Các mối tương giao của họ với những vị giáo sĩ khác đã trở nên xấu đi. Tệ hơn hết, bé Alice, ngày nọ khi được hai tuổi, cứ đi lang thang khi bố nó đang đọc Kinh thánh, nó ngã vào dòng nước gần đó rồi bị cuốn trôi đi. Nhưng gia đình Whitman vẫn cứ tiếp tục công việc, họ phục vụ cho các trẻ mồ côi, cho người đau bịnh, và cho bất kỳ người nào chịu nghe với sự vô kỷ.
Sự làm việc đó khiến cho họ phải trả giá bằng mạng sống của mình. Năm 1847, có vài người da đỏ ngã chết vì sự lây lan của bịnh sởi, và người ta đã đổ thừa cho Marcus. Vào cuối một ngày tăm tối mùa thu, hội truyền giáo bị một nhóm người Cayuse tấn công. Marcus và Narcissa đã bị đập bằng lưỡi rìu mà chết, cùng với một tá nhân sự. Thế nhưng Tin lành đã được gieo ra ở đường biên giới nước Mỹ bởi một đôi vợ chồng luôn giữ lòng trung tín qua các hoàn cảnh nghiệt ngã. Họ đã bền đỗ, đã nhìn thấy Ngài là Đấng không thấy được.
“Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được. Bởi đức tin người giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên. Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển đỏ như đi trên đất khô” [Hêbơrơ 11.27-29].
11 Tháng Chạp
CHÍN CÁI RĂNG CHÓ DẠI
Susan Talbott Wengatz, Giáo sĩ thuộc hệ phái Giám Lý ở Malange, Angola, khởi sự ngày thứ Tư, 11 tháng Chạp năm 1929, bằng cách đi tản bộ trong ngôi vườn nhà mình, thưởng thức mùi hương của những đoá hồng và vẻ rực rỡ của ánh sáng mặt trời. Bà đã thu thập được một số hoa, rồi quay trở vào nhà để chuẩn bị cho lớp học Kinh thánh buổi sáng. Đột nhiên, bà trông thấy một con chó thật to đang phóng mình hướng về bà. Susan kêu lên: “Shoo! Shoo! Quay trở lại đi!”
Nhưng con chó vẫn nhe răng gầm gừ giận dữ, rồi lao tới. Susan bỏ rơi bó hoa xuống đất rồi vòng hai cánh tay che lấy khuôn mặt. Con chó đâm bổ vào bà, cắn chặt chín cái răng lởm chởm vào da thịt bà. Ông Wengatz vội vã đưa vợ mình vào một nhà thương gần đó, nhưng không có một giọt huyết thanh chống bệnh dại nào ở đó hết. Họ vội chạy sang một bịnh viện khác. Không có huyết thanh. Họ vội vàng ra tới cảng thì thấy một chiếc tàu đang rời xứ, những chiếc khác đều đã đi hết. Họ quyết định lái xe đến vùng Congo của người Bĩ, nhưng trời đổ mưa nặng hạt và đường xá bị xoá sạch.
Gửi điện tín nhanh cho Lisbon, Capetown, Johannesburg, và xứ Congo, ở đó các dược sĩ mau chóng đóng gói và gửi tới nhiều thùng huyết thanh chống bịnh dại. Những ngày chờ đợi khó chịu nổi đã trôi qua khi các Hội thánh địa phương trong xứ Angola khóc lóc, kiêng ăn và cầu nguyện. Vì những lý do khác nhau lượng huyết thanh đã bị chậm trễ khi được chuyển tới. Đồng thời Susan không cảm thấy đau đớn hay bịnh tật chi cả. Những vết thương của bà đã lành, và bà đã trở lại với công việc như thường lệ. Khi một trong các thùng huyết thanh sau cùng đã đến, bà bắt đầu chịu chích thuốc.
Một tháng sau khi bị tấn công, Susan thấy chồng bà vào trong một cửa hàng kia, bà nói với ông: “Hôm nay em thấy bị đau nhức quá anh ơi!” Cơn đau càng lúc càng tệ hơn, và bà phải lên giường nằm. Bà sa sút một cách nhanh chóng. Bà thì thào: “Em nghe thấy tiếng nhạc của thiên đàng. Em nhìn thấy Chúa Jêsus. Hãy nắm lấy cái neo của em. Có phải cũng là cái neo của anh không? Em sẽ gặp anh vào lúc ban mai. Còn bây giờ em sẽ ngủ trong danh của Chúa Jêsus”.
Không một ai hiểu lý do tại sao Đức Chúa Trời đã cho phép một con chó thật to ấy bước vào ngôi vườn của Susan Wengatz vào buổi sáng hôm ấy vào năm 1929. Ngài cho phép chúng ta nhìn thấy những câu hỏi thật khó mà trả lời được — đúng là đức tin. Nhà truyền đạo phương Nam, Vance Havner, hâm nóng những điều không lường trước được tương tự vậy, đã nói về việc: “bị chìm đắm trong Đức Chúa Trời và bị kẹt nơi Đấng Toàn Tri”. Charles Spurgeon nói về điều nầy như sau: “Khi chúng ta không thể lần đâu được bàn tay của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể tin cậy nơi tấm lòng của Ngài”.
“Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết…. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống mà tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” [Giăng 11.21, 25-26a].
12 Tháng Chạp
KẺ KHÁT – MÁU VÀ SỮA
Lịch sử chứa đầy những cái tên khó ưa, những kẻ đã uống máu như suối với thú tánh giống như ma quỉ vậy. Giữa vòng những kẻ đó là Tướng lãnh người Tây ban Nha Fernando Alverez de Toledo, vị Công Tước xứ Alva, tính độc ác của ông ta chỉ có thể mô tả là bản tánh của ma quỉ mà thôi.
Ông ta ra đời trong một gia đình Tây ban Nha quí tộc vào năm 1508, vào lúc bắt đầu của Công Cuộc Cải Chánh. Ông nội của Tướng lãnh nầy là Frederick ở xứ Toledo, đã chăm sóc thời thanh niên và đã huấn luyện ông ta trở thành một người lính, một chiến binh, cứng rắn giống như sắt thép vậy. Ông ta đã tham dự trận chiến đầu tiên của mình lúc được 16 tuổi và đã trở thành một nhà quân sự lão luyện và rất xảo quyệt. Là một vị Tướng lãnh, ông ra rất nổi bật; nhưng giống như vị Tổng Tham Mưu Trưởng của mình, là Philip II xứ Tây ban Nha, Fernando cũng rất xảo quyệt, cuồng tín, độc dữ, và chẳng có lòng thương xót.
Công cuộc cải chánh, đặc biệt là hệ phái Calvin, đã tìm được vùng đất phì nhiêu ở Hà lan, vì ở đây Kinh thánh đã được phiên dịch sang thổ ngữ trước đó mấy năm. Nhưng xứ sở Hà lan nằm dưới quyền cai trị của Tây ban Nha cùng vua Philip đáng ghét kia. Vua Philip đã dựng lên Toà Án xét xử Dị Giáo ở Hà lan, khiêu khích một cuộc nổi loạn, và trong năm 1567 đã sai Công Tước xứ Alva với 10.000 binh lính vào Hà lan để dập tắt Công cuộc cải chánh, hòng tiêu diệt tình trạng “dị giáo Tin Lành” và nắm lại quyền cai trị trên dân chúng ở đó.
Trải qua sáu năm kế tiếp, 6.000 người ở vùng bình nguyên đã bị kết án tử hình tại “Hội đồng Huyết”[Council of Blood] của vị Công Tước nầy. Có người ước lượng con số tổng cộng là 100.000 người, kể cả phụ nữ và trẻ em. Một sử gia cho rằng có nhiều Cơ đốc nhân đã mất mạng trong cuộc thanh toán đẫm máu nầy so với hết thảy những cuộc bắt bớ của người La mã trong 300 năm đầu tiên của lịch sử Hội thánh. Xứ Alva đề ra nhiều thứ thuế hà khắc, huỷ diệt nền kinh tế của xứ Hà lan, xâm phạm quyền tự do dân sự, hành hình nhiều công dân, và khuyến khích một cuộc chiến tranh dành độc lập kết thúc 80 năm cai trị.
Tuy nhiên, gieo gì thì gặt nấy. Đến năm 1580, xứ Alva buộc phải chống nghịch với xứ Bồ đào Nha. Ông ta đã chiến thắng, nhưng trên đường trở về, một cơn sốt đã phát triển. Một thứ linh tính tối tăm tự nó kéo đến quanh ông ta giống như một bức màn vậy. Cuộc đời của ông ta bị xuống dốc nhanh như cát chảy qua tấm kính, và con người đã nốc máu của nhiều Cơ đốc nhân đang nằm trong đau khổ bất lực, chỉ có thể nhắp từng hớp sửa được vắt từ ngực của một phụ nữ.
Đúng ngày 12 tháng Chạp năm 1582, linh hồn ông ta đã bị đòi lại.
“…ai cày sự gian ác, và gieo điều khấy rối, thì lại gặt lấy nó. Bởi hơi thở Đức Chúa Trời, chúng bèn hư mất, tại hơi xịt giận Ngài, họ bị tiêu hao đi. Chúng có thể gầm rống giống như sư tử tơ. Nhưng khi Đức Chúa Trời bẻ răng chúng, chúng liền bị đói” [Gióp 4.8b-11a].
13 Tháng Chạp
ẨN DẬT – GIÁO HOÀNG
Peter ở xứ Morone vốn thèm khát một đời sống ẩn dật. Học thuyết khổ hạnh của ông đã hấp dẫn nhiều người khác, rồi đến năm 1254, ông đã sáng lập một dòng tu mà ai cũng biết là dòng Tu kín của Thánh Damian. Ông đến sống như một người ẩn dật trong hang động trên núi cho tới 80 tuổi.
Trong khi đó ở Rôma, Giáo Hoàng Nicholas IV qua đời và các viên chức trong giáo hội đã để ra 27 tháng lo tìm chọn người thay thế. Không cùng một ý, sau cùng họ đã đưa tên của Peter ra trong một cái nón. Ba vị Giám mục đã đi 150 dặm đường và vượt qua sườn rặng núi đá lởm chởm của ẩn sĩ để nói cho ông biết về sự người ta chọn lấy ông. Đổ mồ hôi và thở hổn hển, từng cm một họ leo quanh rìa hẹp của ngọn núi và phát hiện ra Peter đang tò mò nhìn qua song cửa làm tạm thời kia. Ông trông rất lôi thôi, mặt tái nhợt, đầu tóc rối xù, bịnh hoạn, già nua, và điếc lác.
Peter lấy túi đeo lưng, tự mình khoác lấy chiếc áo dài thắt ngang người, leo lên lưng một con lừa, rồi cùng đi với mấy vị Giám mục đó đến tại Aquila, nước Ý, ở đó ông được tấn phong trước mặt 2000 người. Ông đến ngụ tại thành Naples, tự nhận mình là Giáo Hoàng Celestine V. Ông xây một toà nhà nhỏ bằng gỗ để ở đó, và đi tới đi lui trong cung điện của mình miệng cắn từng mẫu bánh nhỏ.
Celestine chẳng biết gì về giáo quyền, các vụ việc trên thế giới, hay mưu mẹo chính trị. Những sự xét nét của ông càng lúc càng nhiều giống như loài thỏ vậy, không bao lâu sau đó ông thấy mình càng lún sâu trong vô vọng. Giáo hội lâm vào cảnh khủng hoảng. Ông kêu la: “Ôi Đức Chúa Trời ơi, trong khi con cai trị trên linh hồn nhiều người khác, con đánh mất linh hồn mình’. Giáo dân run rẩy trước sự lệch lạc của ông; và, theo một câu chuyện, Cardinal Gaetani sau cùng đã đẩy một cây sậy xuyên qua bức tường phòng riêng của Celestine rồi nói như một giọng nói phát xuất từ trời vậy, bảo ông phải từ chức đi vì đấy chính là ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Ở hành động phán quyết sau cùng của ông, Celestine đã phát ra một chiếu chỉ cho phép các Giáo Hoàng quyền thôi việc, rồi đã làm cho thế giới phải bị sốc bằng cách từ chức đúng vào ngày 13 tháng Chạp năm 1294, 15 tuần lễ sau khi ông đăng quang. Sự thể giải thích rằng ông đã từ chức để sống một đời sống tốt hơn và một lương tâm thanh thản, tránh đi sự bất toàn của cơ thể ông cùng bản tính xấu xa của con người.
“Tiếng vọng từ trời”, Gaetani, được chọn làm Giáo Hoàng Boniface VIII. Ông đã quản thúc Celestine trong lâu đài Fumone cho tới lúc ông cụ qua đời vào năm 1296.
“Tôi có nói: Ôi! chớ chi tôi có cánh như bò câu, ắt sẽ bay đi và ở được yên lặng. Phải, tôi sẽ trốn đi xa, ở trong đồng vắng. Tôi sẽ lật đật chạy đụt khỏi gió dữ, và khỏi dông-tố” [Thi thiên 55.6-8].
14 Tháng Chạp
“VÌ ĐẤNG CHRIST VÀ VÌ VƯƠNG QUỐC CỦA NGÀI”
Khu vực quanh Wheaton, Illinois, Erastus Gray từ Connecticut đến định cư trước tiên vào năm 1831. Sáu năm sau, Warren Wheaton, là người cùng xứ Connecticut, đã đến và xây dựng một ngôi nhà ở ngay góc khu vực giờ đây là đường Roosevelt tại phố Naperville. Tiếp đến là đường xe lửa, một cửa hàng tạp phẩm mọc lên, rồi tới quán rượu và một lò nấu rượu. Không lâu sau đó số dân cư lên tới 800 người.
Một số người theo hệ phái Giám Lý vốn có tánh thù ghét nô lệ đến định cư ở Wheaton. Lấy làm kinh khủng khi thấy con cái của họ được các vị giáo viên dạy dỗ phải có lòng cảm thông với hàng nô lệ, họ quyết định thành lập một ngôi trường cho riêng họ. Vào một ngày mùa hè thật nóng nực vào năm 1852, một nhóm người trong số họ quì gối trên thảm cỏ bên sườn một ngọn đồi nhỏ nhìn xuống vùng thảo nguyên trải dài khoảng một dặm tính từ ga xe lửa. Họ cầu nguyện rằng: “ngọn đồi và tất cả cái gì có trên đó” đáng được dâng hết cho Đức Chúa Trời. Một toà nhà đơn sơ ba tầng bằng đá vôi (bây giờ là Điện Blanchard) với chi phí khoảng 10.000$US, đúng vào ngày 14 tháng Chạp năm 1853, Chủng viện Illinois đã khai trương dưới quyền hướng dẫn của Tấn sĩ John Cross. Không lâu sau đó học viện đầy ắp những sinh viên — và với cột khói thoát ra từ các bếp lò. Những ai hút thuốc đều bị cấm trong trường học, các sinh viên nói, trừ ra mấy cột khói bếp.
Nhưng những nhà sáng lập theo hệ phái của Wesley đều là “những con người có ít tài sản đời nầy”, một trong các con cái của họ thuộc thế hệ sau đó đã viết: “Họ là những nhà cải cách, đặc biệt chú trọng vào việc tranh đấu chống tình trạng nô lệ. Mục đích khởi sự một ngôi trường nhiều giáo phái chẳng có gì nhiều lắm, chỉ là cung ứng một địa điểm mà ở đó các nguyên tắc của họ không bị dập tắt”.
Vì họ sở hữu rất ít “tài sản đời nầy”, học viện đã thất bại không có đủ tài chánh; rồi đến năm 1860, ban quản trị đã xin trợ giúp từ những người thuộc các hệ phái giàu có. Jonathan Blanchard, Mục sư hệ phái Trưởng Lão, được chỉ định làm Hiệu Trưởng. Ông đến gặp Warren Wheaton xin mở quyên góp tiền bạc và lạc hiến theo danh nghĩa Trường Wheaton. “Ít nhất điều nầy sẽ cứu cơ nghiệp của ông một công trình đáng giá”, Blanchard nói.
Ngôi trường tái mở cửa dưới quyền lãnh đạo của những người thuộc các giáo phái với sự tài trợ của những người thuộc hệ phái của Wesley và với một vị hiệu trưởng thuộc phái Trưởng Lão. Rồi qua hơn một thế kỷ, Trường Wheaton đã đào tạo lớp người trẻ biết sống “Vì Đấng Christ và vì Vương quốc của Ngài”.
“Kẻ khôn sẽ nghe và thêm lên sự học vấn, Người thông sáng sẽ được rộng mưu trí, để hiểu biết châm ngôn, thí dụ, và lời của người khôn ngoan, cùng câu đố nhiệm của họ. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức; còn kẻ ngu muội khinh bỉ sự khôn ngoan và lời khuyên dạy” [Châm ngôn 1.5 – 7].
15 Tháng Chạp
CHẲNG XỨNG HIỆP VÀ CŨNG KHÔNG PHỤC SỰ NỮA
Việc đáng ngạc nhiên về John Oldcastle là số vai trò mà ông đã đóng. Trong khoảng 39 năm, ông là một Hiệp sĩ, một nhà chính trị, một quân nhân, một nhà truyền đạo, một Nam tước, một kẻ trốn tránh, một nhà tuận đạo, và là Falstaff, một nhân vật cảm động của Shakespeare. John Foxe thuật lại các chuyến mạo hiểm của ông:
Trải qua một thế kỷ trước Luther, John Wycliffe đã công bố ra các quan điểm của Công cuộc cải chánh tại Anh quốc, và một nhóm các nhà truyền đạo, hội Lollard, đã đem sứ điệp của ông đi khắp xứ. Sau cái chết của Wycliffe, John Oldcastle, vị cố vấn đầy quyền lực của Vua Henry IV, đã tìm cách bảo hộ và khích lệ cho chức vụ của Lollard. Giám Mục xứ Canterbury giống như một con gấu giận dữ đã nổi dậy chống lại ông, ông ta nài xin nhà Vua buộc nhóm Oldcastle và Lollard phải câm miệng. Henry gặp gỡ vị Nam tước và yêu cầu ông phải “thần phục Giáo Hội mẹ thánh của ông”. Oldcastle đáp: “Tôi luôn luôn mau chóng và sẵn lòng vâng theo Vua, vì tôi biết Vua là một vì vua và là một tôi tớ được xức dầu của Đức Chúa Trời…. Nhưng khi đụng đến Giáo Hoàng và tình trạng thuộc linh của ông ta, tôi thấy chẳng xứng hiệp và cũng không phục sự nữa”.
Henry lập tức rút lui, và vị Giám Mục nhận lãnh đầy đủ uy quyền để truy đuổi và trừng phạt vị Nam Tước cứng đầu cứng cổ. Oldcastle, thấy mình “bị vây quanh tứ phía với những mối nguy hiểm chết chóc”, bị bắt, bị bỏ tù ở Tháp Luân đôn, bị thử thách và bị kết án. Nhưng trước khi cuộc hành hình ông diễn ra, “vào buổi tối đó (không biết bằng phương tiện gì), ông đã trốn thoát sang xứ Wales”.
Henry đưa ra một phần thưởng rất lớn cho ai bắt được ông, nhưng Oldcastle cứ ở đó trong bốn năm trời. Thế rồi “Huân Tước Powis, do tánh tham tiền hay do thù ghét lẽ đạo chân thật của Đấng Christ, đã tìm đủ mọi cách để đóng vai của Giuđa, và bề ngoài giả vờ ưu đãi, rồi sau cùng đã thực thi ý định bắt lấy Oldcastle trói lại giải về Luân đôn”.
Đúng ngày 15 tháng Chạp năm 1418, Oldcastle bị dẫn độ về Smithfield ở Luân đôn, ở đó có nhiều nhà tuận đạo bị giết chết, và “bị treo giữa những sợi dây xích bằng sắt, rồi bị thiêu sống trong ngọn lửa, ông ngợi khen danh của Đức Chúa Trời bao lâu ông còn sống; dân chúng hiện diện ở đó bày tỏ ra nỗi đau thương rất thống thiết”.
“Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin vào trong ơn nầy là ơn chúng ta hiện đương đứng vững; và chúng ta khoe mình trong sự trông cậy về vinh hiển Đức Chúa Trời. Nào những thế thôi, nhưng chúng ta cũng khoe mình trong hoạn nạn nữa…” [Roma 5.1-3a].
16 Tháng Chạp
ĐỘNG ĐẤT
Vào ngày 16 tháng Chạp năm 1811, một trận động đất lớn đã đánh vào miền Nam nước Mỹ, những cơn chấn động của nó lan rộng xa đến nỗi làm cho chuông của nhà thờ rung lên ở Philadelphia. Hồ Reelfoot ở Tennessee được tạo thành do cơn xáo trộn của đất. Nhà truyền đạo thuộc phái Giám lý Peter Cartwright, một trong những nhà truyền đạo lưu động của nước Mỹ, đã ghi lại những kinh nghiệm về vài trận động đất trong quyển hồi ký của ông. Cartwright, là người đã trở lại đạo qua Cơn phấn hưng Cane Ridge rồi sau đó ông đã đi khắp miền Nam và miền Trung Tây trong hầu hết 70 năm giảng đạo, làm lan rộng cơn phấn hưng và mở mang Hội thánh, đã viết:
“Cơn chấn động dường như muốn chặn dòng chảy của sông Mississippi, phá nát những chiếc thuyền neo lơi lỏng, rồi mở ra những đường nứt thật lớn trên mặt đất. Trận động đất nầy gieo khủng khiếp cho hàng ngàn người, và dưới cơn hoảng loạn đó hàng trăm, hàng ngàn người đã tụ tập lại rồi hiệp với nhiều Hội thánh khác nhau. Có nhiều sự tích rất lý thú gắn liền với cơn lay động của mặt đất lúc bấy giờ. Tôi có đến giảng tại Nashville ngay đêm trước khi cơn chấn động khủng khiếp lần thứ nhì ụp đến, trước một hội chúng đông đảo. Sáng sớm hôm sau, tôi thức giấc rồi leo lên ngọn đồi gần ngôi nhà mà tôi đến giảng, khi ấy tôi nhìn thấy một phụ nữ da đen đi xuống đồi ra bờ suối, với cái xô không đội trên đầu. Khi bà ta nhặt lấy mấy thanh gỗ ở chỗ tôi đã đứng, đất bắt đầu rung chuyển và nghiến nghe ken két; mấy cái ống khói sụp đổ xuống đất, giàn dáo quanh các toà nhà mới đổ xuống với tiếng va chạm lớn, hàng trăm người dân thình lình thức giấc, lao ra ngoài đường phố; họ la hét kêu gào, vì có nhiều người tưởng ngày phán xét đã đến. Những cô gái trẻ quen biết với người đờn bà da đen đều chạy theo bà ta, rồi nài xin bà ta cầu thay cho họ. Bà ta cất tiếng lên nói với họ: “Chúa Jêsus của ta sẽ ngự đến trên đám mây trời, và ta không thể chờ đợi đặng cầu thay cho các ngươi bây giờ được; ta phải đi đón Ngài. Ta nói như vậy với các ngươi, khi Ngài ngự đến, thì các ngươi sẽ không tin ta. Tạm biệt. Halêlugia! Chúa Jêsus đang đến, và tôi đã sẵn sàng. Halêlugia! Amen”. Rồi bà ta bước đi, miệng hô tay vỗ, với cái xô không đội trên đầu.
“Khi các ngươi nghe nói về giặc và nghe tiếng đồn về giặc, thì đừng bối rối: những sự ấy phải xảy đến; nhưng chưa là cuối cùng. Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; cũng sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém…về ngay và giờ đó, chẳng ai biết chi hết…Hãy giữ mình, tỉnh thức” [Mác 13.7-8, 32-33]
17 Tháng Chạp
KHÔNG HỐI TIẾC
Vào ngày 17 tháng Chạp năm 1912, Bill Borden lên tàu từ Trung Hoa sang Ai cập. Sự nghiệp truyền giáo của anh nằm trong phần lịch sử ngắn nhất — và hiệu quả nhất.
Borden ra đời trong một gia đình quí tộc trên Bờ Biển Vàng ở Chicago, kế tự một gia tài và một công ty sữa. Mẹ của anh trở thành một Cơ đốc nhân, và chàng thanh niên Bill bắt đầu nhóm lại ở Hội thánh Moody ở Chicago cùng với bà, không bao lâu sau khi tự anh trở thành một Cơ đốc nhân. Sau đó một thời gian ngắn, khi Mục sư R. A. Torrey thách thức những người đến thờ phượng dâng đời sống của họ cho sự hầu việc Đức Chúa Trời, William yên lặng đứng dậy — một chàng trai nhỏ nhắn với bộ đồ thuỷ thủ màu xanh. Anh đứng thật lâu đang khi buổi thờ phượng cứ tiếp tục, nhưng không có một cái vẫy tay nào, và đó là một sự thụ phong mà từ đó trở đi, anh không hề lui bước.
Về sau tại Đại học đường Yale, Bill trở nên nổi tiếng là một vận động viên ngôi sao, đẹp trai, có giá 50 triệu đô la, và đã đầu phục Đấng Christ. Trong chương trình truyền giáo cho sinh viên ở Nashville, anh cảm động sâu sắc bởi Samuel Zwemer mà đến với những người Hồi giáo; rồi sau Lễ tốt nghiệp, anh tuyên bố anh dâng sản nghiệp to lớn của mình cho lý tưởng truyền giáo trên thế giới. Anh hiệp tác với Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa, hoạch định truyền giáo cho những người theo đạo Hồi ở Trung Hoa. Nhưng trước tiên anh phải nghiên cứu ngôn ngữ ở Ai cập. Ngay trước Lễ Giáng Sinh, anh ra đi, bà mẹ goá của anh rất đỗi ngạc nhiên không biết Bill có làm việc ấy đúng hay không nữa, khi dâng hiến toàn bộ cơ nghiệp và đất đai. “Trong căn phòng yên tĩnh của tôi đêm hôm ấy, mệt mỏi và buồn rầu, tôi thấy buồn ngủ sau khi tự hỏi mình nhiều lần: ‘Rốt lại, làm như thế có quá đáng không?’ Đến sáng, khi tôi thức giấc, một giọng nói yên tĩnh nhỏ nhẹ đang thốt lên trong tấm lòng tôi, đáp rằng: ‘Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài…'”
Một tháng sau khi đến tại Ai cập, Borden đã mắc chứng viêm xương não. Trong hai tuần lễ thì anh qua đời, nhưng anh đã để lại một sứ điệp sau cùng trên tờ giấy nhét dưới chiếc gối nằm: “Không chút dè dặt! Không lui đi! Không hối tiếc!”
Câu chuyện nói tới sự hy sinh của anh đã được thuật đi thuật lại trên các tạp chí khắp nước Mỹ và quyển hồi ký của anh được xuất bản đã kết quả thật to lớn, ấy là có nhiều thanh niên dâng mình làm của lễ sống cho Chúa của mùa gặt.
“Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” [Sáng thế ký 12.1-3].
18 Tháng Chạp
CẢ GÓI DỊ GIÁO
John Foxe đã tìm tòi và ghi lại những nổi khổ của nhiều vị giáo sĩ đã qua đời trong suốt sự trị vì của Nữ Hoàng Mary nước Anh. Đây là câu chuyện của ông, đã rút gọn, về John Philpot là người đã bị thiêu đúng vào ngày 18 tháng Chạp năm 1555:
Vị Giám Mục, nhìn thấy sự kiên quyết không đời đổi của ông về chân lý, đã tuyên án nghịch lại ông. Philpot nói: “Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời, vì tôi là một kẻ dị giáo ở ngoài cái giáo hội đáng bị rủa sã của ông; tôi không phải là kẻ dị giáo trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho ông, và ban cho ông ân điển để ăn năn mọi việc làm gian ác của ông, và khiến cho mọi người thức tỉnh về giáo hội làm đổ máu của ông”. Đến đấy, các viên chức giao ông cho nhà tù Newgate. Philpot nói: “Phải, tôi rất hài lòng, vì đây là sự chỉ định của Đức Chúa Trời. Tôi xin Ngài tỏ cho tôi thấy những điều Ngài muốn tôi phải chịu”.
Vị Giám mục nói: “Nếu ngươi chịu từ bỏ niềm tin ấy, ta sẽ tỏ ra cho ngươi bất kỳ một khoái lạc nào mà ngươi muốn”.
Thầy Philpot nói: “Nầy, tôi không bao giờ từ bỏ niềm tin mà tôi đang có, những gì tôi đã nói ra đều là lẽ thật; nếu cần, tôi sẽ đóng ấn niềm tin ấy bằng chính huyết của tôi”.
Khi ấy Alexander nói: “Đây là lời nói cho cả gói dị giáo của ngươi”. Thế là ông ta truyền đóng gông Philpot lại, và phải mang nặng xiềng xích bằng sắt.
Qua ngày Thứ ba có một bữa tiệc, là ngày 17 tháng Chạp năm 1555, có một sứ giả đến từ phía nhà vua và bảo Philpot phải sẵn sàng, vì ngày hôm sau ông phải chịu hành hình. Thầy Philpot đáp: “Tôi sẵn sàng rồi; Đức Chúa Trời ưng ban cho tôi sức lực và một sự sống lại đầy vui mừng”. Ông bước trở vào phòng và đổ tâm thần ra cùng Giêhôva Đức Chúa Trời, dâng lên cho Ngài lời cảm tạ hết lòng, rằng trong sự thương xót của Ngài đã kể ông là xứng đáng để chịu khổ vì lẽ thật của Ngài.
Đến sáng mấy người đại diện của nhà vua đến, khoảng 8 giờ, và ông biểu lộ sự mừng vui trước mặt họ. Khi ông bị đưa đến địa điểm hành hình, ông nói: “Tôi có thể chịu hành hình ở cây cột nầy không, vì Đấng cứu chuộc tôi đã không từ chối khi bị hành quyết trên thập tự giá vì tôi?”. Thế rồi ở giữa những ngọn lửa hừng ông đã dâng linh hồn mình vào trong hai bàn tay của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
“Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời. Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” [Rôma 6.10-11].
19 Tháng Chạp
QUÂN BÀI VÀ HỘT XÍ NGẦU
Hugh Latimer, nhà cải chánh người Anh, được yêu cầu giảng một bài với đề tài Giáng Sinh vào ngày 19 tháng Chạp năm 1529, tại nhà thờ Thánh Edward ở Cambridge. Với lòng mong mỏi đưa các sinh viên chưa tốt nghiệp đến với đức tin chân thật nơi Đấng Christ, ông đã chọn tiếp cận với một quyển tiểu thuyết. Các sinh viên rất thích chơi bài, vì vậy Latimer mới quyết định giảng về những quân bài mà Đức Chúa Trời sẽ xử lý với chúng ta, ông sử dụng tấm gương của Giăng Báptít. Ông đề nghị rằng hết thảy chúng ta phải trả lời câu hỏi mà người Do thái đã hỏi Giăng — “Ông là ai?” Không có Đấng Christ, câu trả lời là: “Tôi đang chịu phán xét vì cớ tội lỗi”. Nhưng qua sự ăn năn và sự tha thứ, chúng ta có thể trả lời: “Tôi là một Cơ đốc nhân”. Rồi khi chúng ta nghiên cứu Tân ước, sự thể giống như lật ngửa lá bài ra vậy, một lần đủ cả, học biết cách thức mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống theo.
Sau khi đã sửa soạn như thế rồi, Latimer bước lên bục giảng nhỏ có 6 cạnh trong ngôi nhà thờ thật đông người vào ngày 19 tháng Chạp. Giọng nói sang sảng của ông rung lên phần Kinh thánh tiếng Latinh, dịch sang tiếng Anh, rồi đẩy mạnh vào bài giảng của ông.
Một sự náo động nối theo sau, do một thầy tu có tên là Buckenham cầm đầu, ông nầy đã giảng một bài đối ngược lại, ông ta sử dụng tư tưởng nói tới một cặp hột xí ngầu. Ông ta gọi đó là “Năm Bốn” — cho rằng hột xí ngầu của Đức Chúa Trời đổ ra với 5 ở hột nầy và 4 ở hột kia. Kế đó ông ta tấn công cuộc cải chánh đang sử dụng 5 phân đoạn Kinh thánh và 4 nhà bác học của Hội thánh: Ambrose, Augustine, Jerome, và Gregory. Tiếp đến Buckenham đã chế nhạo sự Latimer kêu gọi cho có một bản dịch Kinh thánh tiếng Anh. Buckenham cho rằng: “Hạng người bình thường sẽ không hiểu được cách nói bóng gió trong Kinh thánh”. Thí dụ, khi Kinh thánh nói tới việc móc con mắt, có người sẽ làm đúng theo nghĩa đen. Khi Kinh thánh cảnh cáo về men, những thợ làm bánh người Anh sẽ thôi không còn sử dụng tới men nữa.
Latimer đã đáp lại với một bài giảng quyết chắc với Buckenham rằng người Anh có khéo léo đủ để hiểu những cách nói theo nghĩa bóng. Để ngăn trở kẻ cười nhạo, ông nói: “Thí dụ, khi một hoạ sĩ vẽ một con cáo trên chiếc mũ của một thầy tu, không ai nghĩ đó là một con cáo thật đang giảng đạo bao giờ”. Những gì ông muốn nói là sự giả hình, tiểu xảo, và sự che đậy rất tinh vi thường nằm kín trong chiếc mũ của vị thầy tu.
John Foxe về sau nói: “Thầy tu Buckenham với bài giảng nầy đã cút đi nhanh đến nỗi từ đó trở về sau ông ta chẳng còn dám bén mảng tới toà giảng để chống lại Thầy Latimer nữa”.
“Huống chi nay chúng ta nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào!” [Rôma 5.9-10].
20 Tháng Chạp
HÃY CÙNG GÁNH VÁC VỚI TÔI!
Tình yêu của Edmund Grindal đối với sách vỡ đã cứu mạng ông. Khi còn là một thiếu niên, ông thường mang những quyển sách theo cùng dù là đang khi chơi đùa. Ngày nọ, trong khi nô đùa ở ngoài đồng với một quyển sách nhét trong áo choàng cài phân nữa nút, một mũi tên của người thợ săn bắn lạc bay thẳng vào người ông. Ông không bị thương, mũi tên cắm phặp vào quyển sách. Về sau, quyển sách khác đã cứu ông theo một cách khác: Ấy là quyển Kinh thánh đã đưa ông đến với Đấng Christ. Grindal tấn tới trong đức tin rồi bước vào chức vụ; nhưng khi Mary “khát máu” lên ngôi, ông bỏ trốn sang Đức cho tới khi Mary bị Nữ Hoàng Elizabeth I thay thế, bà là người có khuynh hướng ngã theo Tin lành. Grindal trở về Anh quốc rồi được tấn phong làm Tổng Giám Mục xứ Canterbury vào năm 1575.
Không bao lâu sau đó, Elizabeth lên tiếng than phiền với vị Tân Tổng Giám Mục rằng ông cho rao giảng đạo quá nhiều. Bà xem việc giảng đạo của Thanh Giáo là tác nhân phát triển sự loạn lạc. Nữ hoàng nói “Ba hay bốn bài giảng một năm” là quá đủ cho bất kỳ một hội chúng nào; và bà ra lịnh cho Grindal phải chiết giảm bớt việc giảng dạy khắp cả Vương Quốc Anh.
Vào ngày 20 tháng Chạp năm 1576, Grindal phúc đáp lại trong một bức thư thật dài, ông trình bày như sau: “Lời dạy của bệ hạ truyền cho thần về việc chiết giảm bớt số truyền đạo và triệt bớt đi những lượt giáo hội nghị giữa vòng các vị Mục sư đã làm cho hạ thần phải bị choáng váng và bất an. Kính thưa Bệ hạ, há Kinh thánh không dạy rằng Tin Lành về Đấng Christ phải được rao giảng cho nhiều sao? Trong việc xây cất đền thờ bằng vật chất của Vua Solomon, đã có tới 150.000 nhân công và 300 giám sát viên, thế mà chúng ta dám nghĩ chỉ có một vài nhà truyền đạo thôi thì làm sao xây dựng được đền thờ thuộc linh của Đấng Christ? Thánh Phaolô nói: “Hãy giảng đạo”. Việc rao giảng Lời của Đức Chúa Trời công khai và liên tục chính là công cụ bình thường của sự cứu rỗi. Với nhận thức ấy, thần không dám xúc phạm đến Đức Chúa Trời oai nghi mà chiết giảm như thế được. Hãy cùng gánh vác với hạ thần, thần nài xin bệ hạ, nếu thần chọn làm buồn lòng Nhà Vua theo đời nầy hơn là làm buồn lòng Đức Chúa Trời oai nghi trên trời kia. Thần nài xin bệ hạ, nguyện Đức Chúa Trời Oai Nghi kia hằng ở trước mắt của bệ hạ luôn, thần xin phép nói: “Nguyện Ý Cha được nên, chớ không phải ý con”.
Elizabeth, nỗi giận dữ, bỏ Grindal vào nhà ngục ngay tức thì. Nhưng Tin Lành không bị nhốt kín, và mặc dù có những nghi ngại của Nữ Hoàng, Tin lành đã giảng rộng ra đến từng góc xó của Quần Đảo nước Anh.
“Hãy nhớ rằng Đức Chúa Jêsus Christ, sanh ra bởi dòng vua Đa-vít, đã từ kẻ chết sống lại, theo như Tin Lành của ta, vì Tin Lành đó mà ta chịu khổ, rất đỗi bị trói như người phạm tội; nhưng đạo của Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu” [II Timôthê 2.8-9].
21 Tháng Chạp
HỌ KHÔNG CÓ LINH HỒN SAO?
Khi Hernando Cortes cùng các nhà thám hiểm khác người Tây ban Nha dẫn các toán quân viễn chinh chống các lực lượng Aztec và Inca, mục tiêu của họ là chiếm đất đai, chiếm lấy vàng, và chia sẻ đức tin. Trong danh của Đấng Christ, hàng ngàn người đã bị giết và bị bắt làm nô lệ. Toàn bộ hai nền văn minh đó đã bị tiêu mất. Một số quân viễn chinh thành thật tin họ đang mở mang bờ cõi của giáo hội và đem hàng triệu người đến với đức tin. “Thuốc súng chống lại người da đỏ được dâng lên Chúa như một thức hương”, một người trong số họ đã nói như thế. Nhưng thật là quan trọng khi nhận biết rằng có nhiều giọng nói trong giáo hội dấy lên trong sự chống đối giận dữ, nhưng rất công nghĩa.
Vào ngày 21 tháng Chạp năm 1511, Antonio des Montesinos đã đứng trước giáo hội của mình ở Hispaniola với ngọn lửa nơi môi miệng của ông:
“Tôi đã leo lên bục giảng nầy để nói cho quí vị biết rõ tội lỗi của quí vị, vì tôi là giọng nói của Đấng Christ đang kêu la trong sa mạc của hòn đảo nầy, và quí vị đã dửng dưng không chịu nghe theo tôi. Quí vị đang sống trong tội lỗi đáng chết; không những quí vị đang sống trong đó, mà quí vị còn sống và chết trong đó vì sự độc ác và sự bạo ngược mà quí vị đang đổ ra trên những con người vô tội nầy. Bởi quyền gì quí vị mở ra những cuộc chiến ghê tởm trên những kẻ đang sinh sống trong an bình trên đất đai riêng của họ chứ?Tại sao quí vị đàn áp và bóc lột họ, mà chẳng cho họ có đủ ăn? Họ ngã chết, hay đúng hơn, quí vị giết chóc họ, để quí vị có thể bòn rút được ngày càng nhiều vàng hơn.
Chẳng lẽ họ không phải là người sao?Họ không có linh hồn sao? Quí vị không bị buộc phải yêu thương họ như chính mình quí vị sao?Làm sao mà quí vị cứ ở mãi trong sự lãnh đạm tới như thế chứ? Tôi dám chắc với quí vị, trong tình trạng hiện nay của quí vị, quí vị không còn được cứu giống như bộ tộc Moors [những người Ả rập theo Hồi giáo] hay người Thổ Nhĩ Kỳ, là hạng người chối bỏ đức tin của Đức Chúa Jêsus Christ”.
Khán thính giả của ông bị choáng váng, và lời lẽ của ông đã làm cho các đại dương phải dậy sóng lên. Ở Tây ban Nha, Vua Ferdinand nổi giận dữ nói với Christopher Columbus: “Ta đã xem bài giảng… và mặc dù ông ấy luôn luôn là một nhà truyền đạo quá chướng, ta đã lấy làm kinh ngạc nhiều trước những gì ông ta nói, là những điều chẳng có chút cơ sở nào trong thần học và luật pháp”.
Montesinos đã từ chối không chấp hành theo lịnh phải rút lại mọi câu nói của mình, và có nhiều người hiệp với ông càng tăng thêm trong việc nhắc cho thế gian nhớ rằng không phải mọi sự đều được làm ra trong danh nghĩa của Cơ đốc giáo là thuộc về Đấng Christ đâu.
“Ta ở trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhơn sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng: hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” [II Timôthê 4.1-2a].
22 Tháng Chạp
LẠY CHÚA, XIN CỨU FIJI!
Khi còn là thiếu nhi, John Hunt thường ngồi bên lò sưỡi, mãi mê nghe kể lại các câu chuyện mạo hiểm trong quân đội của cha mình. Khi ở tuổi thiếu niên, ông đã lao động bên lưỡi cày. Lúc được 16 tuổi, ông gần chết bởi chứng “viêm não”. Sau khi phục hồi, ông đã gặp Chúa trong nhà thờ của hệ phái Giám Lý. Về sau ông cưới Hanna Summers, và đúng ngày 22 tháng Chạp năm 1838, họ đã đến quần đảo Fiji trong vai trò giáo sĩ.
Họ đã sánh vai nhau mà vào vùng đất ấy. Hai phần ba tất cả trẻ con đều bị luộc sôi và ăn thịt. Từng ngôi làng đều có kẻ chuyên giết người làm thịt, và trẻ con thì bị mổ xẻ ra theo cách họ làm thịt thú vật vậy. Những bậc làm cha làm mẹ luống tuổi đều bị con cháu họ làm thịt và ăn, và một người chồng thường nấu người vợ đẹp nhất hoặc đứa con xinh tốt nhất của mình làm tiệc đãi bạn hữu thân cận nhất của họ.
Một thời gian sau khi họ đến đấy, đứa con út của viên tù trưởng bị chết mất ngoài biển. Kết quả là có mười bảy phụ nữ bị giết và bị đem thui, và Hanna bị họ buộc phải đứng xem. Kế đó dân trên đảo khăng khăng buộc hai vị giáo sĩ phải ra đi, không được ở đó. Nhưng gia đình Hunt đã từ chối. Họ đã nhìn thấy số người chịu nghe theo càng lúc càng tăng thêm. Nữ Hoàng Viwa đã chịu sự thuyết phục ấy đến nỗi bà bị ngất đến hai lần, rồi bước tới cầu xin sự thương xót. Một cơn phấn hưng quét qua ngôi làng của bà, rồi làng của nhiều người khác nữa.
Hunt đã dịch Tân ước sang tiếng Fiji và đã nhất mực lo giảng đạo không hề sợ hãi. Những người trở lại đạo càng tăng thêm nhiều và nhiều nhà hội đã được dựng lên. Về lâu về dài, sức khoẻ của Hunt cạn kiệt, rồi khi dân trên đảo nhìn biết vị giáo sĩ của họ ngã bịnh, họ tập trung lại quanh toà giảng và cầu thay cho ông. “Ôi Lạy Chúa”, Elijah Verani, một người trong số họ đã kêu van: “chúng con biết rõ chúng con sống rất tệ bạc; nhưng xin buông tha cho tôi tớ Ngài. Nếu có ai phải chết, xin bắt lấy con đi! Xin bắt lấy mười người trong chúng con! Nhưng xin tha cho tôi tớ Ngài, để cho ông ấy rao giảng Đấng Christ”.
Nhưng Hunt biết mình phải chết. Ông ký thác vợ ông cho Chúa rồi bắt đầu kêu lên: “Lạy Chúa, xin chúc phước cho Fiji! Xin cứu lấy Fiji!” Sau đó, khi quay sang Hanna, ông nói: “Nếu anh phải qua đời giờ nầy, hãy ngợi khen Chúa!” Một lát sau, ông thì thào: “Anh muốn có đủ sức lực để ngợi khen Ngài nhiều hơn… Halêlugia!”
Với câu nói ấy, ông trút hơi thở sau cùng. Cả hòn đảo bị cảm động bởi cái chết của ông, và thậm chí Vua Thakombau gian ác kia cũng đã xưng nhận Chúa cách công khai. Phần nhiều người ở Fiji đã được biến đổi, khiến cho một vị sử gia truyền giáo phải gọi Fiji là một “hòn ngọc trên chiếc vương miện truyền giáo”.
“Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus. Tôi nghe có tiếng đến từ trên trời rằng: Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa! Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghĩ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau” [Khải huyền 14.12-13].
23 Tháng Chạp
LỜI KHUYÊN CỦA MỘT NGƯỜI CHA
Heinrich Bullinger là một vị Mục sư rất nhơn đức và là một người cha gương mẫu. Ông chào đời vào năm 1504 trong một gia đình Mục sư, trong lúc tuổi già cha ông đã vòng tay đón lấy các quan điểm của công cuộc Cải Chánh. Mặc dù phải trả giá với giáo hội của mình, sự việc ấy đã khiến cho ông kiếm được đứa con trai của ông. Heinrich con vốn đam mê các tác phẩm của Luther, các quyển sách của Melanchthon, và sự nghiên cứu Kinh thánh. Ở tuổi 27 còn quá trẻ, ông được yêu cầu phải thế chỗ của Nhà Cải Chánh Thụy Sĩ đã bị giết là Ulrich Zwingli trong vai trò Mục sư của xứ Grossmunster thuộc Zurich. Ông đã bước lên toà giảng ở đó đúng ngày 23 tháng Chạp năm 1531.
Bullinger tiếp tục công tác rao giảng đạo qua các sách trong Kinh thánh, hết câu nầy sang câu khác. Ngôi nhà ông trú ngụ, giống như quyển Kinh thánh của ông, mở cửa từ sáng cho tới tối, và ông phân phối miễn phí thực phẩm, quần áo, và tiền bạc cho người nghèo thiếu. Sự khôn ngoan và ảnh hưởng của ông đã lan ra khắp Âu châu.
Không một người nào bị tác động nhiều hơn con trai của ông là Henry. Khi chàng trai trẻ khăn gói bước ra khỏi trường ở Strassburg, Heinrich đã cung ứng cho chàng ta mười điều lệ cho lối sống:
- Kính sợ Đức Chúa Trời trọn đời, và hãy nhớ rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời là khởi đầu của sự khôn ngoan.
- Tự hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, và nhờ Đấng Christ mà cầu nguyện cùng Ngài, vì Đấng Christ là Đấng Trung Bảo và là Trạng Sư biện hộ cho chúng ta.
- Hãy tin cách quả quyết rằng Đức Chúa Trời đã làm mọi sự để cho chúng ta được cứu qua Con của Ngài.
- Phải có đức tin mạnh mẽ với tình yêu thương mà khẫn nguyện cho mọi sự.
- Hãy cầu xin Đức Chúa Trời bảo hộ cho tiếng tốt của con và giữ gìn con không phạm tội, không bịnh tật, và bạn bè xấu.
- Hãy cầu nguyện cho Mục sư sở tại, cho cha mẹ yêu dấu của con… để rao truyền Lời của Đức Chúa Trời.
- Phải dè dặt, luôn luôn sẵn lòng nghe hơn là nói, và đừng bạ vào những việc mà con không hiểu.
- Hãy nghiên cứu cách kỹ lưỡng…. Hãy đọc ba chương Kinh thánh mỗi ngày.
- Hãy giữ thân thể con sao cho thanh sạch và không vít, quần áo con phải chỉnh tề, và tránh phạm vào những việc gì không điều độ trong sự ăn và uống.
- Phải ăn nói đứng đắn, vui vẻ, dịu dàng.
Lời khuyên dạy được đem áp dụng; và Henry Bullinger về sau trở thành, giống như cha ông của mình, một Mục sư Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ.
“Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó” [Êphêsô 6.4].
24 Tháng Chạp
NẦY, ĐỨC CHÚA TRỜI NGƯỜI ĐÂY!
Có nhiều người biết rõ Lễ Giáng Sinh mà không có Đấng Christ, sự vinh quang của một Ngày Thánh đã bị thay thế bởi những điều lôi cuốn của một ngày hội — một vấn đề cần phải quay trở lại với thời buổi của Thánh Francis xứ Assisi. Francis chào đời vào năm 1182 ở Miền Trung nước Ý, con trai của một thương nhân giàu có. Vì ít học, ông đã tham gia vào quân đội và đã bị bắt làm tù binh chiến tranh. Ông đã đến với Đấng Christ chỉ một thời gian ngắn sau khi ông được tha, rồi không lâu sau đó ông bắt đầu đi đó đi đây khắp xứ, lo rao giảng Tin lành. Đến tháng 9 năm 1209, Francis đã bị lời lẽ trong Mathiơ 10 khoá chặt khi người ta đọc sách ấy: “Khi đi đàng, hãy rao giảng rằng: Nước thiên đàng gần rồi. Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không. Đừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng các ngươi; cũng đừng đem cái bao đi đường, hoặc hai áo, hoặc giày, hoặc gậy; vì người làm việc đáng được đồ ăn…”
Francis cảm thấy rằng chính mình Đấng Christ đang phán trực tiếp cùng ông. Ông mới quyết định vâng theo mấy lời nầy một cách sát nghĩa như có thể được, cứ rao giảng Nước Trời mà chẳng sở hữu một thứ gì khác. Mặc dù cây cầu đã được bắc qua những 1800 năm rồi, khiến cho Chalres phải xỏ chơn vào đôi giày của các vị sứ đồ mà đi đó đi đây.
Ông đã để ra những tháng ngày còn lại biến Đấng Christ ra thực cho mọi người mà ông gặp gỡ — một lòng thương xót dẫn tới bối cảnh sống động Giáng sinh trong đêm đầu tiên. Đến ngày 24 tháng Chạp năm 1223, Francis tìm gặp một cái hang động Greccioy, ông bèn đem đến một bầy thú có quan hệ tới sự Giáng Sinh của Đấng Christ. (Francis vốn yêu các loài thú và đôi khi ông còn rao giảng cho chúng nữa). Ông đã dựng lên một cái máng, sắp đặt cỏ, rồi hoàn thành bối cảnh. Đoàn dân đông nhóm lại với sự tò mò và ngạc nhiên đủ thứ; rồi ở đó vào ngày Lễ Giáng Sinh Francis đã rao giảng sự kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đã làm cho con người, một con trẻ trần truồng ra đời rồi bị đặt nằm trong máng cỏ. “Nầy, Đức Chúa Trời ngươi đến” ông nói: “là một đứa trẻ nghèo thiếu, vô dụng, con bò đực và con lừa ở bên cạnh Ngài. Đức Chúa Trời ngươi là xác thịt giống như ngươi”.
Những vẽ quyết rũ cung ứng đường nét cho sự vinh hiển mà buổi tối hôm ấy khi dân cư Greccio học biết cách đánh vần chữ “CHRISTmas”.
“Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở. Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi. Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin-Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân” [Luca 2.8-10].
25 Tháng Chạp
3000 NGƯỜI CHỊU PHÉP BÁPTÊM
Không phải hết thảy những ai hát những bài ca Giáng Sinh đều là Cơ đốc nhân cả đâu. Những ngày thánh dẫn tới những sự giả hình, và tình cảm hời hợt đã thay thế cho đức tin chân chính. Thí dụ, hãy xem Clovis. Sau sự sụp đổ của Đế quốc La mã, tình trạng lộn xộn đã lên chân. Những con đường của người La mã đã bị xấu đi. Luật pháp và sự công bình như không còn nữa. Tình trạng vô chính phủ đã thắng thế. Trong cảnh hỗn độn nầy, Clovis 15 tuổi đã kế tự một vương quốc nhỏ ở góc xứ Gaul. Là người rất lanh lợi và có tham vọng, Vua Clovis mau chóng kiểm soát được các vùng đất lân cận, thống nhất toàn bộ xứ Gaul, dời đô đến Paris, rồi sáng lập ra nước Pháp.
Vào năm 493 Clovis đã lấy một Cơ đốc nhân làm vợ. Khi Nữ Hoàng Clothilde muốn làm phép báptêm cho đứa con trai sơ sinh của họ, Clovis đã không đưa ra một sự chống đối nào hết; nhưng khi đứa trẻ chết trong bộ áo mặc để chịu phép báptêm, Clovis đã đỗ thừa cho Đức Chúa Trời của Cơ đốc nhân. Khi đứa con thứ hai mắc bịnh sau khi chịu phép báptêm, Clovis đã thu mình lại trong sợ hãi. Nhưng Clothilde đã khẫn thiết cầu nguyện, đứa trẻ hồi phục, và nhà vua cảm thấy kính trọng và khâm phục. Khi Clovis được 30 tuổi, ông thấy đích thân mình phải lên đường ra trận. Ông đã kêu lên: “Hỡi Đức Chúa Jêsus Christ, Clothilde nói Ngài là Con của Đức Chúa Trời và có thể ban sự chiến thắng cho những ai đặt lòng trông cậy nơi Ngài. Xin ban cho tôi sự chiến thắng thì tôi sẽ chịu phép báptêm ngay!” Xu thế cuộc chiến đổi chiều, và Clovis, trung tín với lời nói của mình, đã bước vào Đại Giáo Đường Rheims vào ngày 25 tháng Chạp năm 496. Vị linh mục nói với ông: “Hãy thờ lạy những gì ông đã từng thiêu đốt, và hãy thiêu đốt những gì ông đã thờ lạy”.
Trong ngày ấy, 3000 ngự lâm quân đã đi theo Clovis chịu phép báptêm. Đoàn quân diễu hành dọc theo bờ sông, ở đó vị linh mục sẽ thi hành lễ báptêm, ông nhận những nhánh cây xuống dòng sông rồi rãi nước lên họ. Khi nước vẫy ấy chạm đến những người lính, thì được kể là đã biến họ trở thành Cơ đốc nhân rồi.
Đây là một ngày rất quan trọng trong lịch sử giáo hội, vì đó là ngày trở lại đạo đầu tiên của một số đông người đã chuyển Âu châu thành một đại lục “Cơ đốc”. “Đây là một chặng đường quan trọng nhất trong việc truyền bá đức tin giữa vòng những sắc dân không phải là người La mã ở phía Tây bắc Âu châu”. Nhưng người ta nhận ra có ít thay đổi nơi Clovis hay quân đội của ông, là những người trước đây đều thờ lạy hình tượng, rõ ràng họ chỉ xem Đấng Christ là một vì thần chiến tranh, là Đấng bảo đảm chiến thắng cho họ. Tuy nhiên, bối cảnh được đề ra cho sự xuất hiện của nhiều tín hữu chân chính, họ truyền bá từ người nầy cho người kia sứ điệp của Con Trẻ ở Bêtlêhem xuyên suốt cả châu Âu.
“Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là JÊSUS. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng” [Luca 1.30-33].
26 Tháng Chạp
CHẲNG PHẢI MƠ ĐÂU
- L. Moody, rất béo phì, lâm trọng bịnh tại Kansas City, đã hủy bỏ các cuộc hẹn, rồi trở về nhà ở Northfield, bang Massachusetts. Ông kéo lê thân mình lên tới giường ngủ thay đồ để ăn tối, nhưng cảm thấy kiệt sức đến nỗi ông phải ngã người lên giường. Ông bị suy sụp rất nhanh, và rõ ràng là ông sắp chết vì chứng “tim đầy mỡ”. Vào ngày 22 tháng Chạp, đột nhiên ông mở mắt ra và nói to tiếng: “Đất đang xa dần! Thiên đàng đang mở cửa trước mặt tôi”. Con trai ông, đang ngồi gần đó, tưởng rằng ông nằm mơ. Moody đáp: “Will, chẳng phải mơ đâu. Thiên đàng đẹp quá! Thiên đàng giống như một giấc ngủ mê! Nếu đây là sự chết, thì thật là tuyệt vời! Đức Chúa Trời đang gọi ta, và ta phải ra đi thôi!”
Cả gia đình nhóm lại ở xung quanh. Moody nói: “Đây là ngày đắc thắng của ta! Đây là ngày đăng quang của ta! Ta mong nhìn thấy ngày ấy nhiều năm tháng rồi”. Gương mặt ông đột nhiên sáng rực lên. “Dwight! Irene! Ta nhìn thấy khuôn mặt của các cháu!” (Dwight và Irene là hai người cháu nội của ông mới vừa qua đời). Moody nhắm mắt mình lại rồi bắt hôn mê. Khi ấy ông lại nói nữa. “Không có đau đớn! Không có trũng nào hết! Nếu đây là sự chết, chẳng có gì là tồi tệ cả! Thật là tuyệt vời!”
Một lát sau, ông gượng chống khuỹu tay ngồi dậy và nói: “Mọi sự nầy có nghĩa gì vậy? Sao mọi người đều có mặt cả đây thế?” Vợ ông giải thích là ông không được khoẻ. Moody ngã người lại trên giường rồi đáp: “Điều nầy thật là kỳ lạ! Tôi đã vượt qua cánh cổng sự chết mà đến tại cửa Thiên đàng, và tôi lại trở về đây. Thật là kỳ lạ”.
Tiếp đến, ông nói: “Tôi không dám chắc, trừ phi Đức Chúa Trời làm ra một phép lạ và khiến tôi lại sống. Tôi sẽ chỗi dậy và ra ngồi trên chiếc ghế kia. Nếu Đức Chúa Trời muốn chữa lành cho tôi bằng một phép lạ, thì tốt; bằng không, tôi có thể gặp gỡ sự chết trên chiếc ghế đó ngay tại đây cũng được thôi”. Trước cú sốc của mọi người, Moody bật đứng dậy, đi ngang qua căn phòng, rồi đến ngồi trên chiếc ghế dựa. Nhưng không bao lâu sau đó, ông kiệt sức quay trở về giường nằm, nhẹ nhàng nói với họ thêm một vài câu, rồi trở mình về thẳng thiên đàng. Đám tang của ông đã được tổ chức vào lúc 10 giờ sáng, đúng vào ngày 26 tháng Chạp năm 1899 bởi Mục sư C. I. Scofield, và ông yên nghỉ trên đỉnh Núi Hermon của vùng Northfield.
“Nhưng chúng ta là công-dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật” [Philíp 3.20-2].
27 Tháng Chạp
NHỮNG GÌ MÀ NGÀI LẤY LÀM TỐT
Robert Moffat là một thanh niên lực lưỡng, khoẻ mạnh, trẻ trung, anh vốn yêu thích sinh hoạt ở ngoài trời. James Smith, là chủ của Nhà trẻ Dukinfield thuê anh đến làm việc tại đây; nhưng Smith lại lo ngại, vì ông biết rõ hai việc: thứ nhứt, vẻ đẹp trai của Robert sẽ lôi cuốn Mary là con gái duy nhất của ông; và thứ hai, Robert muốn trở thành một giáo sĩ.
Sự thể đã xảy ra đúng như Smith lo lắng. Khi Robert đến làm việc trong vườn, anh gặp Mary và khám phá ra nàng, cũng là một Cơ đốc nhân cũng có lòng ham mến công việc truyền giáo (thụ huấn tại trường Moravian). Bố mẹ nàng chẳng hay biết chi hết, nàng đã kín đáo cầu nguyện trong hai năm trước đó, nàng xin Đức Chúa Trời sai nàng đến tại châu Phi.
Một sự gắn bó mãnh liệt thành hình nhanh chóng, nhưng khi đôi trẻ thông báo với các thành viên trong gia đình biết mọi dự tính thành hôn của họ rồi rời Anh quốc để làm giáo sĩ cho Nam Phi châu, gia đình họ đã phản ứng rất quyết liệt. Bố mẹ của Robert dường như đã chấp nhận, nhưng gia đình Smith lại từ chối không thịu tác thành cho họ. Mọi sự bào chữa và van nài đều vô hiệu quả. Sau cùng, với tấm lòng chàng tan vỡ, Robert đã quyết định huỷ bỏ hy vọng thành hôn rồi ra một mình ra đi bước vào công trường. Ông đã viết cho bố mẹ mình như sau: “Từ các dấu hiệu rõ ràng nhất mà Chúa cho con thấy, Ngài bảo con hãy ra đi một mình. Ấy là Chúa, nguyện Ngài làm những gì mà Ngài lấy làm tốt”. Vì vậy, vào ngày 18 tháng 10 năm 1816, Robert Moffat đã dong buồm sang Nam Phi châu, để tấm lòng mình lại sau lưng.
Ông đến tại công trường gánh chịu nổi cô độc sâu sắc. Ông viết cho bố mẹ mình: “Con gặp nhiều sự khó khăn, phải sống một mình”. Đang khi ấy ở nước Anh, Mary, cũng đau khổ không kém. Ba năm trời trôi qua, và sau cùng nàng đã nói cho Robert biết trong một bức thư rằng nàng đã chào thua mọi viễn cảnh hội hiệp cùng chàng.
Nhưng bức thư kế đó của nàng một tháng sau chứa những tin tức khác biệt. Nàng viết: “Cả hai người, bố mẹ em, ngày hôm qua đã sẵn lòng chấp nhận phó em vào trong đôi vòng tay của Chúa, và tuyên bố rằng họ không còn đủ can đảm để từ chối với em nữa”. Mary mau chóng gói ghém hành trang của mình, nàng nói lời chào tạm biệt với bố mẹ nàng, họ rất đau khổ vì chẳng mong gì gặp lại nhau nữa, rồi nàng rời bến đi Nam Phi Châu. Ở đấy nàng và Robert đã thành hôn trước một số bạn hữu đúng vào ngày 27 tháng Chạp năm 1819. Và ở đó họ đã cật lực làm việc bên cạnh nhau trong 53 năm, trở thành một trong những đôi vợ chồng lỗi lạc nhất trong lịch sử truyền giáo.
“Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước. Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy. Ngài sẽ khiến công bình ngươi lộ ra như ánh sáng, và tỏ ra lý đoán ngươi như chánh-ngọ. Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài” [Thi thiên 37.4-7a].
28 tháng Chạp
XEM SAO TRÊN TRỜI
Vance Havner từng than vản rằng có nhiều người đi nhà thờ chỉ ngồi ngáp lấy ngáp để những lẽ thật mà tổ phụ họ đã phải đổ huyết ra mới nhận được; tới mức độ “đức tin sống động của kẻ chết đã trở thành đức tin chết của người sống”. Sự thể không phải như vậy đối với Charles Hodge, một trong những nhà thần học lỗi lạc nhất của nước Mỹ, ông ra đời đúng vào ngày 28 tháng Chạp năm 1797. Ông đã nghiên cứu những phân đoạn Kinh Thánh xưa và quen thuộc với sự phấn khích tươi mới. Ba ngàn vị Mục sư đã chuẩn bị nhận lấy chức vụ trong các lớp thần đạo của ông tại Princeton, và nhiều đoàn dân đông đã hưởng lấy phước hạnh từ bộ Thần Đạo Có Hệ Thống [Systematic Theology] do ông viết. Trong một bài giảng kia, Hodge đã cảnh cáo khán thính giả của mình phải chống lại việc ngao ngán với Kinh Thánh. Đề cập tới Roma 3.29: “(Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa), Hodge nói:
“Chúng ta chưa làm quen với lẽ thật có trong mấy câu nầy nên chúng ta chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của nó. Như đã quen thuộc với vẻ đẹp đa dạng của quả đất, chúng ta nhìn ngắm những vẻ kỳ diệu đa dạng của nó mà không có chút cảm xúc nào; đôi khi chúng ta nhướng mắt mình lên nhìn vào mọi nét đẹp đẽ của bầu trời, là vẻ đẹp trải đài trên đầu chúng ta mỗi ngày. Tuy nhiên, kẻ mù, khi đột nhiên mắt họ thấy lại được, họ nhìn ngắm với trạng thái xuất thần những thứ mà chúng ta quan sát với sự dửng dưng. Lẽ thật cho biết rằng Đức Chúa Trời không phải là một Đức Chúa Trời của một xứ, Ngài không phải là Đức Chúa Trời của một bộ tộc hay chi họ nào, mà Đức Chúa Trời là Cha của mọi người, và Tin Lành đã được dự trù và được áp dụng cho mọi người, thế mà Tin Lành ấy tác động rất ít nơi chúng ta, Tin Lành đầy dẫy các sứ đồ với nỗi kinh ngạc và vui thích. Họ rất chậm đạt tới sự hiểu biết sự thật nầy; họ chẳng có một nhận thức nào rõ ràng về Tin Lành ấy mãi cho tới sau ngày Lễ Ngũ Tuần; sự đổ ra Đức Thánh Linh mà họ đã nhận lãnh đã tạo ra một sự thay đổi quan trọng nhất trong nhận định và cảm hứng của họ. Trước sự cố đó, họ là người Do thái; sau đó, họ đã là Cơ đốc nhân”.
Ralph Waldo Emerson lưu ý rằng nếu các chòm sao chỉ xuất hiện một lần trong một ngàn năm, thì sự xảy ra đó quả là phấn khích dường bao. Nhưng vì chúng hiện hữu ở đó mỗi đêm, lâu lâu chúng ta mới nhìn tới chúng một lần.
Gypsy Smith từng nói với khán giả của mình rằng: “Đừng để mất đi cái nhìn kỳ diệu đó”. Sự thương xót của Đức Chúa Trời mỗi sáng thì lại mới luôn, và Lời Ngài thì tươi mới mỗi ngày.
“Đức Giê-hô-va là phần cơ nghiệp và là cái chén của tôi…Tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va, là Đấng khuyên bảo tôi; ban đêm lòng tôi cũng dạy dỗ tôi…bởi cớ ấy lòng tôi vui vẻ, linh hồn tôi nức mừng rỡ; xác tôi cũng sẽ nghỉ yên ổn…Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống; trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng” [Thi thiên 16.5a, 7, 9, 11].
29 Tháng Chạp
BLISS THANH SẠCH
Philip Paul Bliss ra đời trong khoang lái tàu chở gỗ ở khu rừng thuộc miền Bắc Pennsylvania, bố mẹ ông là những người rất thích ca hát. Ông rời gia đình kiếm sống lúc được 11 tuổi, và đã tuyên xưng công khai tiếp nhận Đấng Christ vào năm 12 tuổi. Ông đã trải qua những năm tháng niên thiếu của mình ở các trại cưa và đứng máy xay xát. Thế nhưng ông rất thích ca hát, và ông đã làm hết sức mình để được đi học âm nhạc. Giọng hát của ông rất mạnh, rất hay và vang dội, với một cấp độ từ thấp (tông Ré) lên cao (tông La).
Với con ngựa già có tên là Fanny và chiếc đàn organ nhỏ giá 20 $US, Philip đã khởi sự du hành đó đây trong vai trò một giáo sư chuyên về âm nhạc. Đến năm 1858, ông cưới Lucy Young, một nhạc sĩ và là thi sĩ, bà đã khích lệ ông cứ phát triển năng khiếu của mình. Kết quả là, ông đã viết và bán bản quyền sáng tác đầu tiên vào năm 1864. Bản quyền bán được khá tiền, và năm sau ông dời sang Chicago trong vai trò cộng tác với hai nhà xuất bản âm nhạc Root & Cady. Trong phạm vi sinh hoạt ở đây, ông đứng lo hai học viện âm nhạc, tổ chức các buổi hoà nhạc, và sáng tác các đoản khúc cho Lớp Trường Chúa Nhật. Moody khen tặng việc làm của ông, và Bliss đã sáng tác nhiều bài hát Tin lành mà chúng ta ưa thích hôm nay: Ngợi khen Cứu Chúa (TC 11); Ánh sáng của thế giới duy Jêsus (TC 84); Khi Chúa tái lâm (TC 134); Lời dịu dàng (TC 154); Hãy chiếu giống hải đăng (TC 327); Jêsus hằng yêu mến tôi (TC 364) v.v…Ông cũng viết nhạc cho một số bài thánh ca, thí dụ bài: “It is well with my soul”.
Trong suốt các ngày lễ Giáng Sinh của năm 1876, gia đình Bliss đến viếng mẹ của ông ở Pennsylvania. Đúng ngày 29 tháng Chạp năm 1876, họ lên chiếc tàu tốc hành Pacific ở Buffalo trở về lại Chicago. Khoảng 8 giờ tối hôm đó trong một trận bão tuyết mịt mù lúc xe lửa băng qua một đường hầm, giàn giáo đỡ đường hầm làm bằng gỗ bị sụp xuống. Hơn 100 người bị chết trong cảnh đổ nát đó, giữa vòng họ – là Philip Bliss và gia đình ông. Khi ấy ông mới được 38 tuổi.
Quan tài của Philip đã được đặt trên một chiếc xe lửa khác và nó về bến an toàn tại Chicago. Ở trong xe, bạn bè ông đã cất tiếng hát bài thánh ca lần cuối cùng:
Ngợi khen Cứu Chúa đã chuộc tôi nay
Lòng nhân ái Chúa lớn rộng thay
Từ nơi rủa sã Chúa chuộc tôi ra
Ngài đau đớn ở Gôgôtha
“Hỡi cả trái đất, hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va, nức tiếng vui vẻ và hát ngợi khen! Khá dùng đờn cầm và giọng ca mà hát ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hãy lấy còi và tiếng kèn mà reo mừng trước mặt Vua, tức là Đức Giê-hô-va!” (Thi thiên 98.4-6).
30 Tháng Chạp
LUCY NƯỚC CHANH
Giữa vòng những người đến than khóc cái chết của Philip Bliss cùng các nạn nhân khác trên chiếc tàu Tốc Hành Pacific là ứng cử viên Tổng Thống của nước Mỹ, Rutherford B. Hayes, không lâu sau đó ông đã chính thức là người đắc cử cuộc bầu cử nằm 1876 chỉ bởi một lá phiếu duy nhất. Cả nước rất lộn xộn vào thời điểm kể từ thời kỳ Tái thiết, suy đồi kinh tế, và các sự cố chính trị của Ulysses S. Grant. Hayes đã bước vào nhiệm kỳ với một đầu óc tang chế, một tình yêu dành cho văn học, và sự can đảm (trong cuộc Nội Chiến, ông đã bị thương bốn lần và có bốn con ngựa ngã chết dưới chân ông). Ông cũng có một thứ vũ khí rất bí mật — là Lucy, vợ ông, là người mà ông đã cưới đúng vào ngày 30 tháng Chạp năm 1852. Lucy bước vào Washington với trình độ đại học (bà là người vợ của Tổng Thống đầu tiên có học vị đại học), với ơn tiếp khách, và với sự đầu phục rộng mở, công khai đối với Đức Chúa Jêsus Christ.
Tuy nhiên, bà không đem đến đấy một giọt rượu nào.
Chính quyền Washington đã bị sốc bởi sự bà ngăn cấm các thức uống có men tại Nhà Trắng, và vị Phu Nhân Hàng Đầu nầy đã được người ta đặt cho biệt danh là “Lucy nước chanh”. Bà chẳng biện giải chi hết. Bà nói: “Đúng là tôi đã phạm vào một tiền lệ, nhưng tôi không vi phạm Hiến Pháp, mà qua chồng tôi, tôi đã thề phải tuân giữ”. Về sau, bà nói với một người bạn: “Tôi có ba người con trai sắp bước vào tuổi trưởng thành và không hề nghĩ tới chuyện tôi sẽ là người đầu tiên đặt ly rượu lên môi chúng nó”.
Tổng Thống và Bà Hayes đã khởi sự mỗi ngày bằng những lời cầu nguyện ban sáng, không che giấu thông lệ lâu nay sự gia đình lễ bái ấy. Họ kết thúc hầu hết mọi ngày với âm nhạc và ca hát. Họ là những người Giám lý tin kính. Trong suốt các năm tháng họ ở tại Washington, họ đến nhóm lại tại Hội Thánh Giám Lý Foundry; và khi Hội Truyền Giáo Tư Gia của Phụ Nữ thuộc Hội Thánh Tân Giáo Methodist được tổ chức, Lucy trở thành vị Hội Trưởng đầu tiên của hội ấy. Những buổi tối Chúa nhật tại Nhà Trắng là những buổi thờ phượng. Những quyển thánh ca được phân phát, và Lucy đã hát thật hùng hồn những bài ca thánh của Philip Bliss và các tác giả khác.
Bà đã qua đời tám năm sau khi rời khỏi Nhà Trắng. Chồng của bà còn sống thêm bốn năm nữa trước khi qua đời vào ngày 17 tháng Giêng năm 1893, những lời nói sau cùng của ông là: “Tôi biết tôi sẽ đi đến nơi mà Lucy đang sinh sống”.
“Chẳng xứng hiệp cho các vua, chẳng xứng hiệp cho các vua uống rượu, hay là cho các quan trưởng nói rằng: Vật uống say ở đâu? E chúng uống, quên luật pháp, và làm hư sự xét đoán của người khốn khổ chăng. Hãy ban vật uống say cho người gần chết, và rượu cho người có lòng bị cay đắng” [Châm ngôn 31.4-6].
31 tháng Chạp
TRO CỐT CỦA WYCLIFFE
Thời điểm tăm tối nhất là thời điểm chín muồi nhất cho cơn phấn hưng. John Foxe nhận xét: “Đúng là thời điểm dường như chẳng có một chút lẽ đạo thanh sạch nào còn lại, Wycliffe, bởi sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, đã chổi dậy, qua ông Chúa làm cho thế gian phải tỉnh thức”. John Wycliffe là một vị giáo sư lỗi lạc của Trường Oxford, lối lý luận và sự được lòng người của ông đã biến ông thành nhà thần học hàng đầu của nước Anh. Nhưng trước sự kinh khủng của Giáo Hội — và từ lâu trước Luther — Wycliffe đã đoạn tuyệt với thái độ kiêu căng, thế lực, và sự giàu có của giới tăng lữ Thiên Chúa giáo, ông chối bỏ tính cách không thể sai lầm của Giáo Hoàng và Giáo hội. Sau khi lấy Kinh Thánh làm nguồn lẽ thật duy nhất, ông rao giảng tin lành nói về sự xưng công bình bởi ân điển nhờ đức tin. Wycliffe không phải là người đầu tiên chỉ trích, phê phán chế độ Giáo Hoàng, nhưng ông có mặt giữa vòng những người đầu tiên công kích những học thuyết ủng hộ chế độ Giáo Hoàng. Vì lý do đó, người ta gọi ông là: “Ngôi Sao Mai của Cuộc Cải Chánh”.
Giới giáo quyền phản kích: “Cần phải nói rằng một John Wycliffe, giáo sư thần học, đã đi tới chỗ dại dột thật đáng tởm, là ông ta sợ không được giảng dạy, hay đúng hơn, ông ta đang phun ra từ lồng ngực bẩn thỉu của mình, những lời đề xuất và kết luận giả tạo…”. Nhưng Wycliffe đã nhận được sự ủng hộ từ phía dân chúng. Khi Tổng Giám Mục thành Luân đôn cấm đoán không cho ông rao giảng, Wycliffe đã sử dụng thì giờ của mình lo biên soạn bản dịch Kinh Thánh bằng Anh ngữ.
Sự căng thẳng của chiến trận công khai của ông đã làm cho Wycliffe phải già đi, và ở tuổi 60, đúng vào ngày Chúa nhật sau cùng của năm 1384, khi đang chủ trì Lễ Tiệc Thánh, ông đã bị đột quỵ té xuống đất. Bạn bè đưa ông vào giường, ở đó ông qua đời vào ngày 31 tháng Chạp năm 1384. Bốn mươi mốt năm sau, vẫn còn bị kẻ thù oán hận, người ta đã cho quật xương cốt của ông, họ lấy đem đi thiêu đốt, rồi ném hết xuống dòng sông. Theo một sử gia xưa: “Họ đã thiêu xương cốt của ông thành tro bụi rồi ném hết xuống sông Swift, có một khe suối chảy ngang qua đó. Nhờ thế, khe suối tải tro bụi của ông ra sông Avon, sông Avon chảy vào sông Severn, sông Severn chảy vào eo biển hẹp và chúng đổ ra đại dương. Thế là tro cốt của Wycliffe là biểu tượng cho lẽ đạo của ông, là lẽ đạo giờ đây đang lan rộng ra khắp thế giới”.
“Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhơn, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng; song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo; mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng” [Thi thiên 1.1-3]
.
