Các Động Lực Cho Sự Hiệp Một Về Mặt Thuộc Linh
Hãy mở Kinh thánh của bạn ngay bây giờ, nếu bạn muốn. Chúng ta xem chương thứ hai của thơ Phi-líp, đây là tiểu đoạn quen thuộc nhất trong thư tín tuyệt vời này.
Bây giờ, cho phép tôi nói khi bạn chuẩn bị xem xét Phi-líp 2, hội chúng Cơ đốc nhân tại thành Phi-líp là một Hội thánh có chất lượng, giống như hội thánh của chính chúng ta, tôi tin như thế. Và khi Phao-lô suy nghĩ về họ và thậm chí khi ông viết thư cho họ, những suy nghĩ và cảm xúc của ông đều rất tích cực. Người thành Phi-líp có một chỗ rất đặc biệt trong tấm lòng của họ. Những cảm xúc tích cực của họ về mặt cơ bản được tỏ ra trong văn mạch của bức thư. Thí dụ, chương 1, câu 3: “Mỗi khi tôi nhớ đến anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi“. Câu 4: “và mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng cầu cho hết thảy anh em cách hớn hở“. Câu 5: “vì cớ từ buổi ban đầu cho đến bây giờ, anh em đã được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin Lành“. Và rồi bạn cũng nên chú ý trong câu 8, ông nói: “Đức Chúa Trời cũng chứng rằng: tôi lấy lòng yêu dấu của Đức Chúa Jêsus Christ mà trìu mến anh em“. Có một sự ràng buộc yêu thương đích thực giữa vị sứ đồ và Hội thánh nầy.
Chương 1 câu 19, ông nói rằng: “Vì tôi biết rằng nhờ anh em cầu nguyện, và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus Christ giúp đỡ, thì điều nầy sẽ trở làm ích cho sự rỗi tôi“. Sau khi khen ngợi họ vì tình cảm và những lời cầu nguyện của họ, sự bền đỗ của họ, sự kiên định của họ trong đức tin, đã có nhiều ký ức vui vẻ về họ. Trong chương 2, câu 12, ông nói: “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình“. Và ông khen ngợi họ vì sự vâng phục của họ. Họ có một khuôn mẫu của sự vâng phục. Khi ông có mặt ở đó họ tuân theo, và ông muốn họ tiếp tục sống như thế ngay cả khi ông vắng mặt.
Trong chương 3, câu 16, ông nói: “Duy Chúng ta đã đạt đến bậc nào, thì chúng ta phải đồng đi vậy“. Ông nói với họ: “Cứ sống theo cùng một tiêu chuẩn mà anh em đang sống”. Và một lần nữa, ông khen ngợi họ vì tiêu chuẩn cao về sự cam kết thuộc linh đó là khuôn mẫu đời sống của họ. Trong câu 10 của chương 4, ông hớn hở trong Chúa rất nhiều vì họ đã bày tỏ mối quan tâm của họ đối với ông. Khi có được cơ hội, họ đã gửi cho ông một của lễ rất dồi dào. Xuống đến câu 16, ông nói: “vì tại Tê-sa-lô-ni-ca, anh em đã một hai lần gởi đồ cung cấp về sự cần dùng cho tôi vậy“.
Hết thảy những nghĩ suy của ông về Hội thánh này đều ấm áp và khẳng định. Và Hội thánh đã có một chỗ rất đặc biệt trong tấm lòng của ông. Họ đã có các cấp lãnh đạo rất chất lượng là điều rất thực. Trong câu 1 của chương 1, ông viết: “gởi cho hết thảy các thánh đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ, ở thành Phi líp“, và ông gộp luôn “cùng cho các giám mục và các chấp sự“, qua lời giới thiệu như thế, các tôi tớ của Chúa và Hội thánh đều được khen ngợi. Trong câu 5, khi ông khẳng định sự dự phần của họ trong Tin lành, ông lưu ý với chúng ta rằng họ là những người tin Chúa chân chính. Câu 7 nói tới lòng dạn dĩ lớn lao của họ, bởi vì ngay cả trong sự tù đày của Phaolô và “binh vực và làm chứng đạo Tin Lành“, họ đã đứng chung với ông như là “dự phần ân điển“. Trong câu 9 cho thấy rằng họ có một tình cảm thực sự, là thứ duy nhứt có cần nhiều hơn nữa. Tình cảm ấy đã được dồi dào rồi. Trong câu 19 một lần nữa chúng ta tự nhắc nhở mình rằng họ đã dâng lời cầu nguyện. Và như tôi đã chỉ ra trong chương 4, họ sống rất rời rộng.
Có một sự thiếu sót rõ ràng về lời khuyên theo giáo lý trong thư tín này vì dường như chẳng có một sự sai lệch về mặt giáo lý. Họ đã không lệch lạc trong giới hạn thần học. Họ không cần phải bị chỉnh sửa. Không có sự phi luân trong hội chúng mà thư tín nầy được gửi đến. Nói chung, đây là một nhóm người có chất lượng. Đây thực sự là một Hội thánh tin kính, nhất quán và chơn thật về mặt giáo lý.
Nhưng, bất chấp mọi sự ấy, có ẩn nấp trong Hội thánh một con rắn gây chết chóc với nọc độc dữ dằn lắm. Và con rắn gây chết chóc đó là con rắn của sự chia rẽ, bất hòa, và xung đột, đã đầu độc rất nhiều, nhiều Hội thánh. Trong mọi sự biểu hiện vui mừng của Phao-lô, trong mọi điều tích cực của ông, đã khẳng định các đặc điểm của Hội thánh Phi-líp nầy, vẫn còn che giấu trong bóng tối một vấn đề xấu xa liên quan đến ông, và đó chính là vấn đề bất hòa và mất đoàn kết trong Hội thánh. Và theo một ý nghĩa, ông đã lồng vào bức thư với vấn đề đó. Thí dụ, trong chương thứ nhứt, ông nói về điều đó, câu 27, khi ông nói: “Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin Lành, phàm sự gì chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình”. Trong chương 4, chương cuối cùng, ông nói về điều đó trong các câu 1 và 3 khi ông viết: “Vậy thì, hỡi anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên cho tôi, kẻ rất yêu dấu ơi, hãy đứng vững trong Chúa. Tôi khuyên Ê-yô-đi và khuyên Sin-ty-cơ phải hiệp một ý trong Chúa. Hỡi kẻ đồng liêu trung tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đàn bà ấy”.
Vì vậy, trong chương 1 là sự thúc giục một tâm trí và một tấm lòng. Trong chương 4, một sự thúc giục khác về sự hài hoà tâm trí trong Hội thánh. Và ở giữa chương thứ hai này, và câu mở đầu của chương 2 cũng đề cập đến vấn đề hiệp một trong Hội thánh. Đây là một lời nài xin để có được sự hiệp một đó. Thực vậy, ở đây cung ứng khuôn mẫu của sự hiêp một. Đây là công thức cho sự hiệp một về mặt thuộc linh, như chúng ta đã đặt đề tựa cho bài giảng của chúng ta.
Bây giờ cho phép tôi cung ứng cho bạn đôi chút về cho một phản ứng cá nhân vào thời điểm này. Từ nhận định của riêng tôi, điều tôi ghét nhất trong Hội thánh của chúng ta, điều tôi ghét nhất là sự thờ ơ về mặt thuộc linh – sự dửng dưng trước mọi vụ việc của Chúa, dửng dưng với lẽ thật thánh, dửng dưng với các vấn đề thuộc linh. Đó là điều mà tôi ghét nhất. Nhưng việc mà tôi sợ nhất là sự bất hòa, không hiệp một, mâu thuẫn và chia rẽ. Và tôi hoàn toàn dám chắc rằng Phao-lô đã cảm nhận cùng một cách ấy, bởi vì mỗi lần ông viết thư cho một Hội thánh, ông lại đưa ra vấn đề hiệp một. Khi ông viết cho người thành Rô-ma, ông đã đưa vấn đề ấy ra ít nhất là ba lần: Rô-ma 12:10, Rô-ma 12:16, rồi trong thơ Rô-ma, chương 14 và 15; đấy là đề tài của hai chương đó. Và khi ông viết thư cho người thành Cô-rinh-tô trong thư tín thứ nhứt, câu 10 của chương 1, và thư thứ hai, câu 11 của chương 13, ông lại đưa ra sự hiệp một. Khi viết thư cho người thành Ga-la-ti, ở các chương 5 và chương 6, ông lại đưa vấn đề ấy ra. Khi viết thư cho người thành Ê-phê-sô, ở chương 4; người thành Cô-lô-se ở chương 3, ông lại đưa vấn đề ấy ra. Khi viết cho người thành Tê-sa-lô-ni-ca trong thư thứ nhứt, chương 4, các câu 9 và 10; và thư thứ hai chương 1, các câu 3 và 4. Rồi ở đây, đưa vấn đề đó ra khi viết thứ cho người thành Phi-líp vì luôn luôn là một thảm hoạ tiềm ẩn trong Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ.
Lời cầu nguyện liên tục của tôi cho Hội thánh hạnh phước này trong đó chúng ta là một chi thể, ấy là mọi người sẽ không bao giờ phân rẽ những gì Đức Chúa Trời đã hiệp lại với nhau. Nhưng đấy là một trận chiến liên tục. Và tôi muốn nói cho bạn biết rằng nỗ lực duy trì tinh thần hiệp một trong Hội thánh là một sinh hoạt mạnh mẽ, khó khăn và liên tục về giám sát thuộc linh. Không nghi ngờ gì nữa, đây là vấn đề chính của chức năng lãnh đạo thuộc linh.
Bạn nói: “Bộ đây chẳng phải là nan đề trong một Hội thánh nhơn đức, trong một Hội thánh giảng dạy đạo thật, có phải ở đó người ta cam kết với chức vụ và cam kết với Chúa không?” Không nhất thiết như vậy. Thực ra, William Barclay đã có một suy nghĩ thú vị về loại Hội thánh đó. Ông nói như sau: “Có một ý nghĩa trong đó, đây là mối nguy hiểm của mỗi Hội thánh lành mạnh. Bạn thấy đấy, chính khi ai nấy đều thực sự sốt sắng, khi niềm tin của họ thực sự quan trọng đối với họ, khi họ phấn khởi thực hiện mọi kế hoạch của riêng họ và các kế hoạch của chính họ, họ có khuynh hướng nổi lên chống lại nhau. Sự sốt sắng của họ càng lớn, càng có nhiều nguy cơ họ sẽ bị va chạm”.
Cho nên, sự thực cho thấy rằng một Hội thánh có những người theo đạo thật và sốt sắng không miễn trừ khả năng có sự bất đồng. Thực vậy, Hội thánh có thể mời đón sự bất đồng ấy bằng một số phương thức vì sự sốt sắng của những người như vậy. Nhưng tôi lại nói, hận thù lớn nhất của tôi trong Hội thánh là vì sự thờ ơ thuộc linh. Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi trong Hội thánh là vì có sự chia rẽ. Và tôi không có bất kỳ ảo giác nào bởi vì một Hội thánh có đạo thật, đã cam kết về mặt thuộc linh và năng động trong mục vụ mà không có sự chia rẽ nào như thế có thể xảy ra. Tôi biết rõ hơn. Tôi biết rõ hơn.
Bây giờ, cho phép tôi đi thêm một bước nữa và nói cho bạn biết rằng sự hiệp một của Hội thánh là hướng nội chớ không hướng ngoại. Khi Kinh thánh nói về sự hiệp một, Kinh Thánh không nói về sự hiệp một bề ngoài đâu. Kinh Thánh đang nói về sự hiệp một ở bề trong. Kinh Thánh đang nói về một thứ rất hấp dẫn ở bên trong, chớ không phải là thứ bị kiểm soát ở bên ngoài. Điều đó chân thành hơn là tín ngưỡng. Đặc biệt, nó không phải bằng lời nói nhiều, mà nó là thứ thuộc về cảm xúc, về thuộc linh. Đây là sự kết hợp của tấm lòng, ý chí và linh hồn trong lý tưởng chung. Ấy chẳng phải là người ta sống hiệp một bởi vì họ đang ở trong cùng một cái bồn chứa. Đó là những người mà họ bị cuốn đến với nhau bởi vì họ bị kéo bởi cùng một sức mạnh.
Cho phép tôi xem lại, liệu tôi có thể minh họa được điều đó không. Nếu bạn có một túi đầy những hòn bi, bạn có một sự hiệp một nhất định. Bạn có một cái túi đầy những hòn bi, và tất cả những viên bi đó đều bị đẩy chèn vào nhau, kết lại với nhau. Nhưng thứ kết chúng lại thành sự hiệp một là cái túi. Đó là thứ ở bên ngoài đang kềm giữ chúng. Sau đó thì bạn xé cái túi ra, những viên bi rơi khắp mọi nơi bởi vì không có cái gì nội tại hoặc bên trong để giữ chúng lại với nhau. Chính cái túi mà chúng ở trong đó, cái bồn chứa.
Nhưng mặt khác, nếu bạn có một thanh nam châm và bạn đặt thanh nam châm đó vào một số lưỡi dao cạo râu bằng kim loại, các lưỡi dao cạo râu sẽ dính hết vào thanh nam châm. Không phải vì có một bồn chứa bề ngoài nhưng vì có một lực nội tại. Và chúng được kéo đến nhau bởi vì hết thảy chúng đều bị kéo bởi cùng một lực hút để dính vào nhau. Và đó là phương thức mà Hội thánh đang có. Ấy chẳng phải một bộ sưu tập những viên bi ở trong cùng một cái túi. Đây là những người bị chèn ép chống lại nhau bởi vì hết thảy họ đều bị thu hút vào nhau bởi cùng một sức mạnh, sức mạnh ấy là quyền phép của Đức Chúa Jêsus Christ. Đó là sự hiệp một nội tại của Hội thánh. Chúng ta bị kéo đến với nhau bởi vì chúng ta đang bị kéo qua nhau bằng quyền phép đang kéo lên đó, tức là Đấng Christ.
Giờ đây, điều mà Phaolô muốn thấy không phải là những viên bi trong một cái túi nữa, nhiều người thảy cùng sống với nhau vì cái bồn chứa đã đem họ lại với nhau, nhưng ông muốn nhìn thấy những người được kéo đến bởi quyền phép của Đấng Christ lại với nhau bởi vì họ cùng nhau bị cuốn hút vào Đấng Christ thông qua nhau. Và đây là sự hiệp một có lực hút như nam châm từ bên trong, là thứ thiết yếu cho sự vui mừng và hiệu quả của Hội thánh. Đây là sự hiệp một đích thực của Đức Thánh Linh. Và nó rất mong manh. Ồ, nó rất dễ vỡ. Đấy là lý do tại sao trong Ê-phê-sô 4:3, Phao-lô nói “nỗ lực”, và ông sử dụng động từ spoudazō, có nghĩa là “thực hiện nỗ lực thường xuyên”. Ông nói: [theo bảng King James] “Hãy nỗ lực [hay thực hiện nỗ lực thường xuyên] để giữ gìn sự hiệp một của Đức Thánh Linh trong mối dây hòa bình”. Phải tốn rất nhiều nỗ lực. Như tôi đã nói, phần việc lớn lao nhất của sự giám sát và lãnh đạo về mặt thuộc linh là phần việc rất là dễ dàng.
Và vì vậy, như Phao-lô viết thật đúng cho Hội thánh Philíp, với sự sốt sắng, với tình yêu thương, với sự dạn dĩ, với sự đam mê, với sự thông cảm, với sự cầu nguyện, vẫn có những nguy cơ ẩn tàng của sự bất hòa. Và sự bất hoà là một bi kịch trong Hội thánh, một sự suy đồi trong Hội thánh mà ông nài nĩ họ phải làm mọi sự họ có thể để tránh đi việc ấy.
Trong chương 1, câu 27, ông nói: “Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin Lành, phàm sự gì chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình”; và ở đó ông giới thiệu chủ đề hiệp một. Sau khi giới thiệu đề tài nầy trong các câu 27-30, giờ đây ông tiếp tục cung ứng cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn vào các yếu tố tạo nên sự hiệp một này ở chương 2. Trong bốn câu đầu tiên của chương 2, chúng ta có một tiểu đoạn nói tới công thức dùng cho sự hiệp một về mặt thuộc linh. Nó tuôn tràn ra từ những gì ông đã nhắm tới trong chương 1, câu 27. Đấy là lý do tại sao “vậy” có trong câu 1 của chương 2. Nó dựa trên lời kêu gọi đó: “Vậy, tôi nài xin anh em phải có sự hiệp một, giờ đây tôi hướng dẫn anh em làm thế nào để có sự hiệp một ấy”. Câu này rất thiết thực.
Và khi chúng ta nhìn vào các câu 1-4, chúng ta sẽ nhận thấy ba điều: các động cơ cho sự hiệp một, các dấu hiệu của sự hiệp một, và những phương tiện cho sự hiệp một. Đó là ba luận điểm mà chúng ta sẽ nhắm vào. Bây giờ, sáng nay chúng ta sẽ chỉ nhìn vào luận điểm thứ nhứt, bởi vì nó rất phong phú, sâu sắc và rất quan trọng. Các động cơ cho sự hiệp một giải đáp cho thắc mắc: “Tại sao?” Các dấu hiệu của sự hiệp một giải đáp thắc mắc “Cái gì?” Và những phương tiện của sự hiệp một giải đáp thắc mắc “Bằng cách nào?” Tại sao chúng ta phải tìm kiếm sự hiệp một; đâu là sự hiệp một; và làm thế nào chúng ta kinh nghiệm sự hiệp một? Điều này rất đơn giản, rất trực tiếp và rất thiết thực. Và tôi nghĩ tuyệt đối là quan trọng cho Hội thánh của chúng ta.
Hãy cùng tôi xem bốn câu này. “Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa“.
Giờ đây, trọng tâm của phân đoạn này là cụm từ “đồng tâm”. Đó là phần nhấn mạnh chính ở đây, và chúng ta sẽ thấy chi tiết hơn trong lần tới đây. Nhưng đó là sự thúc đẩy. “Tôi muốn anh em có thái độ đồng tâm đó”. Ông đã nói cùng một việc ấy ở chương chương 1: “đồng tâm chống cự vì đạo Tin lành”. Và giờ đây ông nói cho họ biết lý do tại sao ông muốn họ phải đồng tâm, điều ông muốn nói bởi sự đồng tâm ấy, và làm thế nào để họ có được sự đồng tâm đó. Rất thiết thực.
Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào các động cơ. Tại sao chứ? Tại sao “đồng tâm” là quan trọng cho chúng ta chứ? Tại sao chúng ta cần duy trì sự hiệp một trong Hội thánh là điều quan trọng chứ? Tại sao chúng ta phải có một tinh thần mới là điều quan trọng chứ? Để cùng nhau chống cự chăng? Để loại bỏ xung đột? Bất đồng? Chia rẽ? Tại sao đồng tâm là quan trọng chứ? Đây là bốn động cơ trong câu 1, và thêm một câu nữa trong câu 2. Bốn động cơ trong câu 1 bắt đầu với:
Hãy chú ý chúng: “Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót”. Giờ đây, có bốn động cơ cho sự hiệp một về mặt thuộc linh.
Bây giờ, cho phép tôi cung ứng cho bạn một cái nhìn sâu sắc về các mặt kỹ thuật của câu Kinh Thánh này. Chữ “nếu” giới thiệu trong tiếng Hy-lạp cái được gọi là mệnh đề có điều kiện cấp 1. Người Hy-lạp có những điều kiện khác nhau trong các mệnh để “nếu” của họ. Và dựa trên cấu trúc tiếng Hy-lạp, bạn có thể nói những gì mà “nếu” muốn nói. Thí dụ: nếu là mệnh đề có điều kiện cấp 1, nó có nghĩa là “nếu và thực như thế” hoặc “nếu như sự thực cho thấy là vậy”. Có một mệnh đề có điều kiện nói: “nếu, và sẽ là sự thực”; có một mệnh đề nói: “nếu, và có thể là đúng đấy”; nhưng hình thức có điều kiện cấp 1 tiếng Hy-lạp muốn nói: “nếu, và đó là sự thật”. Vì vậy, bạn có thể thay thế một từ khác cho “nếu” và làm rõ hơn, đó sẽ là cụm từ “một khi”. “Một khi trong Đấng Christ có điều yên ủi nào”; “một khi vì lòng yêu thương” và v.v… Hoặc hay hơn nữa, hãy sử dụng chữ “bởi vì”. Và đấy chính xác là ý nghĩa của nó. “Bởi vì trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, bởi vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, bởi vì có sự thông công nơi Đức Thánh Linh, bởi vì có lòng yêu mến và lòng thương xót, mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn”. Bởi vì hết thảy mọi sự này, đây là những động cơ lèo lái, đây là những lẽ thật có cần buộc bạn đó.
Bây giờ, cho phép tôi tới một bước nữa. Ông không nói về những trừu tượng của giáo lý. Ông đang nói – bây giờ hãy để ý điều này – về những kinh nghiệm thuộc linh trong hiện tại. “Bởi vì trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, bởi vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, bởi vì có sự thông công nơi Đức Thánh Linh, bởi vì có lòng yêu mến và lòng thương xót”. Đây không phải là điều trừu tượng đâu. Đây không phải là thần học cao vời đâu. Đây là kinh nghiệm thuộc linh trong hiện tại, nó trở thành động lực cho sự hiệp một.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào động lực thứ nhứt, và bạn sẽ thấy điều nầy mở ra như thế nào và cách áp dụng nó – bởi vì có sự yên ủi trong Đấng Christ. Động lực thứ nhứt là sự yên ủi trong Đấng Christ. Đó sẽ là động lực thứ nhứt của chúng ta. Từ “yên ủi”, paraklēsis, nói tới “đến bên cạnh và giúp đỡ” cho ai đó. Đức Thánh Linh được gọi là Paraclete [Đấng Yên Ủi], là Đấng đến bên cạnh và giúp đỡ. Nó có ý tưởng đến bên cạnh ai đó để khích lệ, khuyên lơn, giúp đỡ, và yên ủi họ. Và điều ông muốn nói là: “anh em là những người ở trong Đấng Christ đã kinh nghiệm sự vùa giúp của Ngài. Ngài đã đến bên cạnh anh em. Anh em là những người ở trong Đấng Christ đã được phước từ sự hiệp một với Đấng Christ qua sự khích lệ, khuyên lơn, mưu luận và giúp đỡ mà anh em đã nhận được”. Và điều ông nói ở đây là: “Bởi vì Đấng Christ đã thường xuyên và thành tín giúp đỡ anh em, đây là cách anh em phải đáp ứng, bằng cách có cùng một tâm tình. Nếu ơn phước, sự yên ủi lớn lao của Đấng Christ, nếu ơn phước lớn lao trong sự tha thứ thường trực, sức lực liên tục, sự khôn ngoan liên tục, sự chúc phước không ngừng và ơn phước của Ngài cứ liên tục trong cuộc đời bạn là điều có ý nghĩa, chắc chắn bạn nên đáp ứng bằng cách nỗ lực để có cùng một tâm tình”. Tai sao chứ? Bởi vì đó là lời cầu nguyện tuyệt vời của Đấng Christ. Trong Giăng 17 Ngài phán rằng: “Lạy Cha, Con cầu xin cho họ được làm một để thế gian nhìn biết rằng Con và Cha là một”. Trong Giăng 13:35, Ngài phán rằng: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta”. Niềm đam mê lớn lao trong tấm lòng của Đấng Christ là sự hiệp một của dân sự Ngài.
Và Phaolô đang nói gì chứ? Ông nói như vầy: “Vì anh chị em đã nhận được sự yên ủi liên tục dịu dàng, sự khuyên lơn, mưu luận và giúp đỡ của Đấng Christ như thế kể từ thời điểm anh chị em được cứu, một khi anh chị em được ban cho nhiều như thế, điều đó há không thúc giục anh chị em dâng lại cho Đấng Christ những gì là quý giá đối với tấm lòng của Ngài sao? Có phải ảnh hưởng của Đấng Christ trong cuộc đời anh chị em đang tác động anh chị em phải vâng lời sao? Hay là anh chị em vô ơn đến nỗi anh chị em sẽ luôn nhận, nhận, nhận, nhận mà không bao giờ ban cho sao?” Đó mới là vấn đề.
Đồng thời, đây là một điểm rất mạnh mẽ và là một nguyên tắc thuộc linh sâu rộng vì nó nhắm vào – hãy đánh dấu đi – nó nhắm vào sự vâng lời – hãy làm theo việc nầy – như một phản ứng rất cá nhân trước một mối quan hệ rất cá nhân. Bạn thấy đấy, khi bạn phạm tội không nhiều đến nỗi như đang vi phạm một hệ thống tôn giáo; ấy chẳng phải là bạn đang vi phạm một hệ thống thần học đâu; ấy chẳng phải là bạn đang vi phạm một cấu trúc tín điều; ấy chẳng phải là bạn đang đi ngược lại tổ chức của nhà thờ. Khi bạn phạm tội, bạn thật sự vi phạm sự thân mật trong mối quan hệ giữa bạn và Đấng Christ.
Nếu bạn đã nhận lãnh – và bạn đang có – sự khích lệ, mưu luận, khuyên lơn, khôn ngoan thường xuyên đến từ Đấng Christ, há chẳng phải là động lực để bạn dâng lại cho Ngài những gì là quí báu cho tấm lòng của Ngài sao? Ngài đã liên tục, bởi ân điển, ban cho bạn mọi sự quý báu cho bạn. Lẽ nào bạn không dâng lại cho Ngài trở lại những gì là quý báu đối với Ngài? Hãy đánh dấu đi, khi bạn đưa sự bất hòa vào Hội thánh của Ngài, bạn không vi phạm nhiều đối với Hội thánh và không phải là nhiều đối với giáo lý của sự hiệp một là mối quan hệ với Đấng Christ. Ông đang nói: “Anh em không bị kích thích bởi ảnh hưởng của Đấng Christ trong anh em sao? Anh em không bị kích thích bởi sự đổ ra sự yên ủi của Ngài cho anh em sao? Ơn phước dịu dàng, tử tế thường xuyên của Ngài? Có phải anh em không thấy mình cảm động bởi điều đó đến nỗi anh em sẽ không đáp ứng lại bằng cách duy trì sự hiệp một của Đức Thánh Linh và mối dây của sự hòa bình sao? Nếu anh em không đáp ứng, thì hãy biết chỗ mà tội lỗi của anh em được đặt ở đâu chứ!?! Nghịch lại Hội thánh chẳng phải là tội lỗi đâu. Nghịch lại giáo lý cũng chẳng phải là tội lỗi đâu. Nghịch lại luật đạo đức chẳng phải là tội lỗi đâu. Nghịch lại mối quan hệ với Đấng Christ mới là tội lỗi đấy. Đó là một hành động vô ơn bất chấp sự ước ao riêng tư mà Ngài dành cho Hội thánh của Ngài. Vì vậy, hãy nhận biết đâu là tội lỗi của mình, hãy ban cho nó được bằng thẳng đi”.
Sự chúc phước dồi dào, sự yên ủi nhẹ nhàng của Đấng Christ đã được đổ ra rời rộng cho chúng ta. Những sự yên ủi của Ngài đối với chúng ta rất rõ ràng và hấp dẫn, kể cả những lời khuyên của Ngài về sự hiệp một, chúng ta nên đáp ứng lại khi được khích lệ để theo đuổi sự hài hòa mà Ngài mong muốn trong Hội thánh của Ngài vì cớ lòng biết ơn và yêu thương, nếu không vì một việc gì khác. Đó là cơ bản, đúng là cơ bản.
Hãy nhìn vào nguyên tắc thứ hai. Nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, là thứ hai. Ông đang nói gì vậy? Phải, đây là động lực thứ hai, và điều ông muốn nói là: “Một khi sự yêu thương dịu dàng của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ mà hết thảy chúng ta đều đã kinh nghiệm qua trong vai trò Cơ đốc nhân. Một khi trong sự cứu rỗi và trong sự nên thánh, chúng ta đã biết rõ tình yêu thương của Ngài và sự yên ủi trong tình cảm của Ngài. Chúng ta biết rõ rằng sự yên ủi, sự tha thứ yêu thương, sự thương xót và ân điển – và điều đó rất dồi dào cho chúng ta – chúng ta không nên ghìm lại không tìm kiếm những gì quý báu đối với tấm lòng của Ngài, nghĩa là sự hiệp một của dân sự Ngài hay sao?” Đấy là cùng một ý tưởng.
Đồng thời, tôi tin rằng hai động lực thứ nhứt liên quan đến Đấng Christ và động lực thứ hai liên quan đến Đức Thánh Linh. Động lực thứ nhất nhắc tới Đấng Christ; động lực thứ hai tuôn tràn ra từ đó. Động lực thứ ba nhắc tới Đức Thánh Linh; động lực thứ tư tuôn tràn ra từ đó.
Cụm từ ở đây nói tới “yên ủi” là đáng lưu ý. Đó là từ paramuthion. Tôi thích cách phiên dịch từ nầy bằng từ “cổ vũ nhẹ nhàng”, “cổ vũ nhẹ nhàng”. Có người đã dịch nó là “thoải mái”. Về cơ bản nó có ý tưởng “mưu luận dịu dàng”. Sát nghĩa là từ này muốn nói, nếu bạn đi vào chi tiết, là “nói chuyện với ai đó bằng cách đến bên cạnh họ”; “đến gần với ai đó rồi thầm thì trong tai”. Và đồng thời, từ này chưa bao giờ được sử dụng trong Tân Ước bằng cách nào khác hơn cách thân thiện. Đó là một từ nói về tình bạn. Đó là một từ nói về tình cảm mật thiết. Và đấy chính xác là điều chúng ta muốn thấy ở đây. Từ agapē liên quan đến tình yêu vĩ đại nhất, tình yêu cao cả nhất, tình yêu tối cao. Và vì thế điều Phao-lô muốn nói là: “Hãy xem, bởi vì anh em đã được yên ủi liên tục trong mối quan hệ của anh em với Đấng Christ, bởi vì anh em thường xuyên và thường trực có sự cổ vũ nhẹ nhàng của Ngài đến bên cạnh để nói ra những lời hữu tình vào chính hai lỗ tai của anh em; vì cớ mối quan hệ mật thiết đó, mà Ngài đã đổ tình cảm và ân sủng của Ngài vào trong đời sống của anh em, há anh em có bị buộc phải dâng trả lại cho Ngài những gì mà lòng Ngài ưa thích không?”
Và nói thẳng ra, một lần nữa tôi nói cho bạn biết vì tôi không muốn bạn quên điều này, rằng tội lỗi của bạn nghịch lại sự hiệp một của Hội thánh không chủ yếu là tội lỗi chống lại sự hiệp một như một thực thể đâu. Ấy chẳng phải là một tội lỗi chủ yếu nghịch cùng Hội thánh như là một tổ chức đâu. Mà đó là tội lỗi chống lại mối quan hệ thân tình và riêng tư của bạn đối với Đấng Christ, và đó là hành động tối hậu của một người vô ơn đối với Đấng đã không ngừng đổ ra cả hai: sự khích lệ và yên ủi trong cuộc sống của bạn kể từ khi bạn được cứu. Vì vậy, hãy nhìn vào sự thách thức của bạn về điều đó sao cho đúng đắn: đó là sự vô ơn thô bỉ, là thứ tồi tệ nhất. Thực vậy, bạn đang nói: “Lạy Chúa, con nhận lãnh mọi thứ Ngài ban cho. Con muốn mọi thứ con cần. Con sẽ nhận hết mọi sự mà Ngài tiếp trợ cho, mà không đòi trả lại một việc gì. Đừng yêu cầu con phải dâng lại cho Ngài những gì là quý báu đối với Ngài”. Đây là một sự vi phạm đối với mối quan hệ. Hãy nhìn xem nó có đúng như vậy không!?!
Và không những điều nầy là tội gây chia rẽ; đây đúng là tội lỗi. Đấy là lý do tại sao Đa-vít nói trong Thi thiên 51 về tội lỗi của ông khi ông phạm tội nghịch cùng Bát-sê-ba. Phải, ông đã phạm tội nghịch cùng Bát-sê-ba. Phải, ông đã phạm tội nghịch cùng U-ri chồng của nàng. Ông đã phạm tội nghịch cùng dân Y-sơ-ra-ên bởi vì ông là vua. Ông đã phạm tội nghịch cùng luật pháp của Đức Chúa Trời, phải, luật Môi-se đã cấm loại sự việc ấy. Nhưng ông đã nói như vầy: “Lạy Chúa, con đã nghịch cùng Ngài” – Sao chứ? – “đã phạm tội”. Và đó là mục tiêu mà mỗi người nam hay nữ phải xưng ra về tội lỗi. Ấy chẳng phải là tôi đã vi phạm một điều luật gần như nhiều đến nỗi tôi đã vi phạm một mối quan hệ.
Và Phao-lô nói bằng những lời dịu dàng như vậy vì ông cảm thấy sự dịu dàng ấy trong tấm lòng mình đối với những con người này. Chẳng có một sự gạt gẫm nào ở đây. Ông đã không đánh đập họ. Ông đã không búa vào họ với sự phán xét. Không có một lời đe dọa nào ở đây. Ông không đấm họ với nỗi lo sợ sự phán xét. Ông yêu cầu họ nhìn vào tình yêu thương của Đấng Christ, nhìn vào sự khích lệ liên tục, nhẹ nhàng, cổ vũ của Đấng Christ trong cuộc đời họ, sự dốc đổ tràn trề của ân điển và nhớ rằng Chúa Jêsus đã cầu thay cho sự hiệp một, và đó là lời nài xin của tấm lòng Ngài. Và rồi ông hỏi các tín hữu thành Phi-líp: “Anh em có thể nắm lấy mọi sự này từ Đấng Christ và ít nhất không dâng trả lại cho Ngài điều quý giá nhất trong tấm lòng của Ngài không? Bởi vì nếu bạn không thể, bạn đã vi phạm mối quan hệ, điều nghiêm khắc nhất trong mọi hành vi của sự phản bội. Bạn đã xoay gót chân của mình về phía thiết hữu quen thuộc nhất của bạn. Bạn đã phản bội người mà bạn đã hôn. Đây là một hình thức đối xử của Giu-đa.
Rồi, thứ ba, ông chuyển sang Đức Thánh Linh trong động cơ thứ ba. Ông nói: “Nếu có sự thông công nào nơi Thánh Linh”, koinonia, “cộng tác, giao thông, chia sẻ”. “Bởi vì” – đặt cụm từ nầy vào điều kiện cấp 1 và cho rằng đấy là một cụm từ đúng đắn – “bởi vì anh em đã kinh nghiệm mối thông công của Đức Thánh Linh”. Giờ đây, ông chuyển sang Đức Thánh Linh. Bạn có nghĩ Đức Thánh Linh mong muốn sự hiệp một không? Chắc chắn rồi. Sự hiệp một của Hội thánh được gọi là sự hiệp một của Thánh Linh. Hết thảy chúng ta đều đã chịu phép báp têm bởi Đức Thánh Linh vào trong một thân, và thảy chúng ta “đều uống cùng một Thánh Linh” (I Côrinhtô 12:13). Hết thảy chúng ta đều được một Đức Thánh Linh dựng nên. Hết thảy chúng ta đều là bàn thờ của Thánh Linh Đức Chúa Trời, là nơi ngự của Đức Thánh Linh. Chúng ta là một trong Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh mong muốn sự hiệp một. Đức Thánh Linh là nguồn của sự hiệp một. Và Phao-lô đang nói: “anh em giao thông với Đức Thánh Linh”.
Hỡi Phaolô, bởi sự ấy ông muốn nói gì chứ? “Anh em đã nhận được mọi sự mà sự hiệp một với Đức Thánh Linh cung ứng cho”. Hãy suy nghĩ về câu nói đó. Bạn đang có Đức Thánh Linh ngự ở trong lòng. Bạn là đền thờ của Đức Thánh Linh, I Cô-rinh-tô 6 chép như thế. Bạn đã nhận được mọi ơn phước của Ngài. Bạn đã được Đức Thánh Linh đóng ấn. Ngài đã trở thành Đấng bảo lãnh cho cơ nghiệp đời đời của bạn. Bạn được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Bạn được mặc quyền phép cho và có khả năng thờ phượng bởi Đức Thánh Linh. Bạn đã được ơn bởi Đức Thánh Linh. Chúa luôn luôn được Đức Thánh Linh thanh tẩy cho. Đức Thánh Linh luôn cầu thay cho bạn “với những sự than thở không thể thốt ra được” trong một thứ ngôn ngữ mà con người không thể hiểu nổi, nhưng là thứ ngôn ngữ của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Ngài đã không ngừng cầu thay cho bạn “theo ý muốn của Đức Chúa Trời” mà bạn không biết, và đấy là lý do tại sao bạn không biết phải cầu nguyện như thế nào như đáng phải có. Vì lẽ đó, Đức Thánh Linh thực hiện sự cầu thay cho bạn.
Đức Thánh Linh đã làm mọi sự cho bạn. Hãy suy nghĩ về việc ấy. Phao-lô nói: “Bởi vì Đức Thánh Linh đã thực hiện sự tái sanh cho bạn, bởi vì Đức Thánh Linh thực hiện sự nên thánh cho bạn, bởi vì Đức Thánh Linh bảo đảm sự vinh hiển đời đời của bạn, bởi vì Đức Thánh Linh không dứt cầu thay cho bạn bằng những sự than thở không thể tìm được bằng lời lẽ của con người, bởi vì Đức Thánh Linh đang ban ơn cho bạn, làm đầy dẫy bạn và tạo ra bông trái nơi bạn, bởi vì Ngài đang dạy dỗ bạn, bởi vì Ngài đang vùa giúp cho bạn kháng cự lại sự cám dỗ, bởi vì Đức Thánh Linh đã ban cho bạn Ngôi Lời, bởi vì Ngài làm cho bạn đầy dẫy với sự thôi thúc thánh khiết, bởi vì Ngài đã ban cho bạn mọi sự liên quan đến sự sống và sự tin kính, liệu bạn sẽ phá vỡ điều mà quí giá nhất trong tấm lòng của Ngài, sự hiệp một của Hội thánh chăng?” Hãy xem xét đâu là vấn đề. Đó là sự xúc phạm một mối quan hệ. Việc ấy dập tắt Đức Thánh Linh phước hạnh. Đó là một hình thức bất chấp Đức Thánh Linh ân điển. Bạn đang nói: “Tôi nhận lấy mọi sự Đức Thánh Linh ban cho. Tôi không dâng trả lại gì hết”. Cho phép tôi nói với bạn: “Tội lỗi, tội lỗi trong đời sống của một Cơ đốc nhân theo định nghĩa đơn giản nhất của nó là một hành động bi thảm của sự vô ơn và xúc phạm một mối quan hệ”. Vấn đề nằm ở chỗ đó. Nó nói: “Tôi nhận lấy mọi sự Ngài ban cho nhưng đừng mong tôi dâng trả cho Ngài thứ mà Ngài mong muốn”. Nó nói: “Tôi muốn hết ơn nầy đến ơn khác, hết sự thương xót nầy đến sự thương xót khác, tôi muốn sự khích lệ, tôi muốn sự yên ủi, tôi muốn mọi chức vụ của Đức Thánh Linh, nhưng tôi cũng bất chấp ý muốn của Ngài và làm chính xác những gì tôi muốn”. Tội lỗi là sự vô ơn trong hành động. Ông nói: “Vậy, hãy nhìn vào sự bất hòa của bạn cho đúng theo ý nghĩa của nó. Đó là một thách thức nghịch cùng Đấng Christ. Đó là một thách thức nghịch cùng Đức Thánh Linh”.
Thế rồi ông nói, thứ tư, động cơ thứ tư: “nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót“. Ông lấn sâu hơn vào chức vụ của Đức Thánh Linh ở đây. Giống như động cơ thứ nhì phản ánh về Đấng Christ, động lực thứ tư này phản ảnh về Đức Thánh Linh. Ông nói: “Đức Thánh Linh đã ban cho bạn cả lòng yêu mến và lòng thương xót”. “Lòng yêu mến”, đâu là ý nghĩa của nó? Đúng như thế. Từ ngữ trong tiếng Hy-lạp là splanchna. Nó có nghĩa là “ruột, nội tạng”. “Ruột” từ ngữ ấy được dịch như thế. Nhưng thực sự nó có ẩn ý là lòng yêu mến. Bạn có bao giờ nghĩ như thế không? Có phải bạn biết Đức Thánh Linh có lòng yêu mến bạn không? Bạn nói: “À, cụm từ ấy muốn nói tới điều gì vậy?” Phải, nó còn hơn cả tình yêu thương nữa. Tình yêu là một thứ có nhận thức; lòng yêu mến là một cảm xúc. Đó là một sự khao khát. Nó còn hơn cả sự cảm kích có nhận thức; đó là một sự khao khát. Và tôi cảm nhận ở đây những gì ông muốn nói là: “anh em đã nhận lấy những sự khao khát của Đức Thánh Linh”, cảm thấy sâu sắc lòng yêu mến. Ruột được người Do-thái xem là chỗ ngồi của cảm xúc. Đó là chỗ mà bạn cảm thấy mọi thứ.
Và vì vậy, chúng ta là những người tin Chúa – hãy suy nghĩ về điều đó – đã nhận lãnh mọi sự khao khát của Đức Thánh Linh. Những gì Ngài khao khát về chúng ta, chúng ta đã nhận lãnh. Đó là một phần trong chức vụ cầu thay của Ngài (Rôma 8:26-27). Ngài đang thực hiện sự cầu thay liên tục cho chúng ta “theo ý muốn của Đức Chúa Trời”. Và Đức Chúa Trời đang lắng nghe và đáp trả cho Ngài bởi vì Ngài luôn luôn cầu nguyện theo ý muốn của Đức Chúa Trời và chúng ta nhận lãnh những điều mà Đức Thánh Linh đang cầu xin cho chúng ta nhận lãnh. Những gì chúng ta đang nhìn thấy, ấy là những gì Ngài khao khát chúng ta phải có những gì Ngài ban cho. Vì vậy, ông nói: “nếu có lòng yêu mến của Đức Thánh Linh”. Đúng là một tư tưởng.
Không phải vậy đâu – tôi nghĩ chúng ta không hiểu khía cạnh quan hệ này. Không phải Đức Chúa Trời là vị thần lạnh lùng, cứng rắn và dửng dưng này, Ngài hoạt động giống như một cái máy, và nếu bạn là một Cơ Đốc Nhân cổ máy ấy sẽ bung ra những điều tốt đẹp. Không. Đây là mối quan hệ và Đấng Christ hiện diện ở đó khích lệ, khuyên bảo, phục vụ và ban ơn càng thêm ơn, yên ủi, khích lệ và cổ vũ, và chúc phước cho. Rồi khi bạn vấp ngã Ngài đỡ bạn lên. Và khi bạn phạm tội Ngài tha thứ cho bạn. Và khi bạn cần đến sức lực Ngài đổ nó ra. Và khi bạn cần sự khôn ngoan Ngài ưng ban cho nó. Và đấy là việc tư riêng vì Ngài yêu mến bạn. Rồi khi bạn phạm tội, bạn đang xúc phạm đến mối quan hệ ấy, sự gần gũi đó. Cũng một thể ấy với Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh không phải là lớp sương mù nổi lên theo kiểu huyền bí khiến cho mọi việc xảy ra. Đức Thánh Linh là một Thân Vị đang sống ở trong bạn. Và Đức Thánh Linh khao khát vì ích của bạn và vì ơn phước của bạn. Đức Thánh Linh mong muốn đổ ra sự chúc phước giáng trên bạn. Và đó là những khát khao của Đức Thánh Linh mà bạn đã nhận lãnh qua ân điển của Đức Chúa Trời.
Thế rồi ông thêm cụm từ “lòng thương xót” vào. Cụm từ thật hay – oiktirmos. Phao-lô đã sử dụng cụm từ nầy bốn lần. Hai trong số lần đó, nó được dịch là: “lòng thương xót của Đức Chúa Trời”, “lòng thương xót dịu dàng của Đức Chúa Trời”. Và ở đây, tôi nghĩ cụm từ ấy cũng có ý nghĩa tương tự. Bạn đã nhận lãnh những sự khao khát của Đức Thánh Linh về bạn, và lòng thương xót dịu dàng từ bi của Đức Chúa Trời qua Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời đã cảm thông với bạn. Nào, chúng ta hãy đối mặt với nó – Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đường đi, đường đi nhiều hơn chúng ta xứng đáng, có phải thế không? Đổ ra ơn càng thêm ơn, thương xót càng thêm thương xót. Ngài có tấm lòng thương xót đối với chúng ta, một tấm lòng dịu dàng đối cùng chúng ta. Và vì vậy, đây là Đức Thánh Linh, chúng ta đang giao thông với. Chúng ta chia sẻ sự sống của Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta. Chính sự sống của Ngài đang ở trong chúng ta. Ngài tái sanh chúng ta. Ngài thánh hóa chúng ta. Ngài ban cho chúng ta các ân tứ, quyền phép, và các tài nguyên và bông trái để làm mọi sự mà chúng ta đang làm.
Mọi sự chúng ta đang làm đổi thành một sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời là sản phẩm của Đức Thánh Linh. Và rồi, Ngài tỏ ra cho chúng ta thấy sự quan phòng đầy lòng thương xót dịu dàng, thương cảm rất to lớn. Phao-lô nói: “Bởi vì anh em đã nhận được hết mọi sự này, anh em có đồng một tâm tình không? Hãy xem sự bất hòa của anh em đúng theo ý nghĩa của nó – một sự xúc phạm mối quan hệ mật thiết này và là một hành động thô thiển vô ơn. Anh em bước vào nhà thờ và gây chia rẽ Hội thánh, và anh em không sống trung tín với một Đấng Christ yêu thương và một Đức Thánh Linh yêu thương, Ngài khao khát sự hiệp một của Hội thánh. Vì vậy, hãy xem xét cho đúng ý nghĩa của nó”.
Bạn nói: “Nào, tôi muốn có một cân thịt. Tôi nghĩ đây là cách chúng ta cần phải tiến hành, và tôi sẽ làm việc này”, v.v… và v.v… Chỉ cần xem cân thịt đó là như thế nào thôi. Và như tôi đã nói, cách tiếp cận của Phao-lô ở đây không phải là đe dọa. Nó sẽ như thế này đây. Chúng ta hãy nói rằng bạn muốn con trai của bạn – tôi sẽ đem nó đến trong vai trò một người cha; Tôi sẽ tiếp cận điều này từ nhận định của một người cha. Bạn muốn con trai mình biết xử sự theo một cách thức nào đó. Bạn có thể gọi nó vào và bạn có thể nói: “Được rồi, con trai, con có hai giờ đồng hồ để thay đổi cách ứng xử hoặc tốt hơn con hãy ra khỏi nhà. Ra khỏi đây, và ba nói nghiêm túc đấy”. Hoặc bạn có thể nói với con trai của mình: “Hãy xem đi, con đã phạm một việc sai trái. Ba muốn con tiếp thu một bài học để làm theo điều phải, vì vậy hãy cúi xuống. Ba sẽ quất mọi roi cho con biết thân”.
Bây giờ, tôi không nói rằng một trong hai người đó nhất thiết là sai đâu. Nhưng cách tiếp cận của Phao-lô rất khác biệt ở đây. Không có một lời răn đe nào cả. Không có một cây roi nào giống như ông muốn quất vào người thành Cô-rinh-tô. Cách tiếp cận ấy thật dịu dàng. Cách tiếp cận đó là thế nầy đây. Một người cha ngồi cùng con trai mình và nói: “Hỡi con, con có được yêu thương trong gia đình này không? Có phải cha mẹ của con luôn yêu thương con không? Có phải chúng ta khích lệ con không? Khi con ngã lòng, buồn bã, chúng ta đến bên cạnh dành cho con lòng thương xót, sự quan tâm và sự cảm thông không? Khi con đói, chúng ta cung cấp thức ăn cho con. Có phải chúng ta mặc quần áo cho con không? Có phải chúng ta nuôi nấng con khi con lớn lên từ một đứa trẻ nhỏ. Có phải chúng ta đã lo liệu thuốc men con có cần để sống một cuộc sống lành mạnh không? Có phải chúng ta đã cung cấp cho con một môi trường ấm áp để sống trong đó không? Một cái giường để ngủ? Một căn phòng để ở? Hỡi con, có phải chúng ta đã tỏ ra tình cảm sâu sắc với con không? Có phải chúng ta giàu ơn với con trong những lúc khi con bất tuân và nổi loạn, giàu ơn để tha thứ cho con, yêu thương con và phục hồi con không? Hỡi con, có phải chúng ta rất cảm thông với con không. Có phải chúng ta đã tỏ ra sự thương xót với con? Có phải chúng ta rất kiên nhẫn với con trong khi con học biết làm theo điều phải và thường làm theo điều quấy không? Có phải con biết tình cảm hay thương xót của chúng ta không? Có phải con đã kinh nghiệm sự nhơn từ của chúng ta không? Hỡi con, một khi những việc nầy là thật, chúng ta yêu cầu con sống theo cách mang lại sự vui mừng cho chúng ta là điều bất hợp lý đấy, có phải không?” Có phải yêu cầu ấy là hợp lý không? Rất khó cho một đứa con phải xử lý với mọi sự ấy, hãy cho rằng mọi sự ấy là chơn thật đi.
Bạn thấy đấy, đó là toàn bộ mục đích lời nài xin của Phao-lô. Mọi sự đều dựa vào sự nhơn từ của Chúa. Và ông nắm lấy sự tiếp cận đó với người thành Phi-líp vì họ là hạng người nhơn đức; đó là một Hội thánh tốt. Vì vậy, ông không muốn tính toan với họ. Và ở đây, đối với bạn cũng là một điều thích hợp, bởi vì tôi thấy có nhiều sự tương ứng. Tôi có thể nói cho anh em biết rằng trong thời gian tôi vắng mặt, tôi cũng cảm ơn Chúa trong mọi ký ức của tôi về anh em, rằng tôi luôn luôn dâng lời cầu nguyện với sự vui mừng vì ích cho anh em. Và tôi vui mừng vì sự dự phần của anh em trong Tin lành từ ngày đầu tiên cho đến bây giờ. Và tôi rất biết ơn Chúa, vì chính những lời cầu nguyện của anh em và sự tiếp trợ của anh em đã nâng đỡ đời sống của tôi, giống như Phao-lô đã nói. Và anh em đã dạn dĩ đứng với tôi trong những thời điểm khó khăn. Và tôi xem anh em là Hội thánh Phi-líp mà tấm lòng tôi gắn bó với. Và khi tôi kêu gọi anh em phải hiệp một, lời kêu gọi ấy chẳng phải là lời đe doạ đâu, nhưng lời ấy kêu gọi anh em giống như Phao-lô đang làm từ động cơ yêu thương, biết ơn, tôn trọng, và trung thành với một mối quan hệ cao cả và thánh khiết nhất mà anh em có với Đấng Christ. Một điểm cần phải nhấn mạnh.
Đây là một Hội thánh nhơn đức. Và mối ràng buộc giữa Hội thánh và Phao-lô rất là mật thiết. Và họ hiểu rõ các mối quan hệ. Và ông nắm lấy sự tiếp cận ấy, và đó là cách tiếp cận cao cả nhất. Và bạn không luôn luôn nắm lấy cách tiếp cận cao cả nhất bởi vì có người không bằng lòng sống trên chiếc phi cơ bay cao nhất. Nhưng ông đã nói gì về việc nầy: “Mọi kinh nghiệm của chúng ta trong hiện tại với Đấng Christ và Đức Thánh Linh sẽ tác động chúng ta phải có cùng một tâm trí”. Tại sao chứ? Bởi vì đó là sự khát khao của Đức Thánh Linh; đó là sự khao khát của Chúa.
Sau đó, ông nói thêm một điều nữa. Điều nầy rất là hay. Câu 2, ông nói: “đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn“. Bạn nói: “Được thôi, việc nầy là sao chứ?” Phải, ông đang nói: “Hãy xem đi, nếu anh em không liên lạc với mối quan hệ mật thiết của với Đấng Christ, thế thì anh em không thể liên lạc hoàn toàn với ý tưởng này về mối quan hệ mật thiết với Đức Thánh Linh – nếu anh em không thể làm việc ấy vì cớ Đấng Christ, và anh em không thể làm việc ấy vì cớ Đức Thánh Linh, làm việc ấy vì …” – cái gì chứ? – “vì cớ tôi”. Đó là sự chiếu cố. Tôi muốn nói, ông đã xuống nước.
Nhưng có một điều ấm áp về việc ấy. Ông nói với họ trong vai trò một vị mục sư, và ông đang nói những gì tôi sẽ nói với bạn đây. “Hãy xem đi, hỡi anh em yêu dấu, hãy làm việc ấy vì cớ Đấng Christ, vì cớ mối liên hệ mà Ngài khao khát muốn có với anh em mà Ngài rất thành tín trong đó. Đừng ăn ở bất trung đối với mối quan hệ đó. Hãy làm việc ấy vì cớ Đức Thánh Linh mà vì đó Ngài đã ăn ở thành tín đối với anh em. Đừng bất trung đối với Ngài. Và khi ấy hãy làm việc ấy vì cớ tôi, có phải không? Hãy làm việc ấy vì cớ tôi”. Tôi hiểu tại sao ông đã nói như thế. “Làm cho tôi vui mừng trọn vẹn”.
Nỗi lo sợ lớn nhất của tôi đối với Hội thánh là sự chia rẽ. Hãy làm cho tôi vui mừng trọn vẹn, đáng yêu, anh em có đồng một tư tưởng không? Hê-bơ-rơ 13:17, một câu rất quan trọng với cùng câu nói này, chép rằng: “Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi“. Hãy làm cho các cấp lãnh đạo của bạn được vui vẻ; điều đó là hợp pháp. Lời kêu gọi của Phao-lô một lần nữa rất là cá nhân, điều này rất quan trọng. Họ biết rõ ông; họ yêu mến ông; ông yêu mến họ. Họ đã có một mối ràng buộc đáng kinh ngạc, ông nói trong câu 8 của chương 1: “Tôi lấy lòng yêu dấu của Đức Chúa Jêsus Christ mà trìu mến anh em“. Tôi cũng có cùng những khao khát đó cho anh em. Tôi yêu mến anh em. Tôi yêu thương anh em. Tôi có tình cảm sâu sắc đối với anh em.
Vì vậy, ông nói: “Liệu anh em sẽ làm việc ấy vì cớ tôi hầu cho tôi không đáng có một chức vụ buồn rầu?” Và ông đẩy mạnh vào tấm lòng của họ với hết thảy các trường hợp nầy. Và mọi thứ đều quan trọng. Hãy giữ sự hiệp một của Hội thánh vì mối quan hệ của bạn với Đấng Christ kêu gọi việc ấy. Mối quan hệ của bạn với Đức Thánh Linh đòi hỏi việc ấy. Mối quan hệ của bạn với mục sư đòi hỏi việc ấy. Đây là lời nài xin mang tính mục vụ.
Có rất nhiều điều cảm động ở đây. Phao-lô khi viết thư là một tù phạm – lần ở tù đầu tiên ở Rô-ma. Ông không biết rồi đây ông sẽ sống hay chết. Người thành Phi-líp nghe nói ông đang ở trong tù, và tấm lòng của tan vỡ, và toàn bộ cơ hội của bức thư này dành cho Phao-lô viết cho người thành Phi-líp, ông nói: “Đừng lo lắng cho tôi, tôi vui lắm đây”. Đó là lý do tại sao ông nói về sự vui mừng từ đầu tới cuối. Họ nghĩ ông sẽ buồn rầu lắm. Họ lo lắng về ông sẽ bị tổn thương, mệt mỏi và buồn rầu, và họ đã gửi Ép-ba-phô-đích, là người được nhắc tới ở chương 2, ông nầy là một trong các thành viên của họ. Họ nói: “Hỡi Ép-ba-phô-đích, ông đi đến ở cùng Phao-lô và chăm sóc ông ấy”. Rồi với Ép-ba-phô-đích họ đã gửi rất nhiều tiền, một của dâng. Và họ nói: “Hãy mua bất cứ thứ gì ông ấy cần và làm cho ông ấy thoả lòng và mang lại sự vui cho tấm lòng của ông ấy”. Và Ép-ba-phô-đích đã làm điều đó. Ông đã đến với món quà, và Phao-lô cảm ơn họ vì món quà ở chương 4, đây rõ ràng là món quà rất hào phóng.
Và ông cảm ơn họ trong chương 2 về việc sai Ép-ba-phô-đích đến, và Ép-ba-phô-đích là một đại sứ trung thành của Hội thánh Phi-líp đến nỗi ông hầu như đã ngã chết trong sự ông phục vụ cho Đấng Christ. Ông bận rộn cố gắng giúp đỡ Phao-lô, việc nầy gần như giết chết ông ta. Phao-lô nói: “Tôi sẽ đưa ông ấy về lại trước khi ông ấy qua đời”. Và khi ông gửi Ép-ba-phô-đích về lại, ông gửi thư tín nầy cùng về theo, và toàn bộ tiến trình của bức thư là: “Đừng lo cho tôi, tôi vui mừng lắm”. Ông bắt đầu ngay từ lúc khởi sự – vui mừng, vui mừng, vui mừng, vui mừng. Ông kết thúc ở chương 4 – “Hãy vui mừng luôn luôn, và tôi lại nói nữa: hãy vui mừng đi. Tôi vui vẻ lắm đây. Đừng lo cho tôi. Nhưng, ông nói, nếu anh em muốn làm cho sự vui mừng của tôi được trọn vẹn, thế thì hãy giữ sự hiệp một, hãy giữ lấy sự hiệp một này. Đây là một tuyên bố rất, rất quan trọng mà ông đã đưa ra. Đây là đỉnh cao của bức thư. “Tôi vui lắm, nhưng tôi muốn vui hơn nữa. Tôi đang vui mừng đây, nhưng tôi có thể vui mừng hơn thế. Nếu anh em chỉ cần đồng một tâm tình, điều đó thực sự sẽ làm cho lòng tôi đầy dẫy với vui mừng”.
Bạn thấy đấy, tôi tin, như tôi đã nói ở trên, rằng đó là sự việc hấp dẫn mà mục sư cưu mang ở trong lòng mình, sự lo sợ chia rẽ trong Hội thánh, tìm cách giữ bầy lại với nhau. Tại sao chứ? Tại sao chúng ta bị tác động chứ? Tôi bị tác động bởi vì đó là ước muốn của Đấng Christ, và đó là ước muốn của Đức Thánh Linh phước hạnh. Vì vậy, hỡi anh em yêu dấu, tôi muốn gửi đến bạn những gì mà sứ đồ Phao-lô nói ở đây là rất thiết thực. Hãy biết rõ điều này, chúng ta là những người đã nhận lãnh sự khích lệ của Đấng Christ, sự yên ủi trong tình yêu của Ngài, sự thông công trong Thánh Linh của Ngài, những khao khát, tình cảm sâu sắc và sự cảm thông thương xót của Thánh Linh Ngài đáng được đáp lại đối với ân điển và ân cần không dứt làm mọi sự trong sức lực của chúng ta hòng dâng lại cho Đấng Christ và dâng lại cho Đức Thánh Linh những gì là khao khát sâu sắc nhất trong tấm lòng của họ, tức là sự hiệp một của Hội thánh.
Và khi ấy, Phao-lô nói: “Và sau mọi sự lo toan của anh em về sự vui mừng của tôi, nếu anh em thực sự quan tâm đến tôi, khi ấy vì niềm vui trọn vẹn của tôi, anh em sẽ giữ lấy sự hiệp một trong Hội thánh”. Và rồi có người nói: “Nhưng sự hiệp một của hội thánh là gì? Và làm sao duy trì nó đây?” Và nếu anh em đặt ra những câu hỏi đó, tôi sẽ trả lời chúng vào Chúa nhật tới. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện.
Lạy Cha, hãy giúp chúng con nhìn thấy tội lỗi của chúng con cho rõ ràng – các hành động bạo lực vô ơn, sự xúc phạm mối quan hệ mật thiết với Đấng Christ yêu dấu của chúng con và Thánh Linh phước hạnh của Đức Chúa Trời. Xin giúp chúng con nhìn thấy tội lỗi của chúng con sao cho đích thực — “Con đã phạm tội nghịch cùng Ngài và chỉ một mình Ngài mà thôi”. Và, lạy Cha, xin bảo vệ Hội thánh của chúng con tránh khỏi sự bất hoà. Chúng con là những người đã nhận lãnh rất nhiều sự khích lệ trong Đấng Christ. Chúng con đã nhận lãnh nhiều sự yên ủi trong tình yêu thương, nhiều sự cổ vũ dịu dàng, nhiều sự nhơn từ. Chúng con là những người đã nhận lãnh rất nhiều trong mối giao thông mật thiết và tình bạn của Đức Thánh Linh và qua những sự khao khát của Ngài và qua tình cảm hay thương xót của Ngài. Xin cứu chúng con ra khỏi thái độ vô ơn không thể tưởng tượng được của sự chia rẽ đã sinh ra từ dục vọng ích kỷ. Và nguyện chúng con biết làm hết sức để duy trì sự hiệp một của Đức Thánh Linh trong mối ràng buộc bình an và đồng tâm đồng tư tưởng, rằng Cứu Chúa và Đức Thánh Linh yêu dấu được đẹp lòng. Và vì cớ những người chăn dắt chúng con, hầu cho họ sẽ làm công việc ấy với sự vui mừng.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống trong ánh sáng của mối quan hệ – không phải tín điều, không phải là một hệ thống, không phải là một bộ quy tắc, không phải là một tổ chức, mà là một mối quan hệ – để nhìn thấy rằng chúng con sống trung thành với mối quan hệ trong sự tinh khiết của chúng con và bất trung với mối quan hệ trong tội lỗi của chúng con. Và nguyện chúng con không phải là những người nhận lãnh mọi sự Ngài ban cho mà lại từ chối không dâng trả những gì Ngài mong muốn. Nguyện chúng con sống trung tín trong lãnh vực hiệp một này. Lạy Chúa, xin bảo vệ chúng con, xin ban cho chúng con một tấm lòng mong muốn tôn vinh những người đã chúc phước cho chúng con, và không làm một việc gì là vô ơn hoặc bằng cách nào đó lạm dụng một mối quan hệ yêu thương. Hãy làm công việc Ngài trong mỗi cuộc đời, chúng con cầu nguyện vì cớ Đấng Christ. Amen.

