DAT DNA
Thứ Năm, Tháng Tư 16, 2026
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
  • Trang Chủ
  • Giới thiệu
  • Bài viết
    • Thách Thức 30 Ngày
    • Cơ Đốc Giáo
      • Bài Học Kinh Thánh
      • Kinh Thánh và Khoa Học
      • Ngày Này Năm Xưa
      • Thần Học – Kinh Thánh
      • Thắc Mắc Kinh Thánh
      • Thánh Kinh Sử Địa
      • Người Thật Việc Thật
      • Kinh tế – Chính trị
    • Học Bổng Du Học
    • Chủ Nghĩa Vô Thần
    • Thuyết Tiến Hóa
    • Phút Suy Gẫm
    • LGBT+
    • Wisdom Quotes & Musings
    • Ung Thư Trị Được
  • Bài Giảng Cựu Ước
    • Ngũ-Kinh
      • Sáng-thế Ký
      • Xuất Ê-díp-tô ký
      • Lê-vi Ký
      • Dân-số Ký
      • Phục-truyền Luật-lệ Ký
    • Các Sách Lịch Sử
      • Giô-suê
      • Các Quan Xét
      • Ru-tơ
      • I Sa-mu-ên
      • II Sa-mu-ên
      • I Các Vua
      • II Các Vua
      • I Sử ký
      • II Sử ký
      • E-xơ-ra
      • Nê-hê-mi
      • Ê-xơ-tê
    • Các Sách Văn Thơ
      • Gióp
      • Thi-thiên
      • Châm-ngôn
      • Truyền-đạo
      • Nhã-ca
    • Các Sách Tiên-Tri
      • Ê-sai
      • Giê-rê-mi
      • Ca-thương
      • Ê-xê-chi-ên
      • Đa-ni-ên
      • Ô-sê
      • Giô-ên
      • A-mốt
      • Áp-đia
    • Các Sách Tiên-Tri tt
      • Giô-na
      • Mi-chê
      • Na-hum
      • Ha-ba-cúc
      • Sô-phô-ni
      • A-ghê
      • Xa-cha-ri
      • Ma-la-chi
  • Bài Giảng Tân Ước
    • Bài Giảng Tân Ước
      • Ma-thi-ơ
      • Mác
      • Lu-ca
      • Giăng
      • Công-vụ các Sứ-đồ
      • Rô-ma
      • I Cô-rinh-tô
      • II Cô-rinh-tô
      • Ga-la-ti
      • Ê-phê-sô
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • Phi-líp
      • Cô-lô-se
      • I Tê-sa-lô-ni-ca
      • II Tê-sa-lô-ni-ca
      • I Ti-mô-thê
      • II Ti-mô-thê
      • Tít
      • Phi-lê-môn
      • Hê-bơ-rơ
      • Gia-cơ
    • Bài Giảng Tân Ước tt
      • I Phi-ê-rơ
      • II Phi-ê-rơ
      • I Giăng
      • II Giăng
      • III Giăng
      • Giu-đe
      • Khải-huyền
No Result
View All Result
DAT DNA
No Result
View All Result

Vào Ngày Này | Tháng Bảy

Admin by Admin
10 Tháng Sáu, 2019
in Thư Viện Online
0
Share on FacebookShare on Twitter

1 Tháng 7

KHÔNG CÒN CHỖ TRỐNG

            Một căn phòng khách sạn rất ấm cúng, riêng tư là một chỗ dùng để tiếp các thương nhân lưu động sau một ngày dài. Nhưng hãy tưởng tượng  sau khi đến tại khách sạn thấy ở đó nhiều phòng đã có người ở rồi. Sự việc đã xảy ra vào ngày 14 tháng 9 năm 1898, tại Khách sạn Trung Tâm Boscobel, Wisconsin. John Nicholson đã đến vào lúc 9 giờ tối thì thấy phòng ốc đã đầy ắp cả người. Nhân viên quản lý đề nghị ông lấy phòng 19 cùng ở với một người lạ, là Samuel Hill.

Trước khi lăn mình vào giường, Nicholson mở quyển Kinh Thánh của mình ra. Ở tuổi 19, ông đã hứa nguyện với người mẹ quá cố của mình là ông sẽ đọc Kinh Thánh mỗi đêm. Hill, ngủ ở giường bên cạnh, bật thức giấc. Nicholson nói: “Ông Hill ơi, làm ơn thông cảm cho tôi nếu tôi cứ để đèn sáng thêm một chút nữa nhé; Tôi phải đọc Lời của Đức Chúa Trời và trò chuyện một ít với Ngài trước khi tôi đi ngủ”.

Hill bật ngồi dậy: “Hãy đọc Kinh Thánh lớn tiếng đi, tôi cũng là một Cơ đốc nhân nữa đấy”. Nicholson đọc Giăng 15 rồi cả hai cùng quì gối cầu nguyện. Họ cứ cầu nguyện cho tới 2 giờ sáng, bàn bạc với nhau về mọi nhu cần của những Cơ đốc nhân hay đi du lịch.

Nicholson và Hill gặp lại nhau một lần nữa ở Beaver Dam, Wisconsin. Không bao lâu sau đó, họ đưa ra các chương trình hầu mở một hội thương nhân Cơ đốc, đề xuất cuộc gặp gỡ đầu tiên vào ngày 1 tháng 7 năm 1899. Chỉ có ba người đến – Nicholson, Hill và William Knights. Họ đã đưa ra một tổ chức với mục tiêu động viên các du khách Cơ đốc  biết làm sự khích lệ, truyền giáo và phục vụ. Họ quyết định đặt tên cho tổ chức nầy là Gideon, là nhân vật trong Cựu Ước, là người “bằng lòng làm theo bất cứ điều chi Đức Chúa Trời yêu cầu”.

Khi hết thảy những Gideon đầu tiên đều là khách du lịch, thắc mắc phát sinh là làm thế nào họ trở thành những chứng nhân trong các khách sạn, là nơi mà họ tốn rất nhiều thời gian. Có người đề nghị rằng hội Gideon nên vận động mỗi khách sạn họ bảo trợ phải đặt một quyển Kinh Thánh trong phòng trọ. Ở buổi nhóm vào năm 1907 tại Chicago, có người đề xuất sâu xa rằng Hội Gideon đặt Kinh Thánh trong tất cả các phòng của những khách sạn. Ý kiến được chấp thuận, lần phân phối đầu tiên các quyển Kinh Thánh diễn ra tại Khách sạn Superior ở Iron Mountain, Montana. Từ đó trở đi hơn 750 triệu quyển Kinh Thánh đã được phân bố ở hơn 170 quốc gia.

 

“mà dặn rằng: Hãy ngó ta, và làm y như ta làm; khi ta đến đầu trại quân, các ngươi sẽ làm theo điều ta làm. Khi ta và những kẻ theo ta thổi kèn, thì các ngươi cũng sẽ thổi kèn ở khắp xung quanh trại quân, và reo lên rằng: Vì Đức Giê-hô-va và vì Ghê-đê-ôn!” (Các Quan Xét 7.17-18).

 

 

2 Tháng 7

CA HÁT: MỘT PHẦN CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG CHUNG

            Từ những ghi chép sổ sách của Hội thánh First ở Windsor, Connecticut, về ngày Chúa nhựt 2 tháng 7 năm 1736:

            “Buổi thờ phượng chung, người hướng dẫn chương trình Pelatiah Allyn. Sinh hoạt của buổi nhóm tiến hành theo thể thức sau đây: Người hướng dẫn đề nghị xem xét lại mọi điều cần phải thực thi để làm nổi bật một phần thờ phượng chung được gọi là Ca Hát, dù là các buổi thờ phượng chung vào những ngày Chúa nhựt, họ sẽ hát theo cách Chấp Sự Marshall thường hay hát trong cả cuộc đời ông mà ai nấy gọi là “Lối Cũ” hay họ sẽ hát theo cách Ông Beal dạy gọi là “Hát đúng luật”, và khi hội chúng bàn bạc vấn đề, người hướng dẫn chương trình đề nghị bỏ phiếu. Nhưng khi cuộc bỏ phiếu qua đi, có nhiều cử tri khó mà biết chắc được số phiếu quyết định chính thức nghiêng về bên nào; vì thế người hướng dẫn chương trình mới đề nghị cử tri ra ngoài, ngồi chờ ở mấy hàng ghế và khi ấy người nào thuận theo Chấp sự Marshall bước vào chỗ ngồi của bên nam giới và người nào thuận theo Ông Beal sẽ bước vào chỗ của nữ giới mà ngồi. Người hướng dẫn chương trình hỏi tôi có bao nhiêu người (thuận theo phương thức của chấp sự Marshall), tôi trả lời có 42 và ông đáp lại đã có 63 hay 64 phiếu.

            “Kế đó, người hướng dẫn chương trình tiến hành và mong muốn người nào thích ca hát theo phương thức chung mà ông Beal đã dạy sẽ rời khỏi chỗ ngồi rồi bước ra khỏi cửa rồi ông bắt đầu đếm. Họ đáp lại, họ sẵn sàng thể hiện ra ý muốn bằng bất cứ cách nào, ở đâu cũng được, nhưng họ không muốn bước ra khỏi cánh cửa kia. Họ ao ước rằng ở đâu họ cũng bỏ phiếu được hết, và họ sẵn sàng tỏ ra ý muốn của mình, người hướng dẫn chương trình từ chối không đồng ý rồi tuyên bố rằng phiếu bỏ cho phương thức của Chấp sự Marshall được gọi là “Lối cũ” sẽ được hát trong buổi thờ phượng chung trong tương lai và ra lịnh cho tôi ghi chép lại y những gì tôi đã từ chối không thuận theo dù là thế nào đi nữa, và đã ghi lại những sự thật và mọi cách tiến hành”.

 

“Ngài đáng… vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước. : Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!” (Khải huyền 5.9-13b)

 

3 tháng 7

THỬ THÁCH ĐỨC TIN

            Yêu gia đình hơn chúng ta yêu Đức Chúa Trời, điều nầy có thể lắm và đây là một tội lỗi xây con cái của chúng ta sang các hình tượng. Chúa từng thử hai nhân vật theo chiều hướng nầy – tộc trưởng Ápraham với con trai mình và nhà từ thiện George Mueller với con gái của ông ta. Chức vụ của Mueller chủ yếu dành cho các trẻ mồ côi, song chính con ruột của ông mới là người thử đức tin của ông. Nhật ký của ông ghi lại:

            “Con gái yêu dấu của tôi, đứa con duy nhất, và là tín đồ kể từ năm 1846, đã mắc bịnh vào ngày 20 tháng 6 năm 1853. Căn bịnh nầy, lúc đầu chỉ là sốt nhẹ, đổi thành sốt Rickettsia (bệnh lây nhiễm sốt, ốm yếu, trên cơ thể mọc lên những đốm đỏ tím). Vào ngày 3 tháng 7, dường như chẳng có hy vọng gì về sự hồi phục của nó cả. Đây là sự thử thách đức tin. Nhưng đức tin đã đắc thắng. Người vợ yêu dấu của tôi và tôi đều đã dâng nó cho Chúa với cả hai tay mình. Ngài đã nâng đỡ cả hai chúng tôi. Mặc dù đứa con duy nhứt và yêu dấu của tôi sắp đến gần với mồ mả, thế mà linh hồn tôi vẫn ở trong sự bình an trọn vẹn, vui thoả với ý muốn của Cha thiên thượng của mình, với sự biết chắc rằng Ngài sẽ ban bình an cho nó và cho bố mẹ của nó, và sẽ là tốt nhứt ở chỗ cuối cùng. Nó vẫn còn bịnh cho tới ngày 20 tháng 7, khi sự phục hồi đã bắt đầu.

            Bố mẹ vốn biết rõ đứa con duy nhứt, yêu dấu của mình là như thế nào! Phải, Cha ở trên trời đã phán, như sau: “Ngươi có bằng lòng dâng đứa trẻ nầy cho ta không?” Tấm lòng tôi đáp: “Việc nầy dường như rất tốt cho Ngài đấy, lạy Cha thiên thượng. Nguyện ý Ngài được nên”. Nhưng khi tấm lòng của chúng tôi đã sẵn sàng dâng đứa con cho Ngài, thế là Ngài đã sẵn sàng để nó lại cho chúng tôi, và nó đã sống còn.

Trong tất cả những thử thách của đức tin mà tôi đã trải qua, đây là thử thách lớn lao nhất; và bởi lòng thương xót dư dật của Đức Chúa Trời, tôi mắc nợ sự thương xót đó, tôi ngợi khen Ngài, tôi thấy mình vui sướng ở trong ý chỉ của Đức Chúa Trời; vì tôi cảm thấy chắc chắn thật trọn vẹn rằng, nếu Chúa cất lấy đứa con gái yêu dấu nầy, thật lấy làm tốt nhứt cho bố mẹ của nó, tốt nhứt cho nó, và vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời hơn là nếu nó sống. Đây là phần tốt hơn mà tôi thoả lòng với; và thế là tấm lòng tôi đã có sự bình an, sự bình an trọn vẹn”.

“Thiên sứ phán rằng: Đừng tra tay vào mình con trẻ và chớ làm chi hại đến nó; vì bây giờ ta biết rằng ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi, tức con một ngươi. Ápraham nhướng mắt lên, xem thấy sau lưng một con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây, bèn bắt con chiên đực đó dâng làm của lễ thiêu thay cho con mình. Ápraham gọi chỗ đó là Giê-hô-va Di-rê. Bởi cớ ấy, ngày nay có tục ngữ rằng: Trên núi của Đức Giê-hô-va sẽ có sắm sẵn” (Sáng thế ký 22.12-14). 

 

4 tháng 7

ĐẦU TƯ

            Martha Scarborough đã cử hành Lễ Quốc Khánh, ngày 4 tháng 7 năm 1870, bằng cách sanh một con trai đặt tên là Lee. Khi con trai ấy lên 8, Martha và chồng nàng là George, một nhà truyền giáo Baptist bán thời gian, chuyển đến Texas để nuôi gia súc và chia sẻ Đấng Christ. Một chỗ trú ngụ giống như giao thông hào trước tiên được xem là ngôi nhà, kế đó một túp lều nhỏ ở gần thung lũng Clear Fork. George và Martha vốn mơ có được một ngôi nhà xinh xắn ở trên đỉnh núi. Họ đã dành dụm sống trong đạm bạc, nhưng không thấm vào đâu cả, và nhiều năm trời trôi qua trước khi họ tích lũy đủ để sắm được ngôi nhà mà họ vốn ao ước lâu nay. Trong khi đó, Lee lớn lên thành một gã cao bồi mạnh khoẻ 16 tuổi.

Một ngày kia, George nói với Martha trong lúc làm việc: “Chúng ta hãy đi lên núi rồi chọn một địa điểm thích hợp để cất nhà.  Chúng ta đã có tiền đủ cho mục đích ấy, vì vậy chúng ta có thể bắt đầu chương trình xây dựng rồi”. Tay trong tay, hai vợ chồng từ từ tiến lên đỉnh  núi phía sau túp lều của họ. Đây là giờ phút mà họ đã suy nghĩ  trước lâu nay. Trên đỉnh núi ấy, George nói: “Đây là nền nhà. Đây là địa điểm thích ứng nhất mà chúng ta đã tìm được”. Nhưng Martha xây lại phía George, đôi mắt nàng đẫm lệ: “Anh yêu, em tán thành mong ước của anh muốn xây cho em một ngôi nhà mới, tiện nghi ngay địa điểm xinh đẹp nầy, nhưng có một sự kêu gọi khác về tiền bạc của chúng ta còn lớn lao hơn nhiều. Chúng ta sống trong ngôi nhà cũ và đặt tiền bạc vào cái đầu và tấm lòng của đứa con của mình. Em e rằng, nếu chúng ta sử dụng số tiền nầy để xây một ngôi nhà, chúng ta sẽ không thể gửi Lee đến trường được. Em muốn một ngàn lần rằng chúng ta sẽ không nên xây ngôi nhà nầy nếu chúng ta có thể đầu tư số tiền vào con trai của chúng ta”.

Geroge cảm thấy thất vọng, và chàng nói năng rất ít trong mấy ngày sau. Sau cùng, một buổi tối kia, chàng đã đầu hàng vào lúc nửa đêm. Ngôi nhà không hề được xây lên, nhưng Lee Scarborough rời gia đình vào ngày 8 tháng Giêng năm 1888, để nhập trường Baylor ở Waco, Texas. Hiển nhiên là ông đã trở thành nhà quyền lực cho Đấng Christ, một lãnh đạo Baptist Nam Phương, một nhà văn, một Hiệu trưởng Trường Thần Học, một vị Mục sư, một nhà truyền giáo, và một lãnh đạo thương nhân, là người đã xây dựng nhiều trường học, thần học viện, nhà thờ, bịnh viện, và các trạm truyền giáo trên khắp thế giới.

 

“Hãy mua chân lý, sự khôn ngoan, sự khuyên dạy, và sự thông sáng; chớ hề bán đi. Cha người công bình sẽ có sự vui vẻ lớn, và người nào sanh con khôn ngoan sẽ khoái lạc nơi nó. Ước gì cha và mẹ con được hớn hở, và người đã sanh con lấy làm vui mừng” (Châm ngôn 23.23-25).

 

 

 

5 tháng 7       

BÁNH VÀ SÁCH

            Khi bố mẹ nổi giận với con cái, họ thường phải nhớ lại rằng Đức Chúa Trời nắn đúc mọi người chúng ta đều khác nhau, cung ứng cho từng đứa con một nhận thức và nhân cách đặc biệt. George Borrow chào đời vào ngày 5 tháng 7 năm 1803, trong thời của Napoleon, và người cha lính chiến của George vốn trông mong một đứa con trai hăm hở và được kỹ luật thật tốt. Thay vì thế, George lại mềm mỏng và sống theo nội tâm với một xu hướng khác. Ông nhắm vào lối sống cổ truyền và khá kỳ quặc. Ông ghét học đường nhưng lại có tính tò mò không sao thoả mãn được về các loại dược thảo, bói khoa, các loài rắn, và những chú lùn. Ông học các thứ tiếng nói với một đời sống thanh thản nhưng lang bạt, để rồi trở thành một gã thợ hàn với chiếc xe ngựa, buôn bán các loại bình và xoong chảo.

Một buổi chiều kia, trong khi đang nằm ngủ dưới bầu trời đầy sao, George chợt tỉnh thức bởi một giọng nói trong cổ họng: “hãy cắt sợi dây, đây là con ngựa của hắn”. Bởi ánh sáng mờ nhạt của khói bếp than, Geroge đã nhìn thấy hai cái bóng đang lấy cắp đồ đạt của ông. Ông nhảy về phía họ, và trong hai tiếng đồng hồ họ đã đánh vật với nhau. Sau cùng, một trong hai tên trộm đập mạnh vào đầu Geroge với một hòn đá, và hai gã ấy đã ném cái xác của ông vào bụi cây thấp kia.

Sáng hôm sau, hai nhà truyền đạo lưu động xứ Wales đã nhìn thấy hai ống chân lòi ra từ bụi cây đó. Họ đã lôi Geroge ra chỗ sáng sủa và đắp các vết thương của ông bằng một miếng vải ướt. Hai người đưa cho ông vài mẫu bánh cùng một quyển sách trước khi họ đi đường mình. Geroge ngồi trên đám cỏ mấy giờ đồng hồ liền, ăn nuốt cả hai thứ: bánh và sách, một quyển Kinh Thánh – là Bánh Hằng Sống. Lý trí sáng láng của ông không bao lâu sau đó đã tìm được Chúa.

Trong nhiều năm về sau, Geroge đã học được hàng tá ngôn ngữ và trở thành một nhà phiên dịch Kinh Thánh. Quyển tự truyện của ông, thuật lại các chuyến phiêu lưu như một người bán sách rong cho Hội Kinh Thánh Anh ngữ và tiếng Ngoại quốc, có đầy những nguy hiểm rất hấp dẫn, các lần thoát thân không khéo thì đã bị bắt, những lần tù đày, và các chuyến hành trình lang thang, đặc biệt là ở Tây ban Nha. Con người phiêu bạt nầy và chức vụ đáng nhớ của ông đã bắt lấy trí tưởng tượng của nước Anh và đã làm cho lý tưởng phân phối Kinh Thánh cho người châu Âu càng ngày càng đậm nét thêm.

 

“Hãy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm nầy, để hạ ngươi xuống và thử ngươi, đặng biết điều có ở trong lòng ngươi, hoặc ngươi có gìn giữ những điều răn của Ngài hay chăng. Vậy, Ngài có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết, để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra” (Phục truyền luật lệ ký 8.2-3).

 

6 thaùng 7

HÒA HỢP NGẮN NGỦI

Vào ngày 17 tháng 11 năm 1417, Hồng Y Giáo Chủ Oddone Colonna đã được bầu làm Giáo Hoàng Martin V ở Constance, và sau đó khi ông đến tại Rome, ông đã bị sốc trước những tình trạng mà ông đã nhìn thấy. Cả những tòa nhà và con người đều bị xác xơ, và thủ phủ của những người theo đạo Cơ đốc, có lẽ đã biến thành một thành phố kém văn minh nhất ở châu Âu. Nước Ý đã rơi vào chỗ hỗn độn. Những sứ quân cai trị các thành phố, và quân cướp đã khủng bố vùng ngoại ô. Kho tàng của Giáo Hoàng đã trống rỗng và kẻ thù của ông thì đếm không xuể.

Martin phục hồi lại trật tự tại Rome, dọn sạch các băng cướp dọc đường, rồi đặt những người khôn khéo nắm lấy chức vụ lãnh đạo. Ông là một nhà chính trị hơn là một lãnh đạo thuộc linh, nhưng ông ăn uống rất thanh đạm, chỉ uống nước lọc, ít ngủ, chịu khó làm việc, và kiếm được sự tôn trọng của dân chúng và cơn giận dữ của kẻ thù mình.

Đồng thời, Giáo Trưởng địa phận Constantinople, đối tác của Martin ở Giáo hội Đông Phương, đã có nhiều nan đề riêng của mình. Quân của Ottoman đang tiến vào Constantinople, và các cấp lãnh đạo Đông phương, những người vào năm 1054 đã tẻ tách ra khỏi Rome, giờ đây cần đến sự giúp đỡ về mặt quân sự. Các tin tức nói rằng những người theo Cơ đốc giáo sẽ hòa hợp đã làm cho cả châu Âu phải rúng động. Vào ngày 8 tháng 2 năm 1438, Giáo Trưởng Joseph xứ Constantinople đã đến tại Venice với một đoàn đại biểu gồm 700 người đến gặp Giáo Hoàng Martin. Một giáo hội nghị đã được tổ chức tại Ferrara, kế đó tại Florence. Các ủy viên đã thành lập các phương thức hầu phục hòa lại các mối bất đồng giữa hai giáo hội. các vấn đề cần phải thảo luận như mối quan hệ giữa Giáo Hoàng và Giáo Trưởng, việc sử dụng bánh không men, bản chất sự chuộc tội, và vai trò của Đức Thánh Linh. Đến ngày 6 tháng 7 năm 1439, ở đại giáo đường xứ Florence, giáo hội nghị phát ra một chiếu chỉ liên kết hai giáo hội lại. Các cấp lãnh đạo hôn nhau và tất cả những người hiện diện đều quì gối xuống chúc tụng.

Niềm vui của họ rất ngắn ngủi. Dân chúng thành Constantinople đã thẳng thừng từ chối các quyết định. Quân Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lấy thành phố và quyết định thành phố thuộc về người Hồi giáo. Và trở lại xứ Florence, thời kỳ Phục Hưng khởi sự từng phần vì ảnh hưởng Hy lạp Đông Phương tràn vào giáo hội dưới quyền chỉ đạo của Cosimo de’ Medici. Giáo hội nghị Ferrara/Florence, một cuộc tranh cãi, đã góp phần làm mất giáo hội ở Đông phương vào tay quân Hồi giáo và giáo hội Tây phương rơi vào tay những kẻ theo chủ nghĩa nhân văn.

 

“Nhưng anh em, là kẻ rất yêu dấu, hãy nhớ lấy những lời mà các sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đã nói trước. Các sứ đồ đó nói với anh em rằng, trong các thời kỳ sau rốt, sẽ có mấy người hay nhạo báng làm theo lòng ham muốn không tin kính của mình. Ấy chính chúng nó là kẻ gây nên phe đảng, thuộc về tánh xác thịt, không có Đức Thánh Linh” (Giu-đe 17-19).

 

7 tháng 7

KHU VƯỜN TÀN TẠ CỦA ĐẤNG CHRIST

Samuel Rutherford chào đời ở Tô cách Lan vào năm 1600. Ông sống một đời sống vô tư khi còn thanh niên, nhưng sau khi tốt nghiệp Đại học ở Edinburgh, ông rất quan tâm đến việc đi theo Đấng Christ. Ông nghiên cứu thần học và được cho phép giảng đạo. Ngôi làng Tô cách Lan xứ Anwoth, Kirkcudbrightshire, đã mời ông đến làm chủ toạ nhà thờ ở đây. Vợ và hai con của Rutherford đã qua đời một thời gian ngắn sau khi đến đó. Nhưng Samuel quá bận rộn với chức vụ và cứ nhất mực đi tới.

Mục tiêu của Rutherford bao gồm toàn bộ giáo hội Tô cách Lan, họ đã chịu khổ suốt thời gian nền thần học suy nhược. Ông đã viết một quyển sách với đề tựa là Một lời xin lỗi đối với ân điển thiêng liêng, quyển sách tấn công vào hàng giáo phẫm đến nỗi ông vị trục xuất ra khỏi giáo hội và bị “phát vãn” ở Aberdeen, bị cấm giảng đạo. Ông cảm thấy mình giống như một người mù hết một bên, một con ngươi như đã bị móc ra rồi vậy. Ở đó, khi phải chịu khổ về lý trí lẫn thuộc linh, ông đã viết một bức thư đề ngày 7 tháng 7 năm 1627, cho người bạn có số phận giống như ông là James Hamilton:

“Than ôi! anh em yêu dấu của tôi trong Chúa ơi, về sự thử thách liên tục và đầy sợ hãi của anh. Tôi là ai khi phải nói ra lời yên ủi với một chiến binh của Đấng Christ, là người xứng đáng gấp trăm lần hơn tôi. Nhưng tôi biết rõ, nơi thế gian chẳng xứng đáng cho họ mở, phải lưu lạc rày đây mai đó trong sa mạc, núi non, trong hang, trong hầm hố dưới đất; và đang khi có một thuộc viên của Đấng Christ, người ấy phải chịu khổ đòn vọt, cho tới chừng Chúa Jêsus kéo thuộc viên đó vào trong hai cánh cổng của thành Jerusalem Mới.

            “Niềm vui của tôi, sau Đấng Christ, là rao giảng Thầy dịu dàng, dịu dàng nhất và sự vinh hiển của Nước Ngài; và dường như là nghiệt ngã cho họ khi phải móc con mắt của người khốn khổ. Tôi chưa được giải cứu. Không ai ở đây sẽ nhận biết Thầy của tôi. Than ôi! điều chi đã làm cho họ phải khổ sở chứ? (Nhưng) đừng sợ. Ngôi vườn tàn tạ của Đấng Christ sẽ đơm xanh lại trong xứ Tô cách Lan. Chúa Jêsus của tôi có một lời giấu kín ở trên trời dành cho xứ Tô cách Lan, song chưa được tỏ bày ra”.

Rutherford không nhận biết rằng lời giấu kín của Chúa dành cho xứ Tô cách Lan chứa đựng trong các bức thư tuyển chọn của ông từ Aberdeen, đã được cho in ấn sau khi ông qua đời và được định trở thành một trong những sách giáo khoa văn chương Cơ đốc .

 

“ớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được và nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suối tắt mạch hay sao? Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì ta sẽ lại đem ngươi đứng trước mặt ta; nếu ngươi làm cho sự quí lìa khỏi sự hèn, thì ngươi sẽ như miệng ta, chúng nó sẽ trở về cùng ngươi; nhưng ngươi chẳng trở về cùng chúng nó. Ta sẽ khiến ngươi làm tường đồng vững bền cho dân nầy, họ sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng ngươi được, vì ta ở cùng ngươi đặng cứu ngươi và giải thoát ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ta sẽ rút ngươi ra khỏi tay kẻ ác, sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ bạo tàn” (Giêrêmi 15.18021a)

 

8 tháng 7

CON NHỆN TRÊN NGỌN LỬA

Nhà thần học lỗi lạc nhất của nước Mỹ ai cũng cho là Jonathan Edwards, một Mục sư người Anh vào thập niên 1700. Edwards học rất giỏi. Lúc 6 tuổi, ông đã học tiếng Latinh. Ông vào đại học Yale khi chưa đầy 13 tuổi và đã tốt nghiệp lúc chưa tới 15 tuổi. Ông được tấn phong ở tuổi 19, dạy tại trường Yale khi ở tuổi 20, rồi sau đó trở thành Hiệu trưởng Trường Princeton. Trường Đại học Havard đã tiếp đón ông bằng hai chứng chỉ cử nhân và một bằng giáo sư trong cùng một ngày. Nhưng người ta biết đến ông nhiều nhất do “Tội nhân ở trong tay Đức Chúa Trời đang giận dữ” – là bài giảng nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Ông đã giảng bài nầy vào ngày Chúa nhựt 8 tháng 7 năm 1741, trong khi làm chủ toạ ở ngôi làng nhỏ có tên là Enfield, Connecticut. Một nhóm phụ nữ đã dành ra cả đêm hôm trước cầu nguyện xin được phấn hưng. Khi Edwards đứng dậy rao giảng, ông tuyên bố câu gốc là Phục truyền luật lệ ký 32.35: “Khi chơn chúng nó xiêu tó…”. “Lửa và diêm sinh” nầy đến gần cho thấy sự nôn nóng của Edwards. Trong 1000 bài giảng đã được ông ghi ra, có cả chục bài giảng thuộc loại nầy.

Edwards nói năng thật nhẹ nhàng và đơn sơ lắm, ông cảnh cáo những kẻ chưa tin Chúa rằng họ đang bị treo tòn teng trên địa ngục giống như một con nhện treo bên trên ngọn lửa vậy. “Ôi hỡi tội nhân! hãy tra xét sự nguy hiểm đáng sợ kia kìa. Người nào chưa tin Chúa hiện đang đi ở trên hố sâu địa ngục trong một cái bao mục nát, và chẳng có một chỗ nào trong cái bao nầy có thể mang nổi trọng lượng của họ, chẳng ai tìm được một chỗ nào có thể mang lấy họ được cả”.     

Giọng nói của Edwards thình lình lạc đi giữa nhiều tiếng hét la từ phía đám đông. Ông dừng lại, kêu gọi mọi người hãy bình tỉnh. Tiếp đến, ông kết luận: “Mọi người phải biết rằng một khi họ ở ngoài Đấng Christ, giờ đây hãy tỉnh thức và chạy trốn khỏi cơn thạnh nộ hầu đến. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng không nghi ngờ chi nữa, nó được treo lơ lửng trên phần lớn hội chúng nầy. Nguyện mỗi một người đều sẽ thoát ra khỏi thành Sôđôm.”

Những kẻ có sức mạnh rời khỏi hàng ghế ngồi, họ cảm thấy dường như họ đang té ngã vào trong địa ngục. Nhiều người khác lay động không còn kềm chế được nữa và nằm lăn ra trên sàn nhà. Tiếng kêu la của nhiều người nam người nữ cả làng đều nghe thấy, họ đang nài xin Đức Chúa Trời cứu lấy họ. Năm trăm người đã trở lại đạo buổi tối hôm ấy, nhen lên một cơn phấn hưng đưa cả ngàn người vào Nước Trời.

Cơn Tỉnh Thức Lớn Lao đã đến.

 

“Khi chân chúng nó xiêu tó, sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta. Vì ngày bại hoại của chúng nó hầu gần, và những tai họa buộc phải xảy ra cho chúng nó đến mau. Phải, khi Đức Giê-hô-va thấy sức lực của dân sự mình hao mòn, và không còn lại tôi mọi hay là tự chủ cho chúng nó, thì Ngài sẽ đoán xét công bình cho chúng nó, và thương xót tôi tớ Ngài” (Phục truyền luật lệ ký 32.35-36).

 

9 tháng 7

Ora et Labora

Mấy đứa con mặt mày ủ rủ đứng bao quanh giường bịnh của mẹ chúng trong một căn phòng tối om bên nước Đức. Giữa vòng chúng là một cậu bé 4 tuổi, khuôn mặt lộ vẻ hoang mang về việc sắp sửa trở thành một trẻ mồ côi. Khi nó lắng nghe, mẹ nó liệm dần thì thào: “Mấy con của mẹ ơi, mẹ có một của báu dành cho mấy con đây”.

Đứa chị lớn lên tiếng hỏi: “Cái gì thế hở mẹ?”

Người phụ nữ ấy chỉ vào quyển Kinh Thánh: “Hãy tìm kiếm của báu ấy trong Kinh Thánh; ở đó các con sẽ tìm gặp của báu quí giá. Mẹ đã tưới từng trang với nước mắt của mẹ”. Với câu nói đó, bà đã qua đời. Cả nhà òa ra khóc, và cậu bé Bartholomew Ziegenbalg đến sống với mấy đứa bạn dễ thương ở Halle. Nó không bao giờ quên được câu nói của mẹ mình, và ở tuổi 12, nó tuyên xưng Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình. Khi đến 18 tuổi, cậu ta tốt nghiệp Đại học ở Halle với nhiều bằng danh dự.

Phong trào Luther ở Đức đã được tái nhóm lại bởi một cơn phấn hưng ai cũng biết là Pietism mà Vua Ferdinard xứ Đan mạch đã dấy lên. Ông yêu cầu các vị giáo sĩ  đến chinh phục xứ Tranquebar nằm ở chót phía nam Ấn độ làm tài sản cho người Đan mạch. Ziegenbalg nghe theo lời kêu gọi và dâng mình cho công việc nầy. Thế rồi họ thấy ông ở cuối bến tàu, và chuyến hành trình sang Ấn độ kéo dài – 7 tháng 20 ngày. Ông đến tại Ấn độ vào ngày 9 tháng 7 năm 1706, và đã bị bắt nhốt vào ngục.

Tuy nhiên, Ziegenbalg vốn có một phương châm: Ora et Labora – Cầu nguyện và hành động! Ông đã không bị bỏ. Ngay cả ở trong tù, ông đã chú tâm vào việc học ngôn ngữ Tamil, rồi không lâu sau đó ông đã được phóng thích, ông bắt đầu chia sẻ Đấng Christ. Trong vòng một năm, ông đã làm phép báptêm cho cho 5 nô lệ trong buổi thờ phượng của Tin lành có phép báptêm tổ chức ở Ấn độ, và sau đó nhà thờ Tin lành đầu tiên cho các dân tộc trong xứ Ấn độ đã được cung hiến. Đến năm 1711, Ziegenbalg hoàn tất bản dịch Tân ước bằng tiếng Tamil, cùng với  bảng tín điều của Luther , nghi thức hành lễ của người Đan mạch, và một số bản thánh ca của người Đức.    

Sức khoẻ ông suy giảm sau 13 năm trời, và ông đã qua đời ở Tranquebar vào năm 1719 lúc được 35 tuổi, để lại 350 tân tín hữu, họ đến khóc than sự chết của ông và tiếp tục công tác của ông. Nếu William Carey là “Cha đẻ của công cuộc truyền giáo hiện đại”, có lẽ Ziegenbalg đáng được gọi là Ông Nội của công cuộc ấy, vì ông đã phục vụ trung tín ở Ấn độ gần một thế hệ trước khi các vị giáo sĩ người Moravian rời Herrnhut và gần 100 năm trước Carey.

 

“Vậy tôi có cớ khoe mình trong Đức Chúa Jêsus Christ về điều hầu việc Đức Chúa Trời. Vì tôi chẳng dám nói những sự khác hơn sự mà Đấng Christ cậy tôi làm ra để khiến dân ngoại vâng phục Ngài, bởi lời nói và bởi việc làm, nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác” (Rôma 15.17, 18, 20).

 

10 tháng 7

MỘT CHÚT THOẢI MÁI

Trong đời trị vì của Đại đế Trajan, sứ đồ Giăng, vị sứ đồ sau cùng còn sống trong 12 sứ đồ, đã qua đời với những lý do tự nhiên nhất. Khi ấy chính Trajan cũng ngã bịnh, chịu bịnh phù ngày càng tăng, rồi qua đời vào năm 117 ở tuổi 64. Người vợ goá của ông âm mưu với Hadrian để đưa ông nầy lên làm vua. Hadrian cao ráo và rất lịch sự, mái tóc ông quăn tít, và ông để bộ râu hòng che giấu những chỗ xấu trên gương mặt ông.

Vào năm 124-125, Đại đế Hadrian ban bố một chút thoải mái cho những Cơ đốc nhân đang trong cảnh thống khổ. Những cuộc nổi dậy chống Cơ đốc nhân đã nổ ra trong xứ Tiểu Á, và viên Tổng đốc đã viết thư khuyên Hadrian. Đại đế, cái gật đầu của ông ta chống lại Hội thánh đã dẫn tới một cuộc tàn sát Cơ đốc nhân, minh chứng một sự trung lập. Ông ta đã truyền ra những trường hợp chống lại các Cơ đốc nhân bị thử thách, ông buộc rằng những ai bị kiện phải minh chứng mình vô tội trước khi họ có thể bị xét xử. Những cuộc tấn công tàn sát những người ấy đã bị cấm.

“Giờ đây, nếu thần dân của chúng ta trong các tỉnh có thể biện bác bởi bằng chứng của họ chống lại Cơ đốc nhân tôi chẳng có một sự chống đối nào. Nhưng tôi không cho phép họ trông cậy vào các đòi hỏi ồn ào và la hét cho cứu cánh nầy. Vì lẽ đó, nếu có ai tố cáo hay chứng minh rằng những kẻ đã nói ở trên làm bất cứ việc gì trái với luật pháp, quí vị sẽ thông qua các bản án phù hợp với sai phạm của họ. Mặt khác, tôi khẳng định rằng nếu có ai đòi một án triệu tập nghịch lại các Cơ đốc nhân nầy thì chỉ là một lời vu cáo thôi, quí vị tiến hành chống lại người đó với các hình phạt nặng nhất, thích ứng với tính nghiêm trọng trong lời vu cáo của người đó”.

Nhưng trong khi Hadrian còn dửng dưng với Cơ đốc giáo, ông đã cay đắng chống lại Do thái giáo. Ông đã ra lịnh cho thành Jerusalem phải tái thiết lại như một thuộc địa của người La mã và tái đặt tên là Aelia Capitolina. Giống như một tiểu Anti-Christ, ông ta đã cho dựng các bàn thờ tà giáo ngay trên bối cảnh của Đền Thờ – dẫn tới cuộc nổi dậy và tắm máu khác của người Do thái. Chính trong năm 135 nầy, Hadrian, 59 tuổi, ngã bịnh với một chứng bịnh rất đau đớn. Ông ta nài xin được uống thuốc độc. Không một người nào giúp cho ông ta cả và ông ta đã gánh chịu đau đớn trong ba năm trời trước khi qua đời vào ngày 10 tháng 7 năm 138.     

 

“Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi, các con đã nghe nói rằng Kẻ địch lại Đấng Christ phải đến. Vừa lúc bây giờ, có nhiều kẻ địch lại Đấng Christ; bởi đó, chúng ta biết rằng ấy là giờ cuối cùng…Còn như các con, điều mình đã nghe từ lúc ban đầu phải ở trong các con. Nếu điều các con đã nghe từ lúc ban đầu ở trong mình, thì các con cũng sẽ ở trong Con và trong Cha” (1 Giăng 2.18, 24).

 

11 tháng 7

SỢI DÂY TỰ BỆN

Sự lớn lên của Hội thánh Hàn quốc, giữa vòng những di sản to lớn nhất của Cơ đốc giáo hiện đại, đã đạt được bằng một giá rất đắt. Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo đầu tiên đã bị bắt bớ vào thập niên 1700, và vị giáo sĩ Tin lành đầu tiên, Carl Gutzlaff, đã trụ lại chỉ có một tháng vào năm 1832. Vị kế đó,  là Robert Thomas, đến vào năm 1876 để trở thành nhà tuận đạo Tin lành đầu tiên ở đấy. Sau cùng, vào ngày 11 tháng 7 năm 1886, giáo sĩ Horace Underwood bí mật tổ chức ban thánh lễ báptêm Tin lành lần đầu tiên trên đất Hàn quốc cho Ông Toh Sa No.

Nhưng thực sự có phải Ông No là người trở lại đạo đầu tiên không?

Trong quyển Đức Chúa Trời đang làm gì trên thế gian (What in the World is God doing?), Mục sư Ted Engstrom kể lại một câu chuyện do một cựu chiến binh Cơ đốc nhân Hàn quốc thuật lại cho ông nghe. Vào đầu thập niên 1880 có ba công nhân người Hàn quốc, sang lao động bên Trung hoa, đã nghe giảng Tin lành và đã vòng tay ôm lấy Chúa Jêsus. Không lâu sau đó, cả ba người bàn tính tới việc đem sứ điệp nói tới Đấng Christ về lại xứ sở của họ, chính quyền lúc bấy giờ đã cấm đoán sự việc nầy. Khi các mẫu tự của Hàn quốc và Trung hoa tương tự với nhau, họ quyết định đưa lén về một bản Kinh thánh tiếng Hoa. Họ rút thăm bằng cọng rơm để xem ai là người có đặc ân đem Tin lành về xứ Hàn.

Người đầu tiên đã giấu quyển Kinh thánh trong đồ dùng riêng của mình và hướng về biên giới, một chuyến hành trình tốn nhiều ngày bằng cách đi bộ. Ở đó ông ta bị lục soát, bị lộ tẩy và bị giết. Tiếng đồn về đến hai người kia, họ hay rằng bạn của họ đã chết. Người thứ hai xé quyển Kinh thánh ra thành từng trang một rồi giấu trong hành lý của mình. Ông nầy cũng thực hiện một chuyến đi dài ngày đến biên giới chỉ để bị lục soát rồi bị chặt đầu.

Người thứ ba càng quyết định mình phải thành công hơn. Ông ta khéo léo xé quyển Kinh thánh ra thành từng trang, gấp từng trang lại trong từng mãnh vải nhỏ. Ông bện từng mãnh vải nhỏ đó thành một sợi dây rồi cột hành lý mình bằng sợi dây ấy. Khi ông đến tại biên giới, lính gát yêu cầu ông mở hành lý ra. Sau khi chẳng tìm được thứ gì, họ đã cho phép ông về xứ.

Người nầy về tới nhà, tháo tung sợi dây ra, rồi đem ủi cho thẳng lại từng trang sách. Ông ta ráp lại quyển Kinh thánh của mình và bắt đầu rao giảng Đấng Christ bất cứ đâu ông đi tới. Và khi những vị giáo sĩ của thập niên 1880 bắt đầu du nhập vào xứ, họ đã thấy hột giống đã được gieo ra rồi và bông trái đang ló dạng.

 

Hỡi Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập đời đời trên trời: Sự thành tín Chúa còn đời nầy đến đời kia. Chúa đã lập trái đất, đất còn vững bền…Những kẻ ác rình giết tôi; Nhưng tôi chăm chỉ về các chứng cớ Chúa (Thi thiên 119.89-90, 95).

 

 

12 tháng 7

NHÀ TRUYỀN ĐẠO XỨ TÔ CÁCH LAN

Thomas Guthrie chào đời vào ngày 12 tháng 7 năm 1803 cho một thương nhân giàu có cùng người vợ rất tin kính. Ông bước vào Đại học đường Edinburgh ở tuổi 12, ham mến khoa vật lý, rồi tốt nhiệp ở tuổi 16. Ông bước theo khuynh hướng của mình nhắm vào các nghiên cứu về thần học và vào năm 1830 ông được tấn phong làm chủ tọa một hội chúng nhỏ gồm những nông dân và thợ dệt ở Arbirlot, xứ Tô cách Lan. Ông đã khởi sự với tính xông xáo, hình thành những buổi nhóm cầu nguyện, các lớp Trường Chúa Nhựt, và một thư viện cho xứ đạo ấy. Sự giảng dạy của ông không ngừng nghỉ, nồng ấm và được nhiều người đón nhận.

Sau bảy năm, Guthrie được tấn phong làm chủ toạ Hội thánh Old Gray Friars ở Edinburgh, kế đó ở Hội thánh St. John trong các khu ổ chuột tại Edinburgh. Ông đã thiết lập nhiều việc làm cho người nghèo, là những kẻ mà ông đã thường xuyên thăm viếng, ông trao đổi với họ về những cảm xúc và nhu cần. Ông liên tục đổi mới. Chương trình “Trường học cho người nghèo” của ông lập ra được nhiều người biết đến, chương trình nầy dành cho thanh thiếu niên phạm pháp. Ông mạnh mẽ khuyến khích sự kiêng ăn toàn phần, mỗi ngày tìm kiếm các hiệu quả của rượu trên kẻ bất hạnh. Người nghèo khổ rất ưa thích ông. Tuy nhiên tư cách thân mật, thoải mái, tình cảm nhiều của các bài giảng đầy màu sắc của ông đã đụng đến nhiều giai cấp cao hơn trong xã hội, và Guthrie không bao lâu sau đó đã trở thành một vị Mục sư được lòng người nhất ở xứ Tô cách Lan.

Khi sức khoẻ ông suy giảm, ông rời ghế chủ tọa lui về yên nghỉ, những năm tháng còn lại ông đã viết cho một tạp chí Cơ đốc. Đến ngày 24 tháng 2 năm 1873, trong khi tựa người trên cánh tay của con trai mình, ông ngước mắt nhìn lên nói: “Giờ đây ba như người vô dụng trong cánh tay con giống như con còn ấu thơ trên cánh tay của ba vậy”. Với câu nói ấy, ông nhắm mắt mà lìa đời. Đám tang của ông có đông người đến dự, 30.000 người đến đưa trong đó có cả 230 trẻ em từ ngôi trường “cho người nghèo” kia.

Sự rao giảng thành công của ông được giải thích đúng nhất bằng lời lẽ của chính ông: “Khi tôi đến tại Arbirlot, tôi  biết ngay mình phải giảng loại bài nào, nhưng gần như là không phải sáng tác ra những bài giảng ấy; tôi nghĩ trong lòng rằng phải nghiên cứu làm cách nào minh hoạ được những lẽ thật của tin lành, để chẳng có ai ngủ gà ngủ gật trong nhà thờ, không có một cặp mắt lơ đảng nào, nhưng ai nấy đều chăm chú lắng nghe. Làm thay đổi được khán thính giả, việc nầy không nằm trong năng lực của tôi; phải làm sao nắm bắt được sự chú ý của họ, làm cho sở thích của họ dậy lên, chạm đến mọi cảm xúc rồi dạy dỗ lý trí của họ  — và tôi quyết định làm theo điều đó.

 

“Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào” (Cô-lô-se 4.6).

 

13 tháng 7

DOMINI CANES

Dominic và Francis cùng sống đồng thời với nhau, và cả hai đã sáng lập một dòng tu gồm nhiều nhà truyền đạo – dòng Dominicans và dòng Franciscans. Francis tấn tới và rất giàu có, đã bác bỏ hết, rồi thiết lập một dòng tu chú vào lao động thủ công và giảng đạo. Dominic phát triển nhiều thư viện và các nhóm tế bào, ông vòng tay gánh vác, rồi sáng lập ra một dòng tu chú trọng vào nghiên cứu và giảng đạo.

Dominic ra đời vào năm 1170 tại Tây ban Nha. Mẹ ông là Juana, đã nuôi dạy ông cho đến khi ông lên 7, khi ấy ông được chuyển cho người chú làm linh mục dạy dỗ. Chàng trai trẻ nầy vốn ưa thích việc nghiên cứu, đặc biệt là triết học và thần học. Đến năm 1202, trong khi cùng đi với một Giám Mục người Tây ban Nha sang Pháp với sứ mệnh tìm vợ cho một Hoàng tử xứ Tây ban Nha, ông rất mực cảm động bởi nhu cần mà ông đã nhìn thấy. Thần học ở nước Pháp rất suy yếu, giáo lý thì sai sót, và tà giáo thì không thể kềm chế được nữa.

Dominic đã tổ chức một tour giảng đạo đặc biệt với mục tiêu làm biến đổi những người đã rơi vào chỗ sai lầm. Sự chết đe doạ và nguy hiểm chực chờ ông ở mỗi phía, nhưng ông cứ thẳng tiến, sử dụng sự thuyết phục thay vì bắt bớ hầu biến đổi được những kẻ lầm lạc. Đến năm 1215, ông chiêu mộ thêm nhiều nhà truyền đạo khác bước vào công việc. Dòng tu mau chóng bắt rễ ở Paris, Bologna, Rome, Madrid, và Seville. Những nhà truyền đạo dòng Dominican đã sang Đức, ở đó nhiều hội đã được thiết lập tại Cologne, Worms, Strasburg, và Basel. Đến năm 1221, dòng tu đã được giới thiệu sang Anh quốc rồi ổn định tại Oxford.

Dominic đã giảng đạo khắp châu Âu cho tới khi ông ngã bịnh rồi quay trở lại Bologna, ông qua đời ở đó đúng vào ngày 6 tháng 8 năm 1221. Ông đã được phong thánh vào ngày 13 tháng 7 năm 1234. Lúc ông qua đời, các thầy dòng chuyên rao giảng đã có 60 tu viện rãi từ Anh quốc sang tới Đông Âu.

Nhưng, ngay cả một lý tưởng rất hay cũng có thể bị chệch hướng. Biểu tượng của dòng Dominican đã trở thành nhà giám hộ mang ngọn đuốc sáng – dòng Domini Canes. Sự sốt sắng của họ về chính thống giáo bị Toà án dị giáo kể là thủ phạm chính. Họ đã chất chứa những kẻ bị nghi là tà giáo lên những chiếc xe bò rồi chở tới các nhà ngục tối tăm để bị hành quyết. Ma quỉ, đã dựng nên căn bịnh tà giáo, cũng toan liệu làm cho phương cứu chữa bị hư hoại đi.

 

“vậy hãy giữ cho cẩn thận, e anh em cũng bị sự mê hoặc của những người ác ấy dẫn dụ, mất sự vững vàng của mình chăng. Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ. Nguyền xin vinh hiển về nơi Ngài, từ rày đến đời đời! A-men’ (II Phierơ 3.17b-18).

 

14 tháng 7

TAY CỜ BẠC

Cờ bạc có thể lột áo sơ mi ra khỏi lưng của một người, nhưng Đấng Christ có thể mặc lại cho người ấy với hy vọng. Camillus de Lellis đã học được cả hai bài học ấy. Ông là một người Ý, ra đời vào năm 1550 cho một bà mẹ gần 60 tuổi. Năm 17 tuổi ông đứng cao được 6,5 feet, cơ bắp rất tốt, nhanh nhẹn, và trác táng. Ông đăng ký vào quân đội, phải ra chiến trường, nhưng ở chiến trường ông bị nhiễm bịnh ở chân, bịnh nầy làm cho ông phải khổ sở trong phần đời còn lại của mình.

Bịnh viện chuyên chữa các chứng nan y ở Rome, San Giacomo, đã cho ông nhập viện, nhưng không lâu sau đó, ông đã bị trục xuất vì đã cãi lộn và đánh nhau. Đây không phải là lỗi lầm tệ hại nhất của ông. Camillus say mê cá độ, và đến năm 1574 bịnh ghiền của ông đã lấy khỏi ông đồng xu cuối cùng. Mùa thu ấy trên đường phố thành Naples ông đánh bạc với tài sản cuối cùng của mình, chiếc áo sơmi trên lưng của ông. Thua bài, ông cởi nó ra rồi bỏ đi, cùng kiệt và tan nát cả tấm lòng.

Camillus có được một công việc trong nghề xây dựng, và một ngày kia có thầy dòng đến đó giảng đạo. Sứ điệp đến tới tận nhà, và Camillus quì gối xuống, kêu la với Đức Chúa Trời xin được thương xót. Ông đã được 25 tuổi khi ông trở thành một Cơ đốc nhân. Ông trở về lại San Giacomo và dâng mình làm một người tình nguyện. Ông phục sự cho người khốn khổ, và đúng thời điểm ông được thăng cấp, rồi được thăng cấp nữa. Cuối cùng ông đã trở thành quản lý của bịnh viện.

Với sự giùm giúp của một người bạn, ông đã tổ chức một đội y tá nam phục vụ cho người bịnh trong danh của Đấng Christ. Ông cũng vận động những người tình nguyện cùng đi với các đạo quân sang Hungary và Croatia, nhờ đó hình thành “đội cứu thương quân sự” đầu tiên. Ông gửi các y tá trên các tàu chèo bằng tay chăm sóc cho số nô lệ đang chịu khổ vì bịnh dịch hạch. Tổng cộng, Camillus đã tổ chức được tám bịnh viện, mở đường cho chế độ ăn uống và vệ sinh về mặt y khoa, và đã thành công chống lại cách thực hành việc mua những bịnh nhân còn sống, việc nầy đương thịnh hành lúc bấy giờ.

Trong suốt thời gian ấy, chân của Camillus ngày càng tệ hơn, và ông bắt đầu chịu cắt bỏ các phần khác trên cơ thể của ông. Đôi lúc ở chỗ của ông, ông đã trườn từ giường bịnh nầy sang giường bịnh kia. Đến ngày 14 tháng 7 năm 1614, sau một chuyến đi cuối cùng của công việc mình, Camillus de Lellis đã qua đời ở tuổi 64. Ông được phong thánh vào năm 1746 và được Giáo Hoàng Leo XIII công bố là thánh bảo trợ cho người bịnh, và được Giáo Hoàng Pius XI chăm sóc. Theo truyền thống của Thiên Chúa Giáo, ông được tưởng nhớ mỗi năm vào ngày nầy.

 

“Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn; Nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót. Người nào hằng kính sợ luôn luôn lấy làm có phước thay; Còn ai cứng lòng mình sẽ sa vào tai nạn” (Châm ngôn 28.13-14).

 

15 tháng 7

CHIẾN DỊCH THẬP TỰ CHINH ĐẦU TIÊN

Vào năm 1095, Giáo Hoàng Urban II đã giảng một bài thật nóng cháy trước một đoàn dân đông. Ông mô tả cảnh khốn khó của Hội thánh Đông Phương, bị những kẻ Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tràn ngập. Những kẻ vô đạo đã chiếm đóng Đất Hứa, Urban đã giảng thật sấm sét, và Hội thánh Holy Sepulcher ở tại thành Jerusalem, là nơi thánh khiết nhất của Vương quốc Cơ đốc, đã rơi vào tay của người Hồi giáo.

Hết thảy Âu châu đều nóng lòng muốn giải phóng Jerusalem. Nhiều đoàn quân đầy màu sắc của những lãnh chúa và công nương, các hiệp sĩ và những nông dân đã đi 2.000 dặm băng qua châu Âu.

Tuy nhiên, số lượng của họ bị giảm sút đi bởi những thực tại chiến tranh. Khi đến lúc quân thập tự chinh đến tại Jerusalem chỉ còn khoảng 20.000 người. Đồng thời Tổng đốc Hồi giáo ở Jerusalem đã sẵn sàng cho cuộc bao vây. Những cái giếng bên ngoài các bức tường thành đều bị nhiễm độc. Các bầy gia súc đều được đưa hẳn vào trong thành, và các cư dân Cơ đốc  bị trục xuất hết ra ngoài. Những cái tháp xưa của thành Jerusalem đều được phòng thủ kiên cố.

Nguyệt thực vào ngày 5 tháng 6 dường như là điềm thành công cho những khách hành hương, và tối ngày 7 tháng 6, đạo quân chủ lực đã đến Thành Thánh. Vào ngày 12 tháng 6 có một ẩn sĩ trên Núi Ôlive đến hứa: “Nếu các ngươi tấn công thành vào ngày mai, Đức Giêhôva sẽ phó nó vào tay các ngươi”.

Khi mặt trời mọc lên trên thành phố qua ngày hôm sau, những cây kèn trổi tiếng lên và các đạo quân bắt đầu tấn công các kho dự trữ nằm sát các bức tường. Những cái thang đã được bắt lên, và các hiệp sĩ đã trèo lên bức tường thành chỉ để bị đẩy xuống bởi gậy gộc, đá, và dầu đun sôi. Cuộc tấn công thất bại. Nỗi khao khát lại dậy lên. Nhiệt độ lên tới 100o, và ngọn gió nóng thổi mạnh đến. Nhiều thi thể mục nát của những con ngựa làm ô uế bầu không khí. Nhiều cuộc tranh cãi nổ ra. Các tiếng đồn những lực lượng Hồi giáo đang tràn đến gây hoang mang cho nhiều đạo quân.

Đến ngày thứ Tư, 13 tháng 7, cuộc tấn công khác đã nổ ra. Sau cùng thành phố thất thủ đúng vào ngày thứ Sáu 15 tháng 7 năm 1099 vào lúc 3 giờ chiều – ngày và giờ Cứu Chúa chịu chết. Những binh lính thập tự chinh đã tàn sát cư dân cho tới chừng các đường phố đều đầy những xác chết. Không một ai được buông tha. Người Do thái chết mất trong các nhà hội bị thiêu đốt, và máu của người Hồi giáo tràn lên đến mắt cá ngựa. Những chiến binh thập tự chinh đã hát lên những bài thánh ca khi họ băng qua một biển xác đến nơi thánh khiết nhất của Vương quốc Cơ đốc.

 

“Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; Phàm kẻ nào yêu mến ngươi sẽ được thới thạnh. Nguyện sự hòa bình ở trong vách tường ngươi, Sự thới thạnh trong các cung ngươi!… Nguyện sự bình an giáng trên Y-sơ-ra-ên!” (Thi thiên 122.6-7; 128.6b).

 

16 tháng 7

TÔI SẼ HỚN HỞ

Nạn dịch ở Luân đôn năm 1665 là một nạn dịch rất khủng khiếp. Hầu hết các cửa hàng đều đóng cửa, trẻ mồ côi sống lang thang ngoài đường phố, bậc cha mẹ than khóc, và người chết nhan nhản mỗi ngày . Đến ngày 16 tháng 7 năm 1665, nhà buôn Walter Petherick, một người goá vợ với bốn đứa con, đưa cả gia đình mình đến giáo khu của Hội thánh. Mặt trời chói lọi, dòng sông Thames phẳng lặng. Nhưng tấm lòng của Luân đôn thì buồn đau, còn Hội thánh thì đầy cả người, ảm đạm lắm. Vị Mục sư đọc từ Habacúc 3: “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho; cây ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa. Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi”.

Buổi tối hôm ấy, một nỗi kinh khiếp đã phủ lên Petherick. Ông sợ mấy đứa con sẽ ngã chết. Ông gọi chúng đến, cùng đọc Habacúc 3, bảo chúng đi ngủ, rồi quì gối cầu nguyện khẫn thiết lần đầu tiên trong nhiều năm tháng. Ông kêu cầu cho từng đứa con, ông nói: “Nếu mấy đứa con của con bị tách rời khỏi con – những đứa con trai xinh tốt và các đứa con gái dễ thương – là những báu vật mà nàng đã để lại cho con – làm sao con vui mừng được trong Chúa chứ?” Ông cứ tiếp tục cầu nguyện trong đau khổ: “Ôi lạy Chúa, xin tha cho nó, xin tha cho nó [con trai]. Ôi lạy Chúa, xin tha cho nó [con gái], xin thương xót nó”.

Khi ông cầu nguyện, ông nhận ra mình đã chễnh mãng không cầu nguyện với Chúa lâu nay. Ông đã quan tâm nhiều đến cây vả, cây ôlive, bầy gia súc và mùa gặt hơn là những vụ việc của Đấng Christ. Ông bật khóc, xưng tội, cứ cầu nguyện không thôi – và đã tìm được sự bình an.

Qua năm sau khi Ngọn Lửa thiêu cháy thành Luân đôn, nó đe doạ nhà kho của Petherick chứa tất cả tài sản của gia đình ông. Tuy nhiên, lần nầy không có đau khổ, chỉ có lòng tin cậy nơi ý chỉ của Đức Chúa Trời mà thôi. Về sau ông viết: “Lạy Chúa, Ngài đã đẹp lòng bởi dịch lệ và lửa để chuộc lấy linh hồn con khỏi sự hủy diệt. Ngài đã răn đe con với sự mất mát những món quà chọn lọc nhất hầu cho con biết để tình cảm của lòng mình vào Đấng Ban Cho. Nhưng cây vả không khô héo; cây nho không hư mất; cây ôlive cứ ra trái. Trận dịch không chạm đến bầy con của con; ngọn lửa không hủy diệt tài sản của con. Hãy tiếp lấy những sự biết ơn của tôi tớ Ngài hôm nay và xin giúp đỡ cho người, trọn đời người, biết vui mừng nơi Đức Giêhôva”.

 

“Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho; cây ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa. Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi. Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, khiến tôi đi trên các nơi cao của mình” (Habacúc 3.17-19).

 

17 tháng 7 

NHỮNG NHÀ TUẬN ĐẠO XỨ SCILLI

Bờ biển Bắc Phi tràn ngập Cơ đốc nhân trong thế kỷ thứ hai, nhưng hết thảy đều ở trong sự nguy hiểm. Năm 180, có 7 người đờn ông và 5 người đờn bà bị bắt nhốt tù vì đã “mang những quyển sách thiêng, và các thư tín của Phao-lô, một người công nghĩa”. Vào ngày 17 tháng 7 năm 180 họ xuất hiện trước Quan Tổng đốc La mã là Saturninus xứ Carthage. Những bản án nghịch lại họ ghi như sau: “Xét rằng Speratus, Nartzalus, Cittinus, Donata, Vestia, Secunda, và những người khác đã xưng nhận họ sống theo các nghi thức tôn giáo của người Cơ đốc, và khi một cơ hội được trao cho họ để trở lại với tập tục của người La mã, họ cứ khăng khăng trong sự ngoan cố, chúng ta phải chấp nhận cho họ chịu khổ bằng gươm”.

Speratus, sau khi nghe bản án, đã hô lên: “Cảm tạ Đức Chúa Trời”.

Nartzalus nói: “Ngày nay chúng ta là những nhà tuận đạo ở trên trời. Cảm tạ Đức Chúa Trời”.

Quan Tổng đốc đã bối rối bởi phản ứng ấy và bởi lời xưng nhận của họ rằng Cơ đốc giáo là tôn giáo chơn thật duy nhứt. Ông ta nói: “Chúng ta cũng có một tôn giáo và thuộc về chúng ta là một tôn giáo rất đơn giãn. Chúng ta lấy vận mệnh của Hoàng đế mà thề. Các ngươi cũng làm y như vậy thôi”.

   Speratus đáp: “Tôi không công nhận một đế quốc trong thế gian nầy. Tôi hầu việc Đức Chúa Trời là Đấng mà chẳng một người nào đã hay có thể trông thấy. Đức Giêhôva mà tôi công nhận chính là Chủ Tể của các vua và các nước”.

Donata nói thêm vào: “Tôn trọng đối với Caesar, nhưng tôn kính chỉ dành cho một mình Đức Chúa Trời mà thôi”.

Người khác nữa nói: “Chúng ta chẳng tôn kính ai khác trừ ra Đức Chúa Trời của chúng ta ở trên trời”.

Saturninus, vẫn còn khó hiểu khi hỏi: “Ông có thì giờ suy nghĩ điều đó chưa?”

Speratus đáp: “Để làm gì? Chuyện quá đơn sơ như thế đấy”.

Và thực như thế. Các Cơ đốc nhân đầu tiên đã mong đợi sự bắt bớ. Đấng Cứu Thế đã chịu chết trên thập tự giá, Mười Hai sứ đồ đã chịu khổ vì cớ đức tin của họ, và không một thế hệ nào kể từ dạo ấy tránh thoát được đau khổ và đổ máu. Năm 95 Domitian đã cho hành quyết cả gia đình mình, họ đã gia nhập Cơ đốc giáo. Năm 107, Simeon, Giám Mục thành Jerusalem, đã bị giết. Năm 110, Ignatius đã chịu chết. Polycarp đã tuận đạo vào năm 155. Năm 165 Justin Martyr đã bị đánh bằng roi và bị giết. Năm 177, 48 Cơ đốc nhân đã chết mất tại Pháp.

Và năm 180 mười hai người từ Scilli đã bị dẫn đi chặt đầu.

 

“Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rôma 8.36-37)

.

 

18 tháng 7

SỰ TÀN BẠO TINH VI

Tiếng lách cách của ngọn lửa lôi cuốn sự chú ý của người dân sống gần đấu trường Maximus ở Rome vào ngày 18 tháng 7 năm 64. Những cây kèn trỗi lên báo động, nhưng những ngọn gió thổi vào ngọn lửa thành một cảnh rùng rợn lan khắp cả thủ phủ La mã, gào lên trong cả tuần lễ chẳng ai kiểm soát được. Hàng ngàn người chết, và hàng trăm ngàn người trở thành vô gia cư. Có tiềng đồn rằng chính Hoàng đế đã châm ngọn lửa đó – ấy là Nero 26 tuổi.

Nero đã trở thành Hoàng đế 10 năm trước đó, và hầu như từ lúc ban đầu, vị Hoàng đế trẻ tuổi nầy đã tự nhồi nhét cho mình tư tưởng dâm dục. Ông ta đã xếp đặt những vụ giết chết mẹ, vợ, các đối thủ, và kẻ thù của mình. Đồng thời, ông ta kiếm được sự khen ngợi vì những theo đuổi về mỹ thuật và điền kinh. Ông ta bắt đầu nghĩ mình là một vị thần, mặc dù ông ta đã: “thoái hoá với bụng phệ căng phình ra, suy yếu và tứ chi teo lại, khuôn mặt mập, da thâm, mái tóc quăn màu vàng, và đôi mắt xám mờ dần”.

Những tiếng đồn về sự đốt phá đã khởi sự vì Nero mong muốn san bằng và tái thiết lại những phần rộng lớn của Roma, dự định lấy tên mình đặt cho thành phố. Người ta cho rằng, một ngọn lửa đúng là thứ mà Hoàng đế đã ra lịnh. Để làm cho sự đổ thừa phải đổi khác đi, Nero đã chỉ ngón tay vào các Cơ đốc nhân. Tacitus đã viết rằng các môn đồ của Đấng Christ: “bị kết án tử hình với sự tàn bạo rất tinh vi, và Nero đã chế nhạo cười cợt trước mọi đau khổ của họ. Có người đã bị bọc lại bằng nhiều lớp da của các loài dã thú, bị bỏ cho chó ăn thịt; nhiều người khác bị đóng đinh trên những cây thập tự; nhiều người trong số họ bị thiêu sống; nhiều người bị bao lại với thứ không cháy được, bị đưa vào lửa để trở thành những ngọn đuốc cháy suốt cả đêm”. Phierơ và Phao-lô, theo truyền khẩu, đã có mặt giữa vòng những người tuận đạo.

Nhưng còn gã hoàng đế trẻ tuổi kia? Bốn năm sau, ông ta cũng chết, run rẩy và sợ hãi trong một hầm rượu lạnh lẽo cách Roma bốn dặm trong khi trốn tránh chính quân đội của mình. Khi tìm cách tự tử, ông ta đã nao núng và thất bại cho tới chừng một người bạn đã giúp cho ông ta đâm con dao vào cổ họng của mình.

Nhưng trong vòng một thời gian ngắn, Hội thánh ở Rome đã mạnh lên hơn bao giờ hết, và Đại giáo đường Thánh Phierơ hôm nay đứng ngay tại chỗ mà những Cơ đốc nhân đã bị hành quyết tại đấu trường của Nero.

 

“là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa…’ (I Phierơ 1.5-7a).

 

19 tháng 7   

MỘT LƯƠNG TÂM MỀM MẠI

            Samuel Ward đã tự ngốn lấy ngốn để với những quả mận một tối kia. Trong tờ báo của ông sáng hôm sau, ngày 19 tháng 7 năm 1596, ông đã xưng ra tội lỗi của mình – “tánh háu ăn của tôi muốn ăn mận, nho khô và uống rượu nhiều sau khi dự tiệc thánh”. Đây là một trong nhiều lời xưng tội giống như thế.

Samuel là một người theo Thanh Giáo, sanh vào năm 1577, ông vào trường St John, Cambridge, và là một thân hữu tại trường Đại học Sidney. Năm 1603 ông trở thành truyền đạo ở thị trấn chủ toạ nhà thờ St Mary ở Ipswich. Qua năm sau, ông cưới Deborah Bolton, một goá phụ đến từ Cambridgeshire. Khi Vua James tán thành bản dịch Kinh Thánh mới, Samuel đã được chọn làm một thành viên trong đội phiên dịch Kinh Thánh. Samuel, ai cũng biết là trẻ tuổi nhất trong nhóm những nhà phiên dịch Kinh Thánh, được biết đến nhiều hơn qua quyển nhật ký trong đó ông xưng ra tội  lỗi mình mỗi ngày:

+ Ngày 13 tháng 5 – Ao ước của tôi muốn được đề bạt lên nhiều lắm. Ngươi (ông thường xưng mình bằng ngôi thứ hai) cứ miên man trên toà giảng trong giờ cầu nguyện.

+ Ngày 17 tháng 5 – Tánh ham ăn của ngươi tối hôm qua.

+ Ngày 23 tháng 5 – Giấc ngủ của tôi không có việc nhớ tới tư tưởng sau cùng của mình, là tư tưởng về Đức Chúa Trời.

+ Ngày 26 tháng 5 – Sự chễnh mãng của ngươi ngày hôm nay trong việc lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời…tư tưởng của ngươi khi cầu nguyện giống y như tối qua.

+ Ngày 12 tháng 6 – Tôi uống quá nhiều sau tiệc thánh.

+ Ngày 14 tháng 6 – Tánh lơ đểnh của tôi…đi ngủ ngay sau bữa ăn tối.

+ Ngày 22 tháng 6 – Thực đơn của tôi quá độ khi ăn phó mát.

+ Ngày 27 tháng 6 – Tôi đi uống rượu ở quán kia, trước khi tôi kêu cầu Đức Chúa Trời.

+ Ngày 8 tháng 7 – Tôi hay cười cợt trong sảnh đường.

+ Ngày 15 tháng 7 – Tư tưởng tôi không kềm chế được ở Hobsons.

+ Ngày 23 tháng 7 – Vì ăn quá nhiều mận, dù ngươi có nghe nói nhiều người chết vì ăn uống quá độ (thái quá).

+ Ngày 13 tháng 8 –Tôi ăn quá nhiều mận, cũng ăn nhiều phó mát sau tiệc thánh.

+ Ngày 21 tháng 8 – Tôi ao ước được ngủ vào buổi sáng.

Mặc dù các tật xấu (có lẽ vì siêng năng xưng chúng ra, mới có sự mềm mại trong lương tâm) ông  đã làm một việc lớn cho Đấng Christ và đã giúp phiên dịch bản Kinh Thánh hay nhất trong lịch sử.

 

“nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa’ (Hêbơrơ 10.22).

 

20 tháng 7

SỰ LY GIÁO

            Trong thời kỳ ngàn năm thứ nhứt của Cơ đốc giáo, hai trung tâm quan trọng nhất đã nổi lên – ấy là Rome và Constantinople. Khi nhiều thế kỷ trôi qua, những dị biệt trong thần học đã phát triển và một sự tranh giành nổi lên giữa giáo hoàng ở Rome và tộc trưởng ở Constantinople. Hai bên có nhiều điều dị biệt như: linh mục có thể lấy vợ được hay không, cách sắp đặt bánh lễ, những ngày kiêng ăn, Đức Thánh Linh có bắt nguồn từ Đức Cha và Đức Con hay không, hay chỉ từ Đức Cha.

Vào năm 1043, một giáo sĩ nhiều tham vọng, khắt khe có tên là Michael Cerularius, người ta đã lấy tên ông đặt cho tộc trưởng của Constantinople, và 5 năm sau ở Rome một Giám mục người Pháp dấy lên làm giáo hoàng dưới danh nghĩa Leo IX. Trong những ngày nầy, quân đội Norman tràn sang phía Nam nước Ý rồi thay thế các giám mục (Chính thống) Đông phương từ Constantinople với các giám mục (Công giáo) Tây phương từ Rome. Những giám mục mới khởi sự thay đổi các hình thức thờ phượng, và khi Michael Cerularius nghe được điều nầy, ông đã trả đủa bằng cách đóng cửa các nhà thờ của người La mã trong các khu vực Đông phương.

Leo sai ba người đến Constantinople để xử lý với vấn đề. Họ được lãnh đạo bởi Humbert, một người vênh vang tự đắc, không khéo xử sự, ông ta đến tại thủ đô cự tuyệt, nói xấu, nhiếc móc, và xét đoán các cấp lãnh đạo Chính thống. Các vị đại diện Giáo hoàng được xếp ở trong cung điện của nhà vua, nhưng vị tộc trưởng không đếm xỉa gì tới họ, thậm chí từ chối không gặp họ nữa. Đến ngày 16 tháng 7 năm 1054, khi giờ cầu nguyện trưa sắp sửa bắt đầu tại Hagia Sophia của Constantinople, Humbert đi bộ qua đại giáo đường và để trên bàn thờ một quyển giấy da Videat Deus et Judicet nhằm rút phép thông công Michael Cerularius. Humbert khi ấy mới bước ra, giũ bụi khỏi chân mình, rồi rời thành phố. Bốn ngày sau, nhằm ngày 20 tháng 7 năm 1054, ngay địa điểm đó, Cerularius đã đáp ứng y như thế và rút phép thông công giáo hoàng cùng các môn đệ của ông ta. Ông đã được ủng hộ bởi nhiều tộc trưởng xứ Alexandria, Antioch, và Jerusalem.

Cuộc ly giáo lớn lao sau dùng đã xảy ra. Từ thời điểm đó, mỗi bên không còn nhìn nhau là anh em nữa, mà như kẻ thù hay như kẻ dị giáo cần phải được biến đổi. Ngày nay Hội thánh Tây Phương được tiêu biểu rộng lớn bởi hai bộ phận Công giáo và Tin lành, và Hội thánh Đông phương bởi đức tin Chính thống giáo Hy lạp và Nga.

 

“vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả. Đấng Christ đã chết và sống lại, ấy là để làm Chúa kẻ chết và kẻ sống. Nhưng ngươi, sao xét đoán anh em mình? Còn ngươi, sao khinh dể anh em mình? Vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Đức Chúa Trời” (Rôma 14.8-10).

 

21 tháng 7

Ô SUSANNA

Quả là một đời sống rất khó khăn. Bà là người con thứ 25 trong một gia đình tín đồ Tin lành. Mặc dù rất thông minh, song bà rất ít học. Dù có ý chí rất mạnh mẽ, bà đã sống trong thời kỳ đờn ông thống trị cả gia đình. Bà đã lấy một người lớn tuổi hơn và đã sanh cho ông 19 người con. Chín người trong số đó đã chết. Ngôi nhà của bà đã bị thiêu rụi, kho vựa của bà sụp đổ, sức khoẻ bà tàn lụn đi, và bà đã sống với một con chó sói bên thềm cửa.

Bà là Susanna Wesley.

Samuel và Susanna Wesley, thành hôn năm 1689, bắt đầu làm chủ toạ Hội thánh ở thị trấn nhỏ Epworth vào năm 1697. Họ đã hầu việc Chúa ở đó 40 năm, chịu đựng những khó nhọc như sau đây:

+ Tiền lương của Samuel rất ít ỏi (và ông không có khả năng quản lý nó) đến nỗi ông bị ném vào nhà tù của những chủ nợ, để Susanna lại tự lo liệu cho bản thân mình.

+ Hai người có ý chí rất mạnh và hay tranh luận với nhau. Samuel từng cầu nguyện cho nhà vua và chờ đợi tiếng “Amen” của Susanna. Bà không thốt ra tiếng ấy. Bà nói: “Em không tin hoàng tử xứ Cam sẽ lên ngôi”. Khi ấy Samuel nói: “Vậy thì em và anh phải chia ra, vì nếu chúng ta có hai vua, chúng ta phải có hai cái giường”. Họ phân rẽ nhau, chỉ hội hiệp lại chỉ khi có cái chết của nhà vua.

+ Họ cũng bất đồng về chức vụ của Susanna, vì các bài học Kinh Thánh của bà lôi kéo nhiều khán thính giả hơn các bài giảng của ông.

+ Susanna cho ra đời một đứa con gái trong kỳ bầu cử năm 1705. Cô y tá, bị kiệt sức vị tiệc tùng thâu đêm, đã ngủ quên đến sáng hôm sau trong khi bà sanh đứa bé ra và đã làm ngạt thở đứa bé.

+ Susanna thường dậy sớm, giao các bổn phận trong nhà cho mấy đứa con. Nhưng có mấy đứa rất bướng bỉnh đến nỗi bà gọi chúng là “một tai vạ thường trực”.

+ Anh của bà, hứa với bà một món quà khá lớn, đã biến mất cách bí mật và chẳng còn nghe nói tới nữa.

+ Sau cùng, vào ngày 21 tháng 7 năm 1731, Susanna đã mô tả một tai nạn trong đó mấy con ngựa của bà đã bỏ chạy tán loạn, ném Samuel ra khỏi toa xe và làm cho ông bị thương đến nỗi ông không còn mạnh giỏi được kể từ ngày đó.

Một đời sống đầy khó khăn. Thế mà…

Thế mà giáo xứ tại Epworth đã được định cho trở thành nơi đáng nhớ nhất trong lịch sử Anh quốc, vì từ đó ra hai nhà truyền đạo lỗi lạc nhất trong mọi thời đại, John và Charles Wesley. Và người mẹ đã nuôi dạy họ đã làm lay động cả thế giới.

 

“…há chẳng phải như là hư không sao? Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc; vì ta ở cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Lời giao ước mà ta lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi: chớ sợ hãi”. (Aghê 2.3b-5).

 

22 tháng 7

HOA THÁNG NĂM

            Nhiều nước bắt nguồn ở giữa hình thức tà giáo rồi dần dần trở lại với Đấng Christ. Nước Mỹ có một sự khác biệt. Trong lịch sử của các nước, chỉ có nước Mỹ bắt đầu như một cuộc mạo hiểm Cơ đốc và từ từ chìm trong hình thái tà giáo.

Sự việc bắt đầu vào thời trị vì của Vua James. Những tín đồ Thanh giáo không hài lòng với cải cách chính trị trong giáo hội ở nước Anh; họ mong muốn sự cải cách về tôn giáo chân chính. James từ chối yêu cầu của họ (chỉ tán thành một bản dịch Kinh Thánh mới mà thôi), và điều nầy đã làm cho những tín đồ Thanh giáo rơi vào chỗ bất ổn. Một số người, tin Hội thánh Anh quốc có thể tự trị, đã biệt riêng giáo hội ra trong tình trạng độc lập của riêng họ. Số người nầy ai cũng biết là Những Người Ly Khai, và Vua James, xem họ là hạng phản bội, “loại họ ra khỏi xứ”.

Vào năm 1607-1608, có hai nhóm trốn sang Hà lan. Trong đó có một nhóm, trong khi học hỏi Kinh Thánh, đã kết luận rằng phép báptêm là một nghi thức chỉ dành cho hàng tín đồ (thay vì dành cho con trẻ), và phong trào Báptít phát sinh. Còn nhóm kia, do William Brewster và John Robinson lãnh đạo, đã ở lại trong xứ Hà lan cho tới ngày 22 tháng 7 năm 1620, khi với những cái túi xách và trẻ con nối hàng một với nhau, các tín đồ đã dong buồm trở về lại Anh quốc, rồi ở đó đã lên chiếc Mayflower (Hoa Tháng Năm) mở chuyến hành trình vì sự sống của họ.

Những nhà lữ hành đã đến tận cuối bờ biển Cape Cod vào tháng 11 năm đó và đã dừng lại đủ lâu để vạch ra kế hoạch hẳn hoi, Khế Ước Mayflower, bản thoả thuận đầu tiên đã viết ra cho tính cách tự trị từng được đề ra trên nước Mỹ.

Lời lẽ của khế ước nầy đã nói ra mục đích của chính phủ đầu tiên trên các bờ biển nước Mỹ: “Nhơn danh Ngài là Đức Chúa Trời Amen. Chúng con đồng ký tên dưới đây, những thần dân trung thành của Vua James, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, của Anh quốc, Vua nước Pháp và Irland, là Đấng bảo hộ của đức tin. Sau khi đồng ý, vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và sự tấn tới của đức tin Cơ đốc và vinh quang của vua & quốc gia chúng con, một chuyến hải hành để mở ra thuộc địa đầu tiên ở phần phía bắc Virginia, chúng con kết hợp với nhau lại thành một thực thể chính trị Dân sự trong giao ước…

 

“Cũng có lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng dựng nó, trồng nó; nếu nước ấy làm điều ác trước mắt ta và không nghe tiếng ta, thì ta sẽ đổi ý ta đã định xuống phước cho nó. Vậy nên bây giờ, hãy nghe theo ta” (Giêrêmi 18.9-11a).     

 

 

23 tháng 7

HÃY CHỔI DẬY, VÌ ĐÓ LÀ DAY!

            Hệ phái Tin lành xuất hiện giữa bối cảnh nguy hiểm và nhiều sự bắt bớ của thế kỷ thứ 16, nước Anh phân chia vì cớ một người dũng cảm không phải là nhà truyền đạo cũng không phải là nhà chính trị – chủ nhà in John Day. Ông ra đời trong đời trị vì của Henry III và đã bước vào nghề ở độ tuổi 22 trong đời trị vì ngắn ngủi của Edward Tin lành. Ông trở thành nhà in nổi bật nhất về các tài liệu Tin lành ở Luân đôn, và Vua Edward đã chỉ định ông in quyển giáo lý vấn đáp Tin lành của Poynet ở tuổi 30. Đây là niềm tự hào của ông. Nhưng khi em gái của vua nối ngôi, là Mary “khát máu”, bà nầy theo Công giáo, niềm tự hào của ông trở thành một hòn đá cột quanh cổ của ông. Những tác giả hay nhất của ông đã bị treo cổ trên giàn giáo, và bản thân ông bị nhốt tù trước khi thoát ra được bằng một cách thức nào đó.

John Day sử dụng cuộc lưu đày của mình đi khắp châu Âu, học hỏi mọi sự ông có thể học về các phương pháp in ấn mới, gặp gỡ nhiều kẻ thạo nghề, rồi hoạch định công việc trong tương lai. Khi Elizabeth Tin lành trở thành nữ hoàng, Day đã trở lại Luân đôn được trang bị tốt hơn bao giờ. Trước tiên ông lo in phần âm nhạc; sử dụng phong cách Anglo-Saxon, giới thiệu những dấu số học; và đầu tiên biến phong cách La mã và chữ nghiêng dùng in chung hàng với chữ thường. Ông cũng lồng cả tranh ảnh (khắc gỗ) trong sách in của mình. Và ông là người đầu tiên in các tiểu đoạn Kinh Thánh kiểu nhỏ, mà ông quảng cáo như sau: “Được in như thế cho người nghèo, để họ không có đủ hết, cũng có được một phần”.

Sau khi ổn định trở về lại Luân đôn, Day cho in toàn bộ các bài giảng của Latimer, kế đó là quyển “Lời chào thân ái” của Ridley. Nhưng quyển sách nổi tiếng nhất của ông in là Sách ghi những nhà tuận đạo của John Fox, là quyển từng in đi in lại nhiều lần và trở thành quyển sách nổi tiếng nhất của…phải, của Day. Công việc làm ăn phát triển, buộc ông phải dời vào khu đất rộng lớn hơn gần đại giáo đường Thánh Phao-lô. Bảng hiệu ở trước phân xưởng mới của ông vẽ một người đang chỉ tay vào mặt trời, nói: “Hãy chổi dậy, vì đó là Day”.

Và có nhiều Day nối theo sau. John có 13 người con từ người vợ thứ nhứt và 13 người con khác bởi người vợ thứ hai. Khi ông qua đời vào ngày 23 tháng 7 năm 1583, con trai ông là Richard đã cưu mang công việc in ấn của gia đình, đã cho in nhiều quyển Kinh Thánh rất tốt cùng các tài liệu Cơ đốc cho nước Anh và cả thế giới.

 

“Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan. Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa” (Thi thiên 19.7-8).

 

24 tháng 7

TẠO RA NHIỀU LÀN SÓNG,

ĐEM NHIỀU LINH HỒN VỀ VỚI CHÚA

Cha của Charles Bowles là người châu Phi; mẹ ông là con gái của một vị anh hùng của Cuộc Cách Mạng. Ông đã trở lại đạo khi còn là thanh niên và được kêu gọi đến với hệ phái Báptít Ý Chí Tự Do. Vào ngày 24 tháng 7 năm 1816 ông đã giảng bài đầu tiên của mình, và chức vụ của ông không bao lâu sau đó đã kết quả ở cả hai mặt: nhiều người trở lại đạo và những cuộc tranh cãi. Ông là một nhà truyền đạo người da đen ở phía Bắc xa xôi, tạo ra nhiều làn sóng và đem lại cho Chúa nhiều linh hồn. Ở Huntington, Vermont, một đám đông đã bí mật âm mưu tấn công ông ngay tại buổi thờ phượng kế tiếp. Họ dự định cột ông vào một con ngựa gỗ rồi nhận chìm ông trong hồ để cho ông bơi hay lặn tùy theo ông muốn. Tuy nhiên, Bowler đã hay được âm mưu ấy.

“Thì giờ nhóm lại đã đến; và khi kẻ thù đang chuẩn bị những khí giới cho cuộc chiến của họ, ông ổn định lòng mình. Kìa ông ấy chùm hum ở trong lùm cây kia, đang cúi thấp mình xuống trước ngôi của Đấng Cứu Chuộc. Đúng là một bối cảnh thật cao thượng đáng nhìn đến vị tôi tớ của Đức Chúa Trời bị xem khinh kia, một mình ông đang chùm hum dưới bụi cây, tìm kiếm một sự chuẩn bị duy nhứt cho tấm lòng. Thực là ngược lại với băng đảng kia, họ đang chuẩn bị bằng rượu whisky và những lời thề”.

Buổi thờ phượng bắt đầu, và đám đông kia, đến ngồi trước mặt ông, chờ đợi dấu hiệu. Bowles đọc Mathiơ 23.33: “Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia…! Thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?” Ông đã giảng với đặc ân đến nỗi chẳng có ai dám nhúc nhích. Ông kết thúc bằng câu nói: “Tôi được tin có nhiều người ở đây đã nhất trí cột tôi vào con ngựa gỗ, đem tôi ra hồ, rồi ném tôi xuống đó; và bây giờ, hỡi các người, tôi chẳng chống cự đâu”. Nhưng ông có một yêu cầu – trên đường ra hồ cả hội chúng đều hát bài thánh ca: “Vinh hiển quy cho Đức Chúa Trời, Phải, chúng tôi sẽ hát. Vinh hiển quy cho Đức Chúa Trời”.

            Câu nói nầy đã được thốt ra bằng giọng nói đầy quyền lực, kèm theo lòng tin cậy của ông đặt nơi Đức Chúa Trời, câu nói ấy giống như một cú sốc khi bị điện giật xuyên qua hội chúng, và tạo ra một ảnh hưởng trên đám đông tương đương với một tia sét từ trời giáng xuống vậy; vị vậy họ bị bắt phục hoàn toàn, đến nỗi họ đều phủ phục hết xuống sàn nhà.

            Một thời gian ngắn sau đó, những kẻ gây rối đến gặp Bowles tại hồ – ở đó ông đã dìm họ xuống những làn nước của hồ, làm phép báptêm cho họ trở thành môn đồ của Chúa Jêsus của ông.

 

“Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ” (II Timôthê 4.5).

 

25 tháng 7

CON NGƯỜI CỦA THÓI QUEN

            William Romaine là một Mục sư rất dè dặt và hay suy đoán ở nước Anh vào thế kỷ thứ 18 – cho tới chừng ông ngồi nghe George Whitefield giảng luận. Trong phần đời còn lại của ông, Romaine là một Mục sư Tin lành rất sôi nổi ở Hội thánh Anh quốc. Sự sốt sắng của ông đã làm mất lòng nhiều cấp lãnh đạo trong Hội thánh, và ông mất cả hai: bạn bè và địa vị. Ít nhất là trong một nhà thờ kia, các viên chức đã từ chối không thắp sáng nhà thờ nơi ông rao giảng, buộc ông phải giảng bằng ngọn đèn cầy duy nhứt mà ông phải cầm nơi tay. Thế nhưng sự giảng dạy khơi đức tin lên của Romaine đã kéo nhiều khán thính giả ngày càng đông cho tới khi cả thành Luân đôn đều bị tác động.

Trong khi Whitefield đi đó đi đây khắp thế giới và Wesley khắp nước Anh, Romaine chỉ đóng chốt tại thành Luân đôn. Đây là thành lũy của ông, và ông trở thành điểm tập hợp cho những người theo giáo phái Anh ở Luân đôn, gồm những người ưa thích lẽ thật của Tin lành.

Romaine là một con người của thói quen. Ông dùng điểm tâm mỗi ngày vào lúc 6 giờ sáng, đọc từ sách Thi thiên khi ông ăn sáng. Buổi trưa vào lúc 1giờ 30, ăn tối vào lúc 19 giờ, sau đó ông đi dạo. Ông tổ chức gia đình lễ bái vào lúc 9 giờ sáng và 21 giờ tối. Ông đi ngủ lúc 20 giờ.

Ông sống tới 81 tuổi, làm việc không hề giảm sút cho tới khi ông lâm bịnh. Vào ngày thứ bảy 25 tháng 7 năm 1795, Romaine thấy mình không thể đi xuống cầu thang được nữa. Ông nằm trên ghế dài đặt trên lầu yếu ớt lắm, ông hát bài: “Dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời”. Đến cuối buổi trưa, người ta còn nghe ông thì thào: “Dù tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai hoạ nào, vì Chúa ở cùng tôi”. Một lát sau, có người bạn ghé qua nói: “Bạn yêu dấu ơi, tôi hy vọng giờ đây bạn sẽ thấy ơn cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus Christ là quí báu, đáng yêu và có giá trị đối với bạn”. Romaine đáp: “Bạn là một cứu tinh quí báu của tôi trong lúc bây giờ”. Một lúc sau, như đang nhìn thấy Chúa, ông kêu lên: “Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! Chúa Jêsus phước hạnh thay! Đáng ngợi khen Ngài không dứt”. Rồi khoảng nửa đêm: “khi ngày sa-bát bắt đầu” ông trút hơi thở cuối cùng. Bạn bè ông dự tính tổ chức riêng một đám tang, nhưng hàng ngàn người không chịu. Năm mươi chiếc xe ngựa bốn bánh theo sau xe tang, và đám đông thì đi bộ. Những kẻ chỉ trích ông đã xếp lều của họ lại từ lâu. Cả thành phố yêu mến ông, và nó yêu thích lẽ thật của ông.

 

“Ngài bổ lại linh hồn tôi, dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài. Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi” (Thi thiên 23.3-4).

 

26 tháng 7

WILBERFORCE

            Vào thập niên 1700, một ngôi làng nhỏ nằm ở ngoại ô Luân đôn được gọi là Clapham đã trở thành căn cứ của một số truyền đạo nổi bật và lý tưởng truyền giáo. Các sử gia gọi những Cơ đốc nhân nầy là “Đảng Clapham’. Thuộc viên nổi tiếng nhất của Đảng Clapham là một chính trị gia có tầm vóc nhỏ bé tên là William Wilberforce, ông đến với Đấng Christ ở tuổi 25. Wilberforce tụ tập bạn bè của mình ở Clapham thành: “Hội đồng Nội Các” để bàn bạc các phương hướng của xứ sở và để thiết lập các chiến lược Cơ đốc, biến đảng Clapham thành một trong những nhóm thất thường nhất trong sinh hoạt xã hội Anh quốc. Từ nhóm nầy mà ra Cộng đồng truyền giáo của Hội thánh, Cộng đồng Kinh Thánh của nước Anh và hải ngoại, Cộng đồng phục vụ điều kiện tốt hơn cho người nghèo, Cộng đồng cải tổ kỹ luật nhà tù, và trên hết cả thảy, chiến dịch làm thay đổi lịch sử của Wilberforce chống lại tình trạng nô lệ.

Năm 1789, Wilberforce lần đầu tiên tuyên bố chống lại tình trạng nô lệ tại toà nhà quốc hội. Hai năm sau với một giọng khác, ông nói: “Không bao giờ, không bao giờ chúng ta bỏ cho tới chừng nào chúng ta quét sạch điều xấu hổ nầy ra khỏi danh nghĩa Cơ đốc, tự phóng thích mình ra khỏi gánh nặng tội lỗi, và xoá đi từng dấu vết của con đường đẫm máu nầy”.

Đảng Clapham bắt tay vào vận động quần chúng và giúp Wilberforce truyền bá mọi lý luận của ông. Họ viết ra nhiều cương lĩnh công khai, in sách vỡ, dán truyền đơn, và ra sức thuyết phục các cấp lãnh đạo. Sau cùng, vào năm 1807 sau gần 20 năm làm việc, Wilberforce ngồi trong chiếc ghế bành, hai tay ôm lấy đầu mình, bật khóc, khi quốc hội ra lịnh cấm buôn bán nô lệ trong Đế Quốc Anh. Cuối đêm hôm ấy, Wilberforce rạng rỡ xây qua người bạn mà nói: “Nầy, Henry ơi, chúng ta còn phải bỏ cái gì nữa đây?”

Tình trạng nô lệ đã được bãi bỏ là thế đấy. Wilberforce nhắm vào 20 năm tới để lo giải phóng trọn vẹn tất cả các nô lệ trong Đế quốc Anh. Ông đúng là một con người như đã được mô tả, cứ mở ra nhiều chiến dịch không ngừng nghỉ cho tới khi sức khoẻ không còn nữa và ông trở thành một người chỉ nằm chờ chết. Bạn bè ông lo hoàn tất cuộc chiến ấy. Đến ngày 26 tháng 7 năm 1833, dự luật hủy bỏ tình trạng nô lệ đã được chuyển sang quốc hội. Các tin tức dồn về cho Wilberforce hay trên giường bịnh, ông đang nằm chống tay trên giường, im lặng mĩm cười, rồi nói: “Cảm tạ Đức Chúa Trời vì con còn sống để chứng kiến ngày [hôm nay]”.

Ông qua đời ba ngày sau đó, công việc của đời sống ông đã hoàn tất.

 

“Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục” (Êsai 61.1).

 

27 tháng 7

NGÀY ĐẪM MÁU

Donald Cargill là tín đồ Tô cách Lan thuộc hệ phái Trưởng Lão khi bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Thính giả của ông nói các bài giảng của ông: “đi từ lòng đến lòng. Ông ấy giảng như chưa có ai giảng, lời giảng của ông xuyên thấu lòng chúng tôi”. Người ta thường than phiền các sứ điệp của ông quá ngắn. Nhưng đời sống ông cũng ngắn không kém gì các bài giảng ấy. Biết mình sắp sửa bị bắt, ông nhóm dân sự lại rồi giảng ở Êsai 26. Lời lẽ sau cùng của ông trong bài giảng chót đã được ghi lại như sau: “Ông khích lệ chúng tôi phải sốt sắng ở trong khe nứt của vầng đá, giấu mình trong những vết thương của Đấng Christ, ấp ủ mình trong những lời hứa của Đức Chúa Trời, và lấy bóng cánh Ngài làm nơi nương náu mình cho tới chừng các tai hoạ đã qua”. 

Vào ngày 10 tháng 7 năm 1681, quân đội Tô cách Lan đột nhập vào ngôi nhà, nơi Cargill, James Boig, và Water Smith đang nằm ngủ. Có thêm hai người nữa cùng bị bắt với họ. Mấy người nầy bị xốc ra khỏi giường, cột vào lưng ngựa, rồi đưa vào tù. Tất cả đều bị kết án tử hình.

Trên giàn giáo Cargill đặt chân mình lên chiếc thang, xây người lại, chúc phước cho Chúa với hai cánh tay giơ cao lên, ông nói: “Chúa biết tôi bước lên chiếc thang nầy mà chẳng chút sợ hãi, nhầm lẫn hay xao xuyến trong tâm, tôi bước lên đây chẳng khác gì bước lên bục giảng”.

Sau khi nhìn thấy Cargill chết, Walter Smith bước tới chỗ kẻ hành quyết. Một cái mũ trùm đầu choàng qua đầu ông, nhưng ông tháo nó ra rồi nói: “Tôi có đôi điều để nói, và ấy là hết thảy những ai yêu mến Đức Chúa Trời và lý tưởng công bình của Ngài sẽ biệt riêng ra và hát bài ngợi khen Chúa vì những gì Ngài đã làm cho linh hồn tôi. Ngài đáng ngợi khen thay!” Cái khăn trùm đầu đã bị cất đi, ông bị họ buộc phải nhìn thẳng vào thi thể của bạn mình, và đầu ông cũng rơi xuống tại đó.

James Boig là người kế tiếp. Ông hô lớn tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời, Ông nói, ông rất bình tỉnh trên giàn giáo giống như ông đương đứng trước bàn thờ hôn nhân vậy.

Người kế tiếp là William Cuthill, và sau cùng là William Thomson – năm người nhơn đức hết thảy đã tuận đạo tại Edinburg vào “ngày đẫm máu không ai quên được – ngày 27 tháng 7 năm 1681. Kẻ phụ trách việc chặt đầu tội phạm đã dùng búa băm nhuyển mấy cái đầu của họ”.    

 

“Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài. Hãy nhờ cậy Đức Giê-hô-va đời đời, vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là vầng đá của các thời đại!” (Êsai 26.3-4).

 

28 tháng 7

KHÔNG BAO GIỜ VÀO NGÀY CHÚA NHỰT

            Jonathan Edwards đem lòng yêu Sarah khi Sarah mới 13 tuổi. Ông là người có tính khí thất thường và hay khó chịu; còn Sarah thì sôi nổi  như một con chim sơn ca. Ông không nghĩ đến một chuyện gì khác, và một ngày kia khi đang học tiếng Hy lạp, ông viết nhanh lên trang bìa của sổ tay mình rằng Sarah đi từ nơi nầy đến chỗ kia, ca hát thực là hay, lúc nào cũng vui vẻ. Nàng thích ở một mình, đi dạo trên các cánh đồng và những khu rừng nhỏ, và dường như có ai đó mắt thường không thấy được luôn luôn trò chuyện với nàng.

Họ thành hôn vào ngày 28 tháng 7 năm 1727, cô dâu (mới 17 tuổi) trong chiếc áo đầm màu xanh lá cây. Jonathan được một Hội thánh ở Massachusetts thuê. Nhưng giáo dân thường hay chỉ trích, phê phán đôi vợ chồng trẻ. Jonathan cũng hay cáu gắt với một số người, Sarah cũng nói năng quá đáng với một số người khác.

Tệ hại hơn, họ rất thân mật vào ngày của Chúa. Những người Anh bản địa tin rằng những đứa con của họ đã được sanh ra vào chính ngày ấy trong tuần cũng như được thụ thai. Khi sáu trong số 11 đứa con của Edwards sanh ra vào ngày Chúa nhựt, điều nầy dẫn tới chỗ có nhiều đàm tiếu. Sự thân mật ấy không thích ứng với cách ứng xử trong ngày Chúa nhựt.

Nhưng qua nhiều điều khó nhọc, hai vợ chồng cứ ấp ủ tình yêu của họ. Họ cùng nhau ngồi trên lưng ngựa vào buổi trưa cỡi dọc theo các lối đi trong rừng. Họ có những giờ lễ bái suốt đêm, và Jonathan đọc cho Sarah ghi các tác phẩm của ông mỗi ngày. Ông dành ra một giờ mỗi ngày cho mấy đứa con và đưa chúng cả thảy cùng đi trên những chuyến dạo chơi.

George Whitefield đã viết: “Quả là một đôi vợ chồng tuyệt vời mà tôi đã nhìn thấy. Bầy con của họ không ăn mặc lụa là gấm vóc đâu, nhưng rất đơn sơ, những tấm gương đơn sơ của người Cơ đốc. Bà Edwards thì trang sức với một tinh thần dịu dàng, trầm tỉnh; bà nói năng thật vững vàng về các vụ việc của Đức Chúa Trời, và dường như trở thành một người phụ tá cho chồng mình, bà đã khiến cho tôi đổi mới lại những lời cầu nguyện kia mà tôi đã dâng lên cho Đức Chúa Trời, (về) một người vợ”.

            Những lời nói sau cùng của Edwards là: “Xin dâng tình yêu của tôi cho người vợ yêu dấu, và hãy nói cho nàng biết rằng sự hiệp một hiếm có đã tồn tại lâu dài giữa chúng tôi là một điều tự nhiên tôi tin là rất thuộc linh và vì lẽ ấy sẽ cứ tiếp tục cho đến đời đời”.

Nhiều năm sau đó, một bản tường trình lần theo 1.400 dòng dõi của Jonathan và Sarah, tìm thấy giữa vòng họ 80 vị Hiệu trưởng, Giáo sư, và Chủ Nhiệm Khoa Đại học, 100 vị Luật sư, 66 nhà hoá học, 80 lãnh đạo chính trị, 3 Thượng Nghị Sĩ, 3 Thống đốc, vô số những nhà truyền đạo và giáo sĩ – và một kẻ phản bội, Aaron Burr.

 

“Người nữ khôn ngoan xây cất nhà mình; Song kẻ ngu dại lấy tay mình mà phá hủy nó đi… Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết” (Châm ngôn 26.1, 26-27).

29 tháng 7

GÃ NÔ LỆ CỦA STOKELEY

            Richard Allen lớn lên trong cảnh sống nô lệ, lao động quần quật cùng với bố mẹ và các anh chị em ruột trong nông trại Delaware của Stokeley Sturgis. Gia đình rơi vào cảnh đổ nát trước khi Richard trở thành một người trưởng thành. Ông Sturgis đã bán mẹ và ba anh chị em của anh, và Richard không còn gặp lại họ nữa. Quá đau lòng, anh đã đi theo một đám đông vào các đồng ruộng một ngày kia để nghe một nhà truyền giáo thuộc phái Giám Lý giảng đạo. Anh viết: “Tôi đến đấy để nhìn thấy bản thân mình, nghèo nàn, bất hạnh, và chẳng làm gì được. Sau đó ít lâu, tôi đã nhận được sự thương xót qua dòng huyết của Đấng Christ”.

Không lâu sau đó, Allen đã mua được quyền tự do của mình rồi bắt đầu làm một nhà truyền giáo lưu động thuộc hệ phái Giám Lý. Đến năm 1876, ông vào ban trị sự của Hội thánh Episcopal Methodist St George ở Philadelphia, là Hội thánh mẹ của Hệ phái Giám Lý Mỹ. Ông đã tổ chức các buổi thờ phượng lúc 5 giờ chiều. Khi sự rao giảng đầy quyền năng  của ông đem nhiều người da đen đến với Hội thánh St. George, các giáo dân da trắng cảm thấy khó chịu, những người Mỹ gốc Phi đến thờ phượng từ chối không chịu ngồi chung, họ buộc phải đứng dọc theo các bức tường trong các buổi thờ phượng.

Hội thánh vẫn cứ tăng trưởng, và sự mở rộng nhà thờ trở nên cấp thiết. Vào buổi sáng đầu tiên trong giảng đường mới vừa tân trang lại, Allen đến ngồi ở ban-công mới. Khi hội chúng quì gối cầu nguyện, anh nghe thấy một cuộc hỗn chiến. Một nhân sự trong Hội thánh đang kéo những người da đen dưới chân họ, tìm cách  đẩy họ ra khỏi giảng đường. Một người đến thờ phượng thì thầm: “Hãy chờ cho giờ cầu nguyện qua đã, và chúng tôi sẽ không còn gây rắc rối cho quí vị nữa”. Nhưng vị nhân sự kia chỉ tăng thêm nổ lực của ông ta. Allen và bạn của anh rời khỏi nơi ấy, thề không bao giờ trở lại với nhà thờ St George nữa.        

Họ đã sống không có một nhà thờ nào hết, và Allen chẳng có việc làm. Anh được thuê quét ống khói, kế đó đã mở cửa tiệm đóng giày. Nhưng thì giờ rãnh của anh đã được dâng cho việc rao giảng Tin lành và phục vụ cho cộng đồng da đen. Mọi nổ lực can đảm của anh trong nạn dịch sốt rét da vàng vào năm 1793 đã gây ấn tượng cho người Philadelphia đến nỗi những căng thẳng đã trở nên kém gay gắt hơn với nhà thờ St George. Với sự vùa giúp của Hội thánh, Allen đã tập trung được một nhóm Cơ đốc nhân da đen vào ngày 29 tháng 7 năm 1794, trong tiệm rèn của một tân tín hữu. Hội thánh Episcopal Giám Lý Bethel người gốc Phi đã được hình thành, là Hội thánh mẹ của Hội thánh Episcopal Giám Lý người châu Phi, bây giờ ai cũng biết trên khắp thế giới. Allen trở thành Giám Mục đầu tiên dâng mình trong phong trào ngày càng tấn tới, là phong trào ngày nay có mặt giữa vòng các nhóm Giám Lý lớn nhất ở trên đất.

 

“hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Philíp 2.2b-5).

 

30 tháng 7

NGƯỜI QUÈ

            Công cuộc cải chánh của Luther đã quét khắp châu Âu giống như một trận lụt tràn lan. Hầu hết nước Đức và Scandinavia đã trở thành tín đồ Tin lành. Nước Anh tuyệt giao với Rome. Thụy điển và Hà lan phần lớn đều theo Tin lành, và làn sóng cải chánh lớn mạnh ở Pháp, Áo, Hungary, và Ba lan. Có người đã trông đợi Tây ban Nha và nước Ý sẽ là các nước kế tiếp.

Vatican đã đáp ứng bằng nhiều cách thức. Giáo hội nghị Trent đã nhắm vào các nan đề của giáo hội. Toà án pháp đình đã được mở ra. Mọi nổ lực của quân đội và ngoại giao đã được sử dụng đến. Nhưng có lẽ cái điều có hiệu quả nhất là một dòng tu tôn giáo đã được thiết lập vào năm 1540 bởi một nhà quí tộc què người Tây ban Nha có tên là Ignatius Loyola.

Loyola ra đời giữa bộ tộc Basques ở Tây ban Nha, là con út trong 12 người con. Ông là một thanh niên rất liều lĩnh, thường gặp rắc rối với luật pháp. Trong khi phục vụ trong quân đội Tây ban Nha, ông đã bị què khi viên đạn đại bác làm vụn nát cái chân của ông. Các bác sĩ đã làm gãy và kiểm đi kiểm lại cái chân mà chẳng có thuốc gây mê, nhưng chẳng được gì cả. Khi hồi phục, Ignatius bắt đầu đọc các sách báo nói về Đấng Christ và các thánh đồ. Ông đã tự hỏi mình với sự phấn khích: “Sẽ ra sao nếu tôi làm những việc lớn cho Đức Chúa Trời giống như Thánh Francis và Thánh Dominic?” Một tình cảm mới dậy lên trong tấm lòng ông, và ông đã kiêng ăn, cầu nguyện, tự đánh đập mình, và đã kinh nghiệm hàng trăm sự hiện thấy lạ lùng.

Từ những kinh nghiệm nầy ra một quyển sách giáo khoa, Spiritual Exercises; và sách trong tay, ông bước vào đại học đường Paris. Ông đã 38 tuổi, chỉ cao có 5 feet, và không có sức khoẻ tốt. Nhưng ông đã tuyển 6 sinh viên (kể cả Francis Xavier) bước vào cộng đồng Jesus – dòng Tên.

Dòng Tên xem trọng tri thức và đã tỏ ra khôn khéo lắm. Loyola đã sống để nhìn thấy 1.000 người trong dòng tu của mình và 100 trường học và chủng viện đã được thiết lập. Dòng Tên trở thành lực lượng quan trọng nhất trong Công cuộc Cải chánh Giáo hội Công giáo. Công việc của ông đã hoàn tất, Loyola đã bị bắt bởi một cuộc tấn công bạo lực. Vào ngày 30 tháng 7 năm 1556, trong khi chịu khổ ải ghê gớm lắm, ông đã dành cả buổi tối để cầu nguyện, rồi gục chết. Nhưng ông đã để lại sau lưng dòng tu tôn giáo quyền lực nhất trong Giáo hội Công giáo.

 

“Nhưng Phi-e-rơ nói với người rằng: Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, hãy bước đi! Phi-e-rơ nắm tay hữu người đỡ dậy. Tức thì bàn chân và mắt cá người trở nên cứng vững;.. Cả dân chúng đều thấy người bước đi và ngợi khen Đức Chúa Trời” (Công vụ các Sứ đồ 3.6-7, 9).

 

31 tháng 7

MỐI RÀNG BUỘC PHƯỚC HẠNH

            John Fawcett đã trở lại đạo trong lúc nghe George Whitefield rao giảng. Ông tham gia với những người Báptít và đã được tấn phong vào ngày 31 tháng 7 năm 1765. Ông bắt đầu chủ toạ một Hội thánh nghèo ở Wainsgate, có nhiều thời gian để viết lách. Các tác phẩm của ông được phổ biến rộng khắp, và Hội thánh nhỏ bé kia sợ rằng họ sẽ mất vị Mục sư ở một chỗ rộng lớn hơn. Fawcett cũng lấy làm lo cùng một việc ấy, ông ghi trong nhật ký của mình rằng gia đình đang lớn nhanh hơn thu nhập của mình.

Sự mời mọc đến từ Hội thánh Lane xứ Carter nổi tiếng của Luân đôn. Fawcett nói với vợ mình: “Hãy suy nghĩ về lời mời ấy. Họ muốn chúng ta ở Luân đôn thế chỗ của Mục sư Gill tại Hội thánh lớn đó. Thật là khó tin quá”. Ngày Chúa nhựt sau, ông báo cho Hội thánh nhà biết tin ấy, rồi bắt đầu gói ghém đồ đạt. Sách báo, hình ảnh, và đồ đạt đều được đóng thùng cho chuyến hành trình bằng đường bộ đến với thành phố rộng lớn nhất của thế giới. Khi ngày lên đường đã đến, các thuộc viên trong Hội thánh tập trung lại và cố gắng cầm nước mắt. Sau cùng, mọi thứ đã được chất lên xe, trừ một cái rương, và Fawcett bước trở vào nhà để lấy nó. Ở đó ông thấy vợ mình đang chìm sâu trong tư tưởng. Bà nói với giọng thổn thức: “John ơi, anh có nghĩ chúng ta làm vậy là hiệp lẽ không? Liệu chúng ta có tìm được một hội chúng luôn yêu thương và vùa giúp chúng ta lo liệu công việc Chúa giống như nhóm nầy không?

            John hỏi: “Em có nghĩ là chúng ta quá vội vàng trong việc nầy không?”

            “Có đấy, em nghĩ chúng ta nên ở lại đây và phục vụ dân sự nầy”.

            John yên lặng trong một phút, vì tấm lòng ông cũng đã tan vỡ. Ông gật đầu: “Anh quá vui khi có lời mời ấy đến nỗi anh chưa hề thực sự cầu nguyện về nó như một Mục sư đáng phải làm”.

            Họ bước ra ngoài cổng nhà thờ, mời dân sự nhóm lại, trình bày sự đổi ý của họ, và ở giữa những làn nước mắt vui mừng họ tháo gỡ đồ đạt trên xe xuống. Fawcett đã trụ lại Wainsgate suốt cả phần đời còn lại của mình. Nhưng không ở trong cảnh tối tăm đâu. Phát xuất từ kinh nghiệm nầy, ông đã viết bài thánh ca nổi tiếng trên thế giới:

Phước hạnh thay sự ràng buộc ấy

Cột tấm lòng chúng tôi vào tình yêu thương Cơ đốc

Mối tương giao của những tâm tình anh em

Giống như tâm tình của Đấng ở trên cao kia.

 

“Lại, điều tôi xin trong khi cầu nguyện, ấy là lòng yêu thương của anh em càng ngày càng chan chứa hơn, trong sự thông biết và sự suy hiểu, để nghiệm thử những sự tốt lành hơn, hầu cho anh em được tinh sạch không chỗ trách được, cho đến ngày Đấng Christ” (Phi-líp 1.9-10).

 

 

 

 

 

***

 

 

Tags: #ThuVienOnline#VaoNgayNay
Previous Post

Vào Ngày Này | Tháng Sáu

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Tám

Admin

Admin

Next Post

Vào Ngày Này | Tháng Tám

Trả lời Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

About

DAT DNA

Dat & Associates

Tag Cloud

##From the Creation to the Cross #1CácVua #baigiangkinhthanh #baigianglegiangsinh #baihockinhthanh #BàiGiảngThươngKhóPhucSinh #Bài Giảng về Bài Tín Điều Các Sứ Đồ #Bài Giảng Về Nhớ #Bài Giảng Về Vua Đavít #ChamNgon #Charles Spurgeon #CHỈ CÓ MỘT VIỆC CẦN MÀ THÔI #Con ơi #Công vụ các Sứ đồ #Daily Reflection 2017 #Diemtin #discoveries #DoisongtinkinhVietngu #Giăng #Holy23 #HolyLand #Holyland2016 #Holyland2017 #Khải huyền #Ma-thi-ơ #MsJack Peters #Mác #Môi-se #nghiencuukinhthanh #Nhân Vật Kinh Thánh #Những Nhà Khoa Học Tin Chúa #phutsuygam #Ru-tơ #SuyGẫmSángChiều #Sáng Thế Ký #Sổ Tay Đức Tin Của Mục Sư Charles Spurgeon #Testimonies #ThuVienOnline #TiênTriÊ-li #True for Life #VaoNgayNay #Wisdom Quotes & Musings #đức tin và khoa học I Cô-rinh-tô ung-thu-tri-duoc

Chuyên mục

  • Bài viết
  • Liên hệ
  • Giới thiệu

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

No Result
View All Result

Copyright © 2019, DATDNA - Designed by Thien An SEO.

Login to your account below

Forgotten Password?

Fill the forms bellow to register

All fields are required. Log In

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.

Log In