1 tháng 6
NHÀ VÔ THẦN CƠ ĐỐC
Ông đã được 30 tuổi, khi đi dạo trên bờ biển, ông đã lắng nghe tiếng ầm vang không đổi của sóng biển. Lời nói của Vua Solomon trong Truyền đạo 1.2 đã mô tả tính khí của ông – Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Tôi đã nhìn thấy mọi sự ấy – hư không của sự hư không! Ông đã theo đuổi từng môn triết lý, và chẳng một thứ nào trong số đó làm cho ông thấy hài lòng. Ông đã nghiên cứu triết học của Stoic, nhưng cũng không thấy thoả mãn. Triết lý của Aristote không làm phỉ lòng ông, Pythagore cũng thế. Ông đã tìm thấy sự trống không của triết lý Platon. Thế nhưng nhờ bờ biển ngày hôm đó, ông đã gặp được một cụ già đã trao cho ông một sứ điệp quan trọng mà cũng rất là đơn sơ: Jesus Christ là Chúa. Đời sống của Justine không còn giống như trước đó nữa.
Justine xuất thân từ xứ Palestine, chào đời không lâu sau cái chết của sứ đồ Giăng. Bố mẹ giàu có, thờ lạy hình tượng, họ đã cung ứng cho ông một sự giáo dục hoàn hảo, và Justine đã chứng tỏ mình thông sáng. Thế nhưng, dù lý trí ông đầy dẫy với triết lý, chẳng một thứ nào chứa đầy được tấm lòng ông. Và cứ thế, cho tới khi ông gặp cụ già bên bờ biển chia sẻ Tin lành cho.
Ngay lập tức Justine bắt đầu làm chứng với mọi người rằng Đấng Christ có thể làm thoả mãn cả lòng và trí ông. Ông giải bày trường hợp của ông về Cơ đốc giáo rất rõ ràng, biện hộ cho Tin lành hiệu quả đến nỗi ai cũng biết ông là một trong những nhà biện giải tôn giáo đầu tiên xuất sắc nhất của Hội thánh (những nhà biện hộ cho đức tin). Ông đã trở thành giáo sư ở Êphêsô, rồi dời sang Rome và mở trường Cơ đốc. Ông đã viết nhiều sách nhắm vào sứ điệp Cơ đốc, ba trong số sách nầy vẫn tồn tại trong đó có quyển sách bàn luận rất hay với một người Do thái tại Êphêsô có tên là Trypho, một người còn sống sót trong cuộc chiến Bar Kochba. Justine khéo léo giải thích các lý do Trypho đã xem Cơ đốc giáo là một thứ đức tin biết nói và biết luận lẽ.
Giữa thập niên 160, trong khi giảng dạy ở Rome, ông đã tranh luận với một kẻ hay hoài nghi có tên là Crescentius, người nầy cho rằng chỉ có đức hạnh mới là mục tiêu trong cuộc sống. Justine đã thắng cuộc tranh luận dứt khoát đến nỗi Crescentius, giận dữ, đã thưa Justine với Thái Thú La mã rồi kéo ông ra toà với bản án vô thần – nghĩa là, vì ông không tin theo các vị thần của Rome. Justine cùng mấy người khác nữa đã bị kết án, bị đánh đòn, và bị chặt đầu.
Từ đó ai cũng biết ông là Justine Martyr, và đời sống của ông đã được Hội thánh ghi nhớ hàng năm ở cả Đông và Tây vào ngày này, 1 tháng Sáu.
“Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy” (Truyền đạo 12.13-14).
2 tháng 6
HÃY KHIẾN HỌ TRỞ THÀNH THIÊN SỨ
Quần đảo Anh quốc có lẽ đã được truyền đạo rất sớm vào thế kỷ đầu tiên, nhưng sự suy vi của Đế Quốc La mã đã giúp cho người Anglo Saxon tràn qua các quần đảo. Nhiều Cơ đốc nhân bị thảm sát, nhiều nhà thờ bị tàn phá, tin lành gần như bị hủy diệt. Nhiều năm tháng trôi qua, rồi một ngày kia tại Rome một linh mục trưởng tu viện có tên là Gregory nhìn thấy ba đứa trẻ người Anh mắt xanh, tóc vàng hoe bị đem bán ở chợ nô lệ. Tấm lòng ông cảm động đối với chúng. Sau khi biết lai lịch của chúng, ông nói: “Chúng là người Anglo; hãy biến chúng thành thiên sứ”. Ông thừa hành như một giáo sĩ, ao ước muốn tái lập Cơ đốc giáo lại cho Anh quốc, nhưng Giáo Hoàng gọi ông về trước khi ông tới nước Anh. Một thời gian ngắn sau đó, chính ông trở thành Giáo Hoàng, Gregory đã phái một nhóm 30 hay 40 giáo sĩ dưới quyền lãnh đạo của một thầy tu tên là Augustin.
Cả nhóm đã cặp bến gần cửa sông Thames vào mùa xuân năm 597. Họ hay được rằng Nữ Hoàng Bertha xứ Kent đã có nghe giảng Tin lành ở nước Pháp quê hương của bà và đã trở lại đạo. Với sự vùa giúp của bà, Vua Ethelbert đồng ý tiếp kiến Augustin, dù ông ta khẳng định cuộc gặp của họ sẽ được tổ chức trong bầu không khí rộng mở, ở đó ông ta nghĩ “phép thuật” của Augustin sẽ chẳng ăn nhằm gì tới ông ta cả. Thế nhưng không phải như vậy đâu! Sau khi nghe Augustin rao giảng, Ethelbert đã công nhận Đấng Christ làm Chúa trong ngày nầy, 2 tháng 6 năm 597. Sau năm đó, nhà vua và 10.000 cận thần của mình đã chịu phép báptêm. Sứ điệp của Đấng Christ lan truyền khắp các vương quốc Anglo Saxon lân cận, và khi Hội thánh lớn lên Augustin được gọi là Tổng Giám Mục. Vua Ethelbert đã cung cấp toà lâu đài của mình cho vị Tân Giám Mục, nhơn đó thiết lập xứ Canterbury có Tổng Giám Mục ấy làm trung tâm Tân giáo của nước Anh.
Augustin, từ chối không chịu thoả hiệp các quan điểm như ngày tháng Lễ Phục Sinh và cách thức cử hành phép báptêm, đã tạo ra sự bất đồng, làm hoen mờ thành tích của ông. Khi ông qua đời vào ngày 26 tháng 5 năm 604, ông đã được chôn trong đại giáo đường xứ Canterbury với hàng chữ nầy ghi trên bia mộ của ông: “Nơi đây yên nghỉ Augustin, vị Tổng Giám Mục đầu tiên xứ Canterbury, Giáo Hoàng Gregory đã sai phái ông, Giám Mục của Rome, đã làm cho Vua Ethelbert và xứ sở nhà vua không còn thờ lạy hình tượng mà đến với đức tin của Đấng Christ”.
“Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ, lấy Kinh Thánh cắt nghĩa và giải tỏ tường về Đấng Christ phải chịu thương khó, rồi từ kẻ chết sống lại. Người nói rằng Đấng Christ nầy, tức là Đức Chúa Jêsus mà ta rao truyền cho các ngươi. Trong bọn họ có một vài người được khuyên dỗ nối theo Phao-lô và Si-la, lại cũng có rất nhiều người Gờ-réc vẫn kính sợ Đức Chúa Trời, và mấy người đờn bà sang trọng trong thành nữa” (Công Vụ các Sứ Đồ 17.2-4).
3 tháng 6
ĐÁNG RỦA THAY LOÀI CHUỘT CHŨI
Nếu quí vị gặp trăn trở trong giấc ngủ, hãy thử đọc Thi thiên 3 và 4. David, chạy trốn để cứu lấy mạng sống mình và bị quân phản nghịch của Ápsalôm vây lấy, đã viết trong Thi thiên 3.5: “Tôi nằm xuống mà ngủ; Tôi tỉnh thức, vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi”. Thi thiên 4.8 ghi lại các lời hứa của Đức Chúa Trời đã làm ra những chiếc gối êm ái cho những ai yên nghỉ trong Ngài: “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; Vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn”.
Thế nhưng không phải như thế trong suốt bài giảng của nhà truyền đạo.
Ít nhất, không phải như thế trong lịch sử của Hội thánh Mỹ lúc ban đầu.
Những tín đồ Thanh giáo ở thuộc địa New England đã chọn “những người hay dâng phần mười” ngồi xen ở các hàng ghế vào những buổi sáng Chúa nhựt, để báo động kịp thời bất cứ người nào ngủ gà ngủ gật trong các bài giảng dài, đôi khi chán ngắt nữa. Họ mang cây sào dài có gắn lông chim ở một đầu và đầu kia gắn mũi gai nhọn. Những người đến thờ phượng mà ngủ gục sẽ tự chuốc nguy lấy cho mình, và kết quả không thể đoán trước được – Obadiah Turner xứ Lynn, bang Massachussetts lưu ý trong tờ nhật báo của mình về ngày 3 tháng 6 năm 1646 như sau:
Allen Bridges được chỉ định lo đánh thức những kẻ ngủ gục trong khi nhóm lại. Và lấy làm tự hào về công việc của mình, phải cần đến cái đuôi cáo gắn trên cây sào dài để khều vào mặt những ai ngủ gục trong khi nghe giảng luận, giống như một mũi gai nhọn để ông ta chích vào ai đó khi có cần. Vào ngày của Chúa, khi ông ta bệ vệ đến nơi nhóm lại, ông ta để ý thấy Ông Tomlins đang ngủ ngon lành, đầu ông ta nghiêng hẳn qua một bên, bàn tay ông vịn lấy lan can. Rồi khi thấy như thế, Allen mau chóng thọc cây sào ở phía sau Bà Ballard rồi chích mũi nhọn vào bàn tay ông ta. Vì thế, Ông Tomlins phát giật mình ngã trên sàn nhà, với tư thế khủng khiếp tay ông chống vào tường; ai nấy đều lấy làm ngạc nhiên, ông ta kêu la ầm ỉ, rủa sả loài chuột chũi, ông ta đang mơ thấy con chuột ấy ngoạm lấy bàn tay mình. Nhưng khi nhận ra mình đang ở đâu, và ông ta đã bị việc gì, ông ta lấy làm lúng túng nhiều lắm, mà chẳng nói gì được. Và tôi nghĩ không bao lâu sau đó, ông ta lại sẽ ngủ gục trong buổi nhóm như trước.
“Nhiều người nói: Ai sẽ cho chúng ta thấy phước? Hỡi Đức Giê-hô-va, xin soi trên chúng tôi sự sáng mặt Ngài. Chúa khiến lòng tôi vui mừng nhiều hơn chúng nó, dầu khi chúng nó có lúa mì và rượu nho dư dật. Hỡi Đức Giêhôva, tôi sẽ nằm và ngủ bình an; Vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ở yên ổn” (Thi thiên 4.6-8).
4 tháng 6
LÀM CHỨNG BẰNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
Sóng tín hiệu mắt thường không sao nhìn thấy được của công cuộc truyền giáo phát cả ngày lẫn đêm ngang qua bầu trời và đại dương, xuyên qua các quốc gia và nhiều tấm lòng ở những nơi mà quí vị giáo sĩ không tới được. Các chức vụ truyền giáo bằng làn sóng ngắn như HCJB, đài phát thanh Transworld, và Đài Phát Thanh Viễn Đông (Far East Broadcasting Company, viết tắt là FEBC).
Đài FEBC khai mạc vào năm 1945 khi ba Cơ đốc nhân góp chung vốn tạo ra một công ty kinh doanh phi lợi nhuận để phát sóng Tin lành qua vùng Đông phương. Một trong ba người là John Broger, đã qua Thượng Hải tìm kiếm một địa điểm để đặt một trạm phát sóng. Ông đã vượt biển sang Manila để thăm dò tính khả thi trong việc đặt một trạm phát sóng ở Phi luật Tân.
Trong khi lo hoàn tất đơn từ trình chính phủ Phi luật Tân, Broger đã xin phép cho đặt một trạm phát với công suất 10.000 Watts. Hãy tưởng tượng xem nỗi rung động của ông khi các quan chức khoanh tròn con số và ghi: “Công suất không giới hạn”.
Nhưng nhà cầm quyền Phi luật Tân quyết định cho trạm phát sóng vào ngày 4 tháng 6 hoặc chẳng phát gì cả. Đồng thời ở tại Mỹ, các nhà sáng lập đang lo vận động các nguồn quỹ cho đúng với yêu cầu. Sự chậm trễ từ ngày nầy qua này khác sẽ làm cho dự án không còn hiệu lực, nhưng các quan chức chính phủ đã từ chối không kéo dài lịch trình. Nhiều khó khăn bực bội đã phát sinh, và ba ngày trước khi hết hạn, các vấn đề của trạm phát sóng càng tăng thêm. Khi ngày 4 tháng 6 sắp hết, những đường dây cao thế đan chéo nhau qua trạm và các công nhân đã bước ngang qua làn nước ngập tới mắt cá chân do mưa nặng hạt. Broger đã chạy nhanh xuống thành phố để xin gia hạn. Ông đã bị từ chối.
Ông không còn có một sự lựa chọn nào khác, nên phải chạy ngược lại các con đường đầy ắp những chiếc xe bò, làm ngăn trở giao thông, chạy đua với chiếc đồng hồ. Ông chạy về tới phía trước trạm phát sóng, chạy ùa vào đó mà hô to lên: “Chúng ta hãy thử phát đi”. Công tắc được bật lên, các máy phát sóng kêu rền lên khi có điện, và toàn thể nhân viên bắt đầu cất tiếng hát bài “Ngợi Danh Jêsus” (TC 413). Bấy giờ là 6 giờ chiều, ngày 4 tháng 6 năm 1948, và đài FEBC đã phát sóng. Ngay tức khắc hầu hết các bản tin đều đến với các thợ hớt tóc, những kẻ vô thần, hạng trộm cướp, các bà nội trợ, và nhiều thanh thiếu niên đã được cứu. Ngày nay đài FEBC vẫn còn phát sóng, phục vụ từng quốc gia ở Á châu với các buổi thờ phượng địa phương và/hay quốc tế trong hơn 150 thứ tiếng.
“Ngợi khen Đấng có quyền làm cho vững chí anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng Đức Chúa Jêsus Christ, theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẽ đã giấu kín từ mọi đời trước,…nhơn Đức Chúa Jêsus Christ, nguyền xin vinh hiển về nơi Đức Chúa Trời khôn ngoan có một, đời đời vô cùng! A-men” (Rôma 16.25, 27).
5 tháng 6
CÁI RÌU CỦA VỊ SỨ ĐỒ
Ông được gọi là sứ đồ của người Đức và có lẽ là vị giáo sĩ lỗi lạc nhất của Kỹ Nguyên Tăm Tối.
Boniface là một người Anh, ra đời vào năm 680. Ông đã vào tu viện và ở tuổi 30 ông đã được tấn phong. Mọi tài năng của ông đã bảo đảm cho một sự nghiệp rực rỡ trong Giáo Hội Anh quốc, nhưng Boniface đã có một sự kêu gọi vào công cuộc truyền giáo cho đời sống ông không thể từ chối được. Vào năm 716, ông dong buồm sang xứ Hà lan trong nổ lực truyền giáo đầu tiên, nhưng ông đã gặp phải sự chống đối rất mạnh về mặt chính trị và đã trở về lại Anh quốc trong tình trạng ngã lòng.
Ông đã hồi phục rồi ra đi một lần nữa vào đại lục, đến tại Rôma vào năm 718, khi ấy với sự phê chuẩn của Giáo Hoàng, đến nước Đức. Trong 12 năm kế đó, ông đã làm việc tại Đức (thỉnh thoảng ông có qua xứ Hà lan), rồi không bao lâu sau đó, ông bắt đầu nhìn thấy nhiều kẻ ngoại đạo đã trở lại đạo. Lòng can đảm của ông chẳng biết tới một giới hạn nào cả. Trong một ngôi làng kia, ông không đưa được ai đến với Chúa vì cư dân địa phương, họ vốn tin vào cây to kia, là cây sồi thiêng liêng được họ gọi là cây Thần Sấm, có quyền lực siêu nhiên ở trên họ. Boniface lấy một cây rìu, và dân chúng thì lấy làm sợ hãi. Khi ấy ông đã tiến hành việc xây dựng một ngôi nhà thờ làm bằng gỗ. Tin tức lan nhanh khắp miền trung Âu châu, và hàng ngàn người đã xưng nhận Đấng Christ làm Chúa. Boniface đã đi từ làng nầy sang làng khác, đập vỡ các hình tượng, hủy diệt nhiều chùa miễu, và lo rao giảng Tin lành.
Nhưng không lâu sau đó, ông đã xem lại công tác truyền giáo “đập vỡ và thiêu đốt” của mình rồi bắt đầu xây dựng nhiều nhà thờ, huấn luyện và tổ chức hệ thống tăng lữ cho bản xứ. Nữ giới càng năng động hơn khi bắt tay vào phụ việc với ông. Năm 744, ông đã thiết lập chủng viện quan trọng xứ Fulda, cho đến nay là trung tâm Cơ đốc giáo La mã ở nước Đức. Những người được Boniface đem trở lại đạo đã ra đi làm giáo sĩ xuyên suốt cả miền Trung Âu châu.
Bất cứ đâu ông đi tới, đều được Giáo Hoàng phê chuẩn và ban quyền hành cho, và ông đã trở thành một trong những giáo phụ quyền lực nhất của thế kỷ thứ 8. Có người đã phê phán ông về sự coi trọng giáo hội hơn cả Tin lành. Ông đã trở lại Hà lan trong chuyến lưu hành giảng đạo, và hàng ngàn người trở lại đạo đã chịu phép báptêm. Vào ngày 5 tháng 6 năm 755, một nhóm người ngoại đạo thù nghịch đã tấn công ông khi ông cắm trại bên bờ sông Borne. Chúng đã giết ông đang khi tay ông còn giữ chặt quyển Kinh Thánh.
“Vì Chúa có phán dặn chúng ta như vầy: Ta lập ngươi lên đặng làm sự sáng cho các dân, hầu cho ngươi đem sự cứu-rỗi cho đến cùng cõi đất. Những người ngoại nghe lời đó thì vui mừng, ngợi khen đạo Chúa, và phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo” (Công Vụ các Sứ Đồ 13.47-48).
6 tháng 6
KẺ THÙ MÀU VÀNG
Trung Mỹ bị Tây ban Nha chinh phục vào thập niên 1500 và Thiên Chúa Giáo đã giữ chặt lấy vùng nầy trong 300 năm. Những kẻ nào không theo Thiên Chúa Giáo đã bị hành hình bằng cách nhúng vào nước đang khi bị trói thúc ké. Nhiều người khác bị treo trên chiếc đai ở trần nhà hoặc bị thiêu sống trong mấy cái lò lớn. Khi Đế quốc Tây ban Nha tan rã vào năm 1838, có mấy nước mới nổi lên, có cả Honduras, El Salvador, Nicaragua, và Costa Rica. Cửa ngõ cho các giáo sĩ tin lành đã trở nên khả thi nhưng cũng có lắm điều may rũi.
Giáo sĩ đầu tiên đã đến là người Đức gốc Moravian, sau đó là các giáo sĩ hệ phái Trưởng lão. Kế tiếp vào cuối thập niên 1880 C. I. Scoffield đã thiết lập Hội Truyền Giáo Trung Mỹ (The Central American Mission, viết tắt là CAM). Một trong các giáo sĩ đầu tiên nầy, Cô Eleanor Blackmore, đã viết cho những người ủng hộ mình: “Tôi đã bị ném đá, bị rủa sả, bị chế nhạo trên từng đường phố. Tôi không biết một con đường nào trên cả thành phố mà ở đó tôi có thể bách bộ, ở nơi ấy chẳng có nhà cửa chi hết, song họ nằm sẵn đấy để đợi ném đá tôi…Chúng tôi không cần thương hại đâu. Chúng tôi kể đấy là một vinh dự khi xứng đáng chịu khổ, nhưng chúng tôi thèm thuồng những lời cầu nguyện của quí vị lắm”.
Các giáo sĩ CAM đầu tiên đến tại Costa Rica, nhưng không lâu sau đó một trong ba đội đã hướng tới El Salvador. Họ không định đến đó, nhưng không phải gậy gộc và đá cuội đã đánh hạ họ đâu. Ông và Bà H. C. Dillon và Clarence Wilber đã đi ngang qua Nicaragua vào năm 1894, hướng tới El Salvador, khi họ mắc phải bịnh sốt rét, ớn lạnh, và sung huyết ở mắt và miệng. Clarence đã ngã chết vì đã nôn ra máu đen rồi được chôn cất trong một ngôi mộ tạm thời. Gia đình Dillon đã lên tàu và khởi sự trở về quê nhà, nhưng Bà Dillon đã qua đời trên đường đi. Ông Dillon còn sống và không lâu sau đó đã tái hôn.
Ông cùng người vợ mới là Margaret, trở lại Trung Mỹ, ở đó Dillon một lần nữa mắc phải bịnh sốt rét vàng da rồi sau đó đã qua đời. Margaret cứ ở lại Honduras, sống trong một ngôi nhà nhỏ dựng sơ sài, ngủ trên tấm chiếu rơm, và huấn luyện các nhà truyền đạo người Honduras. Mười lăm năm đã trôi qua mà không có ngày nghỉ phép, khi ấy bà dự định lên tàu để trở về quê hương. Trong khi gói ghém đồ đạt, bà nhiễm phải bịnh sốt rét da vàng, người ta đã cáng bà trên võng đi 36 dặm đến một trạm truyền giáo, đúng vào ngày 6 tháng 6 năm 1913. Bà qua đời hai ngày sau đó.
Còn mấy cái mộ nầy đã trở thành đầu đề cho câu chuyện nói tới hột giống dành cho mùa gặt các linh hồn cứ tiếp tục mãi cho đến ngày hôm nay.
“Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài” (I Têsalônica 4.13-14).
7 tháng 6
NGỌN CỜ CỦA CHÚA JÊSUS
Nhà thờ Metropolitan của thành phố Luân đôn nằm đối ngang dốc trạm xe điện ngầm ở phía Nam thành phố nầy, vây quanh nhà thờ là nhiều nhà cửa, quán bar, và các cửa hiệu không còn hoạt động nữa. Trung bình sáng Chúa nhựt có khoảng 300 người đến nhóm lại. Chức vụ truyền giáo thành công của nhà thờ nầy hấp dẫn lớp người trẻ và đóng vai trò là một nhu cần quan trọng trong nội thành.
Nhìn theo chiều hướng khác, nhà thờ Metropolitan không còn sinh hoạt như trước nữa kể từ sáng Chúa nhựt 7 tháng 6 năm 1891, khi Charles Spurgeon đến giảng ở đó lần cuối cùng. Ông đã kiệt sức trong chức vụ và chao đảo bởi xung đột về hệ phái. Mái tóc ông đã ngả màu trắng, gương mặt ông nhăn nheo, cơ thể ông trở yếu đuối. Ông đã kết thúc bài giảng mà không biết đây sẽ là lời lẽ sau cùng của mình trên toà giảng: “Bốn mươi năm nầy và hơn nữa tôi đã hầu việc Ngài, phước thay là danh của Ngài! Và tôi chẳng có gì trừ ra tình yêu thương của Ngài. Tôi rất vui sướng tiếp tục bốn mươi năm khác trong cùng chức vụ yêu dấu ở đây nếu như sự ấy đẹp lòng Ngài. Sự sống, sự bình an, sự vui mừng là sự phục vụ của Ngài. Ồ, nguyện quí vị sẽ bước vào sự phục vụ ấy ngay lập tức. Nguyện Đức Chúa Trời giúp đỡ cho quí vị giành được sự cộng tác dưới ngọn cờ của Chúa Jêsus ngay ngày hôm nay! Amen!”
Buổi trưa hôm ấy, cả hội chúng của ông đã hốt hoảng khi hay tin Spurgeon ngã bịnh. Ông nằm trên giường hơn một tháng, hầu hết khoảng thời gian ấy, ông không tỉnh táo, đôi khi rất mê sảng. Luân đôn cố bám vào từng thông báo, và các buổi nhóm cầu nguyện đã được tổ chức liên tục tại nhà thờ. Nhiều tháng trời trôi qua. Spurgeon đã hồi tỉnh đủ vào cuối mùa hè để đi về phía Nam nước Pháp, và hy vọng ông được phục hồi ở mức độ cao. Nhiều nhân sự trong nhà thờ đã được sắp xếp để đưa ông lên các bậc thang.
Nhưng khoảng nửa đêm, ngày 31 tháng Giêng năm 1892, Spurgeon đã trút hơi thở cuối cùng, có vợ ông cùng mấy người bạn vây quanh ở trong phòng của khách sạn Beau Rivage ở Menton, nước Pháp. Anh quốc đã lặng lẽ đi khi hay tin, và 12 ngày sau đó đám tang của ông đã bị vây quanh bởi 100.000 người đến than khóc khi đoàn người đưa tang bước vào Nghĩa trang Upper Norwood ở Luân đôn.
Ông đã được 57 tuổi. Ông đã đi hết con đường của mình dưới ngọn cờ của Chúa Jêsus.
“Nầy là lời sau hết của Đa-vít. Nầy là lời của Đa-vít, con trai Y-sai…Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta. Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán, Hòn Đá lớn của Y-sơ-ra-ên đã phán cùng ta rằng: Người nào cai trị loài người cách công bình, cách kính sợ Đức Chúa Trời, thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng, khi mặt trời mọc, khác nào một buổi sớm mai chẳng có mây; các ánh sáng nó làm cho cây cỏ bởi đất nảy ra sau khi mưa” (II Samuên 23.1a, 2-4).
8 tháng 6
“BA NGÔI” MỚI
Cuộc cách mạng Pháp không phải là cuộc thập tự chinh vì tự do tôn giáo, mà là một nổ lực để thay thế tôn giáo bằng lý lẽ và chủ nghĩa duy lý. Nước Pháp, khoe khoang về số cư dân lớn lao nhất của nó tại châu Âu, đã gặp rắc rối trong việc nuôi dưỡng số đông ấy. Nhiều đoàn dân đông, kể cả giới tăng lữ địa phương, đã sống trong cảnh nghèo khổ trong khi các quan chức của triều đình và giới chức cao của giáo hội – Hồng y giáo chủ, Tổng giám mục, Giám mục, cha trưởng tu viện – đã sống trong sự giàu có.
Vào ngày 8 tháng 6 năm 1794, một môn đồ của Rousseau tên là Robespierre và Giáo hội Pháp về mặt hình thức đã cho thi hành một tôn giáo mới. Tôn giáo nầy là một hình thức thần thánh, là niềm tin cho rằng có một Đức Chúa Trời, Ngài đã dựng nên vũ trụ, không biết vì cớ gì đã biến mất. Giáo hội ra lịnh cho dân sự phải công nhận sự hiện hữu của một Đấng tối cao và sự bất tử của linh hồn, song lại chối bỏ sự “mê tín” của Cơ đốc giáo. Tuần lễ Cơ đốc 7 ngày bị đổi thành tuần lễ 10 ngày, và các ngày lễ mới buộc phải tưởng niệm các sự cố lớn của cuộc Cách mạng. Nhiều vị thánh đồ đã bị thay thế bằng các anh hùng chính trị. Nhiều nhà thờ đã được chỉ định làm “Đền Thờ Duy Lý”. Một bức tượng được gọi là Nữ Thần Duy Lý đã được dựng lên tại Notre Dame. Tiền lương của giới tăng lữ Thiên Chúa giáo bị đình chỉ không cấp nữa, và các vị linh mục bị cấm giảng dạy. Ngày 8 tháng 6 trở thành “Ngày Thánh” của nước Pháp, là ngày “Lễ Đấng Tối Cao”. Những người thuộc phe Cách mạng đã thề thay thế Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh bằng “Ba Ngôi” mới – “Tự do, Bình đẳng và Thân hữu”.
Sự thể cho thấy đã không được như thế. “Tự do, Bình đẳng và Thân hữu” đã xấu đi, nó đổi thành sợ hãi, đổ máu, và máy chém. Nhiều tuần lễ theo sau ngày 8 tháng 6 năm 1794 đã nhìn thấy đầu của 1.400 người rơi xuống “giống như ngói rơi xuống từ mái nhà” vậy. Nhiều cuộc hỗn loạn đã lót đường cho Napoleon Bonaparte, vào ngày 18 tháng 5 năm 1804, ông đã công nhận giáo hội một lần nữa. Ông được Giáo Hoàng Pius VII làm lễ tấn phong cho. Nhưng vào lúc sau cùng nhà độc tài thấp bé kia đã cầm lấy vương miện từ tay Giáo Hoàng rồi đội nó lên đầu mình. Pius dứt phép thông công Napoleon, còn Napoleon bắt nhốt Pius vào tù.
“Tự do, Bình đẳng và Thân hữu” đã minh chứng chúng là những thứ tà thần, như Rousseau, Robespierre và Cuộc Cách Mạng đã minh chứng – và chính Napoleon nữa. Đến cuối cùng, họ chỉ đem lại đau khổ mà thôi.
“Hãy nín lặng, trước mặt Chúa Giê-hô-va!… Trong ngày tế lễ của Đức Giê-hô-va, ta sẽ phạt các quan trưởng và các con trai của vua, và hết thảy những kẻ mặc áo lạ. Trong ngày đó, ta sẽ phạt hết thảy những kẻ nhảy qua ngạch cửa, và những kẻ làm đầy dẫy sự bạo ngược và sự quỷ quyệt trong nhà chủ mình” (Sôphôni 1.7a, 8-9).
9 tháng 6
CÁI ĐẦU HIỂU BIẾT, TẤM LÒNG MẠNH MẼ
Hạng người có cái đầu hiểu biết có thể trở thành hạng thánh đồ có tấm lòng rất mạnh mẽ, vì chính tính khí đó làm chủ đạo cho tâm tánh chúng ta được Đức Thánh Linh khai thác để lo làm việc lành. Chúng ta học được điều nầy từ Columba, ra đời ở Ulster, Ái Nhĩ Lan, vào ngày 7 tháng Chạp năm 521. Ông nội của ông đã chịu Thánh Patrick làm phép báptêm, và bố mẹ của Columba là các tín đồ thuộc dòng vương giả. Mặc dù ông đã có một sự khao khát muốn học hỏi và sống cho Chúa, Columba là người có ý chí rất mạnh mẽ và háo thắng. Ông có vóc dáng rất thu hút với cơ bắp rất mạnh mẽ và một giọng nói đầy uy quyền; nhưng tính háo thắng và ý chí sắt đá của ông cũng có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí sau khi ông đã trở thành một giáo sĩ cho đồng bào người Ái nhĩ Lan của mình. Ngày kia Columba đã ghi chép nội dung của một quyển sách mà không được phép, và khi người chủ đòi lại quyển sách Columba đã từ chối. Cuộc tranh luận đòi hỏi tới mạng sống của mỗi bên, và thêm nhiều người nữa. Một cuộc chiến tranh đã nổ ra, trong đó 3.000 người đã mất mạng sống mình.
Đầy hối tiếc, Columba đã dâng mình vào sự làm chứng đem nhiều người về với Đấng Christ giống như đã ngã chết trong chiến tranh. Vì thế ông đã rời Ái Nhĩ Lan ở tuổi 42 để trở thành giáo sĩ cho xứ Tô cách Lan. Với 12 bạn đồng hành, chính ông đã thiết lập trên Iona, một hòn đảo đầy gió sương, ở cuối bờ biển xứ Tô cách Lan, bề dài 3 dặm và ngang 1 dặm rưỡi. Ông đã xây dựng một chủng viện thô sơ, không bao lâu sau đó đã trở thành một trung tâm đào tạo các giáo sĩ, một trong những địa điểm nổi tiếng trong lịch sử truyền giáo Cơ đốc. Đó là một ngọn hải đăng nghịch lại chủ nghĩa tà giáo.
Từ Iona, Columba đưa công cuộc truyền giáo đột phá vào xứ Tô cách Lan, làm biến đổi rất nhiều người. Cả một bộ tộc ngoại đạo, bộ tộc Pict, đều đã được đưa về với đức tin. Ông đã đối diện với các tu sĩ của một tôn giáo cổ, đấu tranh với họ, thắng hơn quyền lực của ma quỉ và phù phép của họ. Truyền thuyết nói rằng ông đã làm ra nhiều phép lạ chống lại phù phép của họ, thuyết phục dân chúng về quyền năng siêu việt của Tin lành. Ông đã dùng phần còn lại của đời mình làm sứ đồ cho xứ Tô cách Lan và là một nhà đào tạo các giáo sĩ.
Vào ngày 8 tháng 6 năm 597, Columba, 75 tuổi, đã sử dụng ban ngày lo sao chép lại các Thi thiên, kế đó hiệp với các anh em mình để gia đình lễ bái cho tới nửa đêm. Ông ngã quỵ xuống tại bàn thờ rồi qua đời bình an vào ngày 9 tháng 6 năm 597, gương mặt ông như in lấy hình ảnh đang nhìn thấy các thiên sứ thánh đang hiện đến gặp ông.
“Người hay nóng giận dữ tợn, sẽ phải mang hình; Vì nếu con giải cứu hắn, ắt phải giải cứu lại nữa. Hãy nghe lời khuyên dạy, và tiếp nhận sự giáo hối, để con được khôn ngoan trong lúc cuối cùng. Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; Song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được. Lòng nhơn từ của người làm cho người ta yêu chuộng mình” (Châm ngôn 19.19-22a).
10 tháng 6
ĐÚNG LÀ ÂN ĐIỂN!
John Hus, ra đời trong gia đình của một nông dân nghèo khoảng năm 1373, được đi học đến nơi đến chốn, rồi bắt đầu dạy môn thần học tại Đại học đường của Prague. Ông đã thấu suốt các tác phẩm của Wycliffe, và đến năm 1402, khi ông được chỉ định làm truyền đạo tại Giảng đường Bethlehem danh tiếng tại Prague, các bài giảng đầy quyền năng của ông về sự xưng công bình bởi đức tin đã làm rung động cả xứ Bohemia. Các giới thức trong giáo hội ngày càng báo động bởi sự xôn xao ấy, rồi đến năm 1414 Hus bị triệu hồi đến Constance với bản án tà giáo. Mặc dù được hứa hẹn đối xử tử tế, ông đã mau chóng bị bắt. Đến ngày 10 tháng 6 năm 1415, ông đã viết thư cho các môn đồ của mình ở Bohemia:
“Thầy John Hus, là tôi tớ của Đức Chúa Trời, viết cho hết thảy những người Bohemia trung tín, biết kính sợ và sẽ kính sợ Đức Chúa Trời, cầu xin Đức Chúa Trời ưng ban cho họ biết sống và chết trong ân sũng của Ngài, và ở đời đời trong niềm vui mừng thiên thượng. Amen! Hỡi những người có lòng trung tín và yêu dấu của Đức Chúa Trời, quí ông quí bà, dù giàu hay nghèo. Tôi nài xin quí vị và khuyên quí vị nên kính sợ Chúa, lo rao truyền lời của Ngài ra khắp mọi nơi, biết lắng nghe và lưu ý lời ấy với sự bằng lòng càng hơn. Tôi nài xin quí vị nên nắm lấy lẽ thật của Đức Chúa Trời, những gì tôi đã viết ra và đã giảng dạy cho quí vị từ Kinh Thánh…
“Tôi viết cho quí vị thư nầy từ trong tù, bị trói bằng xiềng xích và trông mong án tử hình vào ngày mai, tuy nhiên, tôi đủ lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời rằng tôi không chao đảo đối với lẽ thật của Ngài, cũng không thề chối bỏ những sai lầm, là mọi điều mà các chứng nhân giả đã tố giác tôi. Đúng là ân điển mà Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho tôi, và thể nào Ngài đã vùa giúp tôi ở giữa những thử thách kỳ lạ, quí vị sẽ nhận biết khi bởi lòng thương xót Ngài chúng ta gặp nhau vui mừng trong sự hiện diện của Ngài. Về Thầy Jerome, bạn yêu dấu của tôi, tôi chẳng nghe nói gì khác hơn ông cũng giống như tôi, đang ở trong ngục tù hôi thối đang chờ lãnh cái chết, vì cớ đức tin mà ông đã tỏ ra cách sốt sắng cho người Bohemia…
“Tôi cũng nài xin quí vị, quí vị hãy yêu nhau, lo đùm bọc những người lành tránh khỏi áp bức, và cung ứng cho mọi người một cơ hội để nghe giảng lẽ thật. Tôi viết thư nầy với sự giúp đỡ của một thiên sứ tốt lành vào tối thứ hai trước ngày Lễ Thánh Vitus”.
Hai mươi sáu ngày sau, John Hus đã qua đời trên giàn hoả.
“Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy” (Mathiơ 5.10-12a).
11 tháng 6
CÁC DẤU ẤN CỦA CHA MẸ
Vào năm 1907 giáo sĩ Jesse Brand, còn trẻ và chưa lập gia đình, đã ra đi đến Ấn độ, định cư ở vùng núi Chat đầy dẫy tật bịnh. Bạn bè anh rùng vai khi nghe phần mô tả của anh về bầy chuột lắm bọ chét di chuyển thành đàn qua vùng đồi núi và tự do lan truyền các nạn dịch. Nhưng có một người cổ vũ muốn hiệp tác với anh – Evelyn Harris, hoa khôi thời trang của một vùng ngoại ô Luân đôn. Nàng hành trình đến Ấn độ rồi lấy anh làm chồng vào năm 1913.
Gia đình Brand lao động rất cật lực, cung ứng sự giúp đỡ về mặt y khoa cho hàng ngàn người. Jesse đã tổ chức tài trợ kinh tế cùng nhiều chương trình liên doanh khiến cho nhiều nhà nông có thể hưởng ứng theo. Anh thương lượng với các quan chức chính phủ cho sử dụng các nhân công thất nghiệp vào lao động. Anh tận dụng từng cơ hội để chia sẻ Đấng Christ, trong một năm đã rao giảng 4.000 lần trong 90 ngôi làng. Nhiều Hội thánh đã được thiết lập. Nhiều hội chúng đã lớn lên.
Và gia đình Brand cũng lớn lên nữa. Paul con trai đã chào đời và được mẹ dạy dỗ ở dưới tàng cây me. Bố nó có tánh thương người đã chỉ cho nó thấy những điều kỳ diệu của thiên nhiên. Khi lên 9 tuổi Paul được gửi về Anh quốc để tiếp thu phần giáo huấn theo hình thức, và bố mẹ nó cứ một mình tiến bước.
Vào mùa xuân năm 1928 Jesse bị nhiễm sốt rét nặng, nước tiểu màu đen thẫm. Tình trạng của anh ngày càng xấu tệ đi, nhưng anh vẫn tiếp tục làm việc. Đến đầu tháng Sáu, cơn sốt của anh lên tới 104oF. Đến ngày 9 tháng Sáu, anh đã giảng luận từ Êsai 60: “Hãy dấy lên, và sáng lòe ra! Vì sự sáng ngươi đã đến…”. Đúng ngày 11 tháng 6 năm 1928, độ sốt của anh lên tới 106oF và anh bị buộc phải nằm trên giường. Evelyn ngồi cạnh anh hết ngày nầy sang ngày khác, để ý thấy lớp da khô nẻ của anh, màu da trở vàng đi, và sự sống anh héo hắt dần. Những người Ấn độ địa phương quấn thân thể anh bằng tấm chiếu rồi cáng trên vai họ đem ra một ngôi mộ bên sườn dồi.
Đạo đã loé sáng trên Paul khi ấy mới được 14 tuổi. Hai ngày sau khi Paul nhận được một bức thư từ bố, do một chiếc thuyền đem đến trước khi Jesse chết. Bức thư kết thúc:…“và luôn luôn nhìn xem Đức Chúa Trời với lòng cảm tạ và thờ phượng vì đã đặt con trong một góc vui thích của vũ trụ là hành tinh quả đất”.
Evelyn cứ ở lại Ấn độ, trở thành một huyền thoại lặn lội qua vùng núi non với cây gậy đi bộ của mình, lo làm công việc của Chúa. “Bà Lão Brand” đã sống để nhìn thấy con trai mình, Tấn sĩ Paul Brand, trở thành một giáo sĩ bác sĩ nổi tiếng rất xuất sắc về cách chữa trị bịnh cùi.
“Hãy dấy lên, và sáng lòe ra! Vì sự sáng ngươi đã đến, và vinh quang Đức Giê-hô-va vã mọc lên trên ngươi. Nầy, sự tối tăm vây phủ đất, sự u-ám bao bọc các dân; song Đức Giê-hô-va dấy lên trên ngươi, vinh quang Ngài tỏ rạng trên ngươi. Các dân tộc sẽ được nơi sự sáng ngươi, các vua sẽ đến nơi sự chói-sáng đã mọc lên trên ngươi” (Êsai 60.1-3).
12 tháng 6
TÔI CÓ THỂ LÀM VIỆC NẦY
Lúc 9 giờ tối thứ Năm, ngày 12 tháng 6 năm 1806, giáo sĩ tiền phong William Carey, mệt mõi lắm do các công việc trong ngày, ông đến ngồi tại bàn giấy của mình rồi viết bức thư nầy trong ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu:
“Bác thức giấc lúc 5H30 sáng, đọc một chương trong quyển Kinh Thánh tiếng Hy bá lai, rồi nói chuyện riêng với Đức Chúa Trời cho tới 7 giờ sáng, kế đó bác dự gia đình lễ bái với các tôi tớ tại Bengalee. Khi trà được châm vào tách, bác đọc một đoạn ngắn bằng tiếng Ba tư với một Moonshi (một phụ tá người bản xứ), người nầy đang ngồi đợi khi bác ra khỏi phòng ngủ của mình. Bác cũng đọc một đoạn Kinh Thánh theo tiếng Hindoosthane. Thời gian ăn sáng rồi cũng mau qua, bác ngồi xuống cầm lấy bản dịch Ramayuna (một sử thi của người Ấn độ) từ tiếng Sangskrit, với một học giả Ấn độ…cứ tiếp tục phần dịch thuật nầy cho tới 10 giờ, lúc bấy giờ bác đi tới Trường (Fort William) rồi lo phần hành của mình ở đó (dạy tiếng Bengali, Sangskrit, và Marathi) cho tới khoảng 1H30 – Khi bác trở về nhà, bác xem lại bản thảo của bản dịch Bengalee sách Giêrêmi, mãi cho đến giờ ăn chiều….Sau khi dùng bữa chiều xong, lo dịch thuật cùng với sự vùa giúp của học giả Ấn độ trường đại học, phần quan trọng nhất của chương 8 sách Mathiơ sang tiếng Sangskrit – công việc nầy khiến bác phải làm việc cho tới 6 giờ, sau 6 giờ bác ngồi làm việc với một học giả Tilingua…để học ngôn ngữ đó. Ông Thomas (con trai của Mục sư Tho. Thomas ở Luân đôn) đã gọi đến vào buổi chiều; bác bắt đầu soạn một ít tư tưởng trước thành hình thức cho một bài giảng, lúc 7 giờ tối, rồi rao giảng bằng tiếng Anh cho tới 7giờ….Hội chúng ra về lúc gần 9 giờ. Khi ấy, bác ngồi xuống viết thư cho cháu, sau giờ nầy bác kết thúc buổi tối bằng cách đọc một chương Kinh Thánh tiếng Hy lạp, rồi phó thác bản thân bác cho Đức Chúa Trời. Bác chưa hề có nhiều thời gian trong một ngày hơn ngày hôm nay, mặc dù có nhiều công việc khác nhau”.
Eustace Carey nói rằng bác của cô chưa bao giờ tỏ ra sự bực bội trong khoảng thời gian xen giữa của hai công việc. Ông có thể dành cho các vị khách sự tận tình rồi lập tức quay trở lại với công việc của mình. Và ông không hề tận dụng một kỳ nghỉ nào đối với công cuộc truyền giáo, ông đã sống và làm việc ở Ấn độ gần 41 năm.
Ông từng nói: “Tôi có thể làm việc nầy thật lâu. Đối với công việc nầy, tôi mắc nợ từng thứ một”.
“Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi thiên 90.12).
13 tháng 6
ĐÊM TÂN HÔN CỦA LUTHER
Katherine von Bora gần như thấy mình đã bị nhốt tù như một nữ tu tại nhà tu kín Cistercian ở Nimbschem, nước Đức, vào thế kỹ thứ 16. Các người thân không thể nói chuyện với cô trừ phi nhìn qua một khung cửa sổ lưới mắt cáo, và thậm chí cô bị cấm nói chuyện với các nữ tu khác nữa. Im lặng là luật lệ tại nhà tu kín Cistercian.
Katherine đã xoay sở tìm cách lén đọc tư liệu – các tác phẩm của một người có tên là Martin Luther – và cô bắt đầu hy vọng mình sẽ tìm được một đời sống mới. Vào năm 1523, cô cùng với vài nữ tu khác đã ngấm ngầm hoạch định một chương trình đào thoát, và họ đã tìm cách liên lạc với Luther. Ông đến với một người chuyên bán cá nướng. Người nầy có nhiệm vụ lo giao hàng cho nhà tu và khi ông ta ra về, các nữ tu bị xếp như nêm trong mấy thùng cá trống.
Luther đã thành công trong việc tìm chồng cho hết thảy các người nữ kia, còn Katherin thì không được, cô là một thiếu nữ có ý chí rất mạnh mẽ, mái tóc màu đỏ mới 26 tuổi. Sau lâu ngày, ông đã cầu hôn với nàng. Câu chuyện về đêm tân hôn của họ đã được Richard Friedenthal, người viết tiểu sử của Luther ghi lại cho chúng ta biết….thiệt là lạ lùng:
“Vào buổi tối ngày 13 tháng 6 năm 1525, theo thông lệ lúc ban ngày, (Luther) xuất hiện với cô dâu của mình trước một số bạn hữu đóng vai người chứng. Johann Bugenhegen người xứ Pomeran chúc phước cho đôi tân hôn, họ đã qua đêm tân hôn trước mặt những người chứng kiến, (Justus) Jonas cho biết vào ngày sau: “Luther đã lấy Katherine von Bora làm vợ. Tôi đã có mặt ngày hôm qua và trông thấy đôi tân hôn trên giường cưới của họ. Khi tôi nhìn thấy cảnh nầy tôi không thể cầm được nước mắt của mình”.
Cuộc hôn nhân đã tạo ra một cơn bão chỉ trích trong vòng các nhà thờ khắp Âu châu. Erasmus gọi đây là một màn hài kịch và Henry VIII gọi đó là một tội ác (y như ông ta muốn nói thế). Còn Luther, ông nói: “Tôi không thể đổi Katie của tôi để lấy nước Pháp hay Venice, vì Đức Chúa Trời đã ban nàng cho tôi”. Nàng đã chứng minh mình xứng đáng trong vai trò làm vợ của vị Mục sư Tin lành đầu tiên, mà ai cũng biết là: “Vị phu nhân đầu tiên của Công cuộc Cải chánh”.
“Nàng mở miệng ra cách khôn ngoan, phép tắc nhơn từ ở nơi lưỡi nàng…Con cái nàng chổi dậy, chúc nàng được phước; Chồng nàng cũng chổi dậy, và khen ngợi nàng rằng: Có nhiều người con gái làm lụng cách tài đức, nhưng nàng trổi hơn hết thảy” (Châm ngôn 31.26, 28-29).
14 tháng 6
BỊ CHÔN SỐNG
Methodius ra đời ở Syracuse, Sicily, là một hòn đảo nằm ở cuối bờ biển nước Ý, nổi tiếng vì ôlive, rượu và cẩm thạch của nó. Các trường học ở đó đã dành cho ông một nền giáo dục rất tốt, và ông đã phát triển các tham vọng về chính trị. Thủ phủ của Đế quốc La mã lúc bấy giờ là Constantinople, vì vậy Methodius đã gói ghém hành trang của mình rồi đi đến đó, hy vọng có được một vị trí tại triều đình. Thay vì thế, ông đã gặp một thầy tu, thầy nầy khuyên ông hãy bỏ đi những cuộc theo đuổi về đời nầy mà bước vào công cuộc truyền giáo. Methodius đã được vị Giáo hạt trưởng Nicephorus để ý tới, vị nầy đã giao cho ông nhiều trách nhiệm về truyền đạo.
Cuộc tranh cãi về bài trừ thánh tượng đã làm cho Giáo hội phân rẽ lúc bấy giờ. Phải chăng các hình tượng của Đấng Christ và của các thánh đồ đáng được thờ lạy? Methodius đã hoạt bát bàn luận với sự tích cực, nhưng ông thấy mình đã rơi vào phe thua cuộc. Giáo hạt trưởng Nicephorus bị truất phế, và Methodius bị kết án, bị đánh đòn, và bị nhốt trong một ngôi mộ chung với hai tên cướp. Khi một trong hai tên cướp ngã chết, các viên chức đã từ chối không đem thi hài ra, để cho nó bị thối rữa trong mộ đó. Methodius đã chịu khổ trong sự giam hãm đầy mùi hôi thối nầy trong 7 năm trời, và ông chỉ còn là một bộ xương khi được phóng thích.
Nhưng ngay lập tức ông đã bắt đầu lại chiến dịch của mình về sự thờ lạy các hình tượng cùng các di vật trong Giáo hội Đông phương. Ông đã bị triệu đến trước mặt Hoàng đế Theophilus rồi bị kết án là bội đạo, nhưng ông đã ném trả lại bản án ấy vào mặt của nhà vua: “Nếu một hình tượng là vô giá trị trong mắt vua”, ông buông giọng sấm sét: “sao vua không kết án sự tôn kính dành cho những hình tượng của chính vua? Vua cứ tiếp tục khiến cho chúng ngày càng trở nên nhiều thêm”.
Hoàng đế Theophilus không bao lâu sau đó đã qua đời, và vợ goá của ông ta, Theodora, đã bắt bớ phe của Metodius. Những kẻ thờ lạy hình tượng đã quay trở lại với Giáo hội, giới tăng lữ bị lưu đày đã trở về lại đế quốc, và trong vòng 30 ngày các hình tượng đã được sắp đặt lại trong các nhà thờ của thủ đô.
Methodius được gọi là Giáo hạt trưởng Constantinople và không bao lâu đã triệu tập một giáo hội nghị các Hội thánh Đông phương để xác nhận mọi chỉ đạo của ông về các hình tượng rồi thiết lập Ngày hội Chính thống, kỷ niệm sự trở lại của các hình tượng trong các nhà thờ. Ông đã cai quản như một Giáo hạt trưởng trong bốn năm cho tới chừng ông qua đời vì bịnh phù thũng vào ngày 14 tháng 6 năm 847.
“Tượng chạm mà thợ đã chạm ra, có ích gì cho nó chăng? Tượng đúc, là thầy giả dối, thì có ích gì, mà người thợ làm thần tượng câm ấy lại tin cậy nơi việc mình làm ra? Khốn thay cho kẻ nói với gỗ rằng: Hãy tỉnh thức! và với đá câm rằng: Hãy chổi dậy! Nó có dạy dỗ được chăng? nầy, nó là bọc vàng và bạc, song chẳng có một chút hơi thở nào ở giữa nó. Nhưng Đức Giê-hô-va ở trong đền thánh của Ngài, trước mặt Ngài, cả đất hãy làm thinh! (Habacúc 2.18-20).
15 tháng 6
ĐÁM DÂN ĐÔNG VÀ GÃ THIẾU NIÊN
John Wycliffe của nước Anh đã ấp ủ đạo Tin lành rất lâu trước cả Luther, và Công cuộc Cải chánh có thể bùng nổ ở Anh quốc 130 năm trước khi nó bắt đầu ở nước Đức. Tuy nhiên, sự việc đã không thành, bởi một đám dân đông và một gã thiếu niên.
Trong thời của Wycliffe, nước Anh là một quốc gia chẳng có gì tốt đẹp cả. Một vài người sống đến 40 tuổi. Có rất ít hệ thống vệ sinh công cộng, và mùi hôi thối của các nhà xí, xưởng thuộc da, và bầy gia súc làm ô uế bầu không khí. Nạn dịch đã hoành hành với nỗi lo sợ đều đặn – vào năm 1361, 1368, 1375, 1382, 1390 – cướp đi 1/3 dân cư và gần phân nửa hàng giáo phẩm. Dân cư nỗi giận và trật tự xã hội ngày càng xấu đi. Một thứ thuế vào năm 1380 làm bật lên bạo lực, và Wycliffe, thấy mình bị các cấp lãnh đạo nổi loạn nêu ra, đã tìm cách tránh xa cuộc loạn lạc. Thế nhưng nhiều người cảm thấy sứ điệp cải chánh của ông đã góp phần vào cuộc nổi dậy đó.
Đến ngày 10 tháng 6 năm 1381, nhiều đoàn dân đông nhóm lại tràn qua Canterbury, cướp phá cung điện của Tổng Giám Mục Sudbury. Vào ngày 11 tháng 6 các cuộc cách mạng đã cuồn cuộn giống như một trận lụt hướng tới Luân đôn. Họ nói: “Bây giờ, sự trị vì của nền dân chủ Cơ đốc sẽ bắt đầu và mỗi người sẽ là một vì vua”.
Vua Richard II ẩn trốn trong Tháp Luân đôn khi đám người kia gây giông bão trên thủ đô. Sáng hôm sau vua đồng ý gặp gỡ với phe nổi dậy tại phía Bắc Luân đôn. Các cấp lãnh đạo phe nổi dậy, chưa thoả mãn với những giải đáp của ông, đã ùa về phía tháp, bắt lấy Tổng Giám Mục Sudbury trong khi ông đang hát Lễ Mass trong nhà thờ, họ cột cổ ông vào một khúc gỗ, rồi chặt đứt đầu ông (việc nầy đòi hỏi 8 nhát mới xong). Nhiều đoàn dân đông đã cướp phá và đã giết chóc tùy ý. Nhà vua bị rúng động đã lui về nghỉ tại cung của mẹ mình gần Đại giáo đường Thánh Paul.
Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 6 năm 1381, Richard thực hiện lời thề, ông cỡi ngựa ra đối mặt với những kẻ nổi loạn. Khi một sự tranh cãi nhỏ bị gián đoạn, ông đã dũng cảm phi ngựa thẳng vào đám dân đông, hô to lên: “Thưa quí vị, liệu quí vị có bắn vào vua của mình không? Tôi sẽ là quan tướng của quí vị; quí vị sẽ có từ nơi tôi những gì quí vị đang tìm kiếm”. Những kẻ nổi loạn chần chừ, và dân chúng đã theo về với Richard. Xu thế đổi chiều. Nhà vua, địa vị của ông, và Giáo hội chính thức của nước Anh đã được bảo tồn; cuộc nổi loạn bị đè bẹp. William Courtnay, là người rất ghét Wycliffe, được phong chức Giám Mục; và Công cuộc Cải chánh bị chậm lại cho tới một ngày khác.
Vua Richard II, thật không ngờ, mới võn vẹn có 14 tuổi.
“Ai đã làm và thành tựu việc nầy? Ấy là chính ta, Đức Giê-hô-va, là đầu-tiên, mà cũng sẽ ở với cuối cùng. Các cù lao thấy và thất kinh; các đầu cùng đất đều run rẩy. Chúng nó đều đến gần và nhóm lại” (Êsai 41.4-5).
16 tháng 6
WILLIAM VÀ CATHERINE
Ápraham đã tin rằng các thiên sứ giúp cho chúng ta tìm gặp người bạn đời của mình. “Chánh Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi”, ông nói với các tôi tớ mình: “và nơi đó ngươi hãy cưới một vợ cho con trai ta” (Sáng thế ký 24.7b). Nhiều năm về sau, những nhân vật làm mai mối thiên thượng (được tài trợ bởi một thương nhân ở Luân đôn) cũng đã kết William Booth và Catherine Mumford lại với nhau, họ trở nên một trong những đội như hình với bóng đẹp nhất trong lịch sử Hội thánh, đã sáng lập Đội Cứu Thế Quân và giúp đỡ cho hàng trăm ngàn người nghèo khó nhất của thành Luân đôn. Trong hai người, Catherine là người khéo léo nhất – và là nhà truyền đạo có tài hơn. Constance Coltman đã viết: “Chính bà ấy, là người đã biến một người ăn nói lỗ mãng thành một trong những vị lãnh đạo tôn giáo tài ba trên thế giới”.
William ra đời vào năm 1829 ở Nottingham. Catherine chào đời vào năm sau trong một tỉnh gần đó, lớn lên trong một gia đình theo hệ phái Thanh giáo. Bà đã đọc Kinh Thánh suốt 8 lượt trước năm 12 tuổi, và bà rất xuất sắc trong học tập. Thế nhưng ở tuổi 14, Catherine đã bị chứng gai cột sống, khiến bà phải nằm liệt trên giường. Bà cũng bị chẫn đoán là mắc bịnh lao nữa. Thế nhưng giường bịnh của bà đã trở thành một nơi học hỏi, ở đó bà đã ăn nuốt bộ môn thần học và lịch sử Hội thánh. Dần dần bà trở nên khoẻ mạnh hơn đủ để khởi sự suy nghĩ tới hôn nhân. Bà nói: “Tôi có thể hữu dụng hơn cho Đức Chúa Trời trong vai trò làm vợ của một vị Mục sư”. Bà muốn một người đờn ông cao ráo và ngăm ngăm đen, và bà nghĩ người ấy sẽ có tên là “William”.
Vài năm sau, thương gia Edward Rabbits, quen biết cả hai người, William và Catherine, ông mời họ đến dự một buổi nhóm vào ngày Thứ Sáu Tốt Lành. Sau đó ông đã khích lệ William hộ tống đưa Catherine về nhà. Về sau bà viết: “Chuyến đi ngắn ngủi ấy sẽ không ai trong chúng tôi quên được. Trước khi chúng tôi về tới nhà cả hai chúng tôi đều cảm thấy chúng tôi được dựng nên là để cho nhau”.
Vài tuần lễ sau đó, mối tình lãng mạn đã dậy sóng. Xem khinh danh tiếng ngày càng lớn là một nhà truyền đạo cho người nghèo, William không có công ăn việc làm, không có thu nhập, và không có nhà cửa chi hết, mẹ của Catherine đã nhìn ông bằng một cặp mắt khác. Tuy nhiên, họ đã bền đỗ và đã thành hôn ở Luân đôn vào đúng ngày 16 tháng 6 năm 1855.
William đã rao giảng một buổi nhóm phục hưng vào ngày trăng mật của họ. Các thiên sứ đã mĩm cười. Đội Cứu Thế Quân sắp sửa được khai sinh.
“Duyên là giả dối, sắc lại hư không; Nhưng người nữ nào kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được khen ngợi. Hãy ban cho nàng bông trái của tay nàng; Khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành” (Châm ngôn 31.30-31).
17 Tháng 6
CÁC MẮC XÍCH
Edward Kimball có ý quyết định đưa lớp Trường Chúa Nhật của mình đến chỗ tin theo Đấng Christ. Một thiếu niên có tên là Dwight Moody hay ngủ gà ngủ gật trong những ngày Chúa nhựt, còn Kimball, không nản lòng, đã tìm cách tiếp cận với cậu ta. Trái tim ông đã đập thình thịch khi ông bước vào cửa tiệm mà chàng trai trẻ đến làm việc. “Tôi đặt tay trên vai cậu ta, và tôi tưởng mình đang tra chân vào chiếc hộp đựng giày. Tôi nài xin cậu ấy đến với Đấng Christ”. Nhưng Kimball đã ra về với suy nghĩ rằng mình đã làm hỏng việc. Tuy nhiên, Moody, đã rời khỏi tiệm ngày đó thành một người mới và rồi trở thành nhà truyền đạo xuất sắc nhất ở nước Mỹ.
Đến ngày 17 tháng 6 năm 1873, Moody đến tại Liverpool, Anh quốc, để tham dự một loạt chiến dịch truyền giảng Tin lành. Các buổi nhóm lúc đầu chẳng tiến triển bao nhiêu, nhưng rồi đập nước vỡ ra và phước hạnh bắt đầu tuôn tràn. Moody đến viếng một nhà thờ Báptít do một học giả làm chủ toạ có tên là F. B. Meyer, lúc đầu ông nầy đã coi thường việc giảng đạo cho người thất học ở Mỹ. Nhưng Meyer không lâu sau đó đã được biến đổi, và sửng sờ trước sứ điệp của Moody.
Với lời mời của Moody, Meyer thân hành sang Mỹ. Ở Giáo hội nghị Kinh Thánh Northfield, ông thách thức đoàn dân đông bằng câu nói: “Nếu quí vị không bằng lòng bỏ hết mọi sự vì Đấng Christ, có phải quí vị chịu mình sẽ được làm cho sẵn lòng không?” Dấu hiệu ấy đã làm thay đổi đời sống của một thanh niên hay đấu tranh có tên là J. Wilber Chapman.
Chapman đã tấn tới trở thành một nhà truyền đạo đầy quyền năng vào thập niên đầu năm 1900, và ông tuyển mộ một cầu thủ khúc côn cầu đã trở lại đạo là Billy Sunday. Dưới ánh mắt của Chapman, Sunday đã trở thành một trong những nhà truyền đạo nổi bật nhất trong lịch sử nước Mỹ. Chiến dịch truyền giảng Tin lành của ông ở Charlotte, Bắc Carolina, đã tạo ra một nhóm tân tín hữu, họ tiếp tục cầu nguyện xin có một sự thăm viếng khác của Thánh Linh. Vào năm 1934, họ đã mời nhà truyền giáo Mordecai Ham đến tổ chức một buổi cầu nguyện khắp cả thành phố. Vào ngày 8 tháng 10 Ham, ngã lòng, đã viết ra một lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời trong phòng nhóm ở khách sạn Charlotte: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một Lễ Ngũ Tuần ở đây…Xin đổ Thánh Linh Ngài ra vào ngày mai…”.
Lời cầu nguyện của ông đã được nhậm, trỗi hơn cả mọi giấc mơ của ông khi một học sinh của Trường Trung Học có tên là Billy Graham dâng lòng mình cho Chúa Jêsus!
Và Edward Kimball lại tưởng mình đã làm hỏng công việc rồi!
“Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến” (Giăng 17.20-21a).
18 Tháng 6
TÀ GIÁO hay ANH HÙNG?
Thomas Kyme đã đuổi vợ mình, Anne Askew, ra khỏi nhà khi nàng trở thành một tín đồ Tin Lành. Mất mát nhà cửa, chồng và hai đứa con chỉ là phần khởi đầu của sự buồn rầu, vì chẳng bao lâu nữa nàng đã đối diện với sự thử thách vì dám từ chối giáo lý nói tới Lễ Mass – nghĩa là bánh và rượu đổi thành thân thể và huyết của Đấng Christ. Kẻ vu cáo nàng nói: “Hỡi đờn bà dại dột kia, ngươi dám nói rằng linh mục không thể làm ra thân thể của Đấng Christ ư?”
“Lạy Chúa tôi, tôi nói thế đấy. Tôi có đọc thấy Đức Chúa Trời dựng nên con người; nhưng con người có thể tạo thành Đức Chúa Trời thì tôi chưa hề đọc thấy bao giờ, tôi cũng chưa nghĩ mình sẽ đọc thấy như vậy nữa. Khi nói thế, mấy ông gọi Đức Chúa Trời mình bằng một miếng bánh; có khi miếng bánh ấy nằm ba tháng trong một cái hộp, rồi nó bị mốc meo”.
Người ta bắt nàng dẫn tới Tháp Luân đôn. “Thế rồi họ cột tôi vào một cái giá…thật là lâu; và vì tôi nằm im lặng, không kêu la, vị đại pháp quan và Thầy Rich đóng trăn tôi, làm cho tôi phải đau đớn nhiều bằng chính tay của họ, cho tới khi tôi sắp chết”. Mặc dù bị đóng trăn như thế đến nỗi nàng không thể đi lại được nữa, nàng đã từ chối không chịu lui đi. Nàng nói: “Tôi dám nói, thà là chết còn hơn là nao núng đức tin mình”. Anne khi ấy đã thốt ra lời cầu nguyện nầy:
“Lạy Chúa, con có kẻ thù nhiều hơn tóc trên đầu con; Chúa ôi, xin đừng để cho họ thắng hơn con bằng lời lẽ hư không, nhưng hãy chiến đấu thay cho con Chúa ôi; vì con phó thác hết cho Ngài. Với mọi sự giận dữ mà họ có thể nghĩ ra, họ trút đổ hết trên con, con là tạo vật đáng thương của Ngài. Nhưng Chúa ôi, con hết lòng mong ước Ngài, rằng Ngài tha thứ cho sự bạo lực họ làm ra bằng sự nhơn từ thương xót của Ngài. Cũng hãy mở lòng họ ra, để rồi họ biết làm ra những việc đáng được tiếp nhận ở trước mặt Ngài. Nguyện được như vậy Chúa ôi”.
Đến ngày 18 tháng 6 năm 1546, nàng đã chính thức bị đem ra xét xử. Một tháng sau nàng bị dẫn độ đến Smithfield, bị xiềng xích trên giàn giáo, và bị thiêu như một kẻ dị giáo. Tuy nhiên, nhiều người khác giống như John Fox đã nghĩ nàng là bậc anh hùng: “để lại sau lưng một tấm gương Cơ đốc trung kiên cho mọi người phải noi theo”.
“Trong khi những cừu địch tôi hằng ngày hỏi rằng: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì chúng nó sỉ nhục tôi khác nào làm gãy xương cốt tôi. Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời; ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa: Ngài là sự cứu rỗi của mặt ta, và là Đức Chúa Trời ta” (Thi thiên 42.10-11).
19 Tháng 6
BẢN TÍN ĐIỀU NICEAE
Trong thời gian ba thế kỷ sinh tồn đầu tiên của Hội thánh, Hội thánh đã gánh chịu nhiều làn sóng bắt bớ – ngăn trở, sĩ nhục, gươm giáo, hai hàm răng sư tử. Với sự trở lại đạo của Hoàng đế Constantine vào năm 312, sự bắt bớ chấm dứt, và Hội thánh đã rơi vào cảnh tệ hại còn hơn cả bắt bớ nữa – ấy là tà giáo. Một giáo sư có tên là Arius xuất thân từ Bắc Phi đã chối không nhận Chúa Jêsus vừa là Người vừa là Trời. Ông ta đã dạy: “Đã có một thời kỳ Đức Chúa Con không hiện hữu”. Ông ta xưng rằng Chúa Jêsus không phải là đời đời, không thiêng liêng, không phải là Đức Chúa Trời. Tà giáo càng lúc càng tấn tới, làm cho Constantine phải hốt hoảng. Hoàng đế vốn không hiểu cuộc tranh cãi, thế nhưng ông mong muốn có sự hiệp một trong Hội thánh. Ông ta nói: “Những thắc mắc nầy rất rắc rối chỉ đem lại sự tranh cãi mà thôi”.
Constantine triệu tập một giáo hội nghị chung hết trong thị trấn nhỏ Nicaea. Một ngàn tám trăm giám mục từ khắp đế quốc được mời, và mỗi vị giám mục được phép mang theo hai vị lãnh đạo khác trong Hội thánh cùng ba nô lệ. Các điều kiện đi lại vốn rất là khó khăn, và không tới 400 giám mục đến nhóm lại, hầu hết là từ đông phương. Có nhiều người mang những dấu của sự bắt bớ. Một số là học giả; có người làm nghề chăn chiên. Trong đám đông tạp nhạp nầy là Hoàng đế Constantine, mang giày ống cao cổ màu đỏ tươi, chiếc áo choàng màu tía, mái tóc để dài, và một hàm râu ngắn.
Các đại biểu nối nhau xếp thành một hàng dài. Arius giới thiệu các quan điểm của ông ta. Alexander và Athanasius đã ném trả lại với sự dạy của lẽ đạo chính thống. Sau cùng, Hosius, một vị giám mục đến từ Cordova, đề nghị vạch ra một bản tín điều. Lẽ đạo đức tin đã được khai triển, và Hosius công bố bản tín điều ấy đúng vào ngày 19 tháng 6 năm 325. Bản tín điều nầy mô tả Đức Chúa Jêsus Christ là: “Chính Đức Chúa Trời, không ai dựng nên, có cùng thực chất như Đức Chúa Cha, nhờ Ngài muôn vật đều được dựng nên, …Ngài vì loài người, và vì sự cứu rỗi chúng ta, đã giáng trần và mặc lấy xác thịt, đã chịu thương khó, chịu khổ và đã sống lại…”.
Bản tín điều đã được mọi người công nhận, và lẽ đạo nói tới thần tính của Ngài – một niềm tin rất quan trọng và độc nhất vô nhị trong Cơ đốc giáo – lần đầu tiên đã được khẳng định về mặt hình thức.
“Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả… Ấy cũng chính Ngài là đầu của thân thể, tức là đầu Hội thánh” (Côlôse 1.15-16, 18a).
20 Tháng 6
XIN THƯƠNG XÓT CON
Ngay cả bậc quyền lực nhất ở trên đất cũng không thể một mình đối diện với kẻ thù sau cùng. Quyền thế, giàu có, danh tiếng và cơ đồ tan biến giống như một giấc chiêm bao, để lại cho linh hồn trần trụi luôn mò mẫm tìm kiếm sự yên ủi. Có rất nhiều người chờ đợi lâu lắm trước khi sửa soạn đối mặt với Đức Chúa Trời.
Marie Antoinette tượng trưng cho nền xã hội Pháp lúc nào cũng ở trong tình trạng quá độ và suy đồi ngay trước cuộc Cách Mạng. Bà và người chồng hay lo toan của mình, Vua Louis XVI, đã sống trong những đền đài lộng lẫy ở Versailles, bắt thần dân mình phải sống trong nghèo khổ vì sưu thuế, và tiêu xài tiền bạc rất là phung phí. Thế nhưng Marie đã ngửi được mùi nguy hiểm từ lâu trước cả Louis, và bà nhận ra tháng ngày của họ đã được đếm cả rồi. Trong nhiều tháng trời bà nài xin Louis hãy bỏ nước Pháp. Ông chần chừ và do dự. Thế rồi vào ngày 5 tháng 10 năm 1789, hàng trăm phụ nữ đổ ra Versailles tay cầm chổi và dao làm bếp vung cao. Đôi vợ chồng vương giả nầy phải buộc lên Paris rồi chịu sự canh chừng cẩn thận.
Louis đã vạch kế hoạch trốn ra khỏi nước thật muộn màng. Hết mưu nầy tới lược kia đều bị hư mất cả. Sau cùng lúc nửa đêm tăm tối, ngày 20 tháng 6 năm 1791, gia đình hoàng tộc đã băng mình qua bóng đêm, chui vào một chiếc xe do ngựa kéo, rồi đội lốt họ Korff mà ra khỏi thành phố. Họ đã đi hết cả đêm lẫn ngày hướng về biên giới của nước Áo. Chỉ lo lắng về an ninh, họ đã bị chận lại rồi bị số nông dân có vũ trang bằng những cây xỉa rơm rạ bắt giữ.
Marie Antoinette đã mau trở thành một cụ già – hốc hác, mái tóc bạc trắng, lưng gù, và đi không vững. Trở lại Paris, bà bị nhốt trong một phòng tối không có đủ không khí. Bà bị xuất huyết không sao cầm được, đã than khóc cho chồng mình đã bị hư mất, và đã lo lắng không dứt cho người con trai đã bị tước khỏi vòng tay mình.
Antoinette giờ đây hướng tới Đức Chúa Trời. Bà đã giữ lễ Mass trong nhà ngục, và trong quyển sổ cầu nguyện, bà ghi như sau: “Nguyện Đức Chúa Trời của con thương xót con! Mắt con không còn giọt lệ nào nữa để đổ ra vì con cái khổ sở của con. Chúa ơi, Chúa ơi!” Khi đao phủ đến vào ngày 16 tháng 10 năm 1793, bà đã quì gối khẫn nguyện. Tại Cung Cách Mạng, bà bị trói chặt và một khung gỗ niền quanh cổ của bà. Những hồi trống rền lên, lưỡi đao vụt xuống, và một tên lính nắm lấy cái đầu có mái tóc trắng đó mà giơ lên cao trước mặt đoàn dân đông. Bà chưa đầy 40 tuổi.
“Hỡi Y-sơ-ra-ên, vậy nên ta sẽ đãi ngươi dường ấy; hỡi Y-sơ-ra-ên, vì ta sẽ đãi ngươi dường ấy, nên ngươi khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi. Thật, ấy là Ngài đã làm nên các núi và dựng nên gió. Ấy là Ngài làm cho người ta biết ý tưởng riêng của mình, đổi ban mai ra tối tăm, và bước đi trên những chỗ cao trên đất. Danh Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân” (Amốt 4.12-13).
21 Tháng 6
TẤM LÒNG MỚI
John Livingstone là con trai của một nhà truyền đạo, ra đời ở xứ Tô cách Lan vào năm 1603. Ông tiếp tục sống với cha mình khi lớn lên, và điều đó đã gây ra nhiều nan đề. John muốn sang nước Pháp và học về y khoa. Cha ông đã ngăn cấm. Thay vì thế ông cụ đã đề nghị John nên lấy vợ, ổn định cuộc sống bằng nghề nông. John đã từ chối. Họ cứ cãi nhau luôn cho tới chừng chàng trai trẻ để ra một ngày để tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời cho đời sống mình. Ông lui vào khu rừng và sau nhiều trăn trở đã dâng mình vào công cuộc rao giảng Tin lành. Cha ông đã ngầm công nhận.
Vào ngày 2 tháng Giêng năm 1625, John Livingstone giảng bài giảng đầu tiên tại toà giảng của cha mình. Ông vẫn sống trong ngôi nhà của cha mình trong hơn một năm, cẩn thận ghi chép các bài giảng của ông ấy từng chữ một. Ngày kia, người ta mời ông đến giảng cho một đám dân đông mà ông vừa giảng cho họ ngày hôm qua, và không còn ghi chép một bài giảng nào khác nữa, ông lấy chú thích một vài điểm rồi rao giảng với quyền năng lớn lao hơn ông đã từng kinh nghiệm. Ông không còn ghi chép các bài giảng của cha mình nữa.
Không bao lâu sau đó, ông được nhiều người mến mộ, vào tháng 6 năm 1630, người ta mời ông đến giảng ở Kirk xứ Shots. Vào tối Chúa nhựt, ông nhóm lại với nhiều anh em Cơ đốc và qua đêm “trong sự cầu nguyện và nhóm họp với nhau”. Sáng hôm sau, ông bị áp đảo bởi những cảm xúc bất an và không xứng đáng đến nỗi ông lấy làm lạ không biết ông còn có thể giảng đạo được hay không nữa!?! Nhưng tối hôm đó, tối thứ Hai, ngày 21 tháng 6 năm 1630, ông chỗi dậy giảng từ Êxêchiên 36.26, 27a: “Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi…”.
Livingstone đã giảng trong một giờ rưỡi, ông kinh nghiệm “sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong khi rao giảng” mà không một giây phút nào trong đời ông có được. Quyền phép của Đức Thánh Linh giáng trên buổi nhóm, và 500 người sau đó đã đánh dấu sự trở lại đạo của họ kể từ sứ điệp ấy.
Sự rao giảng đầy quyền năng của ông đã đem lại danh tiếng và đụng chạm trên khắp xứ Tô cách Lan, và ông đương nhiên bị trục xuất sang Hà lan vì các quan điểm ly khai của ông. Nhiều người Tô cách Lan đã bỏ trốn sang Rotterdam, và Livingstone đã phục vụ giữa vòng họ cho tới khi ông qua đời vào năm 1672.
“Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo” (Êxêchiên 36.26-27).
22 Tháng 6
LỐI SỐNG ĐƠN GIẢN HƠN
Ngày 22 tháng 6 trên tờ lịch của Hội thánh làm cho người ta nhớ tới Paulinus – một người giàu có đã bố thí tiền bạc của mình, một người đã có gia đình rồi trở thành một linh mục, một vị luật sư trở thành một nhà thơ.
Paulinus ra đời ở Bordeaux, xứ Gaul (nước Pháp), trong một gia đình quí tộc và giàu có. Lý trí ông rất sáng suốt, học vấn ông rất cao, tương lai ông sáng lạng. Ông hành nghề luật sư ở độ tuổi rất trẻ và bước vào đời sống chính trị lúc được hơn 20 tuổi. Ông đi đó đi đây nhiều, có nhà cửa tại Pháp, Ý và Tây ban Nha. Nhân vật nổi bật nhất của đế quốc đã tìm kiếm người bạn đời, và ông là một trong những người độc thân có tư cách nhất của châu Âu. Ông đem lòng yêu thương một phụ nữ người Tây ban Nha có tên là Theresia. Họ thành hôn rồi lui về cuộc sống riêng tư với tài sản của họ ở nước Pháp.
Theresia, một Cơ đốc nhân, đã chia sẻ Tin lành thoải mái với người chồng mới của mình. Ông lắng nghe rồi tìm gặp vị Giám mục sở tại mà ông đã kết bạn với. Khi Paulinus nghiên cứu về Cơ đốc giáo, ông có ấn tượng với tính cách xác đáng và đáng tin của nó. Ở tuổi 34, ông dâng đời sống mình cho Đấng Christ và đã chịu phép báptêm cùng với người em của mình vào năm 393.
Thế rồi thảm hoạ đến viếng qua. Sau nhiều năm trời không có con, Theresia đã thụ thai rồi sanh một con trai. Khi đứa trẻ qua đời trong vòng một tuần lễ, đôi vợ chồng đã ngã lòng. Họ xét lại mọi giá trị của mình rồi quyết định sống một lối sống đơn giãn hơn. Hầu hết của cải của họ đã được bán đi, tiền bạc đem bố thí cho người nghèo.
Hai vợ chồng chuyển tới Nola, một thị trấn nhỏ gần thành Naples, và mua một dãy phố dài, có hai tầng. Họ dành tầng dưới cho kẻ vô gia cư, và biến tầng trên thành một chủng viện bán chính thức; ở đó họ sinh sống, dạy Kinh Thánh, và khích lệ dân sự của Đức Chúa Trời. Paulinus đã xây một nhà thờ và mở một cống thoát nước cần thiết cho cộng đồng. Cùng lúc đó, Paulinus được chọn làm chủ toạ một nhà thờ. Ông sử dụng phần đời còn lại của mình để lo giảng đạo ở đó, giám sát công cuộc truyền giáo, sáng tác thi văn, viết ra những bài cầu nguyện, và thư từ với các Cơ đốc nhân nổi tiếng nhất trong thế hệ của ông. Ông đã khích lệ nghệ thuật Cơ đốc như một công cụ giúp cho người ta hiểu biết Kinh Thánh. Và theo truyền khẩu cho biết, ông là người đầu tiên giới thiệu các tiếng chuông vào sự thờ phượng Cơ đốc.
“Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật” (I Timôthê 6.17-19).
23 tháng 6
LỜI XƯNG NHẬN AUGSBURG
“Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình”, Solomon đã nói trong Truyền đạo 4.9. Martin Luther đã có Philipp Melanchthon. Melanchthon trẻ hơn, trầm tỉnh hơn, và mau lẹ hơn Luther. Chào đời ở nước Đức vào năm 1494, Philipp đã bước vào Đại học đường Heidelberg ở tuổi 13, rất xuất sắc trong tiếng Hy lạp. Ông trở thành giáo sư dạy tiếng Hy lạp tại đại học đường Wittenberg, trong bài giảng mở đầu với giọng nói lắp bắp, ông tỏ ra hay bồn chồn, lo lắng. Nhưng Luther, giáo sư môn thần học, đã lắng nghe với sự thích thú khi Philipp kêu gọi các sinh viên: “hãy quay lại với nguồn cội, hãy quay lại với Kinh Thánh”.
Không lâu sau đó, cả hai đã kết bạn thiết với nhau, giống như David và Giô-na-than vậy. Melanchthon, dè giữ và điều độ, đã tạo ra sự cân đối cho tính hấp tấp của Luther. Ông là một người có tánh hoà nhã, như ngược lại với tánh hay tranh chấp của Luther. Melanchthon đã làm cho ý tưởng của bạn mình được dịu đi và yên lặng phác thảo bộ thần học và sự tổ chức cho phong trào của Luther. Ông trở thành thiên tài tổ chức có hệ thống Công cuộc Cải chánh, đưa các sự dạy của Luther vào hình thái thích đáng, có hệ thống. Luther yêu mến người bạn trẻ của mình, nhìn nhận rằng không có tài khéo về óc tổ chức của Philipp công việc của chính bản thân ông sẽ bị hư mất hết.
Philipp cũng đứng ra lo việc in ấn và phương diện giáo dục của Công cuộc Cải chánh, và công việc của ông trong việc phát triển học đường ở nước Đức đã đem lại cho ông tước hiệu: “giáo sư của nước Đức”. Ông dấn thân vào việc đào tạo hàng giáo phẩm và viết các bộ chú giải Kinh Thánh, các sách thần học, và nhiều sách báo truyền giáo cho mục tiêu đó.
Vào năm 1529, Hoàng đế Charles V, trong một nổ lực sau cùng hầu thống nhất giáo hội, đã cho triệu tập một buổi nhóm ở Augsburg. Luther không được mời. Hoàng đế hy vọng tinh thần nhẹ nhàng hơn của Philipp sẽ làm dịu đi cơn bão và làm nguôi cuộc tranh cãi. Nhưng các tín điều của Melanchthon vốn sâu sắc y như mọi niềm tin của Luther. Vào đêm hôm ấy, ngày 23 tháng 6 năm 1530, sau khi nhận được giấy triệu tập và đòi phải có mặt nhanh chóng, Philipp đã làm việc trong mấy giờ đồng hồ, viết đi viết lại và định hình cho các lẽ đạo Tin lành. Tài liệu của ông đã được đem ra đọc vào ngày 25 tháng 6 trong khi các đại biểu đã đứng lắng tai nghe trong hai tiếng đồng hồ.
Giáo hội Công giáo đã chối bỏ tài liệu nầy, và việc nầy đã đánh dấu sự tan vỡ sau cùng giữa Tin lành và Công giáo La mã. Còn Lời Xưng Nhận Augsburg với sự tỏ ra rõ ràng các tín điều của Luther đã trở thành nền tảng của bộ thần học Luther cho đến ngày nay.
“Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!” (Truyền đạo 4.9-10).
24 tháng 6
HÀI CỐT TRONG CHIẾC LỒNG
Nhiều phong trào thường chịu khổ từ bạn bè hơn là từ kẻ thù nghịch, và ma quỉ thường đưa những tay cực đoan của hắn lẻn vào giữa vòng các tôi tớ của Đức Chúa Trời. Thí dụ, những người Anabaptist, là hạng người rất hài hoà, họ tin phép báptêm là một dấu hiệu của ơn cứu rỗi và chống lại việc làm báptêm cho trẻ con. Họ lấy theo quan niệm nói về “Hội thánh tự do” – một Hội thánh phân rẻ ra khỏi chính quyền. Và họ đã cung ứng gốc rễ đó cho các nhóm như thế ngày nay, như nhóm Mennonites, nhóm Amish, và nhóm Anh em trong Đấng Christ (brethren in Christ). Nhưng phong trào Anabaptist, tự nó lại mắc phải một kẻ cuồng tín có tên là Jan van Leiden.
Chuyện xảy ra tại Munster, nước Đức. Vào thập niên 1530, Munster lôi cuốn nhiều người với tình cảm Anabaptist, và trong một loạt những sự bầu bán, những người Anabaptist chiếm được quyền khống chế hội đồng thành phố. Bước vào bức tranh nổi bật lên là Jan van Leiden mới có 28 tuổi. Rất thuyết phục và sốt sắng, ông đã nắm lấy quyền lực và khuấy đảo toàn thể dân chúng với những mặc khải cao xa, gọi Munster là thành “Jerusalem mới” và bản thân ông là “Vua David”. Ông đã lấy nhiều vợ và đưa ra các đạo luật cho phép đa thê, cả nam và nữ giới đều được phép 6 lần thành hôn.
Jan tiên đoán thế gian không bao lâu nữa sẽ kết thúc, nhưng các môn đồ của ông đều sẽ được buông tha hết. Ông buộc dân chúng phải chịu phép báptêm và đã giới thiệu lý thuyết cộng sản hoá mọi tài nguyên. Giới Công giáo bị sốc bởi tánh truy hoan theo chủ nghĩa hoan lạc của ông. Toàn thành phố bật nhảy lên khi, trong một cơn mê loạn, ông đã chặt đầu một trong bốn người vợ của mình tại khu chợ.
Vào ngày 24 tháng 6 năm 1535, sau 24 tháng hỗn loạn và sống đồi bại, thành phố bị bao vây sa vào tay của Francis xứ Waldeck và những người Anabaptists bị tàn sát. “Vua David” bị bắt và bị hành hình, những cái kềm nóng đỏ đã gặm từng cm thân thể ông. Kế đó ông bị treo trong chiếc lồng đặt trên tháp nhà thờ St. Lambert nơi khu chợ trung tâm của Munster. Hài cốt của ông cứ đung đưa trong chiếc lồng của nhà thờ trong 400 năm cho tới lúc sau cùng được dời đi vào thế kỷ thứ 20.
Sự thất bại ở Munster là sự sai lầm nghiêm trọng nhất của phong trào Anabaptist vào thế kỷ thứ 16, và sự sai lầm đó đã làm cho địa vị của những kẻ muốn bắt bớ lý tưởng của phong trào Anabaptist được mạnh mẽ thêm. Giới cầm quyền đã quyết định tống khứ khỏi châu Âu mọi tàn tích của phong trào nầy, và nhiều người sống nhơn đức đã chịu khổ không dứt vì bàn tay của những kẻ cực đoan kia.
“Anh em chạy giỏi; ai đã ngăn trở anh em đặng không cho vâng phục lẽ thật? Sự xui giục đó không phải đến từ Đấng gọi anh em. Một ít men làm cho dậy cả đống bột” (Galati 5.7-9).
25 tháng 6
SMITH “TINH QUÁI”
Nhiều khán thính giả không hề mỏi mệt khi nghe Rodney Smith kể lại tiểu sử của mình: “Tôi ra đời vào ngày 31 tháng 3 năm 1860, trong một căn trại kia, con trai của Cornelius Smith. Khi tôi đủ tuổi để đưa ra những câu hỏi về việc tôi ra đời, thì mẹ tôi đã chết, nhưng cha tôi chỉ nói cho tôi biết nơi sanh ra, chớ không nói tới ngày tháng. Mới đây thôi, tôi đã biết được ngày sanh của mình. Tôi khám phá ra mình trẻ hơn một tuổi so với khi chưa biết”.
Chính trong lúc bị tù đày vì nợ nần mà Cornelius đã nghe được Tin lành. Về sau ông đưa bầy con đến Hội truyền giáo Latimer Road, ở đó, khi những người đến thờ phượng hát bài There is a fountain filled with blood (Có một dòng suối huyết), thình lình ông té bất tỉnh trên sàn nhà. Một lát sau ông bật dậy, la lớn tiếng lên: “Các con ơi, Bố đã được biến đổi rồi. Đức Chúa Trời đã biến bố thành một con người mới!” Rodney chạy ra khỏi nhà thờ lấy làm khủng khiếp lắm.
Thế nhưng ở tuổi 16 Rodney đến dự một buổi nhóm của hệ phái Giám Lý, tiến lên phía trước, và cầu xin Đấng Christ ngự vào lòng của mình. Có người đứng kế bên thì thào: “Ồ, đúng là một cậu bé tinh quái”. Còn Rodney, không nao núng, hỏi xin một quyển Kinh Thánh, tự dạy mình đọc, rồi bắt đầu giảng đạo. Mọi nổ lực của cậu đã được Tướng William Booth chú ý tới, và vào ngày 25 tháng 6 năm 1877, Rodney đến sự một buổi nhóm của Đội Cứu Thế Quân. Vị Tướng lãnh nhận ra cậu,ông nói: “Vị diễn giả kế tiếp sẽ là cậu bé tinh quái”.
Run rẩy, tôi bước lên bục giảng, may mắn thay chỉ có năm hay sáu bực mà thôi. Khi tôi lên tới đó, tay chân tôi run bây bẩy. Ông Booth nhìn thấy tôi đương gặp phải chỗ khó xử, ông nói: “Liệu cậu có hát đơn ca được không?” Tôi đáp ngay: “Thưa ông, cháu xin hát thử ạ!” và đêm hôm ấy tôi đã hát đơn ca lần đầu tiên trong một buổi nhóm thật là đông người”.
Sau bài hát đơn ca ấy, Rodney tằng hắng lấy giọng nói: “Tôi chỉ là một gã thiếu niên tinh quái. Tôi không biết quí vị biết gì về nhiều việc, nhưng tôi biết Chúa Jêsus. Tôi biết Ngài đã cứu tôi. Tôi không thể đọc như quí vị đọc đâu, tôi không sống có nhà cửa đàng hoàng như quí vị đâu; tôi sống trong lều trại. Nhưng tôi có một ngôi biệt thự ở tít xa trên kia kìa, và một ngày kia tôi sẽ đến sống ở đó. Ao ước lớn lao nhất của tôi là sống cho Đấng Christ”.
Thế là đã bắt đầu 70 năm cho công tác truyền giáo đáng nhớ, vang dội trên thế giới.
“Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ…cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài” (Philíp 3.8, 10a).
26 tháng 6
CÂU CHUYỆN TÌNH LÃNG MẠN
Có ít cặp vợ chồng hầu việc Chúa với sự hài hoà hay hơn Francis và Edith Schaeffer, hai vị giáo sĩ cho hạng người trí thức thuộc thế kỷ thứ 20. Gia đình Schaeffer đã trở thành nhà truyền giáo hải ngoại ngay sau Đệ II Thế Chiến, và không bao lâu sau đó họ đã thu hút được số đông sinh viên đại học đến với ngôi biệt thự nhỏ của họ tại làng Huemoz trong vùng núi Alps của Thụy sĩ. Từ đây mà ra Hội Thông Công L’Abri, được sáng lập năm 1955, một trung tâm nghiên cứu và cư trú của nhiều sinh viên và những kẻ chuyên chỉ trích phê phán tìm được giải đáp cho các thắc mắc về triết lý trong cuộc sống.
Phương thức Chúa đưa Francis và Edith đến với nhau tạo thành một câu chuyện tình cảm rất lãng mạn. Francis lớn lên ở Germantown ở vùng tây bắc Philadelphia. Bố mẹ ông không tin Chúa, và ông có chẳng xu hướng gì về Cơ đốc giáo. Nhưng đến tuổi 17, ông bắt đầu dạy Anh ngữ cho một kiều dân Nga, và ông đi ra tiệm sách để mua một quyển văn phạm tiếng Anh. Khi ông trở về nhà, ông mới thấy người bán đã đưa lộn sách, một quyển giới thiệu triết lý Hy lạp. Khi Francis nghiên cứu quyển sách đó, ông khám phá ra những thắc mắc triết học cơ bản về ý nghĩa cuộc sống. Nhưng ông chẳng tìm được một giải đáp nào cho tới khi ông quyết định đọc hết quyển Kinh Thánh. Kinh Thánh đưa ông đến với đức tin nơi Đấng Christ.
Một buổi tối Chúa nhựt, ngày 26 tháng 6 năm 1932, ông đến dự một buổi thờ phượng ở gần Hội thánh Trưởng lão. Một người theo lý thuyết bác bỏ Ba Ngôi Đức Chúa Trời đến làm chứng tại sao ông ta chối bỏ Kinh Thánh và mọi sự dạy của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời, Đấng Christ và các lẽ thật quan trọng khác. Một thiếu nữ trong số khán thính giả đã chuẩn bị sẵn sàng tiến lên phía trước rồi bài bác lập luận của ông kia. Khi ông ta trình bày xong phần của mình, Edith nắm lấy phần chú thích của mình rồi sửa soạn thách thức ông kia. Trước khi nàng đứng dậy trên chân của mình, Francis đã vụt đứng lên rồi khởi sự nghiền nát phần tranh luận của diễn giả đó. Edith lắng nghe với sự kinh ngạc. Cho tới giờ phút đó, nàng không biết có ai khác trong hội chúng đã tin như nàng đã tin. Khi Francis nói xong, nàng đứng dậy rồi đưa ra lời bình của mình. Francis thấy có ấn tượng tương tự. Sau buổi thờ phượng, ông nài nỉ xin được đưa Edith về nhà.
Thế là đã nẩy nở một tình bạn trọn đời trong khi đưa Tin lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ cho các sinh viên và học giả ở nước Mỹ, châu Âu, và giữa vòng các nước khác nữa.
“Các nước sẽ từ nơi đầu cùng đất mà đến cùng Ngài, và nói rằng: Tổ phụ chúng tôi chỉ hưởng những lời giả dối, là sự hư không, và vậy thì chẳng có ích gì. Có lẽ nào người ta tự làm cho mình những thần không phải là thần được sao? Vậy nên, nầy, ta sẽ cho chúng nó biết tay ta và quyền năng ta; và chúng nó sẽ biết danh ta là Giê-hô-va” (Giêrêmi 16.19b-21).
27 tháng 6
CHỊU ĐỰNG, KHÔNG TRANH ĐẤU
Hudson Taylor đã mường tượng một công tác truyền giáo lớn lao hơn bất kỳ ai khác kể từ thời Phaolô – ấy là công tác truyền giáo ở Trung Hoa. Nhắm vào cứu cánh đó, ông đã thiết lập Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa vào ngày 27 tháng 6 năm 1865. Đây là giấc mơ của cả đời ông, vì ngay lúc mới có 5 tuổi, ông đã nói với bạn bè rằng ông ao ước trở thành một giáo sĩ cho Đông phương.
Tuy nhiên, ông chưa trở lại với Đấng Christ, cho tới nhiều năm sau đó. Mẹ ông đã cầu thay cho ông rất lâu, bà cầu xin cho ông mau trở lại đạo, song chẳng thấy một kết quả gì cả. Một ngày kia, trong khi ở cách gia đình cả trăm dặm đường, bà cảm thấy có gánh nặng rất bất thường về ông. Bà lui về trong phòng, khoá cửa lại, rồi bắt đầu cầu nguyện rất khẫn thiết. Bà không thôi cầu nguyện cho tới chừng bà tin rằng ông đã được cứu.
Trong khi ấy, Hudson 17 tuổi, đang ở tại nhà mà không có việc gì để làm. Ông lui tới trong thư viện của cha mình, sắp xếp lại một số giấy tờ, rồi bắt gặp một tờ chứng đạo đơn, tờ nầy khởi sự bằng một câu chuyện rất lý thú. Ông đọc câu chuyện, rồi cứ mãi đọc. Đây là tờ chứng đạo đơn Tin lành, và như Hudson về sau cho biết: “Ánh sáng đã chiếu vào linh hồn tôi bởi Đức Thánh Linh. Trong thế gian chẳng có việc gì để lo làm trừ ra việc quỳ gối xuống và cầu xin cho mình được cứu rỗi”. Sau khi tốt nghiệp y khoa, Taylor dong buồm sang Trung quốc. Ngay lập tức ông bị nhấn chìm trong những khủng hoảng về tài chính, các khó khăn về ngôn ngữ, nhớ nhà, và các xung khắc về cá tính với các giáo sĩ khác. Sau khi tìm cách nhuộm đen tóc của mình (để trộn lẫn với người Trung Hoa), ông bị thương do nút chai dung dịch ammonia bị xì ra. Nhiều rối rắm nối theo sau, và qua năm sau, Taylor chán nản cay đắng dữ lắm.
Thế rồi ông nhận được bức thư do bạn ông là John McCarthy gửi tới, McCarthy bảo ông hãy tìm cách: “…chịu đựng, đừng phấn đấu cũng đừng tranh đấu mà chi”. Chính mình Đấng Christ là: “năng lực duy nhứt cho sự phục vụ, lý do duy nhứt cho niềm vui mừng không đổi”.
Hudson nói: “Khi tôi đọc thư, tôi thấy được điều đó. Tôi ngước nhìn xem Chúa Jêsus, và khi tôi nhìn xem, ồ, niềm vui mừng tràn ngập. Khi làm việc, tôi thấy công việc của mình không phải là quá nhiều hay quá nhọc nhằn nữa; còn gánh nặng và căng thẳng không còn có nữa”. Điện áp mới tràn dâng qua đời sống và chức vụ của ông ngay khi ông được nối kết với một nguồn điện thiên thượng. Vào thời điểm Hudson Taylor qua đời, Hội Truyền Giáo Nội Địa Trung Hoa đã có 800 giáo sĩ tại Trung quốc.
“Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15.5).
28 tháng 6
CON NGƯỜI CŨ CỘC CẰN
Marttin Luther, luôn luôn sóng gió, đã trở thành một cơn bão thực sự vào những ngày cuối đời của ông. Những lần bộc phát võ đoán và vị trí cố định của ông đã làm bất lợi cho sự hiệp một của công cuộc cải chánh và tạo rắc rối cho bạn bè của ông, đặc biệt là bạn đồng sự Philipp Melanchthon. Vào ngày 28 tháng 6 năm 1545, John Calvin đã viết thư cho Melanchthon, yêu cầu Melanchthon bắt tay với Luther:
“[Martin] đã tự gò bó mình với loại tình yêu sấm sét. Hết thảy chúng ta đều công nhận rằng chúng ta đã mắc nợ ông ấy. Thế nhưng trong Hội thánh chúng ta phải luôn luôn dè chừng, e chúng ta dành quá nhiều sự tôn kính cho loài người. Đấy là trường hợp khi một cá nhân có nhiều quyền hạn hơn mọi người khác. Ở nơi có nhiều sự chia rẽ và phân biệt như chúng ta hiện trông thấy, thì làm cho làn sóng rắc rối phải bình trở lại quả là điều không dễ dàng chút nào. Ông sẽ nói rằng [Luther] có một ý đồ rất cứng rắn và sự năng nổ không thể kềm chế được. Vì lẽ đó, chúng ta hãy lấy làm tiếc vì tai hoạ của Hội thánh và đừng đè nén đau khổ của chúng ta trong câm nín. Trong khi ông lo sợ phải dính dáng vào với nỗi lo nầy, ông đang lẫn tránh tình trạng rối rắm và làm ngăn trở rất nhiều người, họ đang trông đợi nơi ông một điều vững chắc nào đó để họ có để dựa vào”.
Nhưng Melanchthon đôi lúc lại kềm chế Luther, và tên tuổi đáng kính của Luther bị bôi nhọ bởi tính ngoan cố, tính hay chỉ trích, phê phán của ông đối với những nhà cải chánh khác, và những tràng dài chỉ trích khó tha thứ được của ông đối với người Do thái.
Những thời điểm khó nhọc không hề biến chúng ta thành hạng người cứng rắn, và nghịch cảnh không hề biến chúng ta ra mai một. Thi thiên 92 dạy rằng các thánh đồ cao tuổi thì giống như cây chà là và cây bá hương – cao ráo, trang nghiêm, oai vệ, tươi tốt luôn. Robertson McQuilkin cho rằng Đức Chúa Trời đã đặt để sức lực và vẽ đẹp của tuổi thanh xuân về mặt thuộc thể, và sức mạnh và vẽ đẹp của tuổi già về mặt thuộc linh. Dần dà chúng ta mất đi sức mạnh và vẽ đẹp nhất thời kia để chúng ta hướng thẳng vào sức mạnh và vẽ đẹp còn mãi cho đến đời đời.
Đấy là một ơn phước mà Luther đã thiếu mất, trong mọi công trạng của mình.
“Dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên, bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy” (II Côrinhtô 4.16b-18).
29 tháng 6
TRÁI TIM DAY ĐỘNG
David Hackston là một “người Tô cách Lan đáng trượng” – một trong những tín đồ kiên quyết của hệ phái Calvin, ông đã chịu khổ rất nhiều vì các tín điều của ông giữa sự trở lại của Charles II và sự trị vì của William III.
Hackston là một nhân vật rất phong lưu, ông phiêu bạt giữa vùng đồi núi xứ Tô cách Lan một ngày kia, đã nghe một số truyền đạo thuộc hệ phái Trưởng Lão sống ngoài vòng pháp luật rao giảng. Ông trở về nhà trở thành một người mới trong Đấng Christ. Đời sống ông ngay lập tức rơi vào cảnh hiểm nghèo, rồi ông trở thành một kẻ trốn tránh, chạy từ nhà nầy sang nhà kia, phải cầm vũ khí để chống lại vương triều. Về sau, ông bị bắt, bị lột quần áo (“thậm chí chân chẳng được mang giày”), bị cột nằm ngửa trên lưng ngựa không có yên. Hai tay bị trói quặt ra sau lưng, và hai chân ông bị cột chặt dưới bụng ngựa. Sau khi đến Edinburgh, ông phải chịu xét xử và đưa ra lời biện hộ nầy: “Giờ đây, tôi đứng trước mặt các ông như một phu tù của Đức Chúa Jêsus Christ vì trung thành với lý tưởng và ơn phước của Ngài, là những điều đã được đóng ấn bằng huyết của nhiều người đáng trượng, họ đã phải chịu khổ trên xứ sở nầy. Tôi mắc nợ mọi sự làm chứng mà họ đã đưa ra, và ước ao góp một phần nhỏ của mình giữa vòng các chứng cớ của họ, và không những tôi phải đóng dấu chứng cớ ấy bằng huyết của mình, mà còn đóng dấu chúng bằng những hành hình đau đớn nhất mà các ông có thể nghĩ ra”.
Họ đối xử với ông y theo lời nói của ông. Ông bị kết án vào ngày 29 tháng 6 năm 1662, và ngày hôm sau bị dẫn ra pháp trường. Cánh tay phải của ông bị kéo căng ra và bị chém đứt luôn. Đao phủ kéo dài cuộc hành quyết để Hackston thắc mắc không biết tay trái có bị xử giống như tay phải hay không!?! Thế là điều nầy đã được thực hiện. Khi ấy ông bị rút lên cho tới chót trụ hình, để cho tắt thở trong một chút, rồi bị buông ra rơi tự do theo trọng lượng cơ thể của ông. Lối hành xử nầy đã được lặp đi lặp lại hai lần. Kế đó đao phủ cầm một con dao nhọn mổ toạc lồng ngực rồi moi trái tim của ông ra, nó vẫn còn đập. Trái tim ấy rơi xuống giàn giáo, và đao phủ lượm nó lên, hắn dí mũi dao vào trái tim rồi nói: “Đây là trái tim của kẻ phản bội”. Những người chứng kiến hô lên trái tim ấy con day động trên mũi dao. Thi thể của Hackston bị mổ bụng, bị rút ruột ra, bị phanh thây, rồi bị thiêu đốt đi. Cái đầu và hai bàn tay của ông bị đóng đinh dính trên đỉnh của một cây cầu gần đó.
“phải có lương tâm tốt, hầu cho những kẻ gièm chê cách ăn ở lành của anh em trong Đấng Christ biết mình xấu hổ trong sự mà anh em đã bị nói hành; vì nếu ý muốn Đức Chúa Trời dường ấy, thì thà làm điều thiện mà chịu khổ, còn hơn làm điều ác mà chịu khổ vậy” (I Phierơ 3.16-17).
30 tháng 6
TÀ DÂM TRONG CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
Những vị giáo sĩ lỗi lạc nhất thường là những người đã được cứu ra khỏi lối sống bẩn thỉu nhất. Thí dụ, Raymond Lull, lớn lên sống bê tha trên đảo Majorca cuối bờ biển Tây Ban Nha trong vùng Địa Trung Hải. Cha của ông rất giàu có và nhiều quyền lực, là bạn của nhà vua. Lull, đam mê sắc dục, đã ngủ với nhiều người đờn bà, thậm chí sau khi lập gia đình và đã có hai mặt con. Nhưng một ngày kia, ở tuổi 32, khi đang ngồi viết thơ tình, ông thấy trăn trở với tội lỗi của mình. Ông đã mường tượng Đấng Christ đang chịu khổ trên thập tự giá. Ông đã được biến đổi.
Majorca do người Hồi giáo cai trị, và dần dần chàng trai trẻ cảm thấy có ước muốn đến với thế giới của đạo Hồi. Sau khi chu cấp cho vợ và hai con, Lull bố thí hết phần còn lại của tài sản mình có. Ông học hỏi cật lực trong mấy năm trời, học ngôn ngữ Ả rập và mọi sự ông có thể học về đạo Hồi lẫn Cơ đốc giáo. Với sự trợ giúp của nhà vua, ông lập ra một ngôi trường ở Majorca để đào tạo các giáo sĩ. Ông hay gặp gỡ các giáo hoàng và hồng y giáo chủ, tìm cách khuyên họ thiết lập các ngôi trường tương tự khắp châu Âu để đào tạo giáo sĩ và nghiên cứu ngôn ngữ. Ông viết lách, diễn thuyết, và giảng đạo rất năng nổ. Kế đó ông bắt đầu công tác truyền giáo ở tuổi 55, lấy mục tiêu ở Bắc Phi châu.
Công tác nầy bắt đầu không ổn. Sau khi công bố chuyến đi tới Tunis, có nhiều người đến tham gia với Lull tại cảng Genoa. Nhưng đột nhiên ông bị phủ lút với sự kinh khủng của sự tuận đạo rất khả thi. Những đồ dùng cá nhân của ông đã chất đầy trên tàu, con tàu dong buồm ra khơi mà chẳng có mặt của ông. Ông mau chóng hồi phục rồi bắt con tàu kế đó mà đi tới Tunis. Mọi nỗi sợ hãi của ông đều có cơ sở hợp lý. Ông thấy mình đang ở trong tầm nguy hiểm thường trực, sống đời sống của kẻ trốn tránh. Chắc chắn rồi ông sẽ bị bắt, bị trục xuất, và bị ném đá trên đường ra tới con tàu. Nhưng ông không thể ngồi yên, và ông lại lên đường sang Bắc Phi, luôn luôn sống trong chỗ liều mạng và chơi vơi, chẳng bấu víu vào đâu được cả. Suốt những năm 70 cho đến 80 tuổi của ông, Lull đã giảng đạo cho người Hồi giáo, Sau cùng, vào ngày 30 tháng 6 năm 1314, Lull bị bắt, bị đẩy ra khỏi thành phố, và bị ném đá. Ông ngã chết ngay sau đó. Nhưng ông đã thúc đẩy các giáo sĩ Cơ đốc tiến tới trước và đã lót đường cho những ai có gánh nặng dành cho người Hồi giáo.
“Ta sẽ đem vật gì chầu trước mặt Đức Giê-hô-va và quì lạy trước mặt Đức Chúa Trời rất cao? Ta sẽ đến trước mặt Ngài với những của lễ thiêu và với những bò con giáp niên sao? Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?” (Michê 6.6, 8).

